Trên các trang mạng gần đây, một số người tung lên những bài viết phê phán đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời. Họ “khuyên” chúng ta nên thay chủ nghĩa xã hội bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, rằng, không có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nếu có chăng “chỉ là nói phét vượt thời gian”. Họ còn đòi xem xét lại nền tảng tư tưởng của Đảng… Đây là những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cần phải phê phán.
Trong bài viết này, tôi cần phải nói rõ về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trước hết, phải khẳng định rằng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dứt khoát phải trải qua thời kỳ quá độ, không có cách nào khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “quá độ” là “qua đò”. Bên này bờ sông là chủ nghĩa tư bản, bên kia bờ sông là chủ nghĩa xã hội. Nay muốn qua sông để sang bờ bên kia (tức là đến với chủ nghĩa xã hội) thì phải qua đò, đó là “quá độ”.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu rõ: từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua một thời kỳ quá độ, xem đó là thời kỳ tất yếu. Chủ nghĩa xã hội không ra đời trong lòng chủ nghĩa tư bản, mà chủ nghĩa tư bản chỉ chuẩn bị những điều kiện vật chất để quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Còn bản thân công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì được thực hiện sau khi đã gạt giai cấp tư sản khỏi chính quyền và thiết lập nền chuyên chính vô sản. Nền chuyên chính vô sản ấy được thực hiện trong suốt thời kỳ quá độ, bởi vì, sau khi giành được chính quyền, Đảng cách mạng cũng không thể đem “áp dụng ngay” chủ nghĩa xã hội được, mà phải trải qua thời kỳ quá độ. V.I.Lênin nói: “Mục đích đó, người ta không thể đạt ngay tức khắc được; muốn thế, cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu dài, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, vì cải tổ sản xuất là việc làm khó khăn, cần phải có thời gian mới thực hiện được những thay đổi căn bản trong lĩnh vực của cuộc sống, và vì phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thể thắng được sức mạnh to lớn của thói quen quản lý theo kiểu tiểu tư sản và tư sản. Bởi vậy, C.Mác có nói đến cả một thời kỳ chuyên chính vô sản, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội1.
Thực hiện chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, không phải là “chém giết”, “tắm máu” như những phần tử phản động đã rêu rao, mà là công cụ chủ yếu để giải quyết những nhiệm vụ của bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Những nhiệm vụ đó là: xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và thay thế quan hệ đó bằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ các giai cấp bóc lột, nạn người bóc lột người và những nguyên nhân đẻ ra bóc lột; xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội bằng cách công nghiệp hóa đất nước và cải tổ về mặt kỹ thuật toàn bộ nền kinh tế quốc dân; xây dựng nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội; cải tạo dần dần nền sản xuất hàng hóa nhỏ thành nền sản xuất tập thể lớn, với quy mô lớn. Chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn thực hiện nhiệm vụ phát triển nông nghiệp ở trình độ hiện đại hóa và phát triển văn hóa.
Ở Việt Nam, chuyên chính vô sản được hiểu theo nhận thức mới là chính quyền thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân lao động và thực hiện sự liên minh mới giữa công nhân, nông dân, trí thức, nhân dân lao động; thể hiện ở tinh thần làm chủ của nhân dân lao động, xây dựng xã hội mới, văn minh, giàu đẹp, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra. Đó là giai đoạn khôi phục nền kinh tế quốc dân bị chiến tranh đế quốc tàn phá, là giai đoạn chuẩn bị điều kiện để triển khai mạnh mẽ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau giai đoạn khôi phục nền kinh tế quốc dân là giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, giai đoạn này ở Việt Nam đã được thực hiện từ năm 1955 đến năm 1957 khi miền Bắc được giải phóng, gọi là giai đoạn khôi phục kinh tế; sau đó, từ năm 1957 đến năm 1960, miền Bắc bước vào giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa. Khi đất nước thống nhất, cũng tiến hành trong phạm vi cả nước khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Cho đến nay, lý luận về con đường đi lên của cách mạng Việt Nam vẫn là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ phát triển tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, vẫn tiếp tục kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, nhất là về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, phát triển nhanh kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế – xã hội.
Về ý thức hệ, Việt Nam vẫn kiên trì xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội VII của Đảng và Cương lĩnh năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng, lần đầu tiên khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”3.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giai đoạn tiến hành công cuộc đổi mới, bắt đầu từ năm 1986, đến nay (năm 2021) đã được 35 năm. Trong giai đoạn đổi mới, đường lối của Đảng là:
– Thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
– Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người.
– Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyên giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ.
– Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.
– Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.
– Quản lý và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên bảo vệ môi trường.
– Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
– Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại.
– Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân.
– Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
– Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức; xây dựng Đảng về đạo đức; thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.
Về thời gian của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được xác định là lâu dài. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói với cử tri Hà Nội, ngày 23-10-2013: “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?”2. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được tính từ năm 1955, ngay sau khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Hiện nay, Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ quá độ của Việt Nam sẽ tạo điều kiện để bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho nên không việc gì phải nóng vội. Quan điểm phải có chủ nghĩa xã hội ngay tức khắc là quan điểm sai lầm, chủ quan duy ý chí.
Mọi luận điệu xuyên tạc về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đều đi ngược lại với xu thế phát triển của xã hội Việt Nam.
PGS,TS Đàm Đức Vượng
1. V.I.Lênin Toàn tập, tiếng Việt, bản dịch, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tập 38, tr.464.
2. Xem báo “Thanh niên Online”, ngày 24-10-2013.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 127.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét