Về bản chất của quân đội ngụy và ngụy quyền tay sai thì Bác Hồ đã nhiều lần đề cập trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bằng những câu như: “Chúng dựng lên ngụy quân, ngụy quyền dùng làm công cụ phản quốc hại dân.”, “Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước.” v.v.
Lưu ý rằng Bác Hồ không nói những người
trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền là những kẻ phản nước, hại dân, mà Bác
nhận định họ đã bị Pháp, Mỹ sử dụng làm công cụ phản nước hại dân. Như vậy, những
người tốt nhưng yếu, kém, không có thực lực, bị thời thế đẩy đưa thì vẫn có thể
bị giặc lợi dụng làm công cụ hại dân, phản nước. Như vậy việc những cá nhân
lính ngụy, sĩ quan ngụy tốt hay xấu, bản thân có yêu nước hay không, là việc
không liên quan.
Bác Hồ nổi tiếng về
khả năng có thể nói rất lâu mà không nói vấp hay nói hớ 1 chữ, nhận thức sự
việc tuyệt đối chính xác, và câu “làm công cụ hại dân phản nước” của Bác cho
thấy cách dùng từ của Người rất tỉ mỉ và cực kỳ chính xác.
Bác Hồ nhận định về ngụy quyền – ngụy
quân như thế cũng không phải là Bác ghét bỏ, thù hận gì họ, trái lại Bác Hồ vẫn
xem họ là đồng bào bình thường, chỉ vì tình thế bắt buộc, bị bắt lính, gia cảnh
cơ hàn, cuộc sống khó khăn, hoặc bị giặc tẩy não, nhồi sọ v.v. thì mới đi lính
cho giặc.
Trong quá khứ, Bác đã viết rất nhiều lá
thơ, chuyển vào Nam và giao cho các tổ chức binh vận, ngụy vận, tìm cách đưa
những lá thơ này đến tay đồng bào lính ngụy trong vùng tạm chiếm: “Thư gửi các
ngụy binh” (thập niên 50), “Vận động ngụy binh” (thập niên 50), “Lời kêu gọi
ngụy binh quay về với Tổ quốc” (thập niên 50), “Ngụy binh giác ngộ” (thập niên
60) v.v. Đảng cũng nhiều lần ra Nghị quyết và có nhiều văn kiện yêu cầu đẩy
mạnh công tác “ngụy vận”. Xem công tác ngụy vận là một phần của công tác dân vận,
chứ không xem là địch, công tác ngụy vận là một phần của công tác binh vận,
nhưng lại có khác biệt với công tác địch vận (nhắm vào người Pháp và người Mỹ).
Thư chúc mừng năm mới Kỷ Dậu 1969 của
Bác Hồ
Trong lịch sử thật ra chẳng có ai thật
sự muốn bán nước, không có ai nghĩ rằng mình bán nước. Xưa nay chưa hề có một
hợp đồng nào kiểu tôi giao cả quốc gia cho anh, anh trả cho tôi bao nhiêu tiền.
“Bán nước” chỉ là một cách lên án của dân gian và sự phán xét nghiêm khắc của
lịch sử và hậu thế, nhằm giáo dục con em không để lâm vào tình cảnh tương tự.
Đó là thuộc văn hóa suy nghĩ, tư duy, tâm tư tình cảm của dân tộc, và đó cũng
là nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam. Chứ hoàn toàn không có hận thù gì ở
đây, người Việt Nam đa số có lòng khoan dung và vị tha.
Người ta kết tội những nhân vật đứng đầu
như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm,
Nguyễn Văn Thiệu vào tội danh bán nước là để ghi nhận một tấm gương xấu cho hậu
thế rút kinh nghiệm, mang tính chất răn đe cho con cháu đời sau. Chứ người ta
không kết tội những quân nhân, tướng lĩnh, sĩ quan cấp dưới. Lịch sử kết tội Lê
Chiêu Thống chứ không kết tội Lê Quýnh, Hoàng Phùng Tứ, Trần Quang Châu… Lịch
sử kết tội Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu chứ không kết tội Ngô Quang Trưởng,
Hoàng Xuân Lãm, Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn…
Như vậy cách nhìn đúng đắn là: Ngụy
quyền và ngụy quân đúng là do giặc dựng lên để mị dân, hợp thức hóa cuộc xâm
lược, và phục vụ cho cuộc xâm lược. Còn riêng những cá nhân trong bộ máy đó,
nếu không còn liên quan gì nữa, không còn gây ra gì nữa, và chiến tranh đã qua
lâu, xã hội ổn định, không khí thanh bình, thì nên xem họ là những người bình
thường.
Lịch sử đã sang trang mới, và thực tế
cũng cho thấy những người lính ngụy, sĩ quan ngụy, tướng tá ngụy như các ông
Trần Chung Ngọc, Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn
Phương Hùng và nhiều người khác trong lúc này vẫn đáng tôn trọng hơn những
người từng là “Bộ đội cụ Hồ” mà đã thoái hóa, biến chất, đón gió trở cờ, trở
thành kẻ phản bội, phản quốc như Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần
Anh Kim theo ngoại bang chống phá đất nước hay những kẻ tha hóa biến chất, trở
thành sâu bọ tham nhũng, lũng đoạn, cắn nát đất nước và chế độ.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những
cuộc đụng độ xảy ra giữa quân Việt Nam và quân ngụy là vì lính ngụy bị giặc Mỹ
đẩy ra đánh thay họ, chết thay họ, tránh thương vong cho quân đội của họ. Việt
Nam chỉ đánh giặc xâm lược Mỹ, không coi ngụy là một nước, không công nhận cái
gọi là “nước Việt Nam Cộng hòa” và chưa bao giờ tuyên bố chiến tranh với ngụy.
Việt Nam chỉ tiến hành chiến tranh với Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu
nước chứ không phải là “chống ngụy cứu nước”.
Việt Nam muốn kết thúc chiến tranh thì
phải đánh thắng Mỹ, muốn giải quyết chiến tranh thì phải nói chuyện với Mỹ, với
người chủ. Trong suốt cuộc chiến này, VN không chú trọng đánh ngụy và chỉ chú
trọng đánh Mỹ với cả 3 mũi giáp công: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vì ta
biết rõ dù có diệt được ngụy mà Mỹ vẫn còn đó thì họ chỉ việc dựng lên một ngụy
quyền khác và bắt thanh niên miền Nam đi lính bằng các đợt cưỡng bách quân dịch
quy mô. Không đánh bại được Mỹ thì không diệt được ngụy, chém đầu này sẽ mọc
đầu khác. Không thắng được ông chủ thì ông chủ chỉ việc tuyển dụng và đưa lên
những tay sai mới. Cho nên muốn chấm dứt chiến tranh thì phải đánh thẳng vào
cái gốc, cái rễ, cái nguồn gốc chiến tranh, cái nguồn gây ra chiến tranh, cái
nguồn đang tiến hành xâm lược, cái cỗ máy chiến tranh đang điều hành cuộc
chiến. Đánh cho “Mỹ cút” rồi mới đến “ngụy nhào” như câu thơ chúc Tết mà Bác Hồ
tặng miền Nam đã nói. Bác đã tài tình lồng vào 2 giai đoạn chiến lược “Đánh cho
Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” vào câu thơ của mình ngay trong lúc Mỹ đang mạnh,
chưa cút, và ngụy chưa nhào.
Việt Nam cũng chưa bao giờ đàm phán, nói
chuyện với ngụy, vì biết có nói chuyện với ngụy thì cũng vô ích, không giải
quyết được gì. VN muốn gì thì tìm Mỹ mà nói, mà đối thoại, mặc cả, giao dịch,
trao đổi v.v. Mục tiêu của cuộc kháng chiến là: Quét sách tên giặc xâm lược
cuối cùng và tất cả các ngụy quyền của giặc xâm lược ra khỏi miền Nam của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà quân đội Mỹ đang chiếm đóng bất hợp pháp (Miền Nam
của Việt Nam DCCH quy định rõ ràng trong hiến pháp 1946, 12 khu hành chính và
quân sự tháng 11 năm 1946, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Hiệp định Genève về
Đông Dương, Hiến pháp 1959).
Tóm lại: Lịch sử thì phải nhận thức
đúng. Những cá nhân trong quá khứ thì thông cảm, bỏ qua và tôn trọng như một
người bình thường! Đây là cách tiếp cận hợp tình hợp lý. Chúng ta tôn trọng cá
nhân các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, nhưng trong lịch sử chúng ta vẫn
phải ghi nhận là hai ông từng làm tướng cho Pháp, Mỹ, trong thời Pháp thuộc hai
ông có Pháp tịch, là công dân Pháp và đi lính cho Pháp, đeo huân chương Pháp,
được Pháp phong chức, được Pháp rồi Mỹ trả lương. Bỏ qua, gác lại quá khứ, tha
thứ … không có nghĩa là quên lãng, từ bỏ. Khép lại quá khứ không có nghĩa là
đóng lại, khóa lại quá khứ. Lịch sử và các tiểu sử, trong đó có những giai đoạn
lầm lạc của một số nhân vật nên được ghi nhận chính xác. Xem như đó là một bài
học lịch sử để răn dạy con cháu đời sau.
Lịch sử luôn được người Việt hàng nghìn
năm nay sử dụng như một phương tiện để đề cao, ca ngợi những tấm gương tiết
liệt, làm tấm gương sáng cho hậu thế, và răn đe những gương xấu phản dân hại
nước, rước giặc vào nhà.
Đó là một cách thức truyền lửa của dân
ta nghìn năm nay từ thời mở nước và trong suốt những thời kỳ giữ nước, đời này
noi theo gương tốt của đời nọ, thế hệ trước truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ
sau. Đánh giặc là đúng, chống ngoại xâm là đúng, theo giặc là sai, bán nước là
sai. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Bất cứ ai “rước voi về giày
mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” đều bị lịch sử chê trách, lên án.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét