Chủ Nhật, 20 tháng 6, 2021

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG 47 TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

          Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, các thế lực thù địch đã lợi dụng không gian mạng để đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội ta. Trước tình hình đó, ngày 08/01/2016 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra Chỉ thị số 47-CT/TCCT Về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội (gọi tắt là lực lượng 47). Thời gian qua, lực lượng 47 trong toàn quân đã hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, đạt hiệu quả cao, được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận và đánh giá cao.

          Lực lượng 47 ở các cơ quan,đơn vị, báo chí Quân đội đã thành lập nhiều chuyên trang, chuyên mục phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kịp thời đăng tải hàng nghìn tin, bài viết đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý, bóc gỡ nhiều tin, bài viết, ảnh có nội dung phản cảm trên mạng internet. Lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã chủ động nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nắm chắc địa bàn; tích cực tổ chức đấu tranh với nhiều loại hình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhiều cơ quan, đơn vị phát huy hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm blog, kênh Youtube, tài khoản mạng xã hội… trong đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng. Hình thức đấu tranh chủ yếu là viết bài, xây dựng video clip phản bác lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch; bình luận, chia sẻ rộng rãi những bài viết có nội dung về đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, từ đó tạo hiệu ứng đấu tranh mạnh mẽ, tích cực trên không gian mạng. Với những thành tích đã đạt được, lực lượng 47 trong quân đội ngày càng khẳng địng rõ vai trò nòng cốt trong đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

          Trong thời gian tới, tình hình quốc tế và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn, các thế lực thù địch, tổ chức phản động tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, cản trở sự phát triển của đất nước… Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng 47 trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

          1.Toàn quân tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tường của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 08/01/2016 của Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Quân đội, phù hợp với tình hình cũng như đặc điểm, nhiệm vụ hoạt động lực lượng 47.

          2.Thường xuyên kiện toàn lực lượng 47 trong toàn quân, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và địa bàn đóng quân. Phát huy tốt vai trò của các cơ quan báo chí, cơ quan nghiên cứu, nhóm chuyên gia trong viết bài đấu tranh chuyên sâu, tạo nguồn thông tin tích cực trên Internet, mạng xã hội. Tăng cường phối hợp giữa lực lượng 47 trong quân đội với cơ quan chức năng, địa phương để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

          3.Các cơ quan chức năng của quân đội chủ động thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng.

          4.Thường xuyên duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm, blog đã được thành lập. Chú trọng liên kết với các trang, nhóm, blog khác để tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng mạng xã hội. Quan tâm đầu tư với tận dụng phát huy nguồn lực đơn vị, bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện kỹ thuật, kinh phí để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐIỀU CHỈNH THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHỐNG PHÁ VIỆT NAM


       Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Bởi vậy, việc nắm chắc những thủ đoạn đó để có đối sách xử lý đúng đắn, kịp thời và hiệu quả là vấn đề hệ trọng, cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

          Mục tiêu cuối cùng của chúng vẫn là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng những thủ đoạn rất thâm độc, nguy hiểm. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, để thích ứng với tình hình quốc tế và Việt Nam, chúng đã tiến hành những thủ đoạn đa dạng và vì thế càng nguy hiểm hơn.      

       Thứ nhất, thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường hợp tác nhiều mặt để thâm nhập, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam.

          Điều chỉnh đầu tiên là hạn chế can thiệp vào các vấn đề của Việt Nam, tuy nhiên họ thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động như: thông qua mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực để thâm nhập sâu hơn, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng, kinh tế - thương mại, xúc tiến đầu tư, ngoại giao để có điều kiện để tác động, hướng lái, gây sức ép Việt Nam thay đổi cơ chế, chính sách, pháp luật, tạo tiền đề cho sự thay đổi chế độ chính trị. Sự chuyển hướng này nhằm thực hiện kịch bản “dân chủ” ở nước ta; tìm mọi cách phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, chia rẽ quan hệ Việt Nam – Campuchia, quan hệ đối tác chiến lược Việt - Trung, Việt - Nga… hòng cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.

       Thứ hai, tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối nhằm đẩy nhanh tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việt Nam.

          Để thực hiện mưu đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, họ ra sức tranh thủ lợi dụng những phần tử thoái hóa, bất mãn, định kiến với chế độ ở trong nước, ngấm ngầm nhen nhóm, tổ chức xây dựng lực lượng, tổ chức chính trị; đồng thời coi đó là lực lượng nòng cốt, có tính quyết định cho việc chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vẫn là những thủ đoạn thâm độc, mua chuộc, lôi kéo, chia rẽ tạo ra các phe phái. Họ âm mưu chia rẽ Đảng, chính quyền các cấp với lực lượng vũ trang và nhân dân; hỗ trợ, thúc đẩy các lực lượng đối lập hoạt động chống phá, hòng làm thay đổi nền tảng tư tưởng, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Thủ đoạn thường dùng của họ là lôi kéo, mua chuộc những cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu, nhất là số cán bộ bị kỷ luật hoặc có mặt chưa đồng thuận với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước để “góp ý, hiến kế với Đảng”, “thư ngỏ”, “thư khẩn”, “đối thoại”, “sáng kiến pháp luật”, “tham gia đấu tranh chống tham nhũng”… từ đó thổi phồng khuyết điểm, những khó khăn, thiếu thốn, thiệt thòi về lợi ích so với đội ngũ cán bộ đương chức để kích động, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Ngoài ta, họ còn dùng nhiều thủ đoạn bỉ ổi hòng tạo ra các thế hệ thanh niên, sinh viên Việt Nam bàng quan, thờ ơ với những vấn đề thời cuộc; lãnh cảm chính trị, không quan tâm đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng...

       Thứ ba, đẩy mạnh xâm nhập, tác động, hướng lái truyền thông Việt Nam theo ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

          Để đạt được mục đích, họ đã sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại với một khối lượng lớn các đài phát thanh, loại hình sách, báo chí và các phương tiện thông tin tuyên truyền khác của phương Tây, của bọn phản động người Việt lưu vong để đưa tin, xuyên tạc tình hình Việt Nam. Triệt để sử dụng các trang mạng xã hội để tạo dư luận và kích động đòi quyền “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, đòi lập báo chí tư nhân; lái báo chí, truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, hoạt động theo ý đồ của các thế lực thù địch, tự do, cổ vũ, khuyến khích việc lập các trang mạng, facebook, blog, tràn lan, khó kiểm soát. Lợi dụng ưu thế của in-tơ-nét để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, các blog có nội dung kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Điều đáng quan ngại, phần lớn số người sử dụng in-tơ-nét ở nước ta hiện nay và trong thời gian tới là thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, nên những thông tin xấu độc dễ làm cho lớp trẻ nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng; bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của dân tộc và nhân dân, tiếp tay cho các thế lực thù địch, chống Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa.

       Họ đẩy mạnh việc làm giả các website, blog mạo danh các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bậc lão thành cách mạng… để lừa bịp dư luận, tạo độ tin cậy cho người đọc và thu hút người truy cập. Sau một thời gian, khi đã thu hút một số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật, làm cho người đọc lúng túng trong việc tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Đặc biệt, chúng triệt để sử dụng thủ đoạn dùng mạng xã hội, để nhanh chóng kết nối thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân; tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề nhạy cảm.

       Thứ tư, ráo riết thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo để “chuyển hóa” Việt Nam. Đây là một “ngón đòn” thâm độc được họ tập trung thực hiện. Họ xác định giáo dục - đào tạo là một trong những mũi đột phá, là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lái nền giáo dục Việt Nam đi theo quỹ đạo của phương Tây. Để thực hiện mưu đồ này, họ thực hiện chính sách hai mặt: (1) Mở chiến dịch xuyên tạc, phủ nhận thành quả của nền giáo dục - đào tạo Việt Nam, cho rằng nguyên nhân sâu xa và căn bản nhất của tình trạng này là do sự sai lầm trong đường lối lãnh đạo công tác giáo dục - đào tạo của Đảng, sự yếu kém trong quản lý của Nhà nước ta. Đây là cái cớ để họ kêu gọi phải thay đổi hiện trạng nền giáo dục Việt Nam bằng con đường mới “sáng sủa Tây học”. (2) Tiếp tục ra sức quảng bá, tô vẽ, khuếch trương nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến lý tưởng, con đường duy nhất để thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện làm “rạng rỡ tương lai, mở mang tiền đồ của đất nước”. Họ tăng cường sử dụng các thủ đoạn “câu khách” như: tổ chức các hội thảo, tọa đàm, triển lãm du học, tham quan các trường đại học danh tiếng... nhằm thu hút sinh viên Việt Nam du học tạo ra một “thế hệ cán bộ thân phương Tây”, để sau này nắm dần các cương vị trọng yếu trong nền kinh tế - xã hội và thậm chí trong hệ thống chính trị. Nguy hiểm hơn, họ còn đòi loại bỏ các môn lý luận Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi chương trình đào tạo; giảng viên, sinh viên được tự do về tư tưởng, không bị chi phối hoặc phụ thuộc vào bất cứ hệ tư tưởng nào, qua đó phục vụ cho mưu đồ chính trị của họ.

       Thứ năm, tiếp tục gia tăng các hoạt động nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Mục đích không có gì khác hơn của họ là làm cho lực lượng vũ trang ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu, bị vô hiệu hóa. Trước đây họ đã sử dụng, hiện nay và thời gian tới thủ đoạn này càng được triệt để sử dụng với tần suất và mưu mô ngày càng quyết liệt hơn, hòng vô hiệu hóa, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam. Trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta; làm lu mờ bản chất, truyền thống của Quân đội, Công an; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ, làm mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu của lực lượng vũ trang. Đồng thời, ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với lực lượng vũ trang; đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác Chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công an,… hòng làm mất uy tín của Quân đội, Công an. Bằng những hoạt động tinh vi, xảo quyệt, chúng thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào Quân đội, Công an; triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội, những hiện tượng tiêu cực để xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, Công an làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, Công an nhân dân...

       Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này./.

Thái Văn Đường là ai ???

 

          Thái Văn Đường (tên đúng là Đường Văn Thái) sinh năm 1982 tại Thôn Hà Lâm 3, Xã Thụy Lâm, Huyện Đông Anh, Hà Nội. Từ năm 2001, Đường Văn Thái từng tham gia công tác đoàn tại thôn Hà Lâm 3. Năm 2004, tham gia công tác Đoàn tại xã Thụy Lâm và được kết nạp vào Đảng. Năm 2009, Đường Văn Thái làm hợp đồng tại Trung Tâm quỹ đất huyện Đông Anh – Hà Nội. Năm 2013, Đường Văn Thái thi công chức nhưng không đỗ, từ đó Đường Văn Thái bất mãn và xin nghỉ việc từ năm 2014. Từ khi nghỉ việc, chẳng biết do đâu mà Đường Văn Thái bắt đầu tham gia giới rận chủ, coi đây như một nghề để kiếm cơm, được biết đến khi tham gia “biểu tình cá” năm 2016 và lập nhóm “Lều của đầy tớ”, chuyên đăng tải những thông tin thiếu cơ sở kiểm chứng, cóp nhặt từ trên mạng, rồi biến báo, xào xáo dựng chuyện.



          Đường lần lượt tham gia các tổ chức hội nhóm bất hợp pháp như Hội nhà báo độc lập, Hội anh em dân chủ và tiến hành nhiều hoạt động chống Nhà nước. Đường khởi tạo và tham gia điều hành nhóm “Lều Của Đầy Tớ” trên mạng xã hội Facebook, thường xuyên đăng tải và phát tán những hình ảnh, thông tin sai lệch về nhà cửa, gia thế của các quan chức, lãnh đạo.

          Cuối năm 2017, Thái Văn Đường về nước và nằm vùng tại TP.Hồ Chí Minh. Khoảng thời gian từ 2016 đến nay, lợi dụng các sự việc nóng gây bức xúc xã hội dưới sự trợ giúp đắc lực của internet – miền chiến thứ 5, Đường càng gia tăng tần suất đăng, chia sẻ các bài viết có nội dung sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc hiện thực khách quan, cố tình “đổi trắng, thay đen” gieo rắc sự hoài nghi, hoang mang để tạo dựng những miền chiến tư tưởng rồi dần kích động thành những miền chiến trên bộ với những cuộc bạo loạn đi đến lật đổ theo mô hình cách mạng màu. Thậm chí nhiều lần Đường còn lợi dụng các vấn đề như sự cố do Formosa gây ra để kích động biểu tình, bạo loạn.

          Số lượng người theo dõi nick facebook Thái Văn Đường ngày càng cao. Qua các comment trên facebook của Thái Văn Đường, ta có thể thấy Thái Văn Đường có mối quan hệ thân thiết với các nhà zận chủ đi trước có số má như Thảo Teresa hay Lê Dũng Vova… và cách hành văn ngày càng giống với đám Hiếu Buôn gió và tất nhiên,tổ chức khủng bố Việt Tân.

          Nếu tìm hiểu kỹ một chút về sự xuất hiện của cái tên Thái Văn Đường thì sẽ thấy nhân vật này rất đáng ngờ. Thái Văn Đường nổi lên qua hoạt động gây rối ở BOT Cai Lậy, Tiền Giang. Bên cạnh đó, đây còn là nhân vật cốt cán của nhóm “Bạn hữu đường xa”. Nhóm này được các tổ chức phản động như: Đảng Việt tân, Đảng dân chủ Việt, Chính phủ Việt Nam tự do tài trợ hàng trăm triệu để ngày ngày tổ chức gây rối ở BOT Cai Lậy. “Bạn hữu đường xa” là một trong các nhóm chiến lược quan trọng của Hội anh em dân chủ – tổ chức “đại lý” của Việt tân tại Việt Nam, nhằm tiếp cận anh em lái xe vốn ít học và dễ bị kích động. Chính Thái Văn Đường cũng là kẻ cung cấp tiền lẻ cho nhóm “Bạn hữu đường xa”.

          Nổi lên từ nhóm “Bạn hữu đường xa”, người ta ngày càng thấy Thái Văn Đường ấp ủ nhiều “dự án” hơn, như “Lều của đầy tớ”, lập đảng mới để chuẩn bị kịch bản tiếp quản đất nước khi Đảng Cộng sản Việt Nam mất quyền điều hành và nay thì chuyển hẳn sang thu lượm tin vịt về chính trị Việt Nam, miễn là có, không cần kiểm chứng nguồn, không cần biết đến đúng sai.

          Đây là hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chống chính quyền một cách điển hình. Và điều này cũng là lý do khiến Thái Văn Đường trở thành “mẫu hình” được Việt Tân và các băng đảng “đấu tranh dân chủ” yêu thích nhất và tìm kiếm tuyển chọn.

          Xin được nhắc lại về Hội Anh em dân chủ. Đây là tổ chức ngay từ ngày đầu thành lập bởi Nguyễn Văn Đài đã chọn cách đi cực đoan, chống phá. Từ tổ chức các dân oan biểu tình, can thiệp và thao túng các hoạt động của No-U bằng giằng giật người và dẫn đường tham gia Việt tân, tổ chức đưa người sao VOICE tham dự các khóa huấn luyện lật đổ chính quyền theo mô hình cách mạng màu. Hội Anh em dân chủ là tổ chức tập hợp nhiều thành phần cực đoan nhất trong cả nước với những cái tên như: Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Trung Tôn, Nguyễn Tường Thụy, Thảo Teresa,  Hòa TD, Lê Mỹ Hạnh và bây giờ là Thái Văn Đường.

         Như vậy, có thể thấy Thái Văn Đường cũng giống như nhiều nhà zận chủ trẻ khác, là một điển hình của những người bị đầu độc bởi các quan điểm sai trái, bị các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam dụ dỗ, lôi kéo vào con đường chống đối.

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG CƠ QUAN BÁO CHÍ, NHÀ XUẤT BẢN

Phát biểu chỉ đạo và kết luận Hội nghị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh: 6 tháng đầu năm 2021, công tác báo chí, xuất bản triển khai trong trong bối cảnh thuận lợi đan xen những khó khăn, thách thức. Về cơ bản, có thể khẳng định, công tác báo chí, xuất bản đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nổi bật. Thứ nhất, việc chấp hành chỉ đạo, định hướng, quản lý ngày càng được tăng cường, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả; công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm quy định của Đảng, Nhà nước trong hoạt động báo chí, xuất bản đã phát huy tác dụng tích cực; đẩy mạnh hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan báo chí, nhà xuất bản thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của mình; quan tâm, chú trọng công tác quảng bá sách, phát triển văn hóa đọc; đổi mới phương thức, hình thức tổ chức hội chợ, triển lãm sách… Thứ hai, tăng cường tính thuyết phục trong chỉ đạo, định hướng thông tin, trong nội dung thông tin trên báo chí, xuất bản qua đó tạo sự chuyển biến về nhận thức, chuyển tải nhận thức, niềm tin của mình tới cán bộ, đảng viên, nhân dân bằng những phương thức phù hợp, sáng tạo, có cơ sở khoa học. Thứ ba, báo chí, xuất bản sát bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước; chủ động đi trước một bước trong công tác thông tin, tuyên truyền; chủ động trong dự báo, phát hiện, nắm bắt tình hình; tập trung phân tích, đánh giá, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem giải quyết các vấn đề mới trong đời sống xã hội; phản ánh, biên soạn, xuất bản, phát hành nhiều ấn phẩm, xuất bản phẩm phục vụ việc thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn việc học tập, nghiên cứu, quán triệt đưa Nghị quyết và các văn kiện Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống; kết quả bầu cử Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; triển khai thực hiện Kết luận 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW; tuyên truyền nhiệm vụ kinh tế - xã hội, các sự kiện đối ngoại quan trọng; vấn đề chủ quyền trên biển Đông; nhiều sự kiện, vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm khác… Thông tin, tuyên truyền về phòng chống dịch COVID-19, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái thù địch cũng được các cơ quan báo chí, nhà xuất bản quan tâm, triển khai thực hiện có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tình hình thực tiễn. Bên cạnh những kết quả đạt được, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa cũng khái quát một số biểu hiện chưa tích cực và nêu lên những nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm, đồng thời đề nghị, từ nay đến cuối năm 2021, công tác báo chí, xuất bản cần tập trung cao độ, góp phần cùng ngành tuyên giáo, cùng hệ thống chính trị cả nước triển khai đưa Nghị quyết, các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ vào cuộc sống. Một là, cần bám thật sát, thật chắc các tư tưởng chỉ đạo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về công tác báo chí, truyền thông, xuất bản để triển khai thực hiện bảo đảm hiệu quả, trọng tâm, trọng điểm. Các cơ quan chỉ đạo, quản lý, cơ quan báo chí, xuất bản, những người làm công tác báo chí xuất bản phải tự nghiên cứu thật kỹ, cụ thể hóa tinh thần, nội dung Nghị quyết, xác định cho mình những nhiệm vụ cần triển khai, thực hiện, trên cơ sở nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn nữa về yêu cầu đối với công tác báo chí, xuất bản trong tình hình mới. Hai là, tập trung thông tin tuyên truyền thật tốt những nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong năm 2021 và nhiệm kỳ 2021- 2026. Công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí, nội dung thông tin trên xuất bản phẩm cần kịp thời, đầy đủ, toàn diện mang tính định hướng, là cầu nối giữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành với việc triển khai thực hiện, thực thi nhiệm vụ. Ba là, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; sự phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Xuất bản Việt Nam và cơ quan chủ quản nhằm tạo sự thống nhất trong lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí, xuất bản; tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025; tiến hành tổng kết Quy hoạch phát triển xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Đảng, Nhà nước về báo chí, xuất bản bảo đảm thống nhất, đồng bộ, tăng cường hiệu lực, hiệu quả, đồng thời hỗ trợ, tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, tạo điều kiện cho báo chí, xuất bản hoạt động, trong đó chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ báo chí, xuất bản phát triển. Bốn là, cơ quan chủ quản báo chí, xuất bản cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động cơ quan báo chí, xuất bản trực thuộc từ công tác lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, thực hiện chuyển đổi số; đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị... Tăng cường rà soát, chấn chỉnh công tác tổ chức, điều hành hoạt động cơ quan báo chí, nhà xuất bản trực thuộc để phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong hoạt động báo chí, xuất bản; rà soát chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan báo chí, nhà xuất bản để sắp xếp theo hướng tinh gọn, thiết thực và hiệu quả. Chú trọng nắm bắt, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm, đúng quy định của pháp luật tình trạng lợi dụng các nền tảng truyền thông trên Internet để thông tin sai sự thật, kích động, vu khống, bôi nhọ, xúc phạm uy tín, danh dự tổ chức, cá nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận xã hội. Tăng cường công tác xây dựng Đảng trong cơ quan báo chí, nhà xuất bản. Năm là, lãnh đạo các cơ quan báo chí, nhà xuất bản, người làm báo, người làm xuất bản nêu cao tinh thần cách mạng, ý thức trách nhiệm, sứ mệnh nghề nghiệp, phát huy trí tuệ, tài năng, tâm huyết để xây dựng những sản phẩm báo chí, xuất bản phẩm có chất lượng chuyên môn cao, bám sát hơi thở cuộc sống, dẫn dắt, cổ vũ, tạo động lực, niềm tin hướng tới những giá trị nhân văn cao đẹp, tích cực... Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí, nhà xuất bản về mọi hoạt động của cơ quan trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn. Chủ động, sáng tạo, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng các sản phẩm báo chí, xuất bản phẩm đáp ứng nhu cầu đa dạng của bạn đọc, công chúng trong tiếp nhận thông tin và nâng cao tri thức quốc gia./.

Thí điểm 'hộ chiếu vaccine': Mở ra cơ hội phục hồi cho du lịch Việt Nam

Sau phiên họp về tình hình phòng, chống dịch COVID-19 vào ngày 11/6, Bộ Chính trị đã kết luận về một số nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có việc “nghiên cứu cho thí điểm sử dụng hộ chiếu vaccine với khách quốc tế đến một số trung tâm du lịch có thể kiểm soát được dịch bệnh, như Phú Quốc, Kiên Giang”. Hộ chiếu vaccine chứng minh một cá nhân đã được tiêm chủng đầy đủ vaccine ngừa COVID-19. Ảnh: The Regulatory Review Các chuyên gia du lịch đánh giá, nếu thí điểm thành công và an toàn thì sẽ nhanh chóng mở rộng ra các điểm du lịch khác. Đó cũng là cơ hội để du lịch Việt Nam đón khách trở lại, với cả khách quốc tế và nội địa, du lịch nước ta phục hồi trở lại sau khủng hoảng nặng nề do dịch COVID-19. Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Đắc Phu, Cố vấn cao cấp Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam (Bộ Y tế): Hộ chiếu vaccine thực chất là giấy chứng nhận cho một người đã tiêm đủ số mũi vaccine theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý nhà nước, thông thường là 2 mũi. Hiện nay nhiều nước trên thế giới áp dụng và triển khai mạnh mẽ chính sách “hộ chiếu vaccine” để nhanh chóng phục hồi các hoạt động du lịch và giao thương quốc tế. Theo ông Nguyễn Văn Gia, chuyên gia về phát triển điểm đến du lịch, việc tiêm vaccine phòng COVID-19, áp dụng hộ chiếu vaccine đã góp phần xóa bỏ rào cản đi lại, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có mở cửa du lịch trở lại. Ở châu Âu, Italy, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Croatia, Iceland là các quốc gia đã mở cửa cho khách du lịch từ Mỹ. Dự báo, các quốc gia khác của châu Âu cũng sẽ mở cửa cho khách quốc tế khi mùa du lịch hè đang tới. Từ đầu tháng 6/2021, Đức, Hy Lạp, Đan Mạch, Bulgaria, Czech, Croatia và Ba Lan đã triển khai hộ chiếu vaccine, sớm hơn một tháng so với kế hoạch chung của Liên minh châu Âu (EU) là từ ngày 1/7. Đây là hành động để chuẩn bị cho mùa du lịch hè trở lại sau thời gian người dân bị hạn chế đi lại quá lâu để phòng, chống dịch. Hy Lạp là một trong những quốc gia đi đầu trong nỗ lực khôi phục du lịch với sự trợ giúp của hộ chiếu vaccine. Còn nước Pháp, bắt đầu mở cửa biên giới đón du khách quốc tế trở lại từ ngày 9/6. Khách châu Âu đã tiêm vaccine không cần xét nghiệm, khách từ nơi khác đã tiêm vaccine vẫn phải kèm kết quả âm tính. Ở Đông Nam Á, Thái Lan cho biết du khách nước ngoài đến Phuket từ ngày 1/7 sẽ không bị cách ly. Thời gian họ phải ở trên đảo trước khi tới tham quan các nơi khác của đất nước là 14 ngày. Đối tượng khách được phép nhập cảnh Phuket trong giai đoạn đầu là đã tiêm 2 mũi vaccine phòng COVID-19, trẻ em dưới 6 tuổi và đến từ các quốc gia nằm ở mức có nguy cơ dịch bệnh thấp, trung bình. Du khách từ 6-18 18 tuổi sẽ được làm xét nghiệm kháng nguyên tại sân bay… Nhiều chuyên gia du lịch đều cho rằng: Nếu Việt Nam sớm chuẩn bị, đề ra các giải pháp kỹ thuật và sẵn sàng ban hành cơ chế, chính sách hợp lý trong bối cảnh này thì sẽ tạo ra thế mạnh cho du lịch Việt Nam. Cụ thể là du lịch nước ta sẽ thu hút và đáp ứng nhu cầu đi du lịch của rất nhiều người trên thế giới đã có được hộ chiếu vaccine. Bên cạnh đó, chính sách hộ chiếu vaccine cũng góp phần kịp thời khôi phục các hoạt động vận chuyển hàng không, mặt đất và dịch vụ bổ trợ khác…, góp phần hoàn thành các mục tiêu kép vừa phòng chống dịch bệnh vừa phát triển kinh tế xã hội, một lần nữa khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Dù nhiều nước trên thế giới đã triển khai hộ chiếu vaccine nhưng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho đến nay vẫn chưa ủng hộ ý tưởng cấp hộ chiếu vaccine để thúc đẩy hoạt động đi lại. Tổ chức Y tế thế giới cho rằng hiện chưa phải là thời điểm để sử dụng hộ chiếu vaccine, bởi vẫn còn nhiều ẩn số liên quan đến hiệu quả của tiêm chủng trong việc ngăn ngừa COVID-19, trong khi nguồn cung cấp vaccine vẫn còn hạn chế. Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn cũng cho rằng, hộ chiếu vaccine chỉ có hiệu quả khi trong nước đạt được miễn dịch cộng đồng, nghĩa là 70% dân số trở lên được tiêm chủng. Do đó khi áp dụng hộ chiếu vaccine, chúng ta phải lưu ý, xem xét và thông tin đầy đủ để áp dụng, triển khai đảm bảo hiệu quả và an toàn. Bộ Y tế đưa ra 3 phương án thực hiện hộ chiếu vaccine. Trong đó, nhóm đối tượng thứ nhất là người Việt Nam bị mắc kẹt ở nước ngoài. Thứ hai là người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam đầu tư, kinh doanh và thứ ba là khách du lịch quốc tế. Triển khai phải đảm bảo an toàn Hiện tỉ lệ tiêm vaccine ngừa COVID-19 của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, chưa thể đạt miễn dịch cộng đồng nên nếu triển khai ồ ạt hộ chiếu vaccine với người từ nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam mà không quản lý chặt thì có thể làm lây nhiễm dịch bệnh ra cộng đồng, nguy cơ không kiểm soát được. Vì vậy, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Đắc Phu đề xuất, trước mắt Việt Nam có thể áp dụng mô hình "du lịch ít tiếp xúc". Nghĩa là những người có hộ chiếu vaccine có thể nhập cảnh, được xét nghiệm COVID-19, cách ly tập trung trong số ngày hợp lý, đến những nơi không có giao lưu đi lại và tập trung đông người. Tất cả các hoạt động này phải được giám sát chặt chẽ và thống nhất giữa Bộ Y tế cùng các Bộ, ngành liên quan. Việt Nam cần có chiến lược để công nhận hộ chiếu vaccine với các nước theo hình thức song phương hoặc một khu vực. Trước mắt thí điểm áp dụng hộ chiếu với một vài nước có tỷ lệ tiêm chủng cao, với loại vaccine đạt hiệu quả miễn dịch cao, được tổ chức y tế có uy tín phê chuẩn… Ông Nguyễn Tiến Đạt, Tổng giám đốc công ty du lịch AZA Travel đề xuất thử nghiệm hộ chiếu vaccine trước tiên tại thị trường nội địa. Ông chia sẻ: Đã giữa hè 2021 nhưng các công ty du lịch, khách sạn, du thuyền, hàng không… Việt vẫn đang phải “ngủ đông và mơ những cơn ác mộng”. “Cơn bão” mang tên COVID-19 lần thứ 4 có lẽ là cú "nốc ao" khiến nhiều doanh nghiệp du lịch, nhà hàng, khách sạn, du thuyền, các cơ sở dịch vụ… vốn đã điêu đứng qua 3 lần dịch trước, giờ thêm khó khăn bội phần. Theo ông Nguyễn Tiến Đạt, Việt Nam đã và đang chống dịch rất tốt. Tuy nhiên, chỉ có vaccine và miễn dịch cộng đồng mới giúp chúng ta trở lại cuộc sống bình thường. Chính vì vậy mà Chính phủ và cả xã hội đang chạy đua để có nguồn vaccine để tiêm đại trà cho người dân. Với ngành du lịch, nhân sự ở các vị trí tiếp xúc với khách hàng thường xuyên sẽ cần là đối tượng được ưu tiên tiêm vaccine. Doanh nghiệp du lịch tuỳ theo khả năng của mình cũng có thể tham gia đóng góp vào Quỹ vaccine phòng COVID-19 để được ưu tiên tiêm vaccine cho nhân sự doanh nghiệp mình, tạo sự an toàn khi mở cửa đón khách. Vấn đề hộ chiếu vaccine hiện đã được một số nước châu Âu như Hi Lạp, Đan Mạch, Pháp… triển khai, các nước châu Á như Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc cũng đang bắt đầu tiến hành thử nghiệm. Do là vấn đề mới và còn nhiều băn khoăn nên ông Nguyễn Tiến Đạt đề xuất Việt Nam nên thử nghiệm hộ chiếu vaccine trước tiên là trong nội địa, cho du lịch nội địa bằng cách miễn hoặc giảm các biện pháp cách ly, xét nghiệm…cho người đã có hộ chiếu vaccine, nhất là người từ các vùng “an toàn”. Vì hiện nay nhiều tỉnh, thành phố chỉ mở cửa cho du lịch nội bộ cho người trong tỉnh, trong khi người ngoại tỉnh kể cả có hộ chiếu vaccine thì vẫn không được vào hoặc vẫn phải xét nghiệm phức tạp, cách ly… do chưa có quy định ưu tiên cho người mang hộ chiếu vaccine. Việc thử nghiệm hộ chiếu vaccine CVOID- 19 tại thị trường nội địa sẽ dễ thực hiện và dễ điều chỉnh hơn nhiều. Từ thực tế triển khai ở thị trường du lịch nội địa nếu thành công sẽ triển khai hộ chiếu vaccine đón khách quốc tế mang hộ chiếu vaccine có chọn lọc từ các thị trường tương đối an toàn. Ông Nguyễn Tiến Đạt cũng cho rằng điểm đón tại Việt Nam cho khách quốc tế mang hộ chiếu vaccine có thể ban đầu là Phú Quốc (tương đối biệt lập), nếu thành công và an toàn sẽ mở rộng ra các điểm du lịch khác. Hình thức tour thử nghiệm đón khách quốc tế mang hộ chiếu vaccine có thể là tour golf, tour nghỉ dưỡng (với tính chất thoáng, ít tiếp xúc nhiều người nên nguy cơ lẫn nhiễm ít hơn). Từ đó Việt Nam sẽ có cơ hội đón khách quốc tế, phục hồi du lịch nhanh hơn hoặc ít nhất là không bị tụt hậu so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Nhật Bản… Các đơn vị lữ hành, du lịch và chuyên gia đều cho rằng để đưa hoạt động du lịch trở lại cần phải có lộ trình, giải pháp và những bước đi thận trọng. Mấu chốt nhất là phải đảm bảo an toàn cho du khách và phải xây dựng được các điểm đến an toàn. Để chuẩn bị đón khách quốc tế trở lại trong thời gian tới, nhiều đơn vị lữ hành, du lịch đã kết nối, trao đổi, chia sẻ thông tin du lịch Việt Nam với các đối tác nước ngoài; nghiên cứu rất kỹ thị trường, nhu cầu, cách triển khai chắc chắn, an toàn, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn.../.

Thúc đẩy nhân quyền hay can thiệp vào công việc nội bộ?

Những năm qua, một trong các yếu tố tạo nên uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế là việc Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định quan điểm tiến bộ, tích cực về nhân quyền, đồng thời cố gắng tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng các quyền của mình và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhân quyền không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, không phải khi nào hoạt động này cũng nhận được sự hợp tác thiện chí từ một số quốc gia. Tại phiên họp cấp cao khóa 16 Hội đồng Nhân quyền LHQ ở Giơ-ne-vơ (Geneva), khi Việt Nam lần đầu chính thức tuyên bố ứng cử làm thành viên nhiệm kỳ 2014 - 2016 của tổ chức này, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định: Nhà nước Việt Nam quyết tâm thực hiện mục tiêu "tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và Nhà nước pháp quyền, các quyền con người ở Việt Nam ngày càng được tăng cường", "phấn đấu cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy việc hưởng thụ và bảo vệ nhân quyền cho nhân dân các nước". Không chỉ bằng những tuyên bố, mà qua nhiều việc làm, thành tích cụ thể trong thúc đẩy nhân quyền, Việt Nam đã nhận được sự tín nhiệm, ủng hộ của các chính phủ, và dư luận rộng rãi trên thế giới. Ngày 12-11-2013, Ðại hội đồng LHQ khóa 68 đã bầu Việt Nam làm thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền, với 184 nước ủng hộ trong số 193 nước tham gia bỏ phiếu. Trong phiên Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) tháng 2-2014, việc Việt Nam chấp thuận hơn 80% số khuyến nghị các quốc gia đưa ra đã thể hiện quyết tâm, thiện chí thúc đẩy, hòa đồng các giá trị nhân quyền với thế giới. Bên cạnh các hoạt động này, Việt Nam còn tích cực hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế để phát huy các giá trị nhân quyền tốt đẹp, phù hợp đạo đức, thuần phong mỹ tục, lợi ích dân tộc, mở ra các kênh đối thoại, tổ chức hội thảo để chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia ở các cấp độ khác nhau, như hội thảo chia sẻ kinh nghiệm châu Âu về bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, diễn ra vào tháng 6-2013 tại Quảng Ninh. Chính vì thế, dư luận Việt Nam rất bức xúc khi thấy một số cơ quan truyền thông và tổ chức quốc tế, một số cá nhân và chính phủ như cố tình bỏ qua các quan điểm tích cực cùng thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, mà phê phán thiếu thiện chí, thậm chí coi nhân quyền là điều kiện để xúc tiến các quan hệ. Như ngày 30-7, Ðại sứ quán Ô-xtrây-li-a cùng Ðại sứ quán Hoa Kỳ, EU, nhóm G4 (Ca-na-đa, Niu Di-lân, Na Uy, Thụy Sĩ) đã tổ chức tại trụ sở Ðại sứ quán Ô-xtrây-li-a ở Hà Nội hội thảo "Truyền thông phi nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay". Diễn biến hội thảo cho thấy, dường như diễn giả và phần lớn ý kiến phát biểu ít phù hợp với chủ đề "thảo luận về truyền thông phi nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay, kể cả những phương tiện truyền thông mới như các blog", "xã hội dân sự có thể sử dụng phương tiện truyền thông mới như thế nào để thúc đẩy nhân quyền trong khuôn khổ của hệ thống chính trị Việt Nam", mà chủ yếu phê phán thiếu thiện chí, thiếu xây dựng đối với vấn đề được đặt ra; tập trung đề cập tới việc Nhà nước Việt Nam "đàn áp tự do ngôn luận", xử phạt một số trang mạng cá nhân đã "phê bình, chỉ trích Chính phủ", xử lý người gây rối an ninh - trật tự, cho rằng cuộc sống của một vài cá nhân gặp khó khăn là do cơ quan công quyền sách nhiễu,...? Về hiện tượng này, blogger Võ Khánh Linh nhận xét: "Hội thảo có vẻ như đã vượt ra khỏi giới hạn bày tỏ sự ủng hộ với thiện chí của Nhà nước Việt Nam đối với khuyến nghị của Ô-xtrây-li-a trong việc tạo môi trường thúc đẩy tự do ngôn luận, nó dường như hướng đến việc Ô-xtrây-li-a muốn "tranh thủ" việc này để "tạo môi trường hợp pháp" từ đặc quyền ngoại giao về trụ sở của mình cho những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam với mục đích chống Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia được phát biểu lên án chính quyền dưới lá bài hộ mệnh về cái gọi là "tự do ngôn luận"..."!? Lý do khiến dư luận bức xúc không chỉ do nội dung của hội thảo, mà còn do danh sách khách mời và cách thức mà nơi tổ chức bày tỏ. Vì về công khai, khách mời là dành cho quan chức chính phủ, tổ chức chính trị - xã hội, các NGO, các tổ chức xã hội dân sự nhưng trên thực tế, dường như họ lại dành "biệt đãi" cho một số blogger mà chính phủ, hệ thống truyền thông và người dân Việt Nam từng công khai phê phán, thậm chí có người trong số họ từng bị pháp luật xử lý vì xâm phạm tới an ninh quốc gia. Chẳng lẽ Ðại sứ quán Ô-xtrây-li-a và các Ðại sứ quán đã phối hợp tổ chức hội thảo lại không biết gì về một số cá nhân, hội nhóm chỉ tồn tại trên in-tơ-nét (internet) thường xuyên đề cập tới tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với kiểu đưa tin cực đoan, một chiều, rất thiếu khách quan nhằm phục vụ ý đồ chính trị xấu, đặc biệt là được sự chỉ đạo của các đảng phái, hội nhóm thù địch với Việt Nam ở nước ngoài, như "tổ chức khủng bố Việt tân", "Voice", "dân làm báo",... Những người này đã đi ngược lại lợi ích dân tộc, đưa thông tin sai lệch nhằm tác động để nước ngoài can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam để họ có cơ hội lật đổ thể chế chính trị, gây rối loạn đất nước. Trước hội thảo này, một số hội thảo khác đã được tổ chức có sự tham dự của một số đại diện cơ quan ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam, như hội thảo "Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát: Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế" tại trụ sở EU ngày 20-5-2014, thậm chí cả cái gọi là "hội thảo Quyền tự do đi lại" do một số kẻ trong cái gọi là "nhóm Tuyên bố 258" tổ chức tại một quán cà-phê ở Hà Nội. Các hoạt động này thường không hoàn toàn hướng tới giá trị thiết thực là chia sẻ kinh nghiệm thúc đẩy giá trị nhân quyền như công bố, mà dường như chỉ hướng tới việc cổ súy các thành phần hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam? Bên cái gọi là hội thảo, gần đây còn thấy đại diện một số cơ quan ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam như đang gia tăng tiếp xúc với một số phần tử chống đối. Nội dung các cuộc gặp luôn được chính các thành phần đã được "ưu ái tiếp xúc" quảng cáo rùm beng trên internet mà qua đó cho thấy, mục đích là kêu gọi một số quốc gia gây sức ép để buộc Chính phủ Việt Nam thừa nhận những tổ chức bất hợp pháp, trả tự do cho các đối tượng vi phạm pháp luật đang thi hành án, cung cấp và hỗ trợ về tinh thần, vật chất giúp mấy hội nhóm này "đấu tranh bất bạo động"! Và gặp xong là họ liền vội vã khoe khoang như thành công đáng khích lệ, cổ vũ nhau hoạt động bất chấp quy định pháp luật và sự bức xúc của dư luận, thậm chí rùm beng rằng "chế độ sắp đến ngày sụp đổ", "thời cơ cách mạng đã chín muồi"! Theo pháp luật Việt Nam, các hội thảo do cơ quan tổ chức quốc tế tiến hành tại Việt Nam phải tuân thủ Quyết định Về việc tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam - số 76/2010/QÐ-TTg được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 30-11-2010. Trong đó, tại khoản 3, Ðiều 3 viết rõ: "Tổ chức nước ngoài khi tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế phải thực hiện theo quy trình sau: a. Có kế hoạch tổ chức trình cấp có thẩm quyền nêu tại khoản 2, Ðiều 3 của Quyết định này phê duyệt. Thời hạn trình ít nhất là 20 ngày trước ngày dự kiến tổ chức. Kế hoạch tổ chức cần nêu rõ: Lý do, danh nghĩa tổ chức, mục đích của hội nghị, hội thảo; thời gian và địa điểm tổ chức hội nghị, hội thảo; địa điểm tham quan, khảo sát (nếu có); hình thức và công nghệ tổ chức (trong trường hợp hội nghị, hội thảo trực tuyến); nội dung, chương trình làm việc và các hoạt động bên lề hội nghị, hội thảo; thành phần tham gia tổ chức: cơ quan phía nước ngoài, cơ quan phía Việt Nam, cơ quan tài trợ (nếu có); Thành phần tham dự: số lượng và cơ cấu thành phần đại biểu, bao gồm cả đại biểu có quốc tịch nước ngoài và đại biểu Việt Nam. Sau khi nhận được kế hoạch tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, cấp có thẩm quyền lấy ý kiến bằng văn bản của các cơ quan, địa phương liên quan; ra quyết định việc tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế theo đề nghị của các tổ chức nước ngoài hoặc trình Thủ tướng Chính phủ nếu vượt quá thẩm quyền của mình. Cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời gian không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị. b. Tiến hành hội nghị, hội thảo theo đúng chương trình, đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. c. Gửi báo cáo tóm tắt kết quả hội nghị, hội thảo cho cấp có thẩm quyền trong phạm vi 15 ngày kể từ khi kết thúc hội nghị, hội thảo". Trên thực tế, cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam đã lên tiếng rằng, Việt Nam không hoan nghênh tổ chức hội thảo, và coi đây là hành động can thiệp vào công việc nội bộ. Vậy bằng việc làm đó, phải chăng một số cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Hà Nội không chỉ không tôn trọng pháp luật Việt Nam, cố ý can thiệp vào vấn đề nội bộ, tạo điều kiện "hợp thức hóa" một số cá nhân, tổ chức đang có hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, mà còn vi phạm chính nguyên tắc ngoại giao được quy định tại Ðiều 41 - Công ước Viên năm 1961, trong đó các nhân viên ngoại giao: "1. Không làm phương hại đến các quyền ưu đãi và miễn trừ của mình, tất cả những người hưởng các quyền đó có nghĩa vụ lớn trong luật lệ của Nước tiếp nhận. Họ cũng có nghĩa vụ không được can thiệp vào công việc nội bộ của Nước tiếp nhận",... "3. Trụ sở của cơ quan đại diện không được đem sử dụng một cách không phù hợp với các chức năng của cơ quan đại diện đã được nêu trong Công ước này hoặc trong những quy phạm khác của công pháp quốc tế, hoặc trong những hiệp định riêng hiện hành giữa Nước cử đi và Nước tiếp nhận"? Trên cơ sở lợi ích quan hệ được xây dựng, vun đắp nhiều năm giữa Việt Nam với các quốc gia, mong các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài nêu trên cân nhắc kỹ lưỡng hơn, cẩn trọng hơn để không tái diễn các hoạt động tương tự. Ðồng thời, hy vọng các cơ quan chức năng của Nhà nước cần có phản hồi mạnh mẽ, để cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài nào đó trước khi tiến hành bất cứ hoạt động gì cũng cần phải tôn trọng pháp luật Việt Nam cũng như tôn trọng các nguyên tắc ngoại giao theo quy định quốc tế./.

Đẩy mạnh tuyên truyền, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tuyên truyền, phổ biến những quan điểm đúng đắn, đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết, góp phần bảo vệ giá trị di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân ta và bạn bè quốc tế, giúp cho thế hệ trẻ Việt Nam nói chung, sinh viên nói riêng không bị “lạc lối”, không bị tác động xấu bởi những thông tin sai lệch. Nói về kinh nghiệm “Diễn biến hòa bình” - cuộc “chiến tranh không có khói súng” ở nhiều nước XHCN, các thế lực thù địch cho rằng: Muốn đánh đổ chế độ xã hội XHCN thì không chỉ tấn công vào hệ tư tưởng, cường điệu các sai lầm, khuyết tật của Đảng Cộng sản, của cán bộ, đảng viên mà còn phải “hạ bệ thần tượng”, đánh đổ “huyền thoại”- những người tiêu biểu nhất cho ý chí cách mạng, khát vọng của nhân dân, trí tuệ của dân tộc, làm sụp đổ tận gốc niềm tin của quần chúng đối với con đường cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là biện pháp thâm hiểm nhất. Vì vậy, các thế lực thù địch không từ một thủ đoạn nào, tận dụng mọi diễn đàn trong thời đại công nghệ thông tin hiện đại để bôi xấu, xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng sản Việt Nam... Những thông tin sai lệch ấy ngày càng nhiều trên mạng Internet và có một bộ phận sinh viên đã đọc, nghe về những luận điệu xuyên tạc sai sự thật này. Trong số ấy, có người bán tín, bán nghi về những thông tin đã được đọc; có một số ít học sinh, sinh viên bị lôi kéo, dụ dỗ tham gia các hoạt động tà đạo, rải truyền đơn với nội dung xuyên tạc đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam… Do đó, cần phải nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho học sinh, sinh viên. Tuyên truyền, phổ biến những quan điểm đúng đắn, đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết, góp phần bảo vệ giá trị di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân ta và bạn bè quốc tế, giúp cho thế hệ trẻ Việt Nam nói chung, sinh viên nói riêng không bị “lạc lối”, không bị tác động xấu bởi những thông tin sai lệch trên Internet. Để nâng cao nhận thức chính trị cho sinh viên, giúp sinh viên hiểu biết đúng đắn về Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người, bên cạnh việc cung cấp kiến thức trong các chương trình giảng dạy của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cần chú trọng những nội dung sau: Thứ nhất, tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến những quan điểm đúng đắn, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là trên Internet, vì đây chính là nơi có lượng người truy cập, theo dõi đông đảo. Đây cũng chính là môi trường lan truyền nhanh của những luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặt khác, cũng cần phổ biến các quan điểm đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình giảng dạy và học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, các môn học lý luận chính trị nói chung. Kết quả một cuộc điều tra xã hội học với 300 sinh viên của trường Đại học Tây Nguyên cho thấy: Có 97,67% sinh viên chọn giải pháp chủ động tuyên truyền, làm rõ sự đúng, sai của các thông tin liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và có 1,33% sinh viên cho rằng cứ lờ đi, không đề cập, xem như không biết những luận điệu xuyên tạc đó. Từ thực tế đó, có thể thấy rằng trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần lồng ghép vào nội dung bải giảng những quan điểm phản bác, chống lại các luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng đối tượng sinh viên thuộc các khoa, các hệ đào tạo khác nhau. Đối với những sinh viên có nhận thức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, có thể cho sinh viên thảo luận để tự sinh viên có thể có lập luận chống lại những luận điệu xuyên tạc, sau đó giáo viên khái quát lại và đưa ra định hướng đúng. Đối với những sinh viên có nhận thức hạn chế, thậm chí có thái độ dao động, nghi ngờ thì giáo viên cần chủ động tuyên truyền, khẳng định những thông tin đúng, bác bỏ những thông tin sai trái, nhắc nhở kịp thời nhưng khéo léo để làm cho sinh viên có được những nhận thức đúng đắn. Thứ hai, kiểm soát tốt các thông tin sai lệch, phản động trên mạng Internet, vì học sinh, sinh viên cũng là một trong những đối tượng thường xuyên sử dụng Internet nhiều nhất. Một số ít sinh viên, học sinh các trường học trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột bị lôi kéo tham gia các hoạt động tà đạo thời gian qua cũng bắt nguồn từ mạng Internet. Làm thế nào để thanh niên có đủ bản lĩnh nhận ra đâu là đúng, đâu là sai giữa muôn vàn thông tin diễn ra hàng ngày, hàng giờ? Điều này đòi hỏi các trang mạng điện tử chính thống, có uy tín, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, đúng sự thật về tình hình trong nước và quốc tế, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về chủ trương, đường lối của Đảng. Sau mỗi sự kiện được dư luận chú ý, rất cần có các hình thức diễn đàn, tranh luận trên mạng Internet để giúp tuổi trẻ nhận thức đúng, cái mới, có sức đề kháng trước những trang web “đen”, những thông tin “nhân danh cái mới” xuất hiện nhiều trên mạng Internet. Sinh viên Nguyễn Phương Uyên – người vừa bị xét xử vì hoạt động chống phá Nhà nước - đã bị lôi kéo vào những hoạt động phạm pháp từ chính những người bạn làm quen trên mạng Internet là một ví dụ về việc không nhận thức đúng về những thông tin trên mạng Internet. Thứ ba, nâng cao ý thức và năng lực tự học, tính sáng tạo, tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu của sinh viên. Cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình thảo luận, chú ý nghe giảng và ghi chép trong giờ học trên lớp, thay vì mỗi ngày thường xuyên vào mạng chỉ để lướt Facebook, chơi game, sinh viên cần dành thời gian, chủ động tìm kiếm các tài liệu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; quan tâm tìm hiểu những sự kiện chính trị của đất nước… trên sách, báo, các trang điện tử chính thống trong và ngoài nước. Thứ tư, nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống của giảng viên dạy các môn lý luận chính trị nói chung, môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng: “Một tấm gương sống còn hơn trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Thực tế hiện nay cũng cho thấy, công tác giảng dạy các môn học lý luận chính trị chỉ có hiệu quả thiết thực khi người giảng viên thực sự là những tấm gương mẫu mực về đạo đức, gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn tư cách, phẩm chất chính trị, đạo đức, có đời tư trong sáng. Chỉ như vậy, những lời nói, những bài giảng của họ mới thuyết phục được người học, góp phần ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả chống âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Mặt khác, người giảng viên cũng cần phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm để có thể đổi mới phương pháp giảng dạy, thu thập tư liệu liên quan đến cuộc đời, tư tưởng Hồ Chí Minh để bổ sung và làm mới, phong phú giáo án của mình./.

Những âm mưu đen tối núp bóng “tự do báo chí”

Hiện tượng lợi dụng quyền tự do báo chí và nhiều nội dung nhân quyền khác để chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân cần được xử lý như thế nào? Những năm gần đây, nhằm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, các thế lực thù địch đã thường xuyên lợi dụng vấn đề tự do báo chí để tuyên truyền vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Hình thức chúng sử dụng chủ yếu trên các phương tiện truyền thông ở nước ngoài, trên internet... đưa những quan điểm sai trái, thông tin sai lệch, xuyên tạc tình hình trong nước để kích động, nhằm tác động làm giảm lòng tin của cán bộ và nhân dân vào đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Các thủ đoạn của họ thường rất đa dạng, nhưng tập trung ở một số vấn đề chính sau: Một là, họ khai thác, sử dụng các thông tin trên báo chí công khai trong nước phản ánh các vấn đề tiêu cực, tệ quan liêu tham nhũng, các tệ nạn trong xã hội... để đăng tải theo kiểu thông tin một chiều, nhằm gây tác động đến tư tưởng người đọc. Hai là, tập trung khai thác những thông tin về những việc thiếu sót, hạn chế, chưa làm được của ta trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực... rồi quy kết, “thổi phồng” thành những “sai lầm” của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ còn kích động dư luận xã hội lên tiếng, đả kích, quy chụp Đảng, Nhà nước yếu kém, mất dân chủ… Ba là, họ lôi kéo, kích động các đối tượng chống đối, bất mãn tập hợp lực lượng, lập các tổ chức chống đối thông qua các trang mạng, blogger cá nhân, lợi dụng phản biện xã hội để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong những nội dung họ lợi dụng về vấn đề nhân quyền, nhiều vấn đề liên quan tự do ngôn luận, tự do báo chí được khai thác tối đa. Đặc biệt gần đây, các đối tượng bên ngoài kích động, tập hợp lực lượng hứa hẹn tài trợ, hậu thuẫn cho các đối tượng trong nước lập các tổ chức hoạt động đối lập với hệ thống chính trị, tự phong các chức danh nhằm tạo dựng ngọn cờ trong nước hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước.

Bảo đảm quyền lợi thông tin chính đáng của công dân

Trong thời đại thông tin bùng nổ, việc quản lý, kiểm soát thông tin nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia dân tộc, cũng như bảo đảm quyền, lợi ích thông tin hợp pháp, chính đáng của công dân là xu hướng tất yếu của xã hội văn minh và là trách nhiệm chính trị của mỗi quốc gia. Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy chính của thế giới, luôn quan tâm bảo đảm quyền lợi thông tin chính đáng của công dân. Bộ Thông tin và Truyền thông vừa ban hành Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT quy định về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội. Việc ban hành thông tư này là cần thiết nhằm giúp cho các cấp, các ngành và toàn xã hội thực hiện tốt Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Thông tư có nhiều điểm mới, thể hiện rõ quan điểm, chính sách nhất quán của Nhà nước ta trước sau như một là bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin của công dân trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật, vì lợi ích của quốc gia dân tộc và sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, vì những chuẩn mực đạo đức của cộng đồng và phẩm giá tốt đẹp của con người. Bên cạnh những trang thông tin cần phải có giấy phép của cơ quan quản lý Nhà nước, thông tư đã quy định 5 trang thông tin điện tử không phải cấp phép, đó là: Trang thông tin điện tử nội bộ, Trang thông tin điện tử cá nhân, Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành (theo Điều 20 Nghị định 72/2013/NĐ-CP), Trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước cung cấp thông tin (theo Điều 10 Nghị định số 43/2011/NĐ-CP), Trang thông tin diễn đàn nội bộ. Thông tư khẳng định: Mọi cá nhân có quyền chia sẻ những thông tin, nhưng không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung các thông tin được đăng tải, chia sẻ. Mặt khác, việc chia sẻ thông tin đó là của riêng cá nhân, chứ không được tự ý cung cấp những thông tin tổng hợp như trang thông tin tổng hợp của các tổ chức có tư cách pháp nhân. Quy định này nhằm phòng ngừa những trường hợp lợi dụng mạng xã hội, trang thông tin điện tử cá nhân để đưa ra những thông tin độc hại, làm ảnh hưởng đến thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh của số đông công chúng và tác động xấu đến dư luận xã hội. Khi nói đến thông tin cá nhân, nên hiểu ở hai góc độ: Thông tin riêng tư của cá nhân chỉ có giá trị, ý nghĩa với cá nhân sử dụng thông tin đó; Thông tin của cá nhân nhưng có quan hệ, ảnh hưởng mật thiết đến cá nhân khác, cộng đồng và xã hội. Việc tôn trọng quyền chia sẻ thông tin cá nhân thực chất là tôn trọng những thông tin về tâm tư, tình cảm, sở thích, niềm tin, tín ngưỡng, hoài bão, ước mơ, khát vọng và quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân phù hợp với đạo đức xã hội, pháp luật Nhà nước và những quy định chung của cộng đồng. Tuy nhiên, dù chia sẻ, bày tỏ, thể hiện quyền thông tin cá nhân như thế nào cũng không được vi phạm vào những điều cấm đã được quy định tại Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, đó là: Chống lại Đảng, Nhà nước, gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; Tuyên truyền chiến tranh, khủng bố, gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; Kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc; Tiết lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại; Xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân; Truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm; Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc đưa ra quy định trên là hết sức cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng nhu cầu, mong muốn và lợi ích chung của đại đa số nhân dân. Bởi vì thời gian qua, không ít kẻ lợi dụng “quyền thông tin cá nhân” để thực hiện những ý đồ xấu. Chẳng hạn như, lợi dụng tình hình phức tạp ở Biển Đông, một số kẻ đã lên mạng xã hội, sử dụng facebook kêu gọi người dân xuống đường biểu tình trái pháp luật, mà thực chất là muốn chống phá chế độ, làm suy yếu đất nước. Hay như có kẻ lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của một bộ phận người dân ở những địa phương phức tạp về giải phóng mặt bằng, đền bù đất đai, để lên mạng “hô hào, hiệu triệu” bà con tụ tập khiếu kiện đông người, gây áp lực với chính quyền, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Lại có những “nhà dân chủ” lên mạng “kêu gào” người khác nhập vào “Hội độc lập X”, “Đoàn độc lập Y”, “Tổ chức dân chủ Z”... mà thực chất đó là những tổ chức vi phạm pháp luật, không có giá trị trong thực tiễn. Ngang nhiên, trắng trợn hơn, có kẻ đã tự ý lập ra những trang website mang tên các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ban, bộ, ngành Trung ương, mà thực chất là giả mạo chức vụ cá nhân để phát tán những thông tin thật-giả, đúng- sai, phải-trái... rất mù mờ, lẫn lộn nhằm gây rối thông tin và làm nhiễu dư luận xã hội...

Ngăn ngừa thông tin độc hại trên mạng là xu hướng chung của thế giới

Trong xã hội thông tin bùng nổ, việc quản lý, kiểm soát thông tin nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia dân tộc, cũng như bảo đảm quyền, lợi ích thông tin hợp pháp, chính đáng của công dân là xu hướng tất yếu của một xã hội văn minh và là trách nhiệm chính trị của mỗi quốc gia. Đối với các nước phát triển, việc này càng được xem trọng. Trung Quốc đã ban hành quy định nhằm ngăn ngừa tình trạng lan truyền tin đồn, thông tin sai sự thật trên mạng và đưa ra chế tài xử lý thích đáng đối với những nội dung thông tin kích động xung đột sắc tộc, tôn giáo, phá hoại hình ảnh quốc gia hoặc “gây tác động quốc tế không tốt”. Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) đã thành lập “Trung tâm hỗ trợ truyền thông nội địa” có nhiệm vụ phát triển các công nghệ có khả năng kiểm soát thông tin trên internet và các liên lạc bằng điện thoại di động nhằm tăng cường, quản lý an ninh nội địa hiệu quả hơn. Chính phủ Anh cũng đã công bố dự thảo kế hoạch giám sát thông tin, thư điện tử trên internet và mạng điện thoại nhằm ngăn ngừa các thông tin chống đối chính quyền. Chính phủ Ấn Độ đã có lệnh cấm và xử phạt rất nghiêm khắc đối với các trang web có nội dung thông tin, hình ảnh khiêu dâm, đồi trụy. Chính phủ Hàn Quốc cũng từng đóng cửa rất nhiều website có nội dung liên quan đến phản đối việc thực hiện nghĩa vụ quân sự và những vấn đề nhạy cảm liên quan đến quốc phòng-an ninh quốc gia… Thừa nhận những tiện ích mà internet mang lại cho con người và thúc đẩy tiến bộ xã hội, nhưng phần lớn các quốc gia trên thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về những hệ lụy, hậu họa khôn lường từ việc đưa thông tin sai, thông tin “bẩn” trên “không gian ảo”. Chính vì vậy, cùng với việc khuyến cáo người dân thể hiện quyền tự do thông tin trong khuôn khổ pháp luật, các nước đã tăng cường những biện pháp thích hợp nhằm cảnh báo, quản lý, siết chặt các nội dung thông tin có khả năng xâm hại đến an ninh quốc gia, bôi nhọ văn hóa truyền thống dân tộc và ngăn ngừa những thông tin trên mạng liên quan đến tội phạm, khủng bố, khiêu dâm và làm suy đồi đạo đức xã hội, nhân phẩm của con người. Đối với Việt Nam, việc Chính phủ ban hành Nghị định 72/2013/NĐ-CP và mới đây, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT quy định về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, cũng không ngoài mục đích hướng tới bảo đảm quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận cho công dân ngày càng tốt hơn, đồng thời tạo hành lang pháp lý cần thiết để góp phần ngăn ngừa, giảm tối đa những thông tin độc hại, đồi trụy từ internet, xây dựng môi trường thông tin lành mạnh cho xã hội./.

Đâu là “chính trị đích thực”?

Lịch sử nhân loại chứng tỏ rằng, con đường phát triển của các dân tộc, sự nghiệp cách mạng của nhân dân các nước bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích của dân tộc, của nhân dân dẫn dắt và lãnh đạo. Gần đây, các thế lực thù địch tập trung tiến công một cách trực diện vào những quan điểm cơ bản của chúng ta về chính trị của quân đội, xây dựng quân đội ta về chính trị; về đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội ta của chúng. Chúng xuyên tạc, cắt xén nội dung chính trị của quân đội ta; giương lên ngọn cờ bảo vệ "nhân dân, Tổ quốc, lãnh thổ", coi đó là "tất cả" chính trị của quân đội ta và yêu cầu cần phải "bỏ hẳn cách hiểu quân đội chỉ cần trung thành với Đảng Cộng sản"! Những quan điểm trên cũng không có gì là lạ, không khác với quan điểm: “Quân đội và công an chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào” mà chúng đã từng rêu rao từ rất lâu và được lặp đi lặp lại trong suốt thời gian qua. Thực chất, đó vẫn là thực hiện mưu đồ loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, đối với xã hội và nhân dân Việt Nam; lái chính trị của quân đội ta sang chính trị khác. Trước khi bàn đến chính trị của quân đội ta, cũng cần thấy rõ thực chất chính trị của những người đưa ra các quan điểm trên, chính là ở chỗ đó, chứ chẳng phải là một sự "vô tư, khách quan" nào cả. Luận điệu quân đội chỉ là "của nhân dân, của dân tộc”, nên quân đội chỉ bảo vệ "nhân dân, Tổ quốc, lãnh thổ" có vẻ như được dựa trên “cơ sở” thực tiễn rằng, quân đội ta có một truyền thống anh hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, đã "vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh" (họ cũng làm ra vẻ vì dân, vì nước, nhắc lại mệnh đề này!), đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do của Tổ quốc trong nhiều thập kỷ qua của lịch sử Việt Nam; rằng, quân đội ta là quân đội có quan hệ máu thịt với nhân dân, là quân đội của dân, do dân và vì dân. Từ những cơ sở đó, cho nên, họ đặt vấn đề quân đội chỉ là "của nhân dân, của dân tộc”; chỉ bảo vệ "nhân dân, Tổ quốc, lãnh thổ", đó mới là “chính trị đích thực” của quân đội, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái và không phải bảo vệ, trung thành với một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào! (thực chất, theo họ, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam). Đây thực sự là một thủ đoạn lừa bịp, vô căn cứ, phản động về chính trị và phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Song, nó dễ làm cho một số người nhẹ dạ cả tin, có thể lầm tưởng rằng các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết. Dùng chiêu thức này, các thế lực thù địch đã trực tiếp lợi dụng và đánh vào tình cảm của nhân dân ta đối với quân đội. Từ tình yêu mến và lòng tự hào chính đáng về quân đội anh hùng đến việc cho rằng, quân đội là chỉ "của nhân dân, của dân tộc”, chỉ bảo vệ "nhân dân, Tổ quốc, lãnh thổ" như là sự phát triển “lô-gích tự nhiên” trong nhận thức, tình cảm của nhân dân đối với quân đội. Chúng cố tình khơi lên và đẩy đến cái sự phát triển “lô-gích tự nhiên” ấy. Làm sao mà có thể nói rằng, quân đội chỉ là "của nhân dân, của dân tộc” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng phái, lực lượng chính trị nào. Bất cứ quân đội nào thì vấn đề chính trị của quân đội cũng đều là vấn đề quan trọng hàng đầu, đó thực chất là vấn đề bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội, do ai tổ chức và lãnh đạo, chiến đấu cho ai, vì ai. Chẳng cần trích dẫn kinh điển để tranh luận, nhưng bản thân họ cũng có thể hiểu (và chắc đã hiểu), tính tất yếu khách quan của việc phải có một lực lượng chính trị, một giai cấp, nhà nước tổ chức ra quân đội. Quân đội là "của nhân dân, của dân tộc", nhưng quân đội “của nhân dân, của dân tộc” ấy do ai lập nên, do ai tổ chức, rõ ràng là phải do một lực lượng chính trị nhất định. Lịch sử nhân loại chứng tỏ rằng, con đường phát triển của các dân tộc, sự nghiệp cách mạng của nhân dân các nước bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích của dân tộc, của nhân dân dẫn dắt và lãnh đạo. Lực lượng lãnh đạo dân tộc, nhân dân ấy cũng đồng thời là lực lượng tổ chức và lãnh đạo quân đội "của nhân dân, của dân tộc”. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, của lực lượng chính trị đang đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc, đang lãnh đạo và dẫn dắt dân tộc, nhân dân trên con đường phát triển. Dù có gọi là “của nhân dân, của dân tộc” thì quân đội cũng phải do nhà nước, do một lực lượng chính trị nhất định tổ chức và nuôi dưỡng. Bản chất chính trị-xã hội của quân đội “của nhân dân, của dân tộc” ấy nhất thiết phải mang bản chất của nhà nước, của lực lượng chính trị đã tổ chức ra nó, chịu sự lãnh đạo và phải trung thành với nhà nước, lực lượng chính trị tổ chức ra nó. Thử hỏi, nếu nói rằng, quân đội chỉ là “của nhân dân, của dân tộc” thì quân đội ấy mang bản chất nào, mang bản chất của ai? Hay là “không có bản chất! Đây là một kiểu giọng điệu nhằm để đánh lừa người khác, chứ bản thân những kẻ rêu rao cho quan điểm trên cũng thừa hiểu, quân đội phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai. Thực chất luận điệu quân đội chỉ là “của nhân dân, của dân tộc” là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, để một lực lượng chính trị khác sẽ nắm quân đội. Đây thực sự là luận điệu vô căn cứ, phản khoa học, rất có hại, ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp xây dựng quân đội, đến sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Những kẻ rêu rao quan điểm quân đội chỉ bảo vệ "nhân dân, Tổ quốc, lãnh thổ", thế mới là “chính trị đích thực”, đã cố tình cắt xén chính trị của quân đội ta, cố tình tước bỏ cốt lõi trong chính trị của quân đội ta. Đúng nhiệm vụ của quân đội ta là phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, dân tộc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; song nhiệm vụ đó bao giờ cũng gắn với bảo vệ chế độ và người tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quân đội, đó là Đảng Cộng sản. Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã như vậy và hiện nay vẫn như vậy. Những kẻ rêu rao quan điểm trên đã "không nhớ đến" trong lịch sử dân tộc, ông cha ta cũng đã từng nói đến bảo vệ "sơn hà" phải gắn liền với bảo vệ "xã tắc" đó sao. Họ hãy nghiên cứu kỹ thêm về lịch sử dân tộc, lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam, để hiểu thế nào là “chính trị đích thực” của quân đội ta. Dân tộc Việt Nam, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã sản sinh ra Quân đội nhân dân Việt Nam, quân đội của dân, do dân và vì dân, chiến đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề nhân dân, dân tộc trong cách mạng Việt Nam được thể hiện sâu sắc trong bản chất chính trị-xã hội của quân đội ta. Đưa ra luận điểm quân đội là chỉ "của nhân dân, của dân tộc”, các thế lực thù địch cố tình làm cái việc “tách” vấn đề giai cấp và vấn đề nhân dân, dân tộc trong bản chất, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội ta. Đó là quan điểm vừa phản khoa học, vừa phi lịch sử. Chúng cố làm cái việc “tách” ra đó thực chất là nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, gắn quân đội ta với chính trị khác, chính trị tư sản. Không thể tách vấn đề giai cấp và vấn đề nhân dân, dân tộc trong bản chất, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, trong chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Quân đội ta là của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam, cũng đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có thể làm tròn phận sự trung thành với Tổ quốc và nhân dân Việt Nam theo đúng nghĩa của nó; mới có thể làm cho sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ và với Tổ quốc, nhân dân, dân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời. Chính trị đích thực và đầy đủ của quân đội ta là thực hiện chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phục vụ Đảng, Tổ quốc, phục vụ nhân dân, biểu hiện tập trung ở nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Không thể "giả nhân, giả nghĩa" nói bừa rằng, quân đội chỉ bảo vệ "nhân dân, Tổ quốc, lãnh thổ", thế mới là “chính trị đích thực”, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị, đảng phái nào!./.

“Phi chính trị hóa Quân đội” - Một đòi hỏi vô lý

Từ nhận định rằng, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm chắc quân đội, công an, nên chưa thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; chưa thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa, nên các thế lực thù địch với cách mạng nước ta ráo riết thực hiện chiêu bài “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị”. “Phi chính trị hóa quân đội” là luận điểm đã có từ lâu, mà các đảng chính trị đối lập ở những nước đi theo chế độ đa đảng thường sử dụng, để hạn chế quân đội “can dự” vào những tranh giành chính trị của các đảng phái. Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, khi thấy rằng phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội bằng biện pháp gây chiến tranh xâm lược không hiệu quả, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Một trong các thủ đoạn mà chúng sử dụng là đưa khẩu hiệu “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị” vào các nước xã hội chủ nghĩa; nơi chỉ có một đảng (Đảng Cộng sản) lãnh đạo, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang cách mạng; mà thực chất là nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của quân đội là công cụ bạo lực của Đảng, Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn này đã được chúng áp dụng thành công ở Liên Xô trước đây; khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã tự rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng, như: tự xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991. Đối với nước ta, từ nhận định rằng, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm chắc quân đội, công an, nên chưa thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; chưa thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa, nên các thế lực thù địch với cách mạng nước ta ráo riết thực hiện chiêu bài “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị”. Họ hy vọng rằng, một khi lực lượng vũ trang đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu đó, đội ngũ cán bộ quân đội đã dao động, mất phương hướng chính trị, họ sẽ ra tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng”(!). Năm 2013, lợi dụng việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức xin ý kiến nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, các thế lực chống phá con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội xem đây là thời cơ để công khai đòi hỏi “phi chính trị hóa” quân đội. Họ đưa ra nhiều luận điểm, như: “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị”, “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào”, mà áp dụng cụ thể vào Việt Nam là “không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”,... Đáng tiếc rằng, không ít người đã vào hùa với chúng, mà không tỉnh táo tự vấn mình rằng: tại sao những đề xuất về “phi chính trị hóa quân đội” lại được VOA, BBC, RFA, RFI... cùng những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại tung hô, cổ vũ nhiệt thành đến vậy (?). Khi bị chỉ trích những đề xuất đó là biểu hiện của sự “suy thoái về tư tưởng chính trị”, những người cổ súy cho tư tưởng này vội “lấp liếm” rằng: “chúng tôi chỉ yêu cầu lực lượng vũ trang trung lập về chính trị, chứ đâu có đòi phi chính trị hóa quân đội”(?). Sự ngụy biện đó không đánh lừa được công luận; bởi xét về bản chất, yêu cầu “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị” chỉ là một phiên bản của quan điểm đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”. Nói đến “trung lập về chính trị”, nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị”, “đứng ngoài chính trị”, “không can dự vào chính trị”...; trong khi đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đang được xây dựng theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, nền tảng để xây dựng vững mạnh toàn diện. Hơn nữa, bản thân Quân đội nhân dân Việt Nam đang là lực lượng chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng Cộng sản Việt Nam, tức là đang “không đứng ngoài chính trị”; thì đòi hỏi “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị” thực chất là đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch sử dụng mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động thực tiễn. Trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, họ thường lập luận rằng: quân đội là của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào; hoặc hoạt động của quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân, nên chỉ phải trung thành với Tổ quốc, nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào... Nghe thoáng qua, không ít người ngộ nhận sự có lý của lập luận này, mà không hiểu rằng: đây là thủ đoạn nhằm chuyển lập trường chính trị của lực lượng vũ trang cách mạng sang lập trường của bọn cơ hội chính trị, của giai cấp tư sản. Trong hành động thực tiễn, những người cổ súy cho tư tưởng “phi chính trị hóa quân đội” đòi “quân đội phải trung lập về chính trị”, tức là một khi có biến động chính trị, thì quân đội hãy án binh, bất động, không đứng về phe nào. Đối với những nước đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, chỉ có một Đảng Cộng sản lãnh đạo như nước ta, họ đòi xóa bỏ nguyên tắc “Đảng Cộng sản lãnh đạo lực lượng vũ trang”; hạ thấp, đi đến đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị (nhất là chế độ chính ủy, chính trị viên) trong quân đội - một trong những yếu tố riêng có của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo cho Đảng Cộng sản giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Họ xuyên tạc các sự kiện chính trị trong lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài đơn vị quân đội và một bộ phận quân nhân trong quá trình làm nhiệm vụ; bôi nhọ đời tư của các tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang... hòng qua đây, làm cho quân đội mất uy tín trong nhân dân, hạ thấp vị thế của quân đội trong xã hội...; đồng thời từ đó mà vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng. Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu nhất quán là xóa bỏ thành quả cách mạng và lái con đường phát triển của đất nước sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh các chiến dịch vận động đòi thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và lô-gic tất yếu của tiến trình đó, nếu được thực hiện, sẽ là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân. Họ công khai đòi bỏ quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; “bỏ quy định lực lượng vũ trang nhân dân phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu hướng tới của những thủ đoạn nói trên là thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thủ đoạn đó thật tinh vi và thâm hiểm, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn.

KHÔNG ĐỂ TỒN TẠI KIỂU PHÁT NGÔN “VĂNG MẠNG” TRÊN MẠNG XÃ HỘI

“Thánh chửi”, “thánh chém”… không còn là hiện tượng mới lạ trên mạng xã hội. Không chỉ đăng status trên trang cá nhân, mà nhiều người đã ứng dụng công nghệ livestream “truyền hình trực tiếp” để “chém gió phần phật” trước quý vị khán giả.

Càng nhiều người thả tim, like, theo dõi, “các thánh” càng phấn khích và không ít người đã có những lời lẽ gây sốc, lệch chuẩn, xúc phạm cá nhân, tổ chức,… bất chấp mọi quy tắc xã hội, pháp luật. Là một quốc gia có tỷ lệ người dùng mạng Internet, tài khoản mạng xã hội cao, chúng ta càng không thể để tồn tại kiểu phát ngôn “văng mạng” trên mạng xã hội.

Thực tế, có rất nhiều người dùng mạng xã hội đã phát huy tốt tiện ích mà mạng xã hội mang lại. Đó không chỉ là hiệu quả trong xây dựng hình ảnh, thương hiệu, kinh doanh, mà còn lan tỏa những điều tốt đẹp, bày tỏ chính kiến, ... Ví như gần đây, nghệ sỹ Quyền Linh, Hồng Vân đã lên trang cá nhân xin lỗi công chúng vì đã tham gia quảng cáo sai sự thật.

Cũng trên mạng xã hội, ngày 8/6 đã truyền tải thông tin về việc anh lái xe Vương Văn Pháp (quê ở Tuyên Quang), vì tránh đâm trực diện vào hai người đi xe máy tạt đầu xe đã gây ra thiệt hại tài sản cho cửa hàng điện máy khoảng 1 tỷ đồng. Hành động “cứu mạng người phúc đẳng hà sa” của anh lái xe nghèo được lan tỏa trên cộng đồng mạng. Đáp lại tinh thần hiệp nghĩa của anh, người dân và cộng đồng mạng đã ủng hộ tiền để anh đền bù tài sản. Ngày 10/6, anh Pháp lên mạng xã hội thông báo đã nhận được hơn 800 triệu đồng, cảm ơn người giúp đỡ và xin không nhận thêm tiền ủng hộ.

Mỗi ngày, có rất, rất nhiều những lời nói đẹp, những câu chuyện hay, những thông điệp nhân văn được các cá nhân dùng mạng xã hội chia sẻ, truyền tải. Nó khiến sự kết nối giữa người với người nhanh hơn, gần gũi hơn. Thế nhưng, cũng trên mạng xã hội, lại có những người dùng trang cá nhân của mình để viết ra những lời lẽ khiến dư luận bất bình.

Việc trang Facebook có “tick xanh” của nghệ sỹ Đức Hải - nguyên Phó Hiệu trưởng trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Sài Gòn, đăng tải status với những từ ngữ dung tục đã nhận phản ứng dữ dội trong cộng đồng mạng và khán giả. Mặc dù, Đức Hải cho rằng, những lời lẽ này do… cháu nuôi của anh viết nhưng Hiệu trưởng trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Sài Gòn đã ra quyết định đình chỉ chức vụ đối với nghệ sỹ này.

Đặc biệt gần đây, dư luận cả ngoài xã hội lẫn cộng đồng mạng cùng dậy sóng về hiện tượng CEO Đại Nam Nguyễn Phương Hằng. Bà Hằng livestream tố bị “thần y” Võ Hoàng Yên lừa 200 tỷ và tuyên bố sẽ vạch trần hành vi gian dối giả “thần y” của ông Yên khiến rất nhiều người bệnh nghèo rơi vào cảnh “tiền mất tật mang”. 

Và trong một buổi livestream, ngoài việc đề cập đến ông Yên, bà Phương Hằng còn nhắc đến “bọn nghệ sỹ”. Các buổi về sau, bà còn nêu đích danh một số nghệ sỹ nổi tiếng và “bóc phốt” họ với những lời lẽ xúc phạm.

Thực hư của việc “bóc phốt” một số người trong giới showbiz của bà Hằng cứ hư hư, thực thực nhưng lại thu hút sự chú ý của rất đông người. Đỉnh điểm là trong buổi livestream ngày 25/5 của bà, đã có hơn 500 ngàn người xem trực tiếp. Ngoài việc có số lượng người xem kỷ lục, những phát ngôn của bà Phương Hằng khiến dư luận bất ngờ, nhất là khi đụng chạm đến danh dự của một số tổ chức, cá nhân. Sở Thông tin - Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bà Phương Hằng 7,5 triệu đồng về hành vi thông tin sai sự thật về việc UBND tỉnh Bình Thuận bao che cho ông Võ Hoàng Yên và yêu cầu không được tiếp tục livestream.

Buổi livestream dự kiến vào tối 29/5 của bà Phương Hằng được hủy, tuy nhiên sau đó bà tiếp tục tổ chức livestream tại Bình Dương. Mặc dù trong các buổi livestream sau này, bà Phương Hằng có “hạ tông” nhưng vẫn có những lời lẽ nặng nề.

Việc bà Phương Hằng không thực hiện đúng cam kết với Sở Thông tin - Truyền thông TP Hồ Chí Minh khi tiếp tục livestream, chuyển địa điểm tổ chức livestream về Bình Dương để lách luật, tiếp tục có lời lẽ xúc phạm cá nhân khiến dư luận bức xúc.

Ngày 12/6, Báo điện tử VOV có hai bài viết phản, lấy ý kiến nhà báo, luật sư về “hiện tượng” bà Phương Hằng cũng như chỉ ra những dấu hiệu vi phạm và đề nghị xử lý nghiêm. Ngày 13/6, fanpage của Báo bị tấn công; nhân vật trả lời phỏng vấn và phóng viên nhận được những lời lẽ hăm dọa, xúc phạm; Báo bị tấn công DDOS (từ chối dịch vụ).

Trước tình trạng này, Báo điện tử VOV đã trình báo cơ quan Công an và hiện nay, Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm công nghệ cao đã vào cuộc. Kết quả điều tra sẽ làm rõ, kẻ đã gây ra hành vi tấn công mạng này.


Điều 8, Luật An ninh mạng quy định những hành vi bị cấm, trong đó nêu rõ: “Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vị, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”. Và cũng chính Luật An ninh mạng đã quy định, công dân có quyền làm những gì pháp luật không cấm trên không gian mạng. Bộ Luật Hình sự 2015 cũng quy định rất rõ mức xử phạt đối với tội vu khống, lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, cá nhân, tổ chức.


Quyền tự do ngôn luận được pháp luật bảo hộ, kể cả trên không gian mạng. Thế nhưng, việc thể hiện quyền này như thế nào cho đúng trên mạng xã hội đòi hỏi mỗi người dùng phải biết và có trách nhiệm tuân thủ. Không ai có quyền xúc phạm người khác trên mạng xã hội và càng không được phép phát ngôn “bạt mạng” trên mạng xã hội.                                

Không thể có và không bao giờ có quân đội đứng ngoài chính trị

“Phi chính trị hóa” quân đội là một trong những thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Trong bài viết với nhan đề “Không thể có và không bao giờ có Quân đội đứng ngoài chính trị” Thiếu tướng, phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Bá Dương, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng, đã làm rõ thực chất cũng như sự phi lý của quan điểm đòi “phi chính trị hóa” quân đội, khẳng định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội, chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của quân đội ta. “Phi chính trị hóa” quân đội là một trong những thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Đây là luận điểm đã có từ lâu nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản hoặc hạn chế sự “can dự,” “tham gia” của quân đội vào việc tranh giành quyền lực chính trị. Hiện nay, lợi dụng việc góp ý với Đảng, Nhà nước về các vấn đề “dân chủ,” “nhân quyền,” “đổi mới đất nước...” thông qua các “bức thư tâm huyết,” “kiến nghị của công dân,” một số người đã lên tiếng kiến nghị với Đảng rằng “các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào,” “lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và Nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức chính trị nào, đảng phái nào;” “quân đội và công an chỉ cần tuân theo pháp luật;” “quân đội cần đứng ngoài chính trị”... Theo đó, một số người đã ngạo mạn cho rằng “ở Việt Nam, lực lượng vũ trang không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”... Thực chất của những quan điểm nêu trên là nhằm “phi đảng hóa,” “phi chính trị hóa,” tách quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang để dễ bề thực hiện những ý đồ đen tối: xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã giành được. Cần khẳng định ngay rằng, những luận điệu nêu trên là hết sức nguy hiểm, rất phản động, phản khoa học, vì nó trái với pháp lý và hoàn toàn không đúng với đạo lý, nhân cách con người Việt Nam yêu nước, biết quý trọng những giá trị tốt đẹp mà lịch sử văn hóa dân tộc và thành quả cách mạng mà nhân dân ta bằng xương máu của mình mới giành lại được độc lập, tự do, mới có cuộc sống ấm no, hòa bình và hạnh phúc hôm nay. Sự thật này không thể bác bỏ, chân lý và lẽ phải không thể đổi thay dù ai đó cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật; dù ai đó cố tình nhắm mắt làm ngơ, chối từ lẽ phải. Hẳn là những người viết “thư tâm huyết,” kiến nghị với Đảng, Nhà nước không lạ gì những luận điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Marx-Lenin. Khi các nhà kinh điển chỉ rõ cơ sở lý luận khoa học của sự ra đời giai cấp và các lực lượng vũ trang, rằng không thể có và không bao giờ có lực lượng vũ trang hoặc quân đội đứng ngoài chính trị, “phi chính trị,” “phi giai cấp,” “trung lập,” “quân đội chỉ tuân theo pháp luật” thuần túy. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, trong xây dựng quân đội của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào, bất kể giai đoạn lịch sử nào thì vấn đề chính trị luôn được đặt lên vị trí cao nhất, chiếm “ngôi đầu;” là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát triển của quân đội ấy, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ chính trị-xã hội và vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Chính trị của quân đội, thực chất là vấn đề bản chất giai cấp của quân đội, nó trả lời cho câu hỏi: Quân đội đó do giai cấp nào tổ chức, nuôi dưỡng, sử dụng và lãnh đạo; nó phục vụ cho giai cấp nào, bảo vệ quyền lợi của ai? Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội ấy cho ai, vì ai? Chúng ta đều biết: Chính trị của quân đội vô sản, lực lượng vũ trang nhân dân là thực hiện chính trị của Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phục vụ Đảng, Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; biểu hiện tập trung ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản, đội tiền phong của giai cấp công nhân sáng lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện. Trong điều kiện một Đảng cầm quyền, quân đội không những chỉ tuân theo hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, mà trước hết phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng. Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước là điều kiện tiên quyết để quân đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao. Vì vậy, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là yêu cầu cơ bản, thường xuyên, trọng yếu trong xây dựng quân đội kiểu mới, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Ai đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xem nhẹ, buông lỏng vấn đề xây dựng quân đội về chính trị, tất yếu sẽ dẫn đến kết cục làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, xa rời bản chất giai cấp công nhân, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quân đội ấy sẽ trở nên vô dụng, có hại cho dân, cho nước. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã chứng minh điều đó. Từ những vấn đề trên, cho thấy tính chất phi lý, phản động, phản khoa học của quan điểm “các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị,” “lực lượng vũ trang chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân,” “quân đội chỉ tuân theo pháp luật,” “quân đội không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản...” cần phải bác bỏ.

Sự phi lý của quan điểm đòi “phi chính trị hóa” quân đội đã bị thực tiễn bác bỏ

Nghiên cứu lịch sử nhân loại, ai cũng biết rằng, sự xuất hiện của quân đội gắn liền với chính trị, sự ra đời của nhà nước và chiến tranh; không thể có và không bao giờ có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị. Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước và đảng phái chính trị, do nhà nước, đảng phái chính trị nuôi dưỡng, sử dụng để tiến hành đấu tranh vũ trang, thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước đã tổ chức ra và nuôi dưỡng nó. Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, quân đội là công cụ bạo lực của giai cấp tư sản có nhiệm vụ bảo vệ nhà nước tư sản và lợi ích của giai cấp tư sản. Hiện nay, các nước tư bản chủ nghĩa thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cuộc đấu đá, tranh giành quyền kiểm soát cơ quan quyền lực nhà nước giữa các đảng phái chính trị tư sản diễn ra hết sức quyết liệt, phức tạp. Quan điểm: “quân đội chỉ tuân theo pháp luật,” “quân đội phải trung lập đứng ngoài chính trị” được những người đứng đầu các đảng phái chính trị tư sản ra sức tán dương, cổ súy. Thực chất các đảng phái chính trị tư sản muốn quân đội phải đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị tranh giành quyền kiểm soát cơ quan quyền lực nhà nước của các đảng phái chính trị tư sản. Có thể hiểu rõ hơn nhận định này từ thực tiễn tranh giành quyền lực của Thái Lan hơn 70 năm qua với việc quân đội đã thực hiện 19 lần đảo chính và âm mưu đảo chính. Ở các nước tư bản phát triển như Anh, Mỹ, Pháp..., quân đội không chỉ được dùng vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc; mà còn được dùng vào việc lật đổ, can thiệp quân sự, xâm lược các quốc gia khác nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở nơi chúng đến các chính phủ thân phương Tây, có lợi cho phương Tây. Thực tế chỉ ra rằng, từ năm 1990 đến nay, quân đội Mỹ liên tục can dự vào đời sống chính trị của nhiều nước có độc lập chủ quyền kể cả tiến hành chiến tranh ở Nam Tư, Afghanistan, Iraq, Libya... Rõ ràng, nhìn vào thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, quân đội của các nước tư bản không bao giờ “trung lập về chính trị.” Ở các nước có chế độ đa đảng chính trị thì đảng nào khi cầm quyền cũng đều tìm mọi cách để nắm giữ quân đội và triệt để sử dụng quân đội để bảo vệ lợi ích của mình. Sự kiện Tổng thống Liên bang Nga B.Yelsin đã dùng quân đội nã pháo vào tòa nhà quốc hội ngày 4/10/1993, nơi đang có những người chống đối B.Yelsin ẩn nấp để giải quyết sự đối đầu và mâu thuẫn giữa ông ta với quốc hội đã nói lên điều đó. Bài học xương máu rút ra từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản cũng không được rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Marx-Lenin; tuyệt đối không được mắc sai lầm trong việc xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội; không được để quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Thực tiễn không chỉ là cơ sở, nền tảng của nhận thức, mục đích của nhận thức mà còn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Hẳn là những người cuồng nhiệt đòi “phi chính trị hóa” quân đội ở nước ta không phải là không biết câu chuyện nêu trên. Thực tiễn đã và đang bác bỏ những sai lầm của họ vì nó rất phi lý, nhảm nhí.