Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2021

TP.HCM xem xét nâng mức giãn cách xã hội ở nơi nguy cơ cao

    Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh trên địa bàn, Bí thư Thành ủy TP.HCM yêu cầu thành phố cần có biện pháp kiểm soát và giảm bớt dòng người đến địa bàn, nâng cao mức giãn cách xã hội ở nơi nguy cơ cao.
    Trưa 19/6, Ban Chỉ đạo phòng, chống Covid-19 TP.HCM đã tổ chức cuộc họp khẩn để thảo luận, triển khai phương án cấp bách trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh tại thành phố. Phát biểu tại buổi họp, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Nên cho rằng, thời gian qua, toàn thành phố đã nỗ lực, thực hiện nhiều biện pháp nghiêm và về cơ bản kiểm soát được một số chuỗi lây nhiễm. Tuy nhiên, thành phố chưa khống chế được dịch bệnh.
TP.HCM xem xét nâng mức giãn cách xã hội ở nơi nguy cơ cao  1
Bí thư Nguyễn Văn Nên. 

    Do đó, ông thống nhất với đề xuất của các sở, ngành, quận, huyện về việc triển khai biện pháp mạnh hơn, quyết liệt hơn.
    Bí thư Nên cho rằng, biện pháp căn cơ trong phòng, chống dịch Covid-19 là tiêm vắc xin, tuy nhiên, để vắc xin hoạt động hiệu quả vẫn cần thêm thời gian."Trước mắt, thành phố cần tăng cường hiệu quả công tác truy vết, khoanh vùng, dập dịch triệt để và tầm soát diện rộng. Đồng thời, TPHCM cần có biện pháp kiểm soát và giảm bớt dòng người đến địa bàn, nâng cao mức giãn cách xã hội ở nơi nguy cơ cao và nới lỏng hơn với nơi an toàn".Sau 5 ngày giãn cách theo Chỉ thị 15 đợt 2, thành phố có tổng cộng 475 ca mắc Covid-19 được Bộ Y tế công bố. Trong đó, số lượng ca mắc không rõ nguồn lây đang có xu hướng tăng dần. TP.HCM xem xét nâng mức giãn cách xã hội ở nơi nguy cơ cao  2    Đồng tình với các ý kiến tại cuộc họp, Phó thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình chỉ đạo, TP.HCM cần cân nhắc mọi tình huống có thể xảy ra, chủ động xây dựng và triển khai một số biện pháp tương xứng riêng, cụ thể, linh hoạt riêng để phòng, chống dịch trên địa bàn.

TP.HCM xem xét nâng mức giãn cách xã hội ở nơi nguy cơ cao  3
Trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4, TP.HCM đã có tổng cộng 1.450 bệnh nhân mắc Covid-19 được công bố.

Phó thủ tướng cũng lưu ý, trước khi triển khai biện pháp mạnh hơn, thành phố cần công bố cho người dân biết và nắm bắt rõ thông tin về cung ứng hàng hóa thiết yếu, lượng thực, thực phẩm, giao thông đi lại… để chủ động trong sinh hoạt, làm việc, tránh để người dân hoang mang, lo lắng và tích trữ không cần thiết. 

Thanh niên nhập cảnh trái phép dương tính với SARS-CoV-2 ở An Giang

    Ngày 19-6, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 huyện An Phú, An Giang đã báo cáo nhanh về một trường hợp dương tính SARS-CoV-2 tại An Phú. Đó là bệnh nhân nam tên T. V. T, 29 tuổi, ngụ ấp Phú Hiệp, xã Phú Hữu, huyện An Phú, nhập cảnh trái phép từ Campuchia về Việt Nam.
    Theo báo cáo, ngày 14-6, ông P.V.G, ngụ xã Phú Hữu chạy thuyền gỗ đến thị xã Tân Châu, An Giang cân cá sau đó điều khiển thuyền đến xã Khánh An, huyện An Phú để trình báo với lực lượng trực chốt cho bán cá cho thương lái phía Campuchia như hằng ngày. 
    Ngày 15-6, ông G. đã trình báo với Biên phòng xong và liên hệ với T.V.T từ Campuchia đi ghe gỗ sang sông để nhận thuyền ông G, chạy sang phía bờ xã Precchay, huyện Cỏ Thum, Kandal, Campuchia giao cá cho thương lái.
    Ngày 17-6, V.T bán cá xong thì điều khiển thuyền quay lại phía Việt Nam đến khu vực đồn Biên phòng Long Bình tiến hành phun khử khuẩn và trao lại ghe cho ông G. và xin ông G. cho về Việt Nam để điều trị bệnh do T. bị té nhưng ông G. không đồng ý. Nhưng khi về đến nhà, ông G. mới phát hiện V.T đã trốn trong thuyền, V.T hỏi mượn ông G. xe gắn máy để chạy về nhà bà ngoại T. để gặp vợ và hai con. Ông G. đồng ý nhưng sau đó người dân phát hiện T. từ Campuchia nhập cảnh trái phép vào Việt Nam nên báo chính quyền xã Phú Hữu. 
    Công an xã xác minh và đưa T. về UBND xã làm tờ khai y tế xong chuyển xuống khu cách ly tập trung thị trấn An Phú. T. được lấy mẫu làm xét nghiệm test nhanh kháng nguyên và kết quả âm tính nhưng ngày 18-6, Trung tâm y tế lấy mẫu xét nghiệm PCR gửi về tỉnh và kết quả T. dương tính với SARS-CoV-2. 
    Ngay lập tức, ngành y tế đã truy vết xác định có 17 trường hợp F1; có 40 trường hợp F2 ở các xã Khánh An và Phú Hữu.
    Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 huyện An Phú chuyển bệnh nhân V. T về Trung tâm Y tế huyện An Phú cách ly và điều trị; chuyển 16 trường hợp F1 tiếp xúc với V.T về khu cách ly tập trung Thị trấn An Phú; riêng một trường hợp F1 sống bên vợ xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, An Giang nên Ban chỉ đạo huyện đã thông báo đến huyện Chợ Mới để tiếp tục điều tra, truy vết và xử lý. 
    Ngoài ra, Ban chỉ đạo xã Khánh An ra quyết định cách ly tại nhà ba trường hợp và Ban chỉ đạo xã Phú Hữu 37 trường hợp là F2; tiến hành phun khử khuẩn xe chuyên chở đối tượng, chốt Biên phòng, nhà của ông T., ông G., bà ngoại T. và UBND xã Phú Hữu.
    Hiện, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 huyện An Phú tiếp tục điều tra, truy vết thêm, lấy mẫu các trường hợp tiếp xúc gần, mở rộng truy vết đến đối tượng F3 và quản lý chặt các trường hợp F2, F3 tại địa phương. 

Những suất cơm tình nghĩa

    "Còn đúng một phần, bà ăn ngon miệng nha”, anh Nguyễn Anh Tài (sinh năm 1984), chủ một quán ăn 0 đồng ở đường Tân Sơn Nhì (quận Tân Phú, TP.HCM), vừa nhanh tay trao những phần cơm miễn phí đến người dân vừa kiểm tra số lượng còn lại.
    Đều đặn 12 ngày nay, anh Tài và các nhân viên cùng nhau dậy sớm nấu 800 suất ăn. Đến khoảng 10h hơn, anh phân chia số lượng rồi chuyển đến trụ sở khu phố để phát cho bà con trong khu vực.
    “Khu vực quán khá nhỏ, tôi sợ bà con tập trung đông đúc ở đây sẽ lây lan virus nên gửi cho lực lượng dân quân phát phụ. Như vậy, mọi người vừa có cơm trưa ngon vừa đảm bảo an toàn”, anh Tài nói.
    Chủ quán cơm chia sẻ chứng kiến nhiều gia đình “đứt bữa” trong mùa dịch, anh quyết tâm tổ chức hoạt động này để giúp họ sớm vượt qua giai đoạn khó khăn.
    Thực đơn được thay đổi theo từng ngày. Ngoài đủ thịt, đủ rau, các suất cơm còn kèm thêm trái cây để đảm bảo chất dinh dưỡng. 100% kinh phí do anh Tài và một số anh em trong gia đình góp lại.
    Xót xa trước tình hình nhiều quán cơm từ thiện ngưng hoạt động trong dịch, bếp ăn từ thiện của ông Huỳnh Tuấn (thường gọi là ông Ba Trầu, 70 tuổi, huyện Bình Chánh, TP.HCM) quyết định tăng cường các suất ăn dành cho các hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những người nghèo đang điều trị nội trú tại một bệnh viện ở quận 8.
    Theo ông Ba Trầu, việc phát cơm diễn ra quanh năm và đặc biệt được đẩy mạnh kể từ mùa giãn cách xã hội năm ngoái. “Tôi không nghĩ gì nhiều, chỉ mong giúp người khác được bữa ăn đàng hoàng. Họ mất công ăn việc làm nên khổ lắm, tôi chỉ mong san sẻ được phần nào cùng bà con”, ông cụ bộc bạch.
    Mỗi ngày, bếp đỏ lửa từ 4h. Nhân lực chủ yếu là láng giềng của ông Ba và các tình nguyện viên đến từ nhiều nơi.
    “Bản thân tôi cũng chỉ là người bán hàng rong, nhiều anh chị khác cũng vậy nhưng giúp cộng đồng được bao nhiêu chúng tôi cố gắng bấy nhiêu. Hôm nào khá tôi góp thịt, cá, khi kém hơn tôi gửi gạo hoặc dùng sức để phụ giúp mọi người. Cực một chút, nhưng vui cả ngày”, chị Đỗ Thị Tưởng (sinh năm 1969, quận 5), tình nguyện viên lâu năm của bếp, trò nói.
“Ngày nào chúng tôi cũng chuẩn bị hơn 1000 suất rồi chia về các quận, phần còn lại phát trước cổng bệnh viện. Mỗi phần cơm đều nhiều thức ăn để đảm bảo sức khỏe cho mọi người trong mùa dịch”, chị nói.

Bộ Y tế công bố 2 bệnh nhân Covid-19 tử vong

    Bộ Y tế cho biết hai ca tử vong này gồm một bệnh nhân 90 tuổi ở Bắc Giang, có nhiều bệnh lý nền và một bệnh nhân 67 tuổi ở Thanh Hóa bị ung thư phế quản trái. Tiểu ban Điều trị Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 thông báo các ca tử vong 63 và 64.
    Ca tử vong thứ 63 là BN12151, nữ, 90 tuổi, ở Việt Yên, Bắc Giang. Ngày 12/6, bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 và được điều trị tại cơ sở thu dung bệnh nhân Covid-19 đặt tại Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Fuji Bắc Giang. Bệnh nhân tử vong rạng sáng 18/6. Nguyên nhân tử vong là viêm phổi nặng do SARS-CoV-2 biến chứng suy hô hấp tiến triển, sốc nhiễm khuẩn, suy đa cơ quan trên bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường túyp 2, hoại tử cẳng tay trái, lão suy.
    Ca tử vong thứ 64 là BN3866, nam, 67 tuổi, ở Hà Trung, Thanh Hóa. Bệnh nhân có tiền sử ung thư phế quản trái, di căn xương và màng phổi, theo dõi di căn dưới nhện.
Bệnh nhân điều trị ung thư phổi tại khoa Nội 2, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều (Hà Nội). Ngày 15/5, bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 và được chuyển tới Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh. Bệnh nhân được điều trị và theo dõi tích cực, sử dụng thuốc chống viêm, điều chỉnh rối loạn đông máu và kháng sinh phổ rộng điều trị bội nhiễm.
    Tuy nhiên bệnh nhân đáp ứng điều trị kém, tình trạng suy hô hấp tiến triển tăng, phải tiến hành can thiệp đặt ống nội khí quản, thở máy vào ngày 31/5. Bệnh nhân tuy được hồi sức tích cực, chăm sóc toàn diện, nhưng tình trạng tổn thương phổi không cải thiện, nhiễm trùng tiến triển nặng dần, rơi vào tình trạng sốc nhiễm khuẩn. Bệnh nhân tiên lượng nguy cơ tử vong cao, được hội chẩn bệnh viện và trao đổi với người nhà tình trạng bệnh, gia đình xin chăm sóc giảm nhẹ. Bệnh nhân tử vong vào rạng sáng 19/6.
    Nguyên nhân tử vong viêm phổi do SARS-CoV-2, sốc nhiễm khuẩn, nhiễm nấm candida xâm lấn, trên bệnh nhân ung thư phế quản trái giai đoạn 4, di căn màng phổi và xương.
Như vậy, từ đầu vụ dịch đến nay nước ta đã có 64 ca tử vong, trong đó riêng đợt dịch thứ 4 đã có 29 trường hợp tử vong.  

 

KHÔNG LÀM NGƠ TRƯƠC BIỂU HIỆN SUY THOÁI “THÍCH ĐƯỢC ĐỀ CAO, CA NGỢI”

Cổ kim đông tây từng đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời người khác tâng bốc, tung hô, nịnh nọt mình thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn. Nếu thời xưa, người dân luôn “dị ứng” và oán ghét những tên quan nịnh thần làm nhiễu nhương triều chính, thì thời nay, chúng ta cũng không thể làm ngơ trước một bộ phận cán bộ, đảng viên “thích được đề cao, ca ngợi”-một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.

 Từ những lời cảnh báo thói đời siểm nịnh của người xưa

Nhìn lại lịch sử cho thấy, xu nịnh là cách sống “vào luồn, ra cúi” của một bộ phận quan nịnh thần trong các triều đại phong kiến thuở trước. Những kẻ nịnh thần này thường tài hèn đức mọn, nhưng lại khéo ăn khéo nói, biết vuốt ve, “vỗ về” vua chúa đúng lúc, đúng chỗ bằng những lời nói mỹ miều, ngọt ngào, cốt là để lấy lòng bề trên. Nếu bề trên (ông vua, bà chúa, ông quan) nào tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết lánh xa, loại trừ thói xu nịnh vờ vĩnh, giả tạo thì giữ được tư thế, tác phong, nhân cách chân chính của bậc quang minh chính đại, góp phần bảo đảm cho triều chính được uy nghiêm, sơn hà xã tắc được bình an. Ngược lại, những người ở ngôi cao chức trọng và nắm giữ nhiều quyền bính mà dễ ngả lòng, a dua, thậm chí “đắm chìm” trong những lời bợ đỡ, ton hót của những kẻ “ngồi lê đôi mách” thì dễ làm cho các mối quan hệ trong triều chính trở nên rối ren, mọi người sống nghi kỵ, oán thán lẫn nhau và khiến lòng dân thêm bất an, ly tán.

Danh nho Chu Văn An (1292-1370), một vị quan thanh liêm đời Trần, tận mắt chứng kiến cảnh nhiễu nhương, suy đồi từ trong triều chính có nguyên nhân sâu xa là do những quan nịnh thần gây ra. Vì vậy, Chu Văn An đã dâng “Thất trảm sớ”, đề nghị vua Trần Dụ Tông (1336-1369) xử chém 7 tên nịnh thần để góp phần lấy lại sự nghiêm minh trong vương triều và củng cố niềm tin cho thần dân. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An dù không được nhà vua chấp thuận, nhưng mãi là lời cảnh báo, cảnh tỉnh muôn đời đối với hậu họa khôn lường của thói gian thần, nịnh bợ.

Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều Nguyễn. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái (1879-1954). Khi nhà vua đề nghị mỗi vị đề xuất góp ý kế sách để phục hưng quốc gia, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã đọc 4 câu: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Bốn câu này được hiểu là: “Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp/ Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan/ Tôn trọng tài năng ắt đại phồn thịnh/ Tôn trọng siểm nịnh ắt đại suy vong”.

“Tôn nịnh đại suy” hiểu rộng ra là bất cứ chỗ nào, thể chế nào, xã hội nào, nếu không loại bỏ mà lại coi trọng thói siểm nịnh thì sớm muộn chỗ đó, thể chế đó, xã hội đó cũng sẽ mục ruỗng, thối nát và đi đến bờ vực suy vong thảm hại.

Đến căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay

Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.

Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.

Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội. 

Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực

Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.

Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!

Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.

Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.

Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.


Tác động của trí tuệ nhân tạo trong quan hệ quốc tế: Cơ hội, thách thức và đề xuất chính sách tham chiếu đối với Việt Nam

Trí tuệ nhân tạo (AI) được cho là một trong những công nghệ chính trong thế kỷ XXI có tác động mạnh mẽ đến sự vận hành của quan hệ quốc tế. Theo giới phân tích, quốc gia nào trên thế giới có khả năng dẫn dắt sự sáng tạo và kiểm soát được công nghệ AI sẽ nâng cao được sức mạnh quốc gia, năng lực kinh tế, quốc phòng, từ đó làm thay đổi sự cân bằng lực lượng trong môi trường chính trị - kinh tế quốc tế. Có thể thấy, AI đang và sẽ là xu hướng có nhiều tác động đa chiều đối với quan hệ quốc tế nói chung và từng quốc gia nói riêng trong tương lai. Trên thế giới hiện nay có khá nhiều cách hiểu về công nghệ AI, tuy nhiên, cách tiếp cận công nghệ AI là các hệ thống thiết bị kỹ thuật số có khả năng thực hiện những nhiệm vụ mà bình thường phải cần tới trí thông minh của con người(1), được xem là phổ biến nhất. Đặc trưng của công nghệ AI là năng lực “tự học” của máy tính, do đó có thể tự phán đoán, phân tích trước các dữ liệu mới mà không cần sự hỗ trợ của con người, đồng thời có khả năng xử lý dữ liệu với số lượng rất lớn và tốc độ cao. Hiện mỗi ngày trên toàn cầu có khoảng 2,2 tỷ Gb dữ liệu mới (tương đương 165.000 tỷ trang tài liệu) được tạo ra và được các công ty, như Google, Twitter, Facebook, Amazon, Baidu, Weibo, Tencent hay Alibaba thu thập để tạo thành “dữ liệu lớn” (big data). Giám đốc điều hành của Tập đoàn công nghệ đa quốc gia Google (Mỹ) đánh giá, sự ra đời của công nghệ AI có ý nghĩa to lớn hơn cả việc phát minh ra lửa và điện(2). Thế giới hiện có bốn nhóm nước (theo năng lực trình độ công nghệ khác nhau) nghiên cứu về AI: Nhóm thứ nhất, gồm Mỹ và Trung Quốc, là hai quốc gia đi đầu về phát triển AI. Nhóm thứ hai, gồm Đức, Nhật Bản, Ca-na-đa, Anh và các nền kinh tế hội nhập toàn cầu cao, như Hàn Quốc, Xin-ga-po, Thụy Điển, Bỉ..., là những nước có khả năng sáng tạo khoa học - công nghệ và có năng lực mạnh trong ứng dụng AI. Nhóm thứ ba, gồm các nước như Bra-xin, Ấn Độ, I-ta-li-a..., là những nền kinh tế có trình độ công nghệ thấp hơn nhưng có lợi thế trong một số lĩnh vực của công nghệ AI. Nhóm thứ tư là các nền kinh tế với hạ tầng số kém phát triển, năng lực sáng tạo và nguồn lực hạn chế, có khả năng sẽ bị “tụt hậu” nhanh hơn(3). Tác động của trí tuệ nhân tạo trong quan hệ quốc tế Trí tuệ nhân tạo được đánh giá có mức độ tác động rất sâu rộng, làm mờ ranh giới giữa thế giới thực và thế giới ảo, qua đó có thể tạo ra những vấn đề chưa từng có tiền lệ đối với chính trị, an ninh, kinh tế và xã hội của các quốc gia trên thế giới. Theo Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, AI là công nghệ chiến lược dẫn đầu cuộc cách mạng khoa học  - công nghệ và chuyển đổi công nghiệp, có thể tạo ra những ảnh hưởng sâu rộng với sức lan tỏa mạnh mẽ... Các tính năng mới của AI đang có tác động lớn và sâu rộng đến phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và cơ cấu kinh tế, chính trị quốc tế(4). Về chính trị - đối ngoại: AI được cho là: 1- Có tiềm năng thay đổi cân bằng quyền lực hay định hình lại nền tảng của trật tự toàn cầu nếu các chính phủ triển khai những chiến lược AI không minh bạch và bất thường. Năm 2017, Tổng thống Nga Vla-đi-mia Pu-tin đã nhận định: “AI là tương lai không chỉ cho nước Nga mà đối với tất cả nhân loại. Bất kỳ ai trở thành lãnh đạo trong lĩnh vực này sẽ là người trị vì thế giới”(5). 2- Sẽ thúc đẩy quá trình cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc trong quan hệ quốc tế hiện nay. 3- Giúp thu hẹp khoảng cách giao tiếp giữa công chúng nước ngoài và chính phủ của họ bằng cách giảm rào cản ngôn ngữ giữa các quốc gia, hỗ trợ các hoạt động nhân đạo quốc tế thông qua việc giám sát các cuộc bầu cử, củng cố an ninh cho các cơ quan ngoại giao... 4- Có thể đảm nhận các vai trò dự đoán khác liên quan đến địa  - chính trị, như dự báo chính xác hơn về kết quả của các cuộc bầu cử, hoạt động kinh tế và những sự kiện liên quan. Về an ninh - quân sự, AI có thể tạo ra những mối đe dọa đến an ninh quốc tế. Nhiều ứng dụng AI hiện nay được sử dụng cho mục đích quân sự hoặc thực hiện tấn công mạng, đôi khi dẫn đến tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” về an ninh. Trung Quốc chủ trương “đi tắt đón đầu” về năng lực quân sự, đẩy mạnh đầu tư vào AI, coi đây là cơ hội để tạo ra những bước đột phá trong công nghệ quân sự và được dự báo có khả năng vượt Mỹ(6). Báo cáo NSCAI (tháng 11-2019) trình Quốc hội Mỹ đánh giá sự phổ biến của công nghệ AI tạo ra các thách thức đối với Mỹ; nhấn mạnh các “đối thủ”, như Trung Quốc, Nga, có thể ứng dụng AI làm suy giảm vị thế vượt trội của Mỹ về quân sự. Tháng 3-2021, báo cáo của NSCAI cũng đánh giá Trung Quốc sở hữu sức mạnh, tài năng và tham vọng vượt Mỹ để trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về AI trong thập niên tới nếu các xu hướng hiện nay không thay đổi. Ngoài ra, các nước hiện cũng rất quan tâm đến những nguy cơ từ việc sử dụng công nghệ AI trong hỗ trợ chống khủng bố, leo thang xung đột không chú ý cũng như tiến hành chiến tranh dữ liệu. Các chuyên gia dự báo, những tiến bộ trong công nghệ máy bay không người lái được hỗ trợ bởi AI sẽ sớm đưa các loại vũ khí có độ chính xác cao với chi phí thấp vào thực địa để tiến hành xung đột vũ trang mà không gây ra rủi ro về con người. Nhiều chủ thể phi nhà nước, tổ chức cực đoan, như Tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng..., được cho là đã trang bị các loại vũ khí này. Về kinh tế - phát triển, các đánh giá nghiên cứu thời gian qua cho thấy: 1- Việc áp dụng AI vào các hoạt động kinh tế mang lại không ít tác động tích cực trong tương lai. Hãng tư vấn Merri Lynch (Mỹ) cho rằng, rô-bốt và AI sẽ giúp tạo ra giá trị tác động từ 14 - 33 nghìn tỷ USD/năm. Năm 2017, Công ty tư vấn quản lý toàn cầu McKinsey (Mỹ) dự đoán tự động hóa sẽ giúp tăng sản lượng tăng trưởng toàn cầu từ 0,8% - 1,4%/năm. Công ty kiểm toán PWC (Anh) dự báo, GDP toàn cầu năm 2030 có thể cao hơn 14% do các công nghệ AI, đóng góp khoảng 15,7 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế toàn cầu(7). Nhiều dự báo cho thấy, Trung Quốc là quốc gia thu được nhiều lợi ích nhất từ ​​AI, với mức tăng GDP lên tới 26% vào năm 2030(8). AI sẽ giúp Trung Quốc tăng 12% số lượng việc làm trong hai thập niên tới. 2- Việc tập trung phát triển và ứng dụng AI mang lại lợi thế cạnh tranh gia tăng trong thương mại quốc tế. Đối với một số nước vừa và nhỏ, AI giúp tăng cường khả năng bảo đảm các thỏa thuận thương mại và đầu tư ưu đãi với các quốc gia khác, nâng cao vị thế toàn cầu. 3- AI được sử dụng trong hỗ trợ đàm phán các hiệp định thương mại giữa các nước trong quan hệ quốc tế. Chương trình AI mang tên CTA(9) do Tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia IBM (Mỹ) phát triển và áp dụng trong đàm phán thương mại giữa Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MECOSOUR) và Ca-na-đa, là một trong những minh chứng điển hình. CTA giúp các nhà đàm phán thương mại nắm bắt rõ hơn chiến lược của các đối tác thương mại và tối đa hóa chính sách thương mại trên cơ sở dữ liệu sắp có. Những vấn đề đặt ra hiện nay Việc tập trung phát triển và ứng dụng AI mang lại lợi thế cạnh tranh gia tăng trong thương mại quốc tế_Ảnh: Tư liệu Một là, thách thức về ngăn chặn hiệu quả các nguy cơ phá vỡ cân bằng quyền lực trong quan hệ quốc tế do sự phát triển AI vào những mục đích không minh bạch. Chiến lược phát triển AI của các nước lớn, như Mỹ, Nga và Trung Quốc đang có xu hướng cạnh tranh với nhau và với các quốc gia có thể làm phá vỡ cân bằng quyền lực. Mỹ đánh giá Trung Quốc coi AI sẽ là công cụ chiến lược để nhanh chóng hiện đại hóa các khả năng quốc phòng, vượt qua Mỹ, cũng như phát triển các chiến thuật nhằm vào điểm yếu của Mỹ(10). Hai là, xuất hiện những lo ngại về việc hệ thống quân sự tích hợp AI và việc lãnh đạo quân đội có quyền ra quyết định cuối cùng sẽ làm suy yếu các phương pháp tiếp cận hiện có để ngăn chặn và giảm leo thang xung đột. Các thể chế và hiệp ước về giải quyết các vấn đề quốc tế trong thế kỷ XX (như việc kiểm soát vũ khí và không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt) chưa đề cập đến vấn đề AI. Sự phát triển của vũ khí sát thương tự động (LAW) được tích hợp AI đã làm dấy lên những quan ngại, tranh cãi đối với an ninh quốc tế và khía cạnh đạo đức trong chiến tranh, đặc biệt là tại Liên hợp quốc trong thời gian qua. Ba là, việc thiếu kiến ​​thức về AI có thể gây nguy hiểm cho các quốc gia kém phát triển và đang phát triển, làm tăng khoảng cách về công nghệ khiến các quốc gia này phụ thuộc nhiều hơn vào các quốc gia “thống trị” về AI. Bên cạnh đó, các chính phủ và các nhà ngoại giao cũng chưa có nhiều thông tin về hoạt động của công nghệ vũ khí tích hợp AI và cách tiếp cận cũng như lựa chọn phù hợp để áp dụng ngăn chặn, chống lại những loại vũ khí này. Hiện các chính phủ đã bắt đầu lên kế hoạch và đầu tư cho tương lai AI, nhưng chưa có chính phủ nào đề cập về “giới hạn đỏ” liên quan đến việc sử dụng AI hoặc công nghệ liên quan đến AI được áp dụng, sử dụng theo các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế hiện hành. Bốn là, thách thức về sự khác biệt trong cách hiểu, vận dụng và ràng buộc của các quốc gia trong việc tuân thủ các “nguyên tắc đạo đức” và thực hiện “kiểm soát chéo” về phát triển, áp dụng cũng như tích hợp AI trong tất cả các lĩnh vực đời sống của một quốc gia nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung. Ngoài ra, vai trò điều hướng công nghệ AI nên thuộc về nhà nước, các chủ thể phi nhà nước hay khối tư nhân(11), cũng là vấn đề cần làm rõ. Năm là, ở các nước đang phát triển, thất nghiệp do tự động hóa (có tích hợp AI) sẽ không chỉ làm gia tăng nghèo đói mà còn góp phần vào tình trạng bất ổn chính trị khi các xu hướng mở rộng dịch chuyển kinh tế đình trệ hoặc thậm chí đảo ngược. Nhiều tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới đang có kế hoạch nâng cấp các nhà máy trở thành nhà máy “tắt đèn” - nơi các rô-bốt làm việc 24giờ/7 - để sản xuất, đóng gói và vận chuyển sản phẩm mà không cần đến sự giám sát của con người. Nhờ vào việc triển khai lực lượng lao động là những rô-bốt, hãng bán lẻ lớn nhất toàn cầu Amazon đã giảm thời gian “ấn phím để giao hàng” từ 60 - 75 phút xuống còn 15 phút”(12). Sáu là, công nghệ AI có thể là phương tiện để tăng cường sự đối nghịch về ý thức hệ, phục vụ việc can thiệp vào các vấn đề chính trị trong nước của quốc gia khác, như can thiệp sâu hơn vào các cuộc bầu cử, bao gồm cả việc cải thiện khả năng nhắm trúng mục tiêu và thuyết phục các nhóm bỏ phiếu cụ thể của đối thủ(13). AI có thể xây dựng và triển khai các chiến dịch thông tin, tin giả nhằm gây ảnh hưởng, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng các cuộc bầu cử (thông qua thuật toán deepfakes...)(14).

Cơ hội, thách thức và đề xuất chính sách tham chiếu đối với Việt Nam

Trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0), việc xây dựng, phát triển và áp dụng AI trong hoạch định chính sách đối ngoại, tham gia quan hệ quốc tế, xử lý quan hệ đối ngoại..., bên cạnh những cơ hội, Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít thách thức. Về cơ hội Thứ nhất, việc nghiên cứu và triển khai sử dụng AI trong hoạch định chính sách đối ngoại trong quan hệ quốc tế vẫn đang trong quá trình xây dựng và triển khai giúp Việt Nam có nhiều cơ hội tham gia học hỏi, nghiên cứu, chia sẻ và nắm bắt được xu hướng xây dựng và phát triển AI trong quan hệ quốc tế, nhất là về chính trị, an ninh và kinh tế và không gian mạng. Qua đó, góp phần vào việc giữ gìn môi trường hòa bình, phục vụ phát triển nhanh và bền vững, cũng như đóng góp vào việc thực hiện nhiệm vụ giữ nước từ sớm, từ xa. Thứ hai, Việt Nam có cơ hội tham gia, thảo luận, đối thoại ở cấp quốc tế và khu vực với các đối tác cùng chí hướng, qua đó góp phần thúc đẩy lợi ích chung, nhất là về chính sách quản lý liên quan đến AI. Công tác đối ngoại có thể hỗ trợ tăng cường nghiên cứu về AI thông qua thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới và hỗ trợ các cơ chế, thể chế hiện có. Ngoài ra, hợp tác khoa học - công nghệ quốc tế về AI góp phần cải thiện, thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Thứ ba, với môi trường kinh doanh mở và nguồn nhân lực trẻ, nhiệt huyết và đam mê công nghệ, việc ứng dụng AI trong các lĩnh vực đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực y tế về truy vết, cảnh báo nguy cơ đại dịch COVID-19; các cơ quan phụ trách đối ngoại Việt Nam, nhất là Bộ Ngoại giao, có thể tranh thủ cơ hội này để thu hút những nguồn lực cần thiết để hỗ trợ, hợp tác xây dựng, phát triển công cụ AI phục vụ công tác chính trị, đối ngoại trong thời gian tới. Các đánh giá bổ sung trên cơ sở phân tích, tổng hợp do AI đưa ra có thể hỗ trợ, đóng góp cho công tác hoạch định chính sách đối ngoại, đưa ra kiến nghị, ban hành chính sách(15). Thứ tư, cơ hội thúc đẩy các hoạt động kinh tế, đầu tư đối ngoại liên quan đến thu hút hợp tác, đầu tư và chia sẻ về công nghệ AI với các đối tác, tổ chức quốc tế. Việc phát triển công nghệ AI được dự báo giúp GDP của Việt Nam tăng 109 tỷ USD vào năm 2030. Báo cáo Quỹ đầu tư toàn cầu về đổi mới, sáng tạo của Xin-ga-po (EDBI) và Hãng tư vấn Mỹ Kearny năm 2020 cho biết, AI có thể giúp tăng thêm 1 nghìn tỷ USD cho GDP của khu vực Đông Nam Á đến năm 2030 nếu các quốc gia trong khối này bắt kịp tốc độ áp dụng(16). Thứ năm, Việt Nam có cơ hội thụ hưởng, tham khảo từ các thành quả về phát triển AI đối với vấn đề quản lý, quản trị trong quan hệ quốc tế. AI hiện đang dần trở thành công cụ chính trong quan hệ quốc tế, nhất là trong lĩnh vực an ninh quốc tế, bởi AI đang được khá nhiều quốc gia ứng dụng, áp dụng trong việc sử dụng hệ thống vũ khí tự động, theo dõi những thỏa thuận hợp tác đã được ký kết, theo dõi sức mạnh quân sự hay những mối đe dọa và chiến tranh(17). Về thách thức Một là, so với các nước đi đầu về công nghệ AI, như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Xin-ga-po..., Việt Nam được cho là đi sau khá xa; các nhóm nghiên cứu của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin chưa kết hợp được với nhau để tạo ra những sản phẩm lõi cho AI. Thêm nữa, tại Việt Nam, mặc dù nhiều cộng đồng AI đã được hình thành, song phần lớn đều do khối tư nhân tự thành lập, phát triển. Hai là, mặc dù các sản phẩm AI đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực, như y tế, giáo dục, nông nghiệp, giao thông, thương mại điện tử... nhưng lại chưa có sản phẩm AI công khai nào liên quan đến các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại tại Việt Nam. Đây sẽ là thách thức cần sớm có hướng giải quyết trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, đặc biệt là hội nhập quốc tế kỷ nguyên số. Ba là, AI có thể đóng góp vào việc làm tăng tốc độ chia sẻ thông tin nhanh chóng, là lợi thế lớn nhưng cũng kèm theo nhiều bất lợi, như tin giả, thông tin sai lệch, độc hại, tấn công mạng, các mối đe dọa tới bảo mật và an ninh an toàn thông tin, thậm chí đe dọa tới an ninh quốc gia(18). Công nghệ AI có thể giúp tạo ra một khối lượng thông tin ảo và phổ biến với tốc độ cao và quy mô lớn trên mạng xã hội, từ đó có thể tạo ra những hiệu ứng bất ổn xã hội, kích động người dân và làm phân hóa sâu sắc hơn các vấn đề xã hội cũng như làm sai lệch công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Do vậy, làm tăng nguy cơ sử dụng AI can thiệp vào các vấn đề của Việt Nam từ các thế lực nước ngoài. Bốn là, thách thức về hạ tầng, công nghệ, cũng như việc phụ thuộc vào linh kiện cao cấp đến từ các nhà cung cấp của Mỹ và phương Tây, như Intel, Qualcom, AMD... trong xây dựng, phát triển các nền tảng liên quan đến AI hoặc tích hợp AI trong các cơ quan nhà nước của Việt Nam, trong đó có các khối cơ quan liên quan đến đối ngoại. Hiện Tập đoàn Intel (Mỹ) chiếm 70% thị phần toàn cầu về bộ xử lý hình ảnh (GPU), còn các doanh nghiệp Mỹ chiếm 90% thị phần chíp toàn cầu. Từ năm 2014, AI được đưa vào danh mục công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển của Việt Nam. Tháng 1-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030; đặt mục tiêu đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI, đưa AI trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam. Đến năm 2030, phấn đấu đưa Việt Nam vào nhóm danh sách bốn nước dẫn đầu trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI; xây dựng được 10 thương hiệu AI có uy tín trong khu vực. Trên thực tế tại Việt Nam, AI cũng bắt đầu được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực thực tế, như y tế, giáo dục, nông nghiệp, giao thông và thương mại điện tử..., nhất là trong hệ thống truy vết dịch bệnh COVID-19 phục vụ đắc lực Chính phủ trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động ngày càng phức tạp và khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt với những điều chỉnh cả về mức độ và phương thức, tình hình dịch bệnh COVID-19 vẫn diễn biến hết sức phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ đến nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đồng thời làm gia tăng các nguy cơ về xung đột, bất ổn đối với hòa bình, an ninh quốc tế cũng như đe dọa đảo ngược, phá hủy những thành quả đạt được nhiều năm qua của thế giới về phát triển bền vững; trên cơ sở những phân tích, đánh giá về cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra nêu trên, để phát triển ứng dụng và áp dụng AI về khía cạnh chính trị, đối ngoại thời gian tới cần chú trọng một số biện pháp sau: Ở cấp độ toàn cầu: 1- Tiếp tục chủ động thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại được đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, theo đó cân nhắc tập trung chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, nhất là tại ASEAN, Liên hợp quốc... và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Qua đó, có thể cân nhắc chủ động tham gia thảo luận liên quan đến việc xây dựng các khuôn khổ, chính sách lớn về công nghệ, đổi mới, sáng tạo, hợp tác số, AI tại các cơ chế, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn(19). 2- Chủ động tham gia hoặc đề xuất các sáng kiến liên quan đến việc xây dựng chính sách toàn cầu về giám sát, an ninh, ngoại giao công chúng, đạo đức AI và khung chính sách dữ liệu toàn cầu tổng thể cần được xây dựng thông qua sự trợ giúp của các tổ chức đa phương. 3- Nghiên cứu, tìm hiểu và đóng góp vào việc thúc đẩy nhận thức của các quốc gia về các mối đe dọa tiềm ẩn của các ứng dụng AI hết sức cần thiết, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phổ biến toàn cầu về các kiến thức và chuyên môn về AI nhằm tránh sự mất cân bằng quyền lực và phân cực. Ở cấp độ khu vực: 1- Chủ động tham gia đóng góp vào việc xây dựng các quy định về xây dựng, phát triển quản lý AI của ASEAN liên quan, bảo đảm thực hiện lợi ích quốc gia - dân tộc cũng như đóng góp vào công việc chung của ASEAN. 2- Thúc đẩy việc hợp tác, chia sẻ kiến thức, tri thức, dữ liệu liên quan đến AI trong khu vực và thảo luận về xây dựng các biện pháp ngoại giao phòng ngừa, chú trọng đến xây dựng lòng tin trong phát triển AI tại các diễn đàn quan trọng, như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). 3- Thúc đẩy việc hợp tác về AI giữa ASEAN với các đối tác quan trọng, các tổ chức quốc tế, như Liên hợp quốc, các tổ chức khu vực, qua đó tranh thủ được các nguồn lực cần thiết về đào tạo, xây dựng năng lực về AI cho Việt Nam. Ở cấp độ quốc gia: 1- Sớm triển khai Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Chiến lược AI) và Chương trình chuyển đổi số quốc gia, trong đó cân nhắc có điều chỉnh ưu tiên cho lĩnh vực đối ngoại. 2- Thúc đẩy hợp tác quốc tế, tham khảo kinh nghiệm của mạng lưới hơn 30 đối tác, gồm đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, các nước trong khu vực, qua đó đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách liên quan đến yếu tố AI trong các lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng và an ninh. 3- Tìm hiểu, bổ sung các nội dung, thành tố quan trọng về đối ngoại trong quá trình thực hiện Chiến lược AI, góp phần vào việc thực hiện các chiến lược quan trọng trong tình hình mới, như chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, chiến lược an ninh mạng quốc gia... 4- Đối với các cơ quan đối ngoại, nên cân nhắc: nghiên cứu, xây dựng kế hoạch xây dựng hệ thống AI trong xây dựng, chuẩn hóa hệ thống dữ liệu, nghiên cứu, hoạch định, triển khai chính sách đối ngoại, xử lý quan hệ đối ngoại, công tác lãnh sự, bảo hộ công dân, công tác biên giới, lãnh thổ...; sớm có kế hoạch xây dựng và phát triển nguồn nhân lực về AI phục vụ các công tác đặc thù trong lĩnh vực đối ngoại; hợp tác, đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu uy tín, các tập đoàn công nghệ nổi tiếng (Viettel, VNPT, FPT, Bkav,...) để xây dựng bộ công cụ AI về đối ngoại(20); thông qua mạng lưới các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tìm kiếm cơ hội hợp tác, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các nước sở tại liên quan đến đối ngoại về triển khai, áp dụng AI trong hoạch định chính sách và quan hệ quốc tế(21); lồng ghép AI là một trong những ưu tiên trong các chiến lược, kế hoạch của các ban chỉ đạo quốc gia về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, an ninh mạng... cũng như của các cơ quan đối ngoại, như Bộ Ngoại giao./.

HỠI NHỮNG KẺ VONG NÔ, VONG QUỐC CÁC NGƯỜI CHỈ MÃI LÀ KẺ BÁN NƯỚC HAY SAO?

 VỊ QUỐC LÀ VỊ QUỐC NÀO?


Hàng năm cứ đến ngày 19/6 là đám tàn dư ngụy Sài Gòn đang lưu vong ở hải ngoại lại tổ chức cái gọi là "kỷ niệm ngày thành lập quân lực VNCH". Vẫn với chiêu bài cũ, năm nay họ lại tiếp tục hô khẩu hiệu "Hãy dành một phút mặc niệm cho các chiến sĩ vị quốc vong thân". Lão chăn bò luận về việc này như sau:

Vị quốc nghĩa là vì tổ quốc. Với người Việt Nam, hai tiếng “Tổ quốc” từ bao đời đã trở thành tiếng nói thiêng liêng, tha thiết nhất “Tổ quốc” có thể hiểu là “đất nước của tổ tiên (xây dựng, bảo vệ và để lại)”. “Tổ quốc” là tài sản chung của cả một dân tộc trải qua hàng nghìn đời vun đắp, giữ gìn, kế thừa và xây dựng. Đó là thứ tài sản thiêng liêng, bất khả xâm phạm, nghìn thu vẫn mãi mãi là chân lý không thể chuyên dời, vững vàng “trơ gan cùng tuế nguyệt”.

Thời nhà Lê, sách Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn chép lời vua Lê Thánh Tông nói với một số cận thần là trụ cột của đất nước rằng: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Người phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”. Thời điểm diễn ra sự việc kể trên là vào năm 1473, tức năm Hồng Đức thứ 4. Lời răn của người xưa luôn có ý nghĩa sâu xa, thâm thúy, đặc biệt những lời răn đặc biệt quan trọng như vừa dẫn, giá trị của nó xuyên thời gian, đến với muôn đời các thế hệ dân tộc Việt Nam về sự thiêng liêng của hai tiếng tổ quốc, không có gì có thể đánh đổi được, đúng như lời Vua Duy Tân triều Nguyễn từng nói “nước “bẩn” thì phải rửa bằng máu”.

Vậy mà từ năm 1954 đến 1975, bọn ngụy quân - ngụy quyền ôm chầm lấy gót giày của người Hoa Kỳ, rước giặc vào nhà để giày xéo non sông đất nước ta, giết hại đồng bào ta; chia đôi giang sơn của tổ tiên ta để lại, làm cho anh em một nhà phải sống cảnh “ngày bắc đêm nam”, không một nỗi đau nào cao hơn nỗi đau của sự chia cắt. Nhìn cảnh ngoại bang xâm lược, chà đạp, vấy bẩn lên giang sơn muôn dặm của tiền nhân để lại mà lòng oán hận đến tận cùng xương tủy. 

Ngụy Sài Gòn làm tay sai cho ngoại bang giày xéo lên lãnh thổ đất nước, băm vào da thị của Tổ quốc những vết chém ngang lưng, đào xới thân thể Tổ quốc bằng bom đạn của kẻ thù. Làm hoa tiêu để nòng súng ngoại ban bắn thẳng vào nhân dân mình. Hàng triệu đồng bào chiến sĩ đã phải ngã xuống vì quân bán nước và cướp nước. Chính các người lê máy chém giết hại đồng bào mình, mang thứ chất độc da cam bạo tàn nhất để hủy hoại quê hương, nòi giống. Vậy cứ hỏi nguỵ quân, nguỵ quyền có Tổ quốc không? Tuyệt nhiên các người KHÔNG CÓ TỔ QUỐC, KHÔNG BAO GIỜ CÓ! Vậy thì vị quốc là vị quốc nào. Có chăng các người chỉ là tôi đòi, là tay sai của người Pháp, Nhật, Mỹ. Các người vì danh lợi cá nhân mà sẵn sàng bán rẻ, vứt bỏ tổ quốc. Bị tiêu diệt, bị khai tử là điều tất yếu. 

Một thứ công cụ của ngoại bang dựng nên để giết thuê, đánh thuê, để tàn hại tổ quốc của chính mình thì đó phải gọi là phi nhân tính, đáng bị ngàn đời phỉ nhổ chứ lấy đâu ra danh dự và phẩm giá vì chẳng ai gọi loài lang sói là những con có “danh dự”! có chăng “danh dự” của đám tàn dư ngụy Sài Gòn trong suốt 46 năm qua là “danh dự” của những tên gian manh, lừa đảo, một lũ hề đang diễn những vở hạng bét của lũ thú hoang nơi đất khách quê người để lừa đời lấy tiền. Đất nước của tổ tiên để lại mà các người bán hết lần này đến lần khác thì vị quốc là vị quốc cái gì? 

Suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, khi tổ quốc lâm nguy thì người trai ra trận coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lấy da ngựa bộc thây làm niềm kiêu hãnh của Đại trượng phu nam tử Việt. Có đâu như cái đám quái thai, phản chủ theo giặc để được hiển vinh, mặc cho tổ quốc đang rên xiết dưới gót giày và họng súng của ngoại bang. Đừng có rêu rao cái gì gọi là "vị quốc vong thân”. Nói rõ, ngụy Sài Gòn là bè lũ bán nước, bị nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tiêu diệt để thu giang sơn về một mối, xây dựng cờ đồ tươi đẹp như hôm nay!

Oán hận ư? Hận ai, oán ai? Tổ quốc và nhân dân Việt Nam mới là những người căm hận các người. Vậy mà chúng tôi mở lòng gác lại quá khứ, hòa hợp dân tộc. Còn các người các người hận ai? Hận vì lẽ gì, có chăng các người mãi cay cú vì mất món viện trợ béo bở năm xưa để vinh thân phì gia và mượn cớ chống cộng để gom tiền ngày nay mà thôi./.


Yêu nước ST.

Báo chí với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Thời gian qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Hiện nay, bối cảnh mới đang đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi báo chí cách mạng Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực vượt qua để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, lợi ích của quốc gia, dân tộc và sự an toàn, hạnh phúc của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập, người thày, nhà báo lớn của nền báo chí cách mạng Việt Nam_Ảnh: Tư liệu 1- Ngày 21-6-1925, tờ báo Thanh niên - cơ quan của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - ra số đầu tiên, đã khẳng định vai trò, vị trí của báo chí cách mạng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chuẩn bị những điều kiện cần thiết về tư tưởng, lý luận, chính trị, tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau tờ Thanh niên là sự ra đời của nhiều tờ báo, như Kông nông (năm 1926), Đường kách mệnh (năm 1927), Búa liềm (năm 1929), Báo Đỏ (năm 1929)... đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự ra đời của báo chí cách mạng gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, nhận thấy sức mạnh to lớn của báo chí, Người đã viết hàng trăm bài báo, góp phần truyền đi thông điệp về số phận của người dân các nước thuộc địa trước sự cai trị, đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa thực dân; đồng thời thể hiện mong ước, khát vọng, quyết tâm của người dân thuộc địa muốn thoát khỏi ách đô hộ, vùng lên giành lại độc lập, tự do. Nói về tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng, Người khẳng định: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới”(1); với đề tài xuyên suốt và nguồn cảm hứng vô tận để báo chí khai thác, tuyên truyền là “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự phát triển, lớn mạnh của báo chí có sự cống hiến, hy sinh to lớn của những người làm báo, đó là những chiến sĩ cách mạng trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”(3). Trong nhiều văn kiện, nghị quyết, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ của báo chí là bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc thấm sâu vào quần chúng nhân dân; đồng thời tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của báo chí trong công tác xây dựng, bảo vệ Đảng. Đó là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông; vận dụng tổng hợp các hình thức tuyên truyền, kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, các mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ quan trọng của báo chí trong tình hình mới là: “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(4). Thực tiễn quá trình đổi mới cũng cho thấy, báo chí luôn là lực lượng xung kích, đi đầu trong công tác xây dựng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, nhân dân. Tuy nhiên, phát triển trong bối cảnh mới, báo chí cần không ngừng đổi mới, vượt qua những khó khăn, thách thức để tiếp tục hoàn thành tốt trọng trách, sứ mệnh cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. 2- Sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta không ngừng được củng cố, tăng cường; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện, nâng cao. Những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới mở ra những cơ hội thuận lợi để báo chí không ngừng trưởng thành, phát triển, có những đóng góp quan trọng vào công tác tư tưởng, lý luận, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Hiện nay, đội ngũ nhà báo trưởng thành, lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp không ngừng được nâng cao, đáp ứng tốt những yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn đang đặt ra. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện cả nước có 868 cơ quan báo chí, tổng số lao động trong các cơ quan báo chí là 41.600 người (trong đó, có 19.166 người được cấp thẻ nhà báo), có 72 đài phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử. Tổng số lao động trong các đài/đơn vị hoạt động truyền hình là 18.481 người (trong đó, có 7.594 người được cấp thẻ nhà báo)(5). Sự phát triển về nhân lực, đội ngũ những người làm báo, sự ra đời của các cơ quan báo chí với đầy đủ những loại hình truyền thông đa phương tiện, hiện đại, tạo mạng lưới thông tin rộng khắp ở các vùng, miền, góp phần tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời, sinh động, hấp dẫn đến với mọi tầng lớp nhân dân. Được đào tạo bài bản, tâm huyết với nghề, gắn bó mật thiết với nhân dân, những thông tin, bài viết của các nhà báo đã góp phần gắn kết và thắt chặt mối quan hệ bền chặt giữa Đảng với nhân dân; củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Các nhà báo tâm huyết, yêu nghề không quản khó khăn, vất vả, nguy hiểm để tác nghiệp tại các vùng tâm dịch COVID-19_Ảnh: TTXVN Nhằm đẩy mạnh, tăng cường công tác xây dựng Đảng, nhiều cơ quan báo chí đã xây dựng, hình thành những chuyên trang về xây dựng Đảng, phát động các giải báo chí về xây dựng Đảng, mở ra những cơ hội lớn để các nhà báo, cộng tác viên và quần chúng nhân dân tích cực tham gia viết bài, tạo ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức với công tác xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mở ra những cơ hội để báo chí nước ta không ngừng đổi mới, sáng tạo, tiếp thu những kinh nghiệm làm báo của các nước tiên tiến để không ngừng phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của các tầng lớp nhân dân. Nền tảng của công nghệ số đã góp phần truyền tải thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân một cách nhanh chóng, kịp thời, hấp dẫn. Tính thời sự của thông tin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, phản bác hiệu quả những thông tin sai trái, những luận điệu thù địch của các thế lực phản động ở trong và ngoài nước. Nhờ thế, gần một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc, với nội dung và hình thức ngày càng đa dạng, phong phú, báo chí cách mạng Việt Nam đã góp phần quan trọng vào thành công của cách mạng cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, báo chí đã góp phần tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tạo sự thống nhất trong nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; củng cố mối quan hệ bền chặt, máu thịt giữa Đảng với nhân dân, tạo sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và kết quả đã đạt được thì hiện nay, báo chí nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Trước những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, của quá trình toàn cầu hóa, một số cơ quan báo chí có xu hướng thương mại hóa, chạy theo lợi nhuận, đề cao vật chất, rời xa tôn chỉ, mục tiêu, sứ mệnh cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Một số cơ quan báo chí còn thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng, văn hóa, có biểu hiện xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, xa rời tôn chỉ, mục đích, thông tin không trung thực, thiếu chính xác, ít tuyên truyền các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt... Một số nhà báo do chưa được đào tạo bài bản, thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống, còn dao động về lập trường tư tưởng, đề cao danh vị, đồng tiền; có trường hợp bị một số thế lực xấu dụ dỗ, lôi kéo, nên đã có những bài viết vi phạm đạo đức, pháp luật; gây khó dễ cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, từ đầu năm 2018 đến năm 2020 “đã ban hành 56 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 1 tỷ 256,6 triệu đồng, trong đó tước quyền sử dụng có thời hạn đối với 3 cơ quan báo chí; thu hồi 10 thẻ nhà báo do có sai phạm, thông tin sai sự thật và thực hiện không đúng tôn chỉ, mục đích trong giấy phép hoạt động báo chí”(6). Bên cạnh đó, lợi dụng sức mạnh của công nghệ truyền thông và những sơ hở trong quản lý thông tin, nhất là thông tin trên mạng xã hội, các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước tìm mọi cách để truyền bá những tư tưởng cực đoan, những hình ảnh không chính xác về chủ quyền quốc gia, dân tộc thông qua các sản phẩm đa dạng, tinh vi. Những thông tin xấu, độc xuất hiện hằng ngày, hằng giờ trên những trang web “đen” làm ô nhiễm môi trường văn hóa, đầu độc tư tưởng, tình cảm của không ít thanh, thiếu niên, gây dao động, mất niềm tin, mất phương hướng vào cuộc sống… Để nhận diện, đấu tranh với những hiện tượng đó đòi hỏi các nhà báo phải có bản lĩnh nghề nghiệp, sự trải nghiệm, vốn tri thức và nghệ thuật đấu tranh, phản bác. Một trong những khó khăn, thách thức đối với báo chí trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay là năng lực ngoại ngữ, kỹ năng làm chủ công nghệ, xử lý thông tin của một số nhà báo còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra. Với trữ lượng thông tin lớn đến từ trong và ngoài nước, nhưng do năng lực ngoại ngữ, kỹ năng khai thác, biên dịch hạn chế, nên việc cập nhật thông tin còn chậm, ảnh hưởng lớn đến việc tuyên truyền với công chúng trong và ngoài nước. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đòi hỏi người làm báo phải am hiểu và nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Song hiện nay, không ít nhà báo chưa tích cực học tập lý luận chính trị, chưa trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ, ngại va chạm thực tiễn, né tránh những vấn đề gai góc. Một số nhà báo đưa tin thiếu sự kiểm chứng, chạy theo tâm lý nhất thời của đám đông; vội vàng, cẩu thả trong cách giật tít, câu view, câu like, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt, gây bức xúc dư luận, làm tổn hại đến uy tín, danh dự, hình ảnh của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Sức mạnh của báo chí là ở thông tin, nhưng có không ít nhà báo lợi dụng sức mạnh của truyền thông để “lộ, lọt” những thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước. Một số nhà báo do nhận thức chính trị hạn chế nên khai thác, xử lý thông tin không phù hợp, khoét sâu vào những vấn đề còn đang gây tranh cãi, không lường hết được phản ứng của dư luận, công chúng, để xảy ra những cuộc “khủng hoảng truyền thông”, đẩy câu chuyện, sự kiện đi quá xa so với mục tiêu, ý định ban đầu, nhất là trên diễn đàn không gian mạng xã hội, tạo cớ cho kẻ xấu lợi dụng để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Những hạn chế, bất cập trên là những rào cản, ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. 3- Phát huy truyền thống gần một thế kỷ trưởng thành, phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, để đảm đương tốt vai trò, sứ mệnh tiên phong, dẫn đường, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, báo chí cách mạng cần không ngừng đổi mới, sáng tạo để thích ứng với những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp đang đặt ra. Thứ nhất, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước đối với công tác báo chí trong tình hình mới. Bên cạnh việc quan tâm, tạo điều kiện về môi trường làm việc hiện đại, năng động, bảo đảm cho các hoạt động báo chí diễn ra thuận lợi trên tinh thần tự do, dân chủ, sáng tạo thì trong bối cảnh hiện nay, các cơ quan, bộ, ngành chủ quản cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao tinh thần, ý thức, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mỗi nhà báo. Định hướng tốt công tác tuyên truyền; quản lý tốt thông tin, nhất là những thông tin trên mạng xã hội, internet. Xử lý nghiêm những trường hợp đi ngược lại tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí, xâm phạm và làm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc; đến uy tín, hình ảnh của Đảng, của các cơ quan, đoàn thể. Thực hiện tốt đề án quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới báo chí theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phát huy tinh thần chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo của mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo để góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Thứ hai, đổi mới, đa dạng hóa phương thức, nội dung tuyên truyền, tận dụng những ưu thế của khoa học - công nghệ, đưa chủ trương, đường lối của Đảng đến với công chúng một chính xác, nhanh chóng, thuận lợi, hấp dẫn, nhất là với đồng bào ở vùng sâu, vùng xa. Phối hợp tốt với các lực lượng quân đội, công an trong việc xử lý những thông tin xấu độc, bảo đảm môi trường văn hóa lành mạnh cho nhân dân. Thứ ba, mỗi nhà báo cần nêu cao và giữ vững tinh thần, bản lĩnh chính trị; tích cực học tập và thấm nhuần những quan điểm, tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những diễn biến, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội - văn hóa ở trong và ngoài nước để có những thông tin chính xác, kịp thời, định hướng dư luận, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Tích cực học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là những lời căn dặn của Người về báo chí, về trách nhiệm của mỗi nhà báo. Quán triệt sâu sắc những quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí, thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khóa XII. Thứ tư, để hoàn thành tốt trọng trách, sứ mệnh vẻ vang của “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa”, mỗi nhà báo phải không ngừng nỗ lực học tập chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tích cực học tập kinh nghiệm làm báo của các thế hệ đi trước và kinh nghiệm của các nền báo chí hiện đại trên thế giới; thâm nhập thực tiễn, lắng nghe nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân để khai thác thông tin, đưa những thông tin hữu ích đến với công chúng báo chí. Đồng thời trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, mỗi nhà báo cần trang bị cho mình những kiến thức, nền tảng văn hóa sâu rộng, có năng lực ngoại ngữ, kỹ năng xử lý và làm chủ công nghệ; tỉnh táo trước những thông tin, luận điệu xuyên tạc của thế lực phản động để có phương thức đấu tranh, phản bác hiệu quả./.

Quy hoạch “trên giấy”!

Trong cuộc họp lớp cấp ba của tôi gần đây, mọi người gặp nhau, ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi, tay bắt, mặt mừng. Bởi lẽ, cũng dễ chừng đã mấy năm, ban liên lạc mới tổ chức được cuộc họp lớp vào ngày 20-11 để chúc mừng cô chủ nhiệm. Trong buổi tiệc liên hoan, tôi để ý thấy N. nét mặt trầm ngâm, tỏ ra không mấy vui vẻ. Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên nhất đó là khi anh nói với tôi rằng, đã xin chuyển công tác sang đơn vị khác. N. làm lớp trưởng lớp tôi suốt 3 năm phổ thông trung học, là nam sinh xuất sắc, toàn diện, đạt nhiều giải cao trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp thành phố. Ngoài ra, N. còn là bí thư đoàn trường năng nổ và rất tích cực tham gia các phong trào đoàn thể. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, N. luôn được các thầy, cô rất yêu mến, các bạn cùng lớp rất ngưỡng mộ tài năng cũng như tinh thần luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác của N. và chúng tôi đều dự báo, với những phẩm chất này, N. sẽ rất thành đạt trong tương lai! Quả đúng vậy, sau khi tốt nghiệp đại học, N. thi tuyển và đỗ đầu trong kỳ thi tuyển giảng viên của một trường đại học danh tiếng tại Hà Nội; sau đó, anh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở độ tuổi mới ngoài 30. Với những nỗ lực không mệt mỏi và phẩm chất nổi bật của mình, anh sớm được quy hoạch vào chức danh phó trưởng khoa. Một thời gian sau, do có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, N. được bổ nhiệm làm phó trưởng khoa và được quy hoạch vào vị trí trưởng khoa cùng với 2 người nữa, trong đó có “em kết nghĩa” của sếp. Cũng phải nói ngay rằng, ngay từ đầu, với bản tính ngay thẳng, không biết xu nịnh của mình, N. đã không được lòng sếp - vị trưởng khoa, vốn là một PGS, TS nhưng mắc bệnh “sao” rất nặng và đặc biệt là luôn thích được mọi người ca ngợi, tâng bốc lên tận “mây xanh”! Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là ngay từ đầu, sếp đã quy hoạch “trong bụng” ông “em kết nghĩa” - vốn chẳng có tài cán gì nổi trội nhưng lại rất biết cách nịnh nọt sếp, “chăm sóc”, biếu xén quà cáp “chị nhà” - vào vị trí trưởng khoa để tiếp tục thay sếp làm lãnh đạo khoa, còn sếp thì ôm mộng sẽ làm… “Thái Thượng hoàng” của khoa sau khi nghỉ quản lý, “buông rèm chấp chính” trong thời gian kéo dài tới 7 năm làm chuyên môn với chức danh PGS, theo quy định của Nhà nước. Trên các diễn đàn, vị sếp kia luôn miệng nói làu làu như… “thánh sống” về quan điểm khách quan, toàn diện, công tâm, dân chủ, minh bạch trong công tác cán bộ, rồi nào là phải quán triệt phương châm quy hoạch cần “mở” và “động”, nhưng hóa ra đó chỉ là trên… “chót lưỡi, đầu môi”, còn thực tế thì “trong bụng” sếp chỉ quy hoạch mỗi “ông em kết nghĩa” mà trong khoa ai cũng biết cả, nên hệ lụy là sếp và đồ đệ luôn tìm cách “dìm hàng”, tung tin xuyên tạc về N., khiến cho những người có đức, có tài như N. phải nản chí, ngậm ngùi mà biết điều… xin chuyển công tác cho sớm! Quy hoạch… “trên giấy” quả là vô cùng lợi hại và tinh vi, nó khiến cho những người tài năng, đức độ được “quy hoạch”, nhưng không được sếp “yêu mến” như N., chỉ còn biết ngửa mặt kêu… trời! Quả đúng như thiên hạ hay nói vui rằng, những trường hợp như N. không phải là được “quy hoạch” thực, chỉ là… “quy tập” mà thôi! Qua câu chuyện trên, mong rằng, Đảng ta sẽ có quy định riêng, chặt chẽ hơn nữa để kiểm tra, giám sát, thực hiện nghiêm khâu quy hoạch cán bộ, tẩy trừ tận gốc những hành vi đi ngược lại với quy định, chỉ thị, hướng dẫn của Trung ương về công tác cán bộ, trong đó có một “mẹo mực” hết sức tinh vi: Trên danh nghĩa, “trên giấy” thì cũng tiến hành quy hoạch đủ số người lãnh đạo, quản lý cho có lệ, nhưng thực tế thì chỉ quy hoạch… người của “phe nhóm” mình vì lợi ích cá nhân chứ không vì lợi ích chung; rồi sau đó, còn tìm mọi cách để bổ nhiệm “đồ đệ, đàn em” thân tín của mình vào vị trí người đứng đầu, cho dù biết rõ là họ không đủ phẩm chất, uy tín và năng lực; đồng nghĩa với việc không tạo ra cơ hội bình đẳng cho những người có đủ tài, đức được tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị./.

Để lời nói thực sự là “gói vàng”!

Người xưa đã dạy: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, nhằm nhắc nhở nhau và khuyên nhủ thế hệ sau rằng, lời nói có thể chuyển tải thông tin, kéo mọi người đến gần nhau, nhưng cũng có thể làm xa cách nhau nếu không cân nhắc kỹ khi phát ngôn. Câu tục ngữ trên khuyên rằng, nên nói đúng, nói đủ, khi nói cần thể hiện sự tôn trọng người nghe, nhưng cũng là tôn trọng chính bản thân mình, quả thật có ý nghĩa vô cùng! Tuy nhiên, tầng ý nghĩa khác của câu “Lời nói không mất tiền mua…” lại là, phải biết phát ngôn khi cần thiết, bởi chỉ khi đó thông tin được đưa ra mới mang ý nghĩa thiết thực. Khi nói, mỗi người nên cân nhắc về cách nói (như thế nào?), nội dung nói (nói cái gì?) và thời điểm cần nói (vào khi nào?). Có như vậy, lời nói mới trở nên có giá trị, thực sự là “gói vàng” khi mang lại điều hay, lẽ phải; chứ không phải là “lời nói, đọi máu”, do nói sai, không đúng lúc, đúng chỗ. Hiểu được ý nghĩa trên có lẽ không khó với mỗi người, nhưng cái khó chính là thực hiện được điều đó trong thực tiễn! Trong thực tiễn cuộc sống có hiện tượng, nói một đằng, làm một nẻo hoặc ý nghĩa đằng sau của lời nói khác hẳn thông tin khi phát ngôn, như dân gian thường nói: “Nói vậy mà không phải vậy”! Có hiện tượng, trong cuộc họp, mọi thành viên tham dự đều không phát biểu; hoặc nếu có thì “hùa” theo ý kiến chung, theo sự gợi ý, định hướng. Kết cục là, cuộc họp bàn bạc về vấn đề phức tạp đáng lẽ sẽ kéo dài, bởi cần phải tranh luận, thuyết phục nhau, “trao đi, đổi lại” các ý kiến giữa những người tham gia, thì lại kết thúc rất nhanh, với sự nhất trí rất cao. Đây chính là biểu hiện của cái gọi là “nói xuôi chiều”, “nói đãi bôi”. Những người như thế cho rằng, mình nói cũng chẳng ai nghe, nói nhiều thì phải làm nhiều, nói nhiều sẽ bị “soi”; hoặc đơn giản là “chẳng biết nói gì”?!… Nhưng, khi một trong những quyết định nào đó của các cuộc họp đưa vào thực hiện không được suôn sẻ, hiệu quả không được như kỳ vọng, lại rộ lên những bình phẩm, thậm chí chê bai, dè bỉu, rằng quyết định đó “không đủ tầm, không xứng tầm!”. Thực chất của những phát ngôn kiểu này chỉ là cách “nói vuốt đuôi”. Sau những cuộc họp như vậy, ở bên ngoài phòng họp, tại những nơi riêng tư là sự bùng nổ về ngôn từ và tâm trạng hoặc là sự thờ ơ, vô cảm, như đầm nước lạnh giá. Điều đó cho thấy, hóa ra mọi người đều có suy nghĩ riêng với vô số lập luận và nhận định, đánh giá. Thế nhưng, những tâm tư, nguyện vọng đó lại không biểu lộ ra, thể hiện ở những nơi cần thiết, khi cần thiết, mà lại bộc lộ ở những địa điểm không chính thức, thời điểm không cần thiết như vậy. Tình trạng nói trên không phải hiếm. Nguyên nhân là do chưa tạo được môi trường, điều kiện để người có liên quan nói những điều cần nói; hoặc bởi mọi người chưa thấy được sự cần thiết phải nói; hoặc cố tình “mũ ni che tai” nên không nói đủ, nói đúng, nói kịp thời... Dù bởi nguyên nhân nào, tình trạng nói trên cũng gây ra những bất lợi cho sự phát triển của cơ quan, tập thể, đơn vị, khi lãng phí nhiều nguồn năng lượng, trí tuệ, tài nguyên tập thể; hoặc làm giảm tinh thần đấu tranh, phản biện xây dựng, tạo ra lối thỏa hiệp dễ dãi, những sự “đồng thuận hờ”, dẫn đến tâm trạng tiêu cực trong tập thể. Ở góc độ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tư tưởng buông xuôi, lựa chiều nói trên sẽ không góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chung; đồng thời, không phê phán, ngăn chặn được những tư tưởng, suy nghĩ sai lầm có thể nảy sinh trong tập thể, do vậy, không có lợi cho sự nghiệp chung. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung một nội dung mới, đó là cần khuyến khích, bảo vệ người “dám nói”. Vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm khuyến khích và bảo vệ những người dám nói, biết nói, dám làm và biết làm vì lợi ích chung. Để thực hiện điều đó, trước hết, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng cần mạnh dạn làm rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan của căn bệnh “không dám nói, không muốn nói; nói không đúng lúc, không đúng chỗ” để đề ra biện pháp thực hiện việc “dám nói” một cách phù hợp. Đó chính là sự quán triệt, học tập nghị quyết Đại hội Đảng một cách thiết thực và phù hợp nhất./.

Phía sau “màu hồng” quyền lực

Tôi quen biết một chuyên gia chính trị học đáng kính. Cả đời ông dành tâm sức, trí tuệ nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quyền lực chính trị. Được hầu chuyện ông trong ngày nghỉ cuối tuần, tôi vỡ lẽ ra nhiều điều về quyền lực thời nay. Ông bảo, trong số các loại quyền: quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, quyền lực xã hội, quyền lực tri thức,... thì quyền lực chính trị dễ làm cho người ta lóa mắt nhất bởi khi có nó, người ta thường chỉ nhìn thấy “màu hồng”. “Màu hồng” đó có thể trở thành những khúc xạ “lấp lánh” mà những người sở hữu nó rất dễ bị lóa mắt. Có quyền là có địa vị xã hội, có danh, có lợi, có bổng lộc, có cơ hội được “người săn kẻ đón”, thậm chí được “cơm bưng nước rót”. Có người cho rằng, mình có quyền “khủng” đến mức “Nói có người nghe, đe có người sợ, đi chợ có người khác lo trả tiền”! Lại nữa, nhiều quan chức khi có quyền là có sức hút, sức lan tỏa trong xã hội vì được công nghệ “lăng-xê”, kỹ năng “đánh bóng” siêu đẳng của một bộ phận truyền thông nên rất dễ “nổi đình nổi đám” trong thiên hạ. Đúng là không ai phủ nhận những ưu thế dễ nhìn, dễ thấy khi người ta sở hữu quyền lực chính trị trong tay. Cho nên, không ít người đã tìm mọi cách để “chạy chức”, “chạy quyền” là vì thế! Tuy nhiên, tấm huy chương nào cũng có hai mặt của nó. Những đồng tiền “bẩn” đổ về thì trước sau cũng sẽ có ngày “lòi” ra “cái đuôi tham nhũng”. Có chức quyền thì đi đâu, làm gì cũng thu hút người khác “tiền hô hậu ủng”, vì thói đời người ta chỉ phù thịnh, thích xun xoe bợ đỡ, nịnh hót những người có địa vị. Nếu ai thỏa mãn, say sưa với những “lời ngon, ý ngọt” của cấp dưới và những người xung quanh thì dễ bị cuốn vào cuộc sống phù hoa, mộng mị trong cơn mê sảng quyền lực. Có chức quyền là có điều kiện để được truyền thông ca tụng, tung hô; song mỗi lời ăn, tiếng nói của quan chức thời nay có thể trở thành “văn bia muôn đời” nếu họ “nói hay, làm tốt”, nhưng cũng có thể biến thành “ngàn năm bia miệng” nếu họ “nói hay, làm dở”, “nói một đằng, làm một nẻo” và khi đó, cái danh sẽ chuyển thành “ô danh”… Sau khi trao đổi những vấn đề trên, chuyên gia chính trị học kể lại câu chuyện “gót chân A-sin” trong thần thoại Hy Lạp. Câu ngạn ngữ “gót chân A-sin” suốt mấy ngàn năm qua như lời nhắc nhở, cảnh báo rằng, thế gian này không có ai hoàn hảo, không có thứ gì hoàn bị, mà mỗi người, mỗi thứ đều có điểm yếu, mặt trái nhất định nào đó. Và quyền lực chính trị cũng vậy. Nếu quan chức nào chỉ nhìn quyền lực bằng “lăng kính màu hồng” rồi nhăm nhăm khai thác, tận dụng tối đa ưu thế, quyền lợi, bổng lộc do quyền lực mang lại, mà không biết rằng quyền lực cũng có giới hạn của nó thì dễ rơi vào hiểm họa khôn lường. Đó là những “điểm mờ”, “góc khuất” của quyền lực mà người trong cuộc hay bỏ qua, coi thường và kết cục tất yếu là gánh chịu hậu quả vì đã sa ngã vào “vũng lầy” quyền lực. Chả nói đâu xa, hàng loạt quan chức tầm cỡ đến mức “muôn dân biết mặt, cả nước biết tên”, hàng chục tướng lĩnh một thời xông pha nằm gai, nếm mật lập công và có cả anh hùng nức tiếng trên mặt trận đấu tranh chống tội phạm, có anh hùng từng thành danh trong nghiên cứu khoa học... rồi có ngày suy thoái, tha hóa khi nắm giữ quyền lực lớn trong tay. Nguyên nhân khiến những quan chức này bị tha hóa thì có nhiều, nhưng có một điểm chung là khi đứng trên đỉnh cao quyền lực, họ đã quên mất mình có “gót chân A-sin”, bị “lóa mắt” bởi những “màu hồng lóng lánh” của quyền lực, lòng tham khiến họ đã tự làm mờ mắt mình để rồi “ngã ngựa” đau đớn. Đó là những gương tày liếp, những hồi chuông cảnh báo cho những ai đang giữ quyền lực, thì cũng phải biết giữ mình, bởi đồng tiền hai mặt, quyền lực hai màu, ranh giới rất mong manh!./.

"Trồng hoa hồng trên giấy"

Phàm những việc làm tô vẽ, hình thức, có hiệu quả kém, được người ta ví như: “Trồng hoa trên giấy”! Thật ra, câu chuyện “trồng hoa hồng trên giấy” không phải là cá biệt, nếu không muốn nói là còn khá phổ biến. Nhiều chi bộ trong nhiều tổ chức đảng hiện nay tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết rất hình thức và chiếu lệ. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc này. Một là, công tác chỉ đạo, kiểm tra từ tổ chức đảng cấp trên thiếu sát sao. Hai là, việc tổ chức thực hiện chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu chung chung; phần sơ kết thì cốt có “vật chứng” là báo cáo đánh giá, là các bản cam kết và chọn ra vài cá nhân, tập thể khen thưởng, biểu dương. Ba là, do sợ mất thời gian cho công việc chuyên môn nên tổ chức lấy lệ. Ngoài ra, ở giai đoạn đầu, có nơi tổ chức các hoạt động hưởng ứng rầm rộ, tạo động lực rồi sau đó thì “chìm” dần theo kiểu “nặng phát nhẹ động”. Hậu quả là chỉ thị, nghị quyết không trở thành động lực để cải thiện kết quả thực hiện nhiệm vụ và rèn luyện cán bộ, đảng viên. Những “con mối”, “tổ mối” vì tham ô, tham nhũng, lãng phí và cao hơn là trong “tham nhũng quyền lực” vẫn lần lượt được đưa ra ánh sáng ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương thời gian qua đã cho thấy có nhiều nơi việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết có vẻ như chưa được hiệu quả. Việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là về trách nhiệm nêu gương, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... là những sinh hoạt chính trị lớn, sâu rộng, ý nghĩa trong toàn Đảng, trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng, đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thúc đẩy việc tự giác rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tổ chức thực hiện để tạo hiệu ứng lan tỏa trong toàn xã hội, nhất là góp phần quan trọng chữa căn bệnh trầm kha từ nặng về quản lý sang phục vụ, hạn chế bớt cơ chế “xin - cho” đã từng ăn rất sâu trong mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương... Đó cũng là cách tạo ra môi trường công tác chuyên nghiệp, văn hóa, văn minh để cán bộ, đảng viên thực hiện tốt vai trò “công bộc” của dân. Nếu nghiêm túc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết trên một cách bàn bản, tự giác thì chắc chắn sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực, thu được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, những việc làm còn mang tính hình thức, “qua loa”, chưa thực chất giống như “trồng hoa hồng trên giấy” sẽ thật sự nguy hại. Hậu quả của nó là gì chắc không nói ra thì mọi người và dư luận xã hội cũng đã đoán định. Chi bộ vốn được xem là “tế bào” của Đảng. Thực tế cho thấy, chi bộ tốt thì Đảng “khỏe mạnh”, từ đó sẽ phát huy tốt dân chủ và lãnh đạo đạt hiệu quả cao. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, lợi ích vật chất cả hữu hình và vô hình có nhiều tác động tiêu cực thì việc xây dựng “tế bào” tốt càng cần được xem trọng. Chính vì vậy, cần loại bỏ hiện tượng “trồng hoa hồng trên giấy”, đây cũng chính là giải pháp nhằm xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

Đạo đức giả

“Đạo đức giả” từ tiếng Hy Lạp là Hypokrites, tức là mô tả một diễn giả hoặc một diễn viên trên sân khấu thường mang mặt nạ. Nghĩa gốc đó vẫn giữ nguyên trong cuộc sống thực, khi nhiều người mang thói đạo đức giả cũng sống không khác gì những diễn viên mang nhiều bộ mặt. Bề ngoài, họ đóng vai chuẩn mực, đạo đức một cách thật tròn trặn, nhưng bên trong đầy rẫy những thói giả dối, những hành động phi đạo đức. Thời gian gần đây, khi toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về đạo đức thì gia tăng một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó không ít là cán bộ lãnh đạo có xu hướng “chủ động” giả đạo đức để đối phó. Đạo đức giả không chỉ nhằm che đậy bản chất thật, che đậy những việc làm khuất tất, mà còn nhằm đạt được mục đích vụ lợi cá nhân, biến thành phương tiện, công cụ để tìm kiếm lợi ích vật chất, thậm chí biến thành các thủ đoạn chính trị để đoạt lợi ích cho bản thân, gia đình và lẩn trốn sự kiểm tra, giám sát của tập thể, quần chúng nhân dân… Nguy hại hơn, tình trạng không hiếm gặp ở không ít các cơ quan, tổ chức hiện nay là nhiều người dù biết nhưng không đấu tranh với thói đạo đức giả, thậm chí còn dung túng cho nó. Tâm lý thờ ơ, ngại va chạm, tự an ủi mình với suy nghĩ “cuộc sống luôn không hoàn thiện” của số đông tạo môi trường, “đất sống” cho thói đạo đức giả phát triển. Những cá nhân đạo đức giả tồn tại như một sự bình thường và chính những cái “bình thường” này phản ánh thực tế là không ít tập thể đã dần mất đi ý thức và hành động đấu tranh với cái xấu, cái giả dối, cái phi đạo đức. Khi con người dần mất đi những phẩm chất tốt đẹp, xã hội sẽ dần mất đi những chuẩn mực giá trị. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã nhận diện rõ 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trong đó, nhấn mạnh rõ biểu hiện đầu tiên chính là cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi… Có thể thấy, nguyên nhân sâu xa dẫn đến thói đạo đức giả trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay chính là chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân cũng chính là cách chống thói đạo đức giả từ gốc, đồng thời với coi trọng xây dựng văn hóa chính trị trong Đảng, đề cao và lan tỏa những giá trị đạo đức tốt đẹp rộng rãi trong xã hội./.

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI BÁO CHÍ

 

   Mong muốn được tiếp cận, nắm bắt những thông tin kịp thời, chính xác, lành mạnh là nhu cầu chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Báo chí, với vai trò là phương tiện thông tin thiết yếu trong đời sống xã hội, sẽ góp phần thực hiện sứ mệnh cao cả ấy.


   Thời gian qua, trong khi phần lớn tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương có nhận thức đúng đắn về vai trò, sức mạnh của báo chí và tạo điều kiện thuận lợi cho phóng viên các cơ quan báo chí tìm hiểu, thu thập thông tin và tác nghiệp hiệu quả; thì vẫn còn một số cơ quan chức năng và người có thẩm quyền chưa thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ với những khó khăn, tính chất đặc thù trong hoạt động báo chí, từ đó có thái độ ứng xử chưa thấu đáo với báo chí.

   Dẫu biết rằng, trong đội ngũ nhà báo có một số ít người làm nghề mà "mắt không sáng, lòng không trong" nên ngòi bút bị “bẻ cong” khiến dư luận phiền lòng. Nhưng đó chỉ là con số rất nhỏ trong hàng vạn người làm báo chân chính đang ngày đêm nỗ lực, lặng lẽ cống hiến hết mình vì mặt trận văn hóa-tư tưởng của Đảng.

   Báo chí ở nước ta là báo chí cách mạng, báo chí phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chứ không dành riêng cho giai cấp, tầng lớp, nhóm người nào trong xã hội. Vì thế, tính chất của báo chí cách mạng đòi hỏi các cơ quan báo chí và đội ngũ những người làm báo ở nước ta phải giải quyết nhuần nhuyễn, hài hòa mối quan hệ giữa tính chính xác và tính kịp thời; giữa chính trị và văn hóa; giữa yêu cầu bảo đảm định hướng dư luận xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin phong phú, đa dạng của các tầng lớp nhân dân.

   Nghề làm báo mới thoạt nhìn bên ngoài tưởng chỉ thấy màu hồng, song thực tế đây là công việc không ít chông gai mà hầu như người làm báo chân chính nào trong nghề cũng thấm thía sâu sắc. Đó là áp lực về thời gian để bảo đảm tính kịp thời, nhanh nhạy vốn là đặc trưng hàng đầu của thông tin trong thời đại “thế giới phẳng”. Đó là áp lực về yêu cầu chính xác, chuẩn mực của câu từ, chữ nghĩa, con số, tư liệu để bảo đảm an toàn về mặt thông tin. Đó là áp lực về chất lượng, hiệu quả thông tin tốt nhất trong điều kiện tác nghiệp có thể gặp nhiều khó khăn khách quan, như: Thời tiết, khí hậu, thiên tai, bão lũ, dịch bệnh và cả những rủi ro từ những “điểm nóng” hiện trường tác nghiệp. Ngoài ra, nhà báo còn có thể đối mặt với nguy cơ đe dọa từ các đối tượng tiêu cực khi thông tin, điều tra về những nhóm lợi ích và mặt trái của xã hội...

   Điểm qua vài ba áp lực như vậy để thấy tính chất phức tạp và yêu cầu khắt khe của công việc làm báo. Mặt khác, nhắc lại điều này để mỗi người cầm bút thời nay nhận thức thấu đáo hơn, trách nhiệm hơn với nghề nghiệp đã chọn; đồng thời cũng mong muốn xã hội, nhất là cơ quan chức năng và người có thẩm quyền, trách nhiệm ở các cấp, các ngành thêm một lần thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ với nghề làm báo. Rất sai lầm khi ai đó nghĩ rằng nghề báo chỉ làm chuyên môn thuần túy, là người “làm công ăn lương” bình thường. Thực sự, nghề báo là nghề lựa chọn con người vô cùng chặt chẽ, khắt khe cả về lập trường, bản lĩnh, trình độ, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và trách nhiệm xã hội. Hơn nữa, làm báo còn là làm chính trị, mà ở đó "cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng" và "cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ" như Chủ tịch Hồ Chí Minh-nhà báo vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam đã khẳng định.

   Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân đòi hỏi nhà báo, cơ quan báo chí phải nâng tầm văn hóa chính trị, văn hóa nghề nghiệp cho xứng tầm với vị thế, vai trò của mình trong xã hội, thì những người ngày đêm gắn bó với nghề chữ nghĩa, vất vả với nghiệp tuyên truyền rất mong muốn xã hội và các cấp, các ngành cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị cần coi trọng thực hiện tốt hơn văn hóa ứng xử với báo chí. Vì thực hiện văn hóa ứng xử với báo chí thực chất là phục vụ hiệu quả “Diễn đàn của các tầng lớp nhân dân” và làm tốt điều này cũng phù hợp với mục tiêu Đề án Văn hóa công vụ của Chính phủ đã đề ra./.