Thứ Năm, 15 tháng 7, 2021

Chính phủ giảm đầu mối các bộ vào năm 2030

Chính phủ sẽ giảm đầu mối các bộ, cơ quan ngang bộ và giảm tương ứng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, huyện vào năm 2030. Nghị quyết về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, được Chính phủ ban hành ngày 15/7, đặt mục tiêu phân định rõ mô hình tổ chức chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đến năm 2025, Chính phủ khắc phục được tình trạng chồng chéo, trùng lắp hoặc bỏ sót chức năng, nhiệm vụ giữa các đơn vị hành chính. Cả nước hoàn thành sắp xếp thu gọn các huyện, xã, thôn, tổ dân phố. Số lượng đơn vị sự nghiệp công lập giảm 10% cả nước; biên chế hưởng lương ngân sách giảm 10% so với năm 2021. Mức độ hài lòng của người dân với sự phục vụ của cơ quan nhà nước đạt 90%; mức độ hài lòng về y tế, giáo dục công lập đạt 85%. Đến năm 2030, Chính phủ tiếp tục sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức theo hướng giảm hợp lý đầu mối các bộ, cơ quan ngang bộ; giảm tương ứng số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, huyện; giảm mạnh đầu mối tổ chức trung gian. Biên chế hưởng lương ngân sách giảm 10% so với năm 2025. Mức độ hài lòng của người dân với cơ quan hành chính đạt 95%; mức độ hài lòng về y tế, giáo dục công lập đạt 90%. Một số nhiệm vụ, dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện sẽ được chuyển giao cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội đảm nhiệm. Các cấp được khuyến khích sáp nhập, tăng quy mô đơn vị hành chính nếu đủ điều kiện để nâng cao năng lực quản lý. Chính phủ hiện nay gồm 22 bộ, cơ quan ngang bộ; 7 đơn vị trực thuộc. Năm 2021, tổng biên chế công chức trong cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước là 247.340. Trong đó, các bộ, cơ quan ngang bộ, Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng thành lập mà không phải đơn vị sự nghiệp công lập là hơn 106.830 biên chế; cơ quan thuộc HĐND, UBND cấp tỉnh, huyện là 140.500. Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 1.060 biên chế. Biên chế của các hội đặc thù trên cả nước là 680. Biên chế công chức dự phòng 550.

“Hội chứng” chỉ đạo và tiếp thu chỉ đạo

Chỉ đạo và tiếp thu chỉ đạo thường là việc cán bộ lãnh đạo truyền đạt chỉ thị, nghị quyết và sự tiếp thu của tập thể đối tượng được nghe. Người truyền đạt thường là cán bộ cấp cao. Người truyền đạt phải nêu rõ tinh thần của chủ trương, nghị quyết, có thể có liên hệ ưu, khuyết điểm giới thiệu để đối tượng nghe suy ngẫm, sửa chữa. Khách quan, nghiêm túc, nhưng không phải là thái độ kẻ cả, răn dạy. Không ít nơi cứ có cấp trên xuống dự, là có “phát biểu chỉ đạo” và có cán bộ địa phương, đơn vị “tiếp thu ý kiến chỉ đạo”. Lâu dần, ngay tại các cuộc họp đoàn thể ở tổ dân phố cũng không thể thiếu 2 mục trên. Tại một cuộc họp chi hội người cao tuổi của một tổ dân phố nọ tổ chức mừng thọ và tổng kết công tác năm, đại biểu lãnh đạo phường được cử xuống dự là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường cũng “phát biểu ý kiến chỉ đạo”, rồi chi hội trưởng người cao tuổi tổ dân phố cũng phải “tiếp thu ý kiến chỉ đạo”. Điều đáng nói là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường lại chính là con của ông chi hội trưởng người cao tuổi tổ dân phố đó. Thế là, người ta bảo: “Con chỉ đạo cha”. Ở nhiều khu phố, gặp cả trường hợp bí thư chi bộ trẻ, đáng tuổi con của người chủ trì “phát biểu chỉ đạo”, còn người chủ trì đáng tuổi cha, chú người chỉ đạo phải “tiếp thu chỉ đạo”. Nhưng cũng có người bảo: “Đâu có gì phải trách cứ,... chuyện xã hội, việc nhà nước, đâu phải chuyện gia đình mà kể đến tuổi tác, tôn tri trật tự. Người lớn tuổi đi trước ở mặt này, nhưng lại đi sau ở mặt khác và ngược lại. Đó là chuyện bình thường!”. Cái không bình thường muốn nói ở đây là tại sao chúng ta không sửa lại, thay câu giới thiệu “Đồng chí A chỉ đạo” bằng câu “Đồng chí A phát biểu ý kiến” hay “Đồng chí A đáp từ”. Cái không bình thường trong các trường hợp còn lại là lòng khiêm tốn. Người ta, nhất là ở một số cán bộ dù chức tước, cương vị công tác không to, cứ muốn được người khác tâng bốc, đề cao. Người giới thiệu cứ muốn được cấp trên vui lòng, “có mất gì đâu chứ”. Cuối cùng “hội chứng” phát biểu chỉ đạo và tiếp thu chỉ đạo cứ thế lan rộng. Việc thiếu tự trọng và đầu óc địa vị, thích tâng bốc, thiếu khiêm tốn như đôi cánh đẩy con diều cá nhân chủ nghĩa lên cao. Đã có thủ trưởng khi nhờ nhân viên sửa lại hệ thống đèn của nhà mình, lại nói “tôi chỉ đạo cậu phải làm xong chiều nay” và nhân viên nọ cứ răm rắp “xin tiếp thu ý kiến chỉ đạo của thủ trưởng”. Bác Hồ khi viết xong bài báo “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”, trước khi gửi đến tòa soạn để đăng, Bác đưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, rồi 2 đồng chí cán bộ văn phòng đọc và góp ý. Một đồng chí đề nghị: xin phép Bác đưa cụm từ “nâng cao đạo đức cách mạng” lên trước cụm từ “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” với lý do cán bộ đảng viên ta nói chung là tốt, ưu điểm là cơ bản. Đồng chí cán bộ kia cũng nhất trí. Bác Hồ im lặng suy nghĩ, cuối cùng bảo: - Ý kiến các chú Bác thấy cũng có lý, nhưng còn phân vân điều này. Ví như gia đình các chú tiết kiệm, mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới. Vậy trước khi vào phòng, các chú có quét dọn nhà cửa sạch sẽ hay cứ để rác rưởi bẩn thỉu mà khiêng bàn ghế, giường tủ vào? Mọi người đang lúng túng chưa biết trả lời thế nào thì Bác nói: “Vì 2 chú đã đề nghị, là đa số. Bác nhượng bộ, đổi lại đầu bài. Nhưng ở trong bài thì dứt khoát phải để nguyên ý của Bác “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng!”. Bác Hồ, một thiên tài, một lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc mà khiêm tốn đến như thế, khiêm tốn nhưng vẫn cương quyết bảo vệ cái đúng. Điều đó đáng để chúng ta suy ngẫm. Sự khiêm tốn không chỉ với đồng cấp, mà kể cả của cấp trên đối với cấp dưới. Nó có sức cuốn hút và thuyết phục mọi người hơn bất cứ chức quyền nào./.

Chàng trai chuyên chở F0

TP HCMKhi biết ca F0 mình sẽ đưa đến viện là một trẻ sơ sinh mới 8 ngày tuổi, Nguyễn Trí gần như "đứng hình" vì bất ngờ, không dám đóng cửa mạnh tay. Đó là chuyến xe vào một buổi chiều cuối tháng 6 mà chàng trai 27 tuổi không thể nào quên. Nó cũng phần nào cho anh thấy dịch bệnh đang ở giai đoạn khốc liệt đến như thế nào. Hôm đó, nhận được điện thoại của nhóm Thiện Nguyện Nhất Tâm, điều phối xe cấp cứu đưa ca bệnh mới nhập viện, Trí lập tức nhận nhiệm vụ. Xe đậu tại điểm tập kết ở quận 2 nên anh phải chạy xe máy từ nhà ở quận 8 sang. Làm tài xế miễn phí cho chuyến xe 0 đồng, Trí sẵn sàng lên đường ngay bất cứ khi nào được gọi. Anh nhanh chóng mặc đồ bảo hộ, phun khử khuẩn rồi lên đường. Dừng lại trước căn nhà trên đường Huỳnh Tấn Phát, quận 7, Trí bất ngờ khi bước ra xe là một người phụ nữ trung niên, ẵm trên tay một bé sơ sinh mới 8 ngày tuổi. Trí hỏi nhân viên y tế đi cùng thì nhận được câu trả lời: "Ba mẹ của em bé nhiễm Covid-19, đã được đưa đi cách ly từ trước. Hôm nay em bé cũng có kết quả dương tính, bà sẽ đưa cháu vào bệnh viện cùng mẹ". Nghe xong, cổ họng anh nghẹn lại, không biết nói gì thêm. Trí tiến về phía xe, anh cố gắng đóng cửa một cách nhẹ nhàng nhất, sợ tiếng động mạnh sẽ làm em bé tỉnh ngủ. "Tôi đã chở hàng trăm ca F0 đi nhập viện nhưng có lẽ, em bé này là ca bệnh khiến tôi đau lòng nhất", chàng trai hồi tưởng. Sau khi hai bà cháu đã lên xe, Trí chở họ đến bệnh viện Trưng Vương, nơi mẹ em đang điều trị. Với anh, quãng đường hơn 10 km trong thành phố chưa bao giờ dài đến thế. Thay vì tăng tốc để chuyển bệnh, lần này Trí chẳng dám phóng nhanh. Anh cố chạy chậm, không cả dám bật còi hú sợ sẽ làm em bé tỉnh giấc trên tay bà. "Tôi nghe nói những người bị nhiễm bệnh sẽ phải trải qua một giai đoạn rất khó khăn, đau đớn. Em bé nhỏ xíu, mong manh thế này làm sao vượt qua được?", Trí nghĩ rồi thấy tim mình như thắt lại cho dù chưa một lần làm bố. Nguyễn Trí vốn là một tài xế lái xe du lịch, dịch vụ nhưng cũng thường xuyên tham gia các chương trình thiện nguyện. Năm ngoái, khi miền Tây xuất hiện hạn mặn, anh và nhóm bạn của mình đã lái xe chở nước ngọt từ Sài Gòn về với bà con ở Tiền Giang, Bến Tre. Hồi đầu tháng 5, Covid-19 bùng phát ở Bắc Giang, anh định xin ra làm tình nguyện thì Sài Gòn xuất hiện ca bệnh. Lúc này, anh nghĩ mình nên ở lại để giúp thành phố. Thấy nhóm Thiện nguyện Nhất Tâm có đội xe cấp cứu 0 đồng, chuyên chở F0 đi cách ly nhưng lại thiếu tài xế nên Trí đăng ký ngay. "Nghề của tôi mùa dịch này cũng không làm ăn được, mình không đủ điều kiện để hỗ trợ về tiền bạc thì có sức khỏe và nghề lái xe. Cộng đồng cần thì mình phải giúp", Trí nói và cho biết, khi nhận việc anh quên hẳn những cảnh báo của gia đình về việc mình có thể bị nhiễm bệnh. Tham gia đội lái xe chở F0, mỗi ngày Trí thường nhận nhiệm vụ trực vào buổi chiều tối. Khi có ca bệnh mới cần đưa đi nhập viện hoặc cách ly, cán bộ y tế địa phương sẽ liên hệ với người đại diện nhóm để điều phối xe và tài xế đi đón. Ông Trần Thanh Long, trưởng nhóm Thiện nguyện Nhất Tâm cho biết, ông bắt đầu dùng hai chiếc xe cứu thương của nhóm tình nguyện chở F0 đi cách ly từ đầu mua dịch. Gần hai tháng nay, xe của nhóm đã lên đến 10 chiếc, thêm một chiếc đi mượn nữa nên đã đáp ứng được khoảng 95% nhu cầu chở F0 khi được y tế địa phương nhờ hỗ trợ. "Ngoài lái xe cứu thương, chúng tôi còn nấu cả nghìn suất cơm, tài xế còn có nhiệm vụ chở đến các khu trọ, khu cách ly tặng người dân mỗi ngày. Hiện nay, dù đã có hơn 30 tài xế nhưng chúng tôi vẫn kêu gọi thêm để giảm tải công việc cho mọi người", ông Long nói. Một lần, khi đang chở một gia đình gồm 7 người F1 ở quận 1 về Thủ Đức. Khi đi đến ngã tư MK trên xa lộ Hà Nội, xe cấp cứu của Trí đâm phải một người đàn ông lái xe máy, vượt đèn đỏ. Lao xuống đỡ người đàn ông, anh thấy ông đã ngà ngà say. Thấy thế, Trí càng bực bội, muốn gọi công an làm cho ra nhẽ. Nhưng nghĩ lại mình còn nhiệm vụ. Ngước lên xe, qua tấm kính anh thấy những đôi mặt mệt mỏi, lo lắng đang chờ mình, Trí biết mình cần đưa họ đi ngay. "Dù xe có hỏng ở phần đầu và dù rằng mình muốn công an đến để xử phạt người đang ông say xỉn ấy nhưng cũng lúc đó, mình biết việc chuyển bệnh là quan trọng hơn", Trí chia sẻ. Dù không có thời gian để theo dõi tin tức trên truyền thông, nhưng những chuyến xe cứ tăng dần mỗi ngày, Trí ngầm hiểu, dịch bệnh đang rất căng thẳng. Có những ngày, những tài xế như Trí phải hoạt động hết công suất, có hôm anh chạy liên tục với khoảng 60 ca F0. "Mong rằng mọi người hãy ý thức, tự bảo vệ mình theo khuyến cáo 5K bởi một người bệnh, sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều người", chàng trai nói. Buổi chiều chở bệnh nhi 8 tuổi là F0 đó, khi xe của Trí đến bệnh viện, trong lúc chờ làm thủ tục, tất cả những người ngồi trên xe không được phép xuống để hạn chế nguy cơ lây lan dịch. Em bé ngủ say cũng đã đến lúc khát sữa, khóc ngằn ngặt trên tay bà. Ngồi phía trước, Trí chẳng còn cách nào khác ngoài việc ngoái nhìn, trong lòng cầu nguyện mọi việc được xử lý nhanh để em bé sớm được gặp mẹ. Sau đó, các y bác sĩ đã kịp thời ra xe để kiểm tra, chăm sóc em bé trong lúc chờ đợi làm thủ tục. Sau một tiếng chờ đợi, đến khi bóng hai bà cháu khuất hẳn trong bệnh viện, Trí mới dám nổ máy quay xe trở ra. "Tôi không thể và cũng không biết phải làm gì ngay lúc đó để giúp hai bà cháu. Chưa bao giờ thấy mình bất lực đến thế. Dù tâm trạng có chùng xuống và thấy mệt mỏi, nhưng khi vừa nhận được cuộc gọi của nhóm thông báo vị trí của ca bệnh mới cần xe đến, tôi hít một hơi dài rồi nhủ lòng phải cố gắng.", Trí tâm sự.

Thêm 1.438 ca Covid-19, riêng TP HCM 1.071 ca

Bộ Y tế sáng 16/7 ghi nhận 1.438 ca dương tính trong nước, gồm 1.274 ca được phát hiện ở khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa, 164 ca đang điều tra dịch tễ. 1.438 ca mắc mới từ số 40851-42288, gồm tại: TP HCM (1.071), Đồng Nai (72), Đồng Tháp (66), Khánh Hòa (57), Bình Dương (53), Vĩnh Long (36), Phú Yên (22), Bến Tre (15), Bình Phước (10), Kiên Giang (8), Cần Thơ (8 ), Hậu Giang (7), Nghệ An (6), Hà Nội (3), Đăk Nông, Lạng Sơn, An Giang và Lâm Đồng (1). Số ca mới nâng tổng số ca nhiễm tại TP HCM lên 22.564, Bình Dương 2.062, Đồng Tháp 947, Phú Yên 594, Đồng Nai 575, Hà Nội 567, Khánh Hòa 338, Vĩnh Long 245, Nghệ An 143, Lạng Sơn 114, Bến Tre 113, An Giang 105, Bình Phước 54, Cần Thơ 40, Hậu Giang 29, Kiên Giang 26, Lâm Đồng 15, Đăk Nông 5, Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 38.675, ghi nhận ở 58 tỉnh thành. 12 tỉnh gồm Bắc Kạn, Điện Biên, Hải Dương, Hòa Bình, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, đã qua 14 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. 9 tỉnh gồm Điện Biên, Hải Dương, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, đã qua 30 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. Thêm 21.815 người được tiêm chủng trong ngày 15/7. Như vậy tổng cộng đã thực hiện tiêm chủng 4.185.623 liều vaccine Covid-19, trong đó số người đã được tiêm 1 mũi là 3.890.947, số người đã được tiêm đủ 2 mũi là 294.676. Miền Nam An Giang: Ca 41014 nam, 34 tuổi, địa chỉ TP Châu Đốc, tỉnh An Giang; đang điều tra dịch tễ, kết quả xét nghiệm ngày 15/7 dương tính, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành. Bình Dương: Ca 41165-41217 gồm 45 ca là các trường hợp F1; 3 ca có tiền sử đi về từ TP HCM; 5 ca đang điều tra dịch tễ. Bình Phước: Ca 40878-40886, 41015 là các trường hợp F1, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 11-14/7 dương tính. Bến Tre: Ca 40909-40923 gồm 13 ca là các trường hợp F1; 2 ca có tiền sử đi về từ TP HCM, kết quả xét nghiệm ngày 15/7 dương tính, điều trị tại Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Bến Tre. Cần Thơ: Ca 40934-40941 gồm 6 ca là các trường hợp F1; 1 ca có tiền sử đi về từ TP HCM; 1 ca đang điều tra dịch tễ, kết quả xét nghiệm ngày 14-15/7 dương tính, điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi TP Cần Thơ. Đăk Nông: Ca 40924 nam, 30 tuổi, địa chỉ tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; có tiền sử di chuyển qua nhiều tỉnh thành phố trước khi về địa phương, kết quả xét nghiệm ngày 15/7 dương tính. Đồng Tháp: Ca 40942-41007 gồm 57 ca là các trường hợp F1; 9 ca đang điều tra dịch tễ, kết quả xét nghiệm ngày 13-14/7 dương tính. Đồng Nai: Ca 41093-41164 gồm 39 ca là các trường hợp F1 trong khu cách ly, khu vực đã được phong tỏa; 22 ca là các trường hợp liên quan đến chợ cá Hòa An; 11 ca đang điều tra dịch tễ. Hậu Giang: Ca 40868-40874 gồm 3 ca là các trường hợp F1; 4 ca có tiền sử đi về từ TP HCM, kết quả xét nghiệm ngày 11-12/7 dương tính, điều trị tại Bệnh viện Phổi Hậu Giang. Lâm Đồng: Ca 41056 nam, 33 tuổi, địa chỉ tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; có tiền sử đi về từ TP HCM, đã chủ động khai báo y tế và được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 15/7 dương tính. Kiên Giang: Ca 40887-40894 gồm 4 ca là các trường hợp F1; 1 ca có tiền sử đi về từ tỉnh Khánh Hòa; 3 ca đang điều tra dịch tễ, kết quả xét nghiệm ngày 13-14/7 dương tính, điều trị tại Bệnh viện Phổi Hậu Giang. TP HCM: Ca 41218-42288 gồm 940 ca là các trường hợp trong khu cách ly, khu vực đã được phong tỏa; 131 ca đang điều tra dịch tễ. Vĩnh Long: Ca 41057-41092 gồm 32 ca liên quan đến công ty tại huyện Long Hồ; 1 ca có tiền sử đi về từ TP HCM; 3 ca đang điều tra dịch tễ. Miền Trung Khánh Hòa: Ca 340851-40867, 41016-41055 là các trường hợp F1 trong khu cách ly, khu vực đã được phong tỏa. Nghệ An: Ca 40903-40908 là các trường hợp liên quan đến 36611 đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 15/7 dương tính. Phú Yên: Ca 40895-40902, 40926-40933, 41008-41013 là các trường hợp trong khu cách ly, khu vực đã được phong tỏa. Miền Bắc Hà Nội: Ca 40875-40877 là các trường hợp F1 trong khu cách ly, khu vực đã được phong tỏa, kết quả xét nghiệm ngày 15/7 dương tính. Lạng Sơn: Ca 40925 nam, 55 tuổi, địa chỉ tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; có tiền sử đi về từ TP HCM, kết quả xét nghiệm ngày 15/7 dương tính, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Chi Lăng.

Hơn 1.800 ca nhiễm ở các khu công nghiệp, chế xuất

TP HCMTính đến nay, cơ quan chức năng ghi nhận 1.837 ca nhiễm tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn. Thông tin được ông Hứa Quốc Hưng, Trưởng ban quản lý các Khu công nghiệp - Khu chế xuất TP HCM (Hepza) cho biết tại cuộc họp đánh giá một tuần thành phố thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16, tối 15/7. Theo ông Hưng, trước khi thành phố giãn cách theo Chỉ thị 16, các doanh nghiệp thuộc Hepza ghi nhận 1.159 ca nhiễm, chiếm 15% tổng số ca tại TP HCM. Từ ngày 9/7 đến nay, doanh nghiệp phát hiện thêm 678 ca, nâng tổng số ca nhiễm tại các khu công nghiệp, khu chế xuất lên 1.837 ca. Số ca nhiễm từ khi thực hiện Chỉ thị 16 đã giảm lại, trung bình mỗi ngày khoảng 40 ca. Trước đó, theo báo cáo của Sở Y tế thành phố, chỉ tính riêng tại Khu công nghệ cao ở TP Thủ Đức, qua khám sàng lọc, ngành y tế phát hiện 4 nhân viên Công ty Nidec Sankyo dương tính hôm 28/6. Tổng cộng đến nay, công ty này ghi nhận 739 ca dương tính, trong đó có 5 khách nước ngoài. Tại khu chế xuất Tân Thuận, từ 25/6 ngành y tế phát hiện một F0 là nhân viên công ty. Đây là F1 của một F0 đã cách ly tập trung từ trước. Trong khu cách ly, F1 này chuyển thành F0 nên y tế quận 7 tiếp tục truy vết, xét nghiệm các nhân viên ở công ty, phát hiện 154 ca dương. Qua truy vết, ngành y tế phát hiện thêm 160 ca ở nhiều công ty khác. Cơ quan y tế đã ghi nhận tổng cộng hơn 400 ca bệnh tại 50 công ty trong Khu chế xuất Tân Thuận. Tại Khu chế xuất Linh Trung 2, ngày 2/7 Công ty Theodore Alexander phát hiện 6 trường hợp dương tính. Sau đó, công ty lấy mẫu sàng lọc và phát hiện thêm nhiều trường hợp khác, đến nay tổng cổng 161 ca nhiễm tại doanh nghiệp này. Trước tình hình đó, ngày 13/7, UBND thành phố yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất chỉ được hoạt động nếu bảo đảm công nhân ăn nghỉ, sản xuất tại nhà máy; hoặc bố trí lao động sống tập trung tại ký túc xá hoặc khách sạn, có xe vận chuyển từ chỗ ở đến nơi sản xuất. Những doanh nghiệp không đáp ứng các yêu cầu này phải dừng hoạt động từ 0h ngày 15/7. Sở Y tế được giao phối hợp các cơ quan liên quan nhanh chóng thẩm định doanh nghiệp đảm bảo đủ điều kiện mới cho phép hoạt động; thực hiện xét nghiệm định kỳ 7 ngày một lần với công nhân, doanh nghiệp trả chi phí.

Quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh, lấy bảo vệ sức khỏe của người dân là trên hết

 

Ngày 15-7, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì Hội nghị trực tuyến Thường trực Chính phủ với 27 địa phương phía Nam về công tác phòng, chống dịch Covid-19. Cùng dự hội nghị tại đầu cầu trụ sở Chính phủ có các Phó thủ tướng: Phạm Bình Minh, Vũ Đức Đam, Lê Văn Thành và lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan liên quan.

Trăm khúc sông đổ dồn về một bến...

 

Với phương châm “Chống dịch như chống giặc”, Thành phố (TP) Hồ Chí Minh đang là “tiền tuyến” nóng bỏng, cần sự chung tay, tiếp sức từ “hậu phương” cả nước.

YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH

 

Những ngày TP Hồ Chí Minh thực hiện cách ly xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ (Chỉ thị 16), đi trên một số tuyến đường, như: Trường Chinh (quận Tân Bình), Phạm Văn Đồng, Nguyễn Oanh (quận Gò Vấp), hay xa lộ Hà Nội, Điện Biên Phủ (quận Bình Thạnh) và nhiều con đường của TP Thủ Đức, chúng ta vẫn bắt gặp cảnh người, xe đi lại khá nhiều vào đầu buổi sáng, hay cuối buổi chiều.

Ph.Ăng-ghen về chống chủ nghĩa cơ hội

 

Thực tế cho thấy, rất đông cán bộ, đảng viên hiện nay chưa có điều kiện học tập, nghiên cứu thấu đáo về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy mà hiểu biết về bản chất, biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội cũng còn rất mức độ. Vì thế, muốn bảo vệ những tư tưởng cơ bản về xây dựng Đảng hiện nay, trước hết phải hiểu Ph.Ăng-ghen về chống chủ nghĩa cơ hội...

Xây dựng công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng

 Chiều 15/7, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng chủ trì hội nghị tổng kết 12 năm thực hiện Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng (2008 - 2020).

Theo Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị lần này nhằm đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ về tình hình và kết quả thực hiện, làm rõ những hạn chế, bất cập, đề xuất các chủ trương, giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về công nghiệp quốc phòng.

Thời gian tới, Bộ Quốc phòng xác định tập trung xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đạt trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại; đáp ứng yêu cầu nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh quốc gia.

Qua việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng, công tác nghiên cứu khoa học, thiết kế, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật đã có bước phát triển mạnh mẽ, hiệu quả; nhiều sản phẩm quốc phòng đã được nghiên cứu chế thử thành công.

Năng lực của các cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt có bước phát triển mạnh mẽ cả về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và chất lượng nguồn nhân lực; công nghệ sửa chữa đã được nâng cấp về chất lượng, số lượng chủng loại và tiến độ ngày càng tốt hơn.

Các đơn vị đẩy mạnh phát triển thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp quốc phòng.

Nguyễn Hải st

Cuba đâu phải Lybia



Mấy ngày qua, truyền thông phương Tây từ BBC, Reuter, VOA,.. đồng loạt hân hoan đăng tin về các cuộc biểu tình ở Cuba. Nào là hàng nghìn sinh viên xuống đường, nào là bạo loạn, tấn công cảnh sát. Mấy anh em dân chủ cũng vào trang cá nhân của tôi "gáy", hỏi han tại sao tôi không viết bài về Cuba, ca ngợi nhân dân Cuba đã thức tỉnh trước chủ nghĩa cộng sản,…

Cần định hướng thẩm mỹ văn hóa cho giới trẻ về thể loại truyện ngôn tình đi ngược lại đạo lý, thuần phong mỹ tục Việt Nam

Giới trẻ hiện nay, bên cạnh những cuốn sách ngôn tình nhẹ nhàng, nhân văn thì nhiều bạn trẻ lại đang tự đầu độc mình bằng ngôn tình, như “nghiện” đọc những truyện ngôn tình trộn lẫn với các nội dung liên quan đến tình dục, được gắn mác 18+, đi ngược với thuần phong mỹ tục. Đây chính là điều nguy hiểm và đáng báo động khi lứa độc giả của dòng sách này thường là các bạn trẻ, đang ở lứa tuổi hình thành nhân cách và chưa hẳn đã có kiến thức để tự định hướng thẩm mỹ văn hóa cho mình. Hiện nay còn tồn tại rất nhiều thể loại ngôn tình được trộn lẫn yếu tố dung tục, phi văn hóa. Nhiều tác phẩm ngôn tình có cốt truyện đi ngược lại đạo lý, quá viễn tưởng. Trong đó, nó cổ súy cho thứ tình yêu lệch lạc, thiếu chuẩn mực như chuyện người yêu thú trong tác phẩm "Bạn trai tôi là sói" (Tát Không Không). Hoặc có những truyện quá thoáng trong mối quan hệ nam nữ khi nhân vật nữ chính tự nguyện dâng hiến cho nam chính khi chưa đến tuổi thành niên trong "Chuyện cũ của Lịch Xuyên" (Huyền Ân), "Cẩm Tú Duyên" (Niệm Nhất)… Đặc biệt thể loại truyện ngôn tình Sắc chứa những cảnh nóng, miêu tả cảnh quan hệ xác thịt giữa các nhân vật trong truyện sẽ khiến người đọc dễ có suy nghĩ lệch lạc về tình yêu và tình dục như Đa dạng Sắc tình, Ai lừa ai lên giường. Nhận thấy nhiều sinh viên chưa biết cách chọn lọc sách để đọc, đặc biệt có xu hướng đam mê những thể loại sách tiêu cực, PGS.TS Phạm Ngọc Trung đã chủ động dành tặng cho sinh viên những quyển sách về khoa học, chuyên ngành. Ngoài ra thầy còn mời sinh viên đến nhà và biến giá sách của mình thành “thư viện” thu nhỏ. Văn hóa đọc sách luôn là một nét đẹp cần được phát huy. Tuy nhiên, nhiều người chưa định hình được cách lựa chọn sách, trong khi nhiều thể loại sách không chính thống vẫn tràn lan trên thị trường. Bên cạnh những cuốn truyện ngôn tình nhẹ nhàng, nhân văn, nhiều câu chuyện bị xen lẫn yếu tố dung tục, đi ngược với thuần phong mỹ tục vẫn đang được truyền tay nhau. Điều đáng lo ngại là những thể loại này rất thu hút giới trẻ và ngày càng “đầu độc” tâm hồn họ. “Nghiện” ngôn tình, đam mê “rác văn hóa” của giới trẻ vẫn là tình trạng đáng báo động.

TRÁI ĐẮNG CHO NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC LÀM TAY SAI CHO BỌN PHẢN ĐỘNG.

 Chắc hẳn chúng ta không xa lạ gì với những cái tên như: Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài... từng được sống trong ảo vọng, được "Việt Tân" tung hô hết mực, với ý đồ nuôi dưỡng thành những "ngọn cờ" khuấy đảo thành "phong trào chống phá ở trong nước".

     Cái giá của việc quay lưng lại với Tổ quốc vô cùng khủng khiếp. Họ tự đánh mất bản thân mình, đánh mất gia đình, đánh mất tương lai, đánh mất con đường quay trở lại quê hương, đánh mất cơ hội được hưởng cuộc sống an yên trên Tổ quốc mình.

     Từ những lời hứa viển vông của "Việt Tân" về "cơm no áo ấm, về tấm thẻ xanh đi Mỹ, đi Úc”, rằng “cứ chống đối đi, vào tù sẽ có người bảo vệ", từ những cái nhìn thiển cận về chính trị, mờ mắt trước những lợi ích nhất thời. Hàng loạt đối tượng đã sa chân mà không có đường trở lại. Những con người ấy tự biến mình thành QUÂN CỜ chứ không phải NGỌN CỜ của những tổ chức phản động đầu sỏ như "Việt Tân, CPQGVNLT". Chúng điên cuồng thực hiện mọi hành vi chống phá bằng hàng loạt thủ đoạn nham hiểm, thậm chí còn âm mưu thực hiện khủng bố bằng bom. Đương nhiên, đã là quân cờ thì chúng chỉ được sử dụng khi còn giá trị. Hết giá trị thì bị vứt bỏ không thương tiếc.

      Thực tế là, với những "thân phận chống đối" do "Việt Tân" gây dựng, số này được cấp tiền trong thời gian đầu để thực hiện chỉ đạo của "Việt Tân" là kích động, tổ chức các hoạt động tụ tập, biểu tình, gây rối an ninh trật tự, khiếu kiện, tuyên truyền phá hoại tư tưởng ở trong nước, dùng số này "làm nhân chứng sống" để xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, lấy cớ để Mỹ, các nước phương Tây can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Khi số này bị bắt, xử lý, "Việt Tân" sẽ coi đây là cơ hội dùng hình ảnh của họ để xuyên tạc, rêu rao rằng "Việt Nam đàn áp người yêu nước", yêu cầu các nước can thiệp để đưa các “tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị” ra nước ngoài và làm bằng chứng cho các kẻ chống đối ở trong nước tin tưởng rằng chỉ cần chúng làm theo sự sắp đặt của Việt Tân thì chắc chắn chúng sẽ nhận được sự bảo vệ và càng điên cuồng chống đối mạnh hơn nữa. Nhưng, đời không như mơ, nhiều kẻ từng “vang danh” chống đối ở trong nước, được các tổ chức phản động, khủng bố tung hô thì khi ra nước ngoài đều trở nên mờ nhạt, vô danh, sống cuộc đời lay lắt vì đơn giản là chúng không còn giá trị lợi dụng, không còn khả năng chống phá Việt Nam nữa, các tổ chức phản động, khủng bố sẽ quay lưng đi tìm con mồi béo bở hơn, có tiềm năng hơn ở trong nước thay vì tiếp tục bơm tiền cho chúng kêu gào trên mạng. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài hay Cù Huy Hà Vũ là một ví dụ điển hình! 

     Đối với những kẻ chưa muốn "lang thang nơi đất khách" cố bám trụ để chống đối ở trong nước như: Lê Văn Lượng, Trần Huỳnh Duy Thức...đều đã lĩnh bản án đích đáng của Toà án, mới đây thôi Hạnh libety, Dũng vova đều đã bị bắt giữ, bị truy tố theo quy định của pháp luật, chắc chắn bản án cho chúng là không hề nhẹ!

     Còn nhiều "mảnh đời tráng lệ" khác nữa mà chúng tôi không liệt kê ở đây, nhưng chắc chắn rằng kết cục cho những kẻ phản bội tổ quốc đều giống nhau đó là những ngày tháng tự ăn năn, hối lỗi trong nhà gian, đó là sự dằn vặt, hắt hủi, khinh rẻ quân bán nước của cộng đồng, đó là những tương lai tha hương nơi đất khách quê người, sống lang thang mà không có ngày trở về đất mẹ.

     Nên nhớ "Làm người có ích cống hiến cho xã hội, xây dựng đất nước cần một sự cố gắng, nỗ lực và là một chặng đường dài, nhưng làm được điều ấy thì không những người đó sẽ có tương lai tươi sáng mà còn lưu lại tiếng thơm muôn đời, ngược lại, nếu muốn làm những hạng bán nước cầu vinh như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống thì rất đơn giản, có thể có những lợi ích đạt được nhưng tiếng xấu sẽ truyền mãi về sau, bị người đời coi rẻ”. 

     Phản bội Tổ quốc, phản bội Nhân dân không bao giờ có kết cục tốt đẹp./.

Hải Đăng ST

Không gọi là ngụy thì gọi là gì?

 Về bản chất của quân đội ngụy và ngụy quyền tay sai thì Bác Hồ đã nhiều lần đề cập trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bằng những câu như: “Chúng dựng lên ngụy quân, ngụy quyền dùng làm công cụ phản quốc hại dân.”, “Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước.” v.v.

Lưu ý rằng Bác Hồ không nói những người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền là những kẻ phản nước, hại dân, mà Bác nhận định họ đã bị Pháp, Mỹ sử dụng làm công cụ phản nước hại dân. Như vậy, những người tốt nhưng yếu, kém, không có thực lực, bị thời thế đẩy đưa thì vẫn có thể bị giặc lợi dụng làm công cụ hại dân, phản nước. Như vậy việc những cá nhân lính ngụy, sĩ quan ngụy tốt hay xấu, bản thân có yêu nước hay không, là việc không liên quan.

Bác Hồ nổi tiếng về khả năng có thể nói rất lâu mà không nói vấp hay nói hớ 1 chữ, nhận thức sự việc tuyệt đối chính xác, và câu “làm công cụ hại dân phản nước” của Bác cho thấy cách dùng từ của Người rất tỉ mỉ và cực kỳ chính xác.

Bác Hồ nhận định về ngụy quyền – ngụy quân như thế cũng không phải là Bác ghét bỏ, thù hận gì họ, trái lại Bác Hồ vẫn xem họ là đồng bào bình thường, chỉ vì tình thế bắt buộc, bị bắt lính, gia cảnh cơ hàn, cuộc sống khó khăn, hoặc bị giặc tẩy não, nhồi sọ v.v. thì mới đi lính cho giặc.

Trong quá khứ, Bác đã viết rất nhiều lá thơ, chuyển vào Nam và giao cho các tổ chức binh vận, ngụy vận, tìm cách đưa những lá thơ này đến tay đồng bào lính ngụy trong vùng tạm chiếm: “Thư gửi các ngụy binh” (thập niên 50), “Vận động ngụy binh” (thập niên 50), “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc” (thập niên 50), “Ngụy binh giác ngộ” (thập niên 60) v.v. Đảng cũng nhiều lần ra Nghị quyết và có nhiều văn kiện yêu cầu đẩy mạnh công tác “ngụy vận”. Xem công tác ngụy vận là một phần của công tác dân vận, chứ không xem là địch, công tác ngụy vận là một phần của công tác binh vận, nhưng lại có khác biệt với công tác địch vận (nhắm vào người Pháp và người Mỹ).

Thư chúc mừng năm mới Kỷ Dậu 1969 của Bác Hồ

Trong lịch sử thật ra chẳng có ai thật sự muốn bán nước, không có ai nghĩ rằng mình bán nước. Xưa nay chưa hề có một hợp đồng nào kiểu tôi giao cả quốc gia cho anh, anh trả cho tôi bao nhiêu tiền. “Bán nước” chỉ là một cách lên án của dân gian và sự phán xét nghiêm khắc của lịch sử và hậu thế, nhằm giáo dục con em không để lâm vào tình cảnh tương tự. Đó là thuộc văn hóa suy nghĩ, tư duy, tâm tư tình cảm của dân tộc, và đó cũng là nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam. Chứ hoàn toàn không có hận thù gì ở đây, người Việt Nam đa số có lòng khoan dung và vị tha.

Người ta kết tội những nhân vật đứng đầu như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu vào tội danh bán nước là để ghi nhận một tấm gương xấu cho hậu thế rút kinh nghiệm, mang tính chất răn đe cho con cháu đời sau. Chứ người ta không kết tội những quân nhân, tướng lĩnh, sĩ quan cấp dưới. Lịch sử kết tội Lê Chiêu Thống chứ không kết tội Lê Quýnh, Hoàng Phùng Tứ, Trần Quang Châu… Lịch sử kết tội Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu chứ không kết tội Ngô Quang Trưởng, Hoàng Xuân Lãm, Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn…

Như vậy cách nhìn đúng đắn là: Ngụy quyền và ngụy quân đúng là do giặc dựng lên để mị dân, hợp thức hóa cuộc xâm lược, và phục vụ cho cuộc xâm lược. Còn riêng những cá nhân trong bộ máy đó, nếu không còn liên quan gì nữa, không còn gây ra gì nữa, và chiến tranh đã qua lâu, xã hội ổn định, không khí thanh bình, thì nên xem họ là những người bình thường.

Lịch sử đã sang trang mới, và thực tế cũng cho thấy những người lính ngụy, sĩ quan ngụy, tướng tá ngụy như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn Phương Hùng và nhiều người khác trong lúc này vẫn đáng tôn trọng hơn những người từng là “Bộ đội cụ Hồ” mà đã thoái hóa, biến chất, đón gió trở cờ, trở thành kẻ phản bội, phản quốc như Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Anh Kim theo ngoại bang chống phá đất nước hay những kẻ tha hóa biến chất, trở thành sâu bọ tham nhũng, lũng đoạn, cắn nát đất nước và chế độ.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những cuộc đụng độ xảy ra giữa quân Việt Nam và quân ngụy là vì lính ngụy bị giặc Mỹ đẩy ra đánh thay họ, chết thay họ, tránh thương vong cho quân đội của họ. Việt Nam chỉ đánh giặc xâm lược Mỹ, không coi ngụy là một nước, không công nhận cái gọi là “nước Việt Nam Cộng hòa” và chưa bao giờ tuyên bố chiến tranh với ngụy. Việt Nam chỉ tiến hành chiến tranh với Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước chứ không phải là “chống ngụy cứu nước”.

Việt Nam muốn kết thúc chiến tranh thì phải đánh thắng Mỹ, muốn giải quyết chiến tranh thì phải nói chuyện với Mỹ, với người chủ. Trong suốt cuộc chiến này, VN không chú trọng đánh ngụy và chỉ chú trọng đánh Mỹ với cả 3 mũi giáp công: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vì ta biết rõ dù có diệt được ngụy mà Mỹ vẫn còn đó thì họ chỉ việc dựng lên một ngụy quyền khác và bắt thanh niên miền Nam đi lính bằng các đợt cưỡng bách quân dịch quy mô. Không đánh bại được Mỹ thì không diệt được ngụy, chém đầu này sẽ mọc đầu khác. Không thắng được ông chủ thì ông chủ chỉ việc tuyển dụng và đưa lên những tay sai mới. Cho nên muốn chấm dứt chiến tranh thì phải đánh thẳng vào cái gốc, cái rễ, cái nguồn gốc chiến tranh, cái nguồn gây ra chiến tranh, cái nguồn đang tiến hành xâm lược, cái cỗ máy chiến tranh đang điều hành cuộc chiến. Đánh cho “Mỹ cút” rồi mới đến “ngụy nhào” như câu thơ chúc Tết mà Bác Hồ tặng miền Nam đã nói. Bác đã tài tình lồng vào 2 giai đoạn chiến lược “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” vào câu thơ của mình ngay trong lúc Mỹ đang mạnh, chưa cút, và ngụy chưa nhào.

Việt Nam cũng chưa bao giờ đàm phán, nói chuyện với ngụy, vì biết có nói chuyện với ngụy thì cũng vô ích, không giải quyết được gì. VN muốn gì thì tìm Mỹ mà nói, mà đối thoại, mặc cả, giao dịch, trao đổi v.v. Mục tiêu của cuộc kháng chiến là: Quét sách tên giặc xâm lược cuối cùng và tất cả các ngụy quyền của giặc xâm lược ra khỏi miền Nam của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà quân đội Mỹ đang chiếm đóng bất hợp pháp (Miền Nam của Việt Nam DCCH quy định rõ ràng trong hiến pháp 1946, 12 khu hành chính và quân sự tháng 11 năm 1946, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Hiệp định Genève về Đông Dương, Hiến pháp 1959).

Tóm lại: Lịch sử thì phải nhận thức đúng. Những cá nhân trong quá khứ thì thông cảm, bỏ qua và tôn trọng như một người bình thường! Đây là cách tiếp cận hợp tình hợp lý. Chúng ta tôn trọng cá nhân các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, nhưng trong lịch sử chúng ta vẫn phải ghi nhận là hai ông từng làm tướng cho Pháp, Mỹ, trong thời Pháp thuộc hai ông có Pháp tịch, là công dân Pháp và đi lính cho Pháp, đeo huân chương Pháp, được Pháp phong chức, được Pháp rồi Mỹ trả lương. Bỏ qua, gác lại quá khứ, tha thứ … không có nghĩa là quên lãng, từ bỏ. Khép lại quá khứ không có nghĩa là đóng lại, khóa lại quá khứ. Lịch sử và các tiểu sử, trong đó có những giai đoạn lầm lạc của một số nhân vật nên được ghi nhận chính xác. Xem như đó là một bài học lịch sử để răn dạy con cháu đời sau.

Lịch sử luôn được người Việt hàng nghìn năm nay sử dụng như một phương tiện để đề cao, ca ngợi những tấm gương tiết liệt, làm tấm gương sáng cho hậu thế, và răn đe những gương xấu phản dân hại nước, rước giặc vào nhà.

Đó là một cách thức truyền lửa của dân ta nghìn năm nay từ thời mở nước và trong suốt những thời kỳ giữ nước, đời này noi theo gương tốt của đời nọ, thế hệ trước truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ sau. Đánh giặc là đúng, chống ngoại xâm là đúng, theo giặc là sai, bán nước là sai. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Bất cứ ai “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” đều bị lịch sử chê trách, lên án.

ĐỪNG BIẾN MÌNH THÀNH TỘI ĐỒ CỦA ĐẤT NƯỚC

 Vừa qua, hàng chục bác sĩ, y tá đã phải thức trắng đêm để lấy mẫu xét nghiệm cho hàng trăm giáo dân tại nhà thờ Trung Nghĩa, Lộc Hà. Nơi đây có một ca dương tính nhưng đi lễ tại buổi lễ có tới 400-500 người; và chắc chắn, ngành y tế sẽ còn phải rất vất vả để truy vết các f2, f3 có liên quan.

Đó là hậu quả của việc coi nhẹ các biện pháp phòng dịch của các linh mục tại giáo phận Vinh và giáo phận Hà Tĩnh. Khi cả đất nước phải hi sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích cộng đồng, nhiều địa phương chấp nhận giãn cách xã hội, tại một số giáo xứ ở Nghệ An, Hà Tĩnh, các nhà thờ vẫn tổ chức cầu nguyện. Và để tỏ lòng “thành kính”, chẳng ai trong số họ thèm đeo khẩu trang, đứng gần sát vào nhau như thể nếu không làm như vậy, họ sẽ không là con chiên ngoan đạo nữa. TP Hồ Chí Minh đang khốn đốn vì những ca lây nhiễm cộng đồng, chỉ vì sinh hoạt của một giáo phái chưa đến 50 người. Thủ hỏi, nếu bùng phát dịch ở Nghệ An, Hà Tĩnh, nơi có hàng nghìn giáo dân, thì hậu quả khủng khiếp thế nào.

Đất nước này chẳng phải của riêng ai, giáo dân hay lương dân thì vẫn là người Việt Nam, vẫn phải có trách nhiệm với đất nước. Đừng vì thần quyền, vì sự nhận thức sai của linh mục mà giáo dân biến mình trở thành tội đồ của đất nước.

Yêu thương đồng chí, đồng đội – phẩm chất tốt đẹp của bộ đội Cụ Hồ

Lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước vô cùng khó khăn, gian khổ, song cũng rất oanh liệt, vẻ vang của dân tộc ta đã luôn diễn ra trong điều kiện phải thường xuyên khắc phục, vượt qua những khó khăn của điều kiện địa lý, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, “Sáng chống bão giông, chiều ngăn nắng lửa”; đồng thời, phải thường xuyên đấu tranh chống lại những thế lực xâm lược thường có tiềm lực kinh tế, quân sự, vũ khí trang bị kỹ thuật lớn hơn ta nhiều lần.

Trong điều kiện đó, dân tộc ta đã sớm hình thành nên những nét văn hóa tốt đẹp: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng”; “Thương người như thể thương thân”; “Tắt lửa tối đèn có nhau”; “Lá lành đùm lá rách”… Đó còn là những nét đặc sắc trong hoạt động quân sự, thể hiện các giá trị văn hóa quân sự Việt Nam trong quan hệ tướng - sĩ như: “Phụ tử chi binh”; “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”… Các nét văn hóa tốt đẹp đó trong quan hệ giữa những con người trong “cùng chung một bọc” - “đồng bào” - với nhau đã trở thành những giá trị văn hóa tốt đẹp góp phần tạo nên sức mạnh to lớn trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Giá trị văn hóa tốt đẹp đó đã được các thế hệ người Việt Nam truyền lại từ đời này qua đời khác; được Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu nâng lên một tầm cao mới trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh; được nhân dân ta nuôi dưỡng, bồi đắp và đã được truyền vào trong các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta, hình thành nên một giá trị văn hóa quân sự tốt đẹp trong đời sống tinh thần của quân đội ta - phẩm chất tốt đẹp yêu thương đồng chí, đồng đội.

Yêu thương đồng chí, đồng đội là phẩm chất cơ bản trong các phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ. Yêu thương đồng chí, đồng đội là sự phản ánh các mối quan hệ trong nội bộ quân đội ta. Phản ảnh mối quan hệ của những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Yêu thương đồng chí, đồng đội phản ánh các mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa những người đồng cấp, giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa chiến sĩ với chiến sĩ, thể hiện sâu sắc tình đồng chí, đồng đội giữa các quân nhân trong quân đội cách mạng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội trong quân đội ta được thể hiện ở tình cảm thương yêu gắn bó với nhau như anh em ruột thịt, “đồng cam, cộng khổ”, “chia ngọt, sẻ bùi”, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, trưởng thành. Phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội trong quân đội ta được thể hiện ở tinh thần cùng nhau khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong điều kiện hòa bình xây dựng cũng như trong điều kiện chiến tranh, lúc thường cũng như lúc ra trận.

Là Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng tình yêu thương đồng chí, đồng đội cho cán bộ, chiến sĩ quân đội ta. Theo Hồ Chí Minh, tình yêu thương đồng chí, đồng đội phải được thể hiện ở việc nhận thức đúng đắn về vai trò của con người, của người chiến sĩ trong quân đội: “Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng thì không làm gì được. Bởi vậy, cần phải thương yêu đội viên. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất, tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn no, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới là dân chủ, là đoàn kết, là tất thắng”. Đồng thời, Người luôn căn dặn: “Cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên. Cán bộ phải chăm lo cho đội viên đủ ăn, đủ mặc. Cán bộ phải coi đội viên như chân tay, thì đội viên mới coi cán bộ như đầu, như óc”. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã luôn khẳng định vai trò của cán bộ chính trị, của chính trị viên trong giáo dục, bồi dưỡng, chăm sóc bộ đội, thể hiện sâu sắc tinh thần “Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”. Vì thế, “Đối với bộ đội, chính trị viên phải săn sóc luôn luôn đến sinh hoạt vật chất của họ: Ăn, mặc, ở, nghỉ, luyện tập, công tác, sức chiến đấu. Về mặt tinh thần, phải săn sóc đến nâng cao kỷ luật, bài trừ hủ hóa, phát triển văn hóa, và đường lối chính trị trong bộ đội”.

Phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ được thể hiện phong phú, sinh động trong những năm đất nước ta phải tiến hành các cuộc chiến tranh chính nghĩa chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hai đầu đất nước. Trong điều kiện khó khăn, gian khổ, ác liệt của chiến tranh, phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ đã được tỏa sáng. Biết bao hình ảnh cao đẹp về những tấm gương sáng ngời thể hiện tình cảm đồng chí, đồng đội trong huấn luyện, trong các cuộc hành quân, chiến đấu đã đi vào truyền thống lịch sử của dân tộc ta, của quân đội ta như những biểu tượng cao đẹp của giá trị văn hóa Việt Nam, giá trị văn hóa quân sự Việt Nam trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.

Phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ còn được thể hiện phong phú, sinh động trong những năm đất nước ta tiến hành công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau đại thắng Mùa Xuân 1975 lịch sử. Một lần nữa phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ lại tiếp tục tỏa sáng trong quá trình quân đội ta thực hiện chức năng, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cả vũ trang và phi vũ trang, chống “diễn biến hòa bình”; trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác vận động quần chúng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trên mọi miền của đất nước, phòng chống thiên tai, dịch họa, cứu hộ, cứu nạn… và trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân lao động sản xuất trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội và góp phần xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Để tiếp tục phát huy phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới cần quan tâm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nhất là sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trong quân đội; tăng cường vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của các cấp, các ngành đối với quân đội; phát huy vai trò của nhân dân các dân tộc Việt Nam, của các tổ chức chính trị xã hội như: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, của Hội Cựu chiến binh Việt Nam trong phát huy phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới. Đặc biệt, cần phát huy vai trò trực tiếp của mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, tiến hành tốt công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội nhằm phát huy phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, để phát huy phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu triển khai thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, tiếp tục phát huy phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ - giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu trong thời kỳ mới./.

Mai Năm Mới (ST)

LỜI CHÚC

Nghe tin anh H nghỉ hưu, mấy anh em ở cơ quan cũ rủ nhau đến thăm. Như thường lệ, họ không quên mang quà đến như lúc anh ấy đang công tác. Nhưng khác với những lần trước, đến nhà anh H lần này nét mặt và tâm trạng của họ không vui, nhưng cũng chẳng thấy buồn. Làm lãnh đạo bao nhiêu năm nên anh ấy rất hiểu những biểu hiện tình cảm của cấp dưới. Vì vậy, khi ngồi nói chuyện anh H tỏ ra thân tình, gần gũi, làm cho giữa anh và cấp dưới không hề có khoảng cách. Sau khi hỏi thăm sức khỏe của vợ chồng, công việc của các con anh H và việc học hành của các cháu, anh A thay mặt mọi người phát biểu ý kiến, bày tỏ sự biết ơn, luyến tiếc khi nghe tin anh có quyết định nghỉ hưu. Có người trong đoàn nghe anh A nói còn sụt sùi, lấy khăn lau nước mắt. Điều ấy làm cho anh H ngồi đối diện cũng cảm thấy mủi lòng. Nhìn mọi người một lượt, anh phát biểu, cảm ơn anh A và các anh chị em, rồi đứng dậy đi lại phía tủ lấy chai rượu ngoại, rót mỗi người một ly. Thấy vậy, tất cả cũng đứng lên, cầm ly rượu trên bàn, lần lượt bước đến gần anh như những lúc liên hoan ở nhà hàng trước đây, rồi đồng thanh nói: - Kính chúc anh và gia đình luôn mạnh khỏe! Anh cười. Phòng khách rộng, trở nên ấm cúng, vui vẻ hơn. Mọi người thấy anh như trẻ lại. Cao hứng sau lời chúc của mọi người, anh B nói tiếp: - Anh đã nghỉ hưu nhưng chúng em vẫn luôn thấy “sếp” trong công việc hằng ngày. Hôm nay trong không khí vui vẻ, thân tình, tiếp theo lời chúc của mọi người, em xin kính chúc anh “hạ cánh an toàn”. Lúc này hình như không kìm nén được, anh H ngắt lời anh B, rồi nói: - Sao cậu lại chúc tôi như vậy. Thì ra lâu nay các cậu làm việc dưới quyền tôi, nhưng không tin mà chỉ im lặng phục tùng. Nay, tôi đã nghỉ hưu các cậu mới nói ra để tỏ thái độ nghi ngờ chứ gì? Nghe anh nói như vậy, anh B lúng túng, vội thanh minh. - Anh hiểu nhầm chúng em rồi, không phải như thế ạ! Chúng em chúc như vậy là bởi lẽ, lâu nay có nhiều người không được như anh nên khi chưa đến tuổi nghỉ hưu, hoặc vừa mới nghỉ đã bị ủy ban kiểm tra, thanh tra các cấp phát hiện ra nhiều sai phạm lúc đương chức. Có người sai phạm về kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; có người sai phạm về tư cách, đạo đức, lối sống bị tổ chức đảng, chính quyền xử lý kỷ luật. Người thì bị khiển trách, người thì bị cảnh cáo, thậm chí có người còn bị đưa ra truy tố trước pháp luật. Những người như thế mang danh là lãnh đạo, nhưng quả là đáng thương, đáng trách và đáng lên án. Họ về hưu mà cũng chẳng an toàn. Lặng đi, đặt ly rượu xuống bàn, anh chậm rãi nói: - Đã từ lâu có người nói với tôi rằng, làm lãnh đạo có nhiều lúc hiểu không đúng, hoặc hiểu sai cấp dưới, kể cả lòng tốt, sự trung thực, thẳng thắn của họ. Lúc đang làm việc ít có thời gian nghĩ tới câu nói đó, giờ về hưu, nghĩ lại mình thấy đúng như vậy. Ngừng một lúc, anh H nói tiếp: - Cảm ơn các cậu vẫn nhớ và đến thăm mình. Mình cũng chúc các cậu những năm còn đang công tác, dù ở cương vị nào, làm công việc gì, cũng luôn gương mẫu, đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao để đến khi nghỉ hưu chúng ta đều vui vẻ, thanh thản, như lời các cậu chúc mình ngày hôm nay./.

GÁC BÚT

Ông bạn thân của tôi là một nhà báo lão thành. Sở dĩ gọi là lão thành bởi ông có tới nửa thế kỷ cầm bút và tên tuổi ông được rất nhiều người biết đến. Một hôm đến thăm tôi, bên ấm trà ngon, ông giãi bày tâm sự: “Mình đã quyết định gác bút”. “Sao thế?” “Vì ngượng!” Nói vậy rồi ông kể tỉ mỉ về những lý do khiến ông ngượng: “Hồi cả nước chuẩn bị đón chào Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, tòa soạn báo P. gọi điện mời mình viết một bài về hai người phụ nữ nổi tiếng cuối triều Lý, đầu triều Trần là Lý Chiêu Hoàng và Trần Thị Dung. Mình nhận lời ngay vì đó là lĩnh vực mình rất am hiểu. Viết xong, gửi ngay đến tòa soạn. Sau hai ngày, cô nhà báo L.A. gọi điện nói rằng: “Bài của anh bọn em rất thích, song hơi dài một chút. Nếu là bài của người khác thì bọn em sẽ trực tiếp biên tập, nhưng đây là bài của anh, bọn em không dám. Vì thế, nhờ anh trực tiếp cắt bớt hộ em còn khoảng 2.000 chữ rồi gửi lại ngay cho em nhé để kịp đăng số tới”. Lúc ấy mình ngượng quá. Mặc dù ngượng nhưng không “sĩ” nên mình thú thật với cô ấy là mình không có máy vi tính, và cũng chẳng biết sử dụng vi tính. Ở đầu dây bên kia, cô ấy cười nắc nẻ, rồi ho, và vừa ho, vừa nói: “Sao ông anh lại lạc hậu thế. Thời buổi này chẳng có ai viết bài bằng tay. Cứ dùng máy vi tính mà gõ tít mù lên rồi “meo” (mail) tới tòa soạn. “Xoạch” một cái là xong, vừa thuận tiện, vừa văn minh, hiện đại. Bọn em nhận bài, trực tiếp biên tập trên máy rồi “meo” lại cho tác giả xem. Cũng “xoạch” một cái là xong. Tác giả xem lại, nếu thấy được thì “OK” rồi “meo” lại cho bọn em. Các công đoạn như thế là hoàn tất, chỉ việc chờ bài báo ra lò”. “Lý sự” một hồi rồi cô ấy khuyên: “Anh phải mua ngay một cái laptop rồi học qua “cua” đào tạo về cách sử dụng. Dùng rồi sẽ quen thôi. Anh đừng để mình rơi vào tình trạng mù vi tính. Nếu có gì khó khăn, em sẽ phụ đạo cho anh miễn phí”. Đó là chuyện thứ nhất, còn chuyện thứ hai cũng khiến mình ngượng không kém. Một hôm đi ăn sáng, ngồi cùng bàn với mình là một cô gái trẻ, đẹp và rất lịch lãm. Có tiếng rao ong ỏng phát ra từ chiếc loa phóng thanh chạy bằng pin của anh bán báo quen thuộc. Mình gọi anh ta lại và mua một tờ “Tuổi trẻ và đời sống”. Thấy vậy, cô gái liền nói: “Bác mua báo làm gì, cứ lên mạng mà xem, có đầy đủ hết. Các thông tin trên mạng có thể đáp ứng nhu cầu của mọi lứa tuổi, mọi đối tượng. Chúng cháu làm kinh doanh nên thường vào mạng tìm hiểu những thông tin có liên quan đến công việc của mình. Các bác cứ tìm những website “đỏ” mà đọc. Báo Nhân Dân điện tử, Tạp chí Cộng sản điện tử, Báo Hà Nội mới điện tử... đều có, tha hồ đọc, đọc cả ngày, cả tháng cũng không hết”. Cô gái còn nói tiếp: “Các thông tin trên mạng có cái hay là khá phong phú và hệ thống. Chẳng hạn bác muốn tìm hiểu về vấn đề tham nhũng thì bác cứ lên mạng. Sau vài, ba thao tác đơn giản, mọi thông tin, mọi tài liệu về tham nhũng sẽ hiện ra. Từ định nghĩa thế nào là tham nhũng, những vụ tham nhũng nổi tiếng trên thế giới từ xưa tới nay, kinh nghiệm chống tham nhũng của các quốc gia trên thế giới, kể cả kinh nghiệm của các vương triều phong kiến ở nước ta, đều có hết. Những thông tin nào cần lưu thì bác in ra, thế là xong”. Nghe cô gái nói và giải thích một hồi như thế mình lại ngượng. Trước hết ngượng vì không có máy vi tính (điều này khắc phục dễ thôi). Song, dù có máy vi tính, mình cũng chưa biết sử dụng, không biết cách lên mạng, không biết cách “meo”... Tóm lại, mọi kiến thức về vi tính đều mù tịt. Nhưng ngượng hơn cả vì mình là nhà báo mà lại “mù tin học”. Mình giãi bày tâm sự này với cậu con trai là tiến sĩ. Nghe xong, nó bảo: “Con có thể mua cho bố một bộ máy vi tính thật xịn, nhưng để xóa mù được, tiến tới sử dụng một cách thành thạo thì rất mất thời gian và rất mệt. Với tuổi bố mới bắt đầu làm việc đó là thiếu tính khả thi. Tốt nhất là bố cứ nghỉ ngơi cho khỏe. Về hưu rồi, việc gì phải ngượng”. Nghe những lời nói của nhà báo L.A., của cô doanh nhân trẻ, đẹp, lịch lãm và của cậu quý tử thì mình đành phải gác bút thôi. Còn tôi, nghe những lời tâm sự của ông bạn thân, rồi nhìn lại mình, tôi cũng thấy ngượng. Ngượng vì tôi cũng là nhà báo kỳ cựu nhưng mù tịt về vi tính. Ôi! Gác bút hay là đánh vật với cái máy vi tính đây?

“Có gì gửi thủ trưởng không”?

- Gặp anh bạn công tác ở văn phòng Công ty X., tôi buột miệng khen: - Các ông dạo này làm ăn khấm khá gớm, hay được cấp trên đến thăm thế! - Sao ông biết? - Thì ti-vi đưa suốt đấy thôi. Nào là kỷ niệm ngày truyền thống, đón huân chương, lại ra quân khởi công xây dựng công trình,... Cuộc nào cũng thấy có nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên về dự, có vị còn khen ngợi, chỉ đạo này nọ nữa chứ! Anh bạn tôi hờ hững: - Cũng chết dở chuyện ấy đấy ông ơi! - phấn khởi chứ, có gì mà chết dở? - Tốn kém lắm!... Anh thở dài, - Chẳng biết Ban Giám đốc có phấn khởi không, chứ cánh văn phòng, tài vụ chúng mình vất vả lắm! Vì sau mỗi kỳ cuộc ấy, mình thường được đồng chí thư ký của cấp trên gọi điện “hỏi thăm”, “có lời động viên” là công ty tổ chức các cuộc ấy nói chung tốt, rất long trọng, rất hoành tráng, chu đáo,... - Khen thế tốt quá còn gì! - Chỉ khen thế thì nói làm gì... Khen rồi, đồng chí thư ký mới hỏi: Thế các ông có gì gửi thủ trưởng không? - Có gì là có gì? - Tôi ngạc nhiên hỏi. - Là cái khoản bồi dưỡng này nọ đấy. Mà bồi dưỡng không ít đâu nhé! phong bì gửi thủ trưởng phải năm triệu, mười triệu đồng. Lại đồng chí thư ký nữa, không dưới một triệu đồng đâu. Phải báo cáo ngay Ban Giám đốc, rồi cùng tài vụ lo chuyện này. Không cẩn thận còn bị Giám đốc phê bình là thiếu nhạy bén, chuyện ấy sao để cấp trên phải hỏi. Tôi ngạc nhiên. Té ra lâu nay vẫn có chuyện này mà không ai nói ra cả. Nhưng rồi vẫn băn khoăn, tôi hỏi: - Ngộ nhỡ đấy không phải ý thủ trưởng, mà là đồng chí thư ký vẽ chuyện ra như thế để đút túi riêng thì sao? - Của ai thì cũng phải lo thu xếp cho “chu đáo”, kẻo những kỳ, những cuộc sau nhân ngày gì đó mà thiếu cấp trên này, cấp trên nọ đến dự thì còn “mệt” hơn với Ban Giám đốc! Nghe anh bạn kể, thực lòng tôi chưa tin lắm. Tôi cũng làm công tác văn phòng, nhưng không phải của công ty, mà là ở một tổ chức xã hội nhân đạo, từ thiện. Những kỳ cuộc mà Hội của chúng tôi tổ chức, có nhiều đồng chí lãnh đạo cấp trên về dự, cũng trao huân chương, bằng khen, cũng phát biểu..., mà trước hoặc sau đó có thấy đồng chí thư ký của cấp trên nào đòi hỏi gì đâu! Nhưng biết sao được. “Người thực, việc thực” trong cuộc nói ra đấy! Hay vì công ty làm ăn kinh tế nên cứ phải cái lệ ấy. Còn chúng tôi, chỉ trông mong vào xã hội giúp đỡ cho những hoàn cảnh thiệt thòi, khó khăn, thì ai nỡ có lời “hỏi thăm” như vậy?

LẠI NGẪM CHUYỆN CHỌN NGƯỜI ĐÚNG ĐẦU

Trong trời đất không gì quý bằng con người. Trong nhân quần không gì quý bằng hiền tài. Bởi, hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Theo thế, việc dùng người, nhất là người làm tướng, người đứng đầu tổ chức, quốc gia... được xếp vào một trong mấy việc hệ trọng và khó vào bậc nhất xưa nay ở đời. Ngẫm việc này, chợt lại nhớ tới dòng chữ khắc trên bia mộ một vị tổng thống ở phương Tây: “Nơi đây yên nghỉ một người tài biết dùng những người tài hơn mình”! Thế mới hay, trải suốt cổ kim, ngang dọc Đông Tây, việc dùng người đúng đắn là nỗi bận tâm và nan giải vào hàng thứ nhất trong muôn sự ở đời của mọi thời và mọi quốc gia. Nhân chúng ta đang bàn và thực thi về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, tôi lại nhớ về ngày xưa về việc chọn người! Có câu chuyện đối đáp đã lưu truyền trong dân gian suốt hơn 2.400 năm nay, ở một nước nọ. Rằng, một bữa, Văn Quân người đất Lỗi Dương, hỏi Mặc Tử: Có kẻ nói trung thần là người bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng, để thì im, gọi thì thưa, như thế có coi là trung thần và dùng họ được không? Mặc Tử cười đáp: Bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng, như thế khác gì cái bóng. Để thì im, gọi thì thưa, như thế khác gì tiếng vang. Nếu dùng những kẻ như cái bóng như tiếng vang ấy, phỏng được ích gì. Theo tôi đây, đã gọi là bậc trung thần thì khi vua có nhầm lẫn, phải liệu cách can ngăn mà đưa vào điều thiện. Khi mình có điều hay, phải tìm đường bày tỏ, mà không lộ ra ngoài; trên thì thành thực, một lòng một dạ với vua; dưới thì không a dua, vào bè kết đảng với ai. Những sự tốt lành, yên vui thì để phần vua hưởng; những điều oán trách, lo lắng thì một mình gánh chịu trước. Ai có được như thế, tôi mới cho là bậc trung thần và họ xứng đáng được tin cậy và ủy thác cho việc lớn trong thiên hạ. Văn Quân cả phục và làm theo! Chuyện ấy, lời ấy của Mặc Tử thật chí lý chí tình lắm thay! Nhưng chạnh buồn rằng, lại từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim, nhìn và ngẫm, thấy lắm chuyện việc dùng người đáng phải trừ bỏ. Tỉ như điều sách Hoài Nam Tử ghi lại: Trong thiên hạ, có ba cái nguy: Đức ít mà được ân sủng nhiều, tài kém mà địa vị cao, thân không lập được công to mà bổng lộc lắm. Nhiều thời, người đứng đầu quốc gia đã phạm vào những điều cấm kỵ ấy, khiến cho bậc trung thần phải thất thế, kẻ hiền sĩ phải bó tay và đám loạn thần lên ngôi vênh vác, chà đạp những bậc trung thần. Quả báo không thể nào tránh nổi. Ấy là lúc lòng người ly tán, xã hội trầm luân, quốc gia điên đảo. Bao vương triều sụp đổ! Nghĩ mà đau lòng thay! Bởi thế, ở nước ta, thời nào ông cha mình cũng dành những nỗi bận tâm bậc nhất trù tính chuyện dùng người, những mưu xã tắc muôn đời bền vững. Nhớ thế kỷ thứ XI, dù chuyện đã kể mấy lần. Rằng, vào thời Lý, có vị Thái úy là Tô Hiến Thành. Ông tài đức vẹn toàn. Lúc ông nhuốm bạo bệnh, người ta thấy, có quan Tham tri chính sự là Vũ Tán Đường ngày đêm chầu chực hầu hạ, rất là “mẫn cán”, “tận tụy” (!). Ai cũng nghĩ, người ấy sẽ thay Tô Hiến Thành, khi ông khuất núi. Khi ông sắp lâm chung, bà Đỗ Thái hậu - mẹ vua Lý Cao Tôn - đến thăm và hỏi ông: Ai có thể thay ông được? Chẳng cần nghĩ, ông đáp ngay: Thưa Thái hậu! Là Trần Trung Tá. Bà chưa hết ngạc nhiên, ông tiếp: Nếu Thái hậu hỏi người cúc cung hầu hạ thì tôi xin cử Vũ Tán Đường, còn hỏi người làm tướng thì tôi phải tiến cử quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá. Ngược thêm chút nữa, về thế kỷ thứ X. Đinh Tiên Hoàng lừng lẫy và lẫm liệt là thế, nhưng cuối đời, vì dùng bọn người Đỗ Thích, Đỗ Sơn một cách mù quáng nên nỗi thân nát nghiệp tan. Nhưng còn kịp may mắn để lại cho hậu thế một bài học dùng người thấm đẫm máu đào và nước mắt! Trở xuôi tới thời Trần. Đây là thời kỳ được xếp vào hàng những thời thịnh trị nhất lịch sử nước nhà, với hào khí Đông A lừng lẫy. Và Trần Hưng Đạo được lưu truyền và ca tụng nhiều nhất trong việc dùng người. Lúc thường ngày, ông bỏ thù riêng, gạt hiềm cũ để cầu người mưu việc đại sự quốc gia. Ông giội nước cho Thượng tướng Trần Quang Khải tắm cốt bỏ hiềm xưa, những tỏ lòng mình trong sạch. Chuyện ấy còn truyền mãi với nhân gian. Khi lâm đại sự, ông thường khuyên các tướng: Thận trọng từ cái nhỏ, mưu trí ở việc lớn, quê mùa vì bỏ người hiền, mắc vạ vì ham lợi lộc, không tường tận vì ghét nghe kể lỗi mình, không sáng suốt bởi nghe lời gièm pha, không chắc chắn vì hay nhẹ dạ. Theo phương châm ấy, ông đối đãi hết lòng với người và hết sức khắc kỷ với mình. Và nhân gian còn nhớ mãi, dưới quyền Hưng Đạo Vương, kẻ nịnh hót gièm pha đâu thấy; người thích phỉnh nịnh phải tỉnh ngộ; kẻ tham lam, vị kỷ buộc nghiến răng lấy đó làm điều phải tự răn mình; bao bậc hiền tài, trang tướng tha hồ mở lòng giúp nước. Thật là lẫm liệt lắm thay! Tới thời hậu Lê. Dẫu bản thân mình bao bận thăng trầm, thậm chí về cuối đời, bị thất sủng và gánh họa tru di tam tộc, nhưng Nguyễn Trãi vẫn treo vằng vặc giữa nhân thế một vì sao Khuê. Ông từng nói với các vị quan đồng triều rằng: Yêu người gần vị tình riêng. Họ hàng thì người thấp cũng tôn quý, tiểu nhân mà người nịnh cũng tin dùng. Nhân mừng mà thưởng khen, nhân giận mà phạt giết. Người trung thực phải khóa miệng, kẻ lương thiện thì ngậm oan. Thế mà còn cứ kiêu ngạo, không sợ mệnh trời gieo họa lắm ư. Và, chẳng phải đợi lâu, lời tiên báo ấy đã thành ứng nghiệm với nhà Lê, như là quả báo. Một quốc gia may mắn là một quốc gia có nhiều bậc hiền tài. Nhưng, để trở nên mạnh mẽ và trường tồn chỉ khi người ta biết trọng dụng con người, nhất là những bậc hiền tài ấy. Không nhìn thấy người hiền tài là mắc tội; tội to hơn là thấy người hiền tài mà không dùng họ; tội nặng hơn thế nữa là dùng mà không tin họ; thật là trọng tội nếu thấy họ mắc oan mà không bảo vệ được; nhưng cộng cả bốn tội ấy cũng không nặng và nguy ngập bằng tội đem cái mũ của bậc hiền tài đội lên đầu kẻ bất tài vô hạnh! Ông cha ta từng luôn lấy đó làm răn! Càng nhớ, càng nhìn, càng ngẫm lại càng hổ thẹn, thật không dám bàn thêm, khi thấy nhiều nơi ở ta, việc chọn người đứng đầu, người làm tướng không được kỹ càng như ông cha mình thuở trước./.