Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2021
Cơ hội, thách thức và đề xuất chính sách tham chiếu đối với Việt Nam
Trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0), việc xây dựng, phát triển và áp dụng AI trong hoạch định chính sách đối ngoại, tham gia quan hệ quốc tế, xử lý quan hệ đối ngoại..., bên cạnh những cơ hội, Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít thách thức.
Về cơ hội
Thứ nhất, việc nghiên cứu và triển khai sử dụng AI trong hoạch định chính sách đối ngoại trong quan hệ quốc tế vẫn đang trong quá trình xây dựng và triển khai giúp Việt Nam có nhiều cơ hội tham gia học hỏi, nghiên cứu, chia sẻ và nắm bắt được xu hướng xây dựng và phát triển AI trong quan hệ quốc tế, nhất là về chính trị, an ninh và kinh tế và không gian mạng. Qua đó, góp phần vào việc giữ gìn môi trường hòa bình, phục vụ phát triển nhanh và bền vững, cũng như đóng góp vào việc thực hiện nhiệm vụ giữ nước từ sớm, từ xa.
Thứ hai, Việt Nam có cơ hội tham gia, thảo luận, đối thoại ở cấp quốc tế và khu vực với các đối tác cùng chí hướng, qua đó góp phần thúc đẩy lợi ích chung, nhất là về chính sách quản lý liên quan đến AI. Công tác đối ngoại có thể hỗ trợ tăng cường nghiên cứu về AI thông qua thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới và hỗ trợ các cơ chế, thể chế hiện có. Ngoài ra, hợp tác khoa học - công nghệ quốc tế về AI góp phần cải thiện, thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia.
Thứ ba, với môi trường kinh doanh mở và nguồn nhân lực trẻ, nhiệt huyết và đam mê công nghệ, việc ứng dụng AI trong các lĩnh vực đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực y tế về truy vết, cảnh báo nguy cơ đại dịch COVID-19; các cơ quan phụ trách đối ngoại Việt Nam, nhất là Bộ Ngoại giao, có thể tranh thủ cơ hội này để thu hút những nguồn lực cần thiết để hỗ trợ, hợp tác xây dựng, phát triển công cụ AI phục vụ công tác chính trị, đối ngoại trong thời gian tới. Các đánh giá bổ sung trên cơ sở phân tích, tổng hợp do AI đưa ra có thể hỗ trợ, đóng góp cho công tác hoạch định chính sách đối ngoại, đưa ra kiến nghị, ban hành chính sách(15).
Thứ tư, cơ hội thúc đẩy các hoạt động kinh tế, đầu tư đối ngoại liên quan đến thu hút hợp tác, đầu tư và chia sẻ về công nghệ AI với các đối tác, tổ chức quốc tế. Việc phát triển công nghệ AI được dự báo giúp GDP của Việt Nam tăng 109 tỷ USD vào năm 2030. Báo cáo Quỹ đầu tư toàn cầu về đổi mới, sáng tạo của Xin-ga-po (EDBI) và Hãng tư vấn Mỹ Kearny năm 2020 cho biết, AI có thể giúp tăng thêm 1 nghìn tỷ USD cho GDP của khu vực Đông Nam Á đến năm 2030 nếu các quốc gia trong khối này bắt kịp tốc độ áp dụng(16).
Thứ năm, Việt Nam có cơ hội thụ hưởng, tham khảo từ các thành quả về phát triển AI đối với vấn đề quản lý, quản trị trong quan hệ quốc tế. AI hiện đang dần trở thành công cụ chính trong quan hệ quốc tế, nhất là trong lĩnh vực an ninh quốc tế, bởi AI đang được khá nhiều quốc gia ứng dụng, áp dụng trong việc sử dụng hệ thống vũ khí tự động, theo dõi những thỏa thuận hợp tác đã được ký kết, theo dõi sức mạnh quân sự hay những mối đe dọa và chiến tranh(17).
Về thách thức
Một là, so với các nước đi đầu về công nghệ AI, như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Xin-ga-po..., Việt Nam được cho là đi sau khá xa; các nhóm nghiên cứu của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin chưa kết hợp được với nhau để tạo ra những sản phẩm lõi cho AI. Thêm nữa, tại Việt Nam, mặc dù nhiều cộng đồng AI đã được hình thành, song phần lớn đều do khối tư nhân tự thành lập, phát triển.
Hai là, mặc dù các sản phẩm AI đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực, như y tế, giáo dục, nông nghiệp, giao thông, thương mại điện tử... nhưng lại chưa có sản phẩm AI công khai nào liên quan đến các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại tại Việt Nam. Đây sẽ là thách thức cần sớm có hướng giải quyết trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, đặc biệt là hội nhập quốc tế kỷ nguyên số.
Ba là, AI có thể đóng góp vào việc làm tăng tốc độ chia sẻ thông tin nhanh chóng, là lợi thế lớn nhưng cũng kèm theo nhiều bất lợi, như tin giả, thông tin sai lệch, độc hại, tấn công mạng, các mối đe dọa tới bảo mật và an ninh an toàn thông tin, thậm chí đe dọa tới an ninh quốc gia(18). Công nghệ AI có thể giúp tạo ra một khối lượng thông tin ảo và phổ biến với tốc độ cao và quy mô lớn trên mạng xã hội, từ đó có thể tạo ra những hiệu ứng bất ổn xã hội, kích động người dân và làm phân hóa sâu sắc hơn các vấn đề xã hội cũng như làm sai lệch công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Do vậy, làm tăng nguy cơ sử dụng AI can thiệp vào các vấn đề của Việt Nam từ các thế lực nước ngoài.
Bốn là, thách thức về hạ tầng, công nghệ, cũng như việc phụ thuộc vào linh kiện cao cấp đến từ các nhà cung cấp của Mỹ và phương Tây, như Intel, Qualcom, AMD... trong xây dựng, phát triển các nền tảng liên quan đến AI hoặc tích hợp AI trong các cơ quan nhà nước của Việt Nam, trong đó có các khối cơ quan liên quan đến đối ngoại. Hiện Tập đoàn Intel (Mỹ) chiếm 70% thị phần toàn cầu về bộ xử lý hình ảnh (GPU), còn các doanh nghiệp Mỹ chiếm 90% thị phần chíp toàn cầu.
Từ năm 2014, AI được đưa vào danh mục công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển của Việt Nam. Tháng 1-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030; đặt mục tiêu đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI, đưa AI trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam. Đến năm 2030, phấn đấu đưa Việt Nam vào nhóm danh sách bốn nước dẫn đầu trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI; xây dựng được 10 thương hiệu AI có uy tín trong khu vực. Trên thực tế tại Việt Nam, AI cũng bắt đầu được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực thực tế, như y tế, giáo dục, nông nghiệp, giao thông và thương mại điện tử..., nhất là trong hệ thống truy vết dịch bệnh COVID-19 phục vụ đắc lực Chính phủ trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19.
Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động ngày càng phức tạp và khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt với những điều chỉnh cả về mức độ và phương thức, tình hình dịch bệnh COVID-19 vẫn diễn biến hết sức phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ đến nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đồng thời làm gia tăng các nguy cơ về xung đột, bất ổn đối với hòa bình, an ninh quốc tế cũng như đe dọa đảo ngược, phá hủy những thành quả đạt được nhiều năm qua của thế giới về phát triển bền vững; trên cơ sở những phân tích, đánh giá về cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra nêu trên, để phát triển ứng dụng và áp dụng AI về khía cạnh chính trị, đối ngoại thời gian tới cần chú trọng một số biện pháp sau:
Ở cấp độ toàn cầu: 1- Tiếp tục chủ động thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại được đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, theo đó cân nhắc tập trung chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, nhất là tại ASEAN, Liên hợp quốc... và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Qua đó, có thể cân nhắc chủ động tham gia thảo luận liên quan đến việc xây dựng các khuôn khổ, chính sách lớn về công nghệ, đổi mới, sáng tạo, hợp tác số, AI tại các cơ chế, diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn(19).
2- Chủ động tham gia hoặc đề xuất các sáng kiến liên quan đến việc xây dựng chính sách toàn cầu về giám sát, an ninh, ngoại giao công chúng, đạo đức AI và khung chính sách dữ liệu toàn cầu tổng thể cần được xây dựng thông qua sự trợ giúp của các tổ chức đa phương. 3- Nghiên cứu, tìm hiểu và đóng góp vào việc thúc đẩy nhận thức của các quốc gia về các mối đe dọa tiềm ẩn của các ứng dụng AI hết sức cần thiết, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phổ biến toàn cầu về các kiến thức và chuyên môn về AI nhằm tránh sự mất cân bằng quyền lực và phân cực.
Ở cấp độ khu vực: 1- Chủ động tham gia đóng góp vào việc xây dựng các quy định về xây dựng, phát triển quản lý AI của ASEAN liên quan, bảo đảm thực hiện lợi ích quốc gia - dân tộc cũng như đóng góp vào công việc chung của ASEAN. 2- Thúc đẩy việc hợp tác, chia sẻ kiến thức, tri thức, dữ liệu liên quan đến AI trong khu vực và thảo luận về xây dựng các biện pháp ngoại giao phòng ngừa, chú trọng đến xây dựng lòng tin trong phát triển AI tại các diễn đàn quan trọng, như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). 3- Thúc đẩy việc hợp tác về AI giữa ASEAN với các đối tác quan trọng, các tổ chức quốc tế, như Liên hợp quốc, các tổ chức khu vực, qua đó tranh thủ được các nguồn lực cần thiết về đào tạo, xây dựng năng lực về AI cho Việt Nam.
Ở cấp độ quốc gia: 1- Sớm triển khai Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Chiến lược AI) và Chương trình chuyển đổi số quốc gia, trong đó cân nhắc có điều chỉnh ưu tiên cho lĩnh vực đối ngoại. 2- Thúc đẩy hợp tác quốc tế, tham khảo kinh nghiệm của mạng lưới hơn 30 đối tác, gồm đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, các nước trong khu vực, qua đó đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách liên quan đến yếu tố AI trong các lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng và an ninh. 3- Tìm hiểu, bổ sung các nội dung, thành tố quan trọng về đối ngoại trong quá trình thực hiện Chiến lược AI, góp phần vào việc thực hiện các chiến lược quan trọng trong tình hình mới, như chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, chiến lược an ninh mạng quốc gia... 4- Đối với các cơ quan đối ngoại, nên cân nhắc: nghiên cứu, xây dựng kế hoạch xây dựng hệ thống AI trong xây dựng, chuẩn hóa hệ thống dữ liệu, nghiên cứu, hoạch định, triển khai chính sách đối ngoại, xử lý quan hệ đối ngoại, công tác lãnh sự, bảo hộ công dân, công tác biên giới, lãnh thổ...; sớm có kế hoạch xây dựng và phát triển nguồn nhân lực về AI phục vụ các công tác đặc thù trong lĩnh vực đối ngoại; hợp tác, đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu uy tín, các tập đoàn công nghệ nổi tiếng (Viettel, VNPT, FPT, Bkav,...) để xây dựng bộ công cụ AI về đối ngoại(20); thông qua mạng lưới các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tìm kiếm cơ hội hợp tác, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các nước sở tại liên quan đến đối ngoại về triển khai, áp dụng AI trong hoạch định chính sách và quan hệ quốc tế(21); lồng ghép AI là một trong những ưu tiên trong các chiến lược, kế hoạch của các ban chỉ đạo quốc gia về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, an ninh mạng... cũng như của các cơ quan đối ngoại, như Bộ Ngoại giao./.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét