Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

Sự mập mờ cố tình của Trung Quốc ở Biển Đông

 

Sự mập mờ cố tình của Trung Quốc ở Biển Đông

Giới chức Trung Quốc ngày 29/8 cho biết sẽ yêu cầu một loạt tàu "báo cáo thông tin" khi đi qua khu vực mà họ coi là "lãnh hải" bắt đầu từ ngày 1/9.

Hồi đầu năm nay, khi Trung Quốc cho thông qua luật Hải cảnh sửa đổi, dư luận thế giới đã cảm thấy lo ngại, nhất là khi câu chữ trong luật này thể hiện một cách mập mờ. Đây là cách Trung Quốc đã duy trì khá lâu, như “đường lưỡi bò”. 

Trong luật Hải cảnh, phạm vi áp dụng cho “lực lượng Hải cảnh Trung Quốc tiến hành các hoạt động bảo vệ quyền hàng hải và thực thi pháp luật trong và trên vùng biển thuộc quyền tài phán của CHND Trung Hoa”. Trong dự thảo luật được công bố vào tháng 11/2020, tại điều 74, “vùng biển thuộc quyền tài phán” được giải thích là “vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và các vùng biển khác thuộc quyền tài phán của CHND Trung Hoa”.

Mơ hồ câu chữ

Tuy nhiên, đến khi luật Hải cảnh được chính thức thông qua, thì việc giải thích  về “vùng biển thuộc quyền tài phán của CHND Trung Hoa” đã không còn. Điều này khiến thuật ngữ “vùng nước thuộc thẩm quyền của CHND Trung Hoa” không được xác định. Và phía Trung Quốc sẽ tuỳ thích giải thích vấn đề này như thế nào theo ý định của họ. 

Nước này cũng úp mở nhắc tới tuyên bố quyền tài phán đối với 3 triệu km2 không gian hàng hải, thường được gọi là “lãnh thổ quốc gia xanh” của họ. Khu vực này bao gồm vịnh Bột Hải; một phần lớn của Hoàng Hải; biển Hoa Đông đến tận vùng biển phía Đông của Vùng lõm Okinawa, bao gồm các vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp; và tất cả các vùng nước trong “đường 9 đoạn” ở Biển Đông.

Theo tính toán riêng của Bắc Kinh, “hơn một nửa” không gian này đang bị các nước khác tranh chấp.

Sự mập mờ này của Trung Quốc không chỉ riêng đối với luật Hải cảnh, mà còn xuất hiện ở rất nhiều văn bản luật khác.

Theo một số phương tiện truyền thông, giới chức Trung Quốc ngày 29/8 cho biết sẽ yêu cầu một loạt tàu "báo cáo thông tin" khi đi qua khu vực mà Trung Quốc coi là "lãnh hải" của nước này, bắt đầu từ ngày 1/9/2021.

Việc ra thông báo này liên quan đến luật An toàn giao thông hàng hải mà Trung Quốc thông qua hồi tháng 4 năm nay.

Luật này có điều 54 đáng lưu ý, và hoàn toàn là điều luật mới so với các bản dự thảo trước đây. Trong đó quy định rõ “các phương tiện tàu ngầm, tàu hạt nhân, tàu chở vật liệu phóng xạ và tàu chở dầu, hóa chất, khí đốt hóa lỏng và các chất độc hại khác phải báo cáo thông tin chi tiết khi đến lãnh hải Trung Quốc".

Quy định nói trên hạn chế các phương tiện đi vào lãnh hải Trung Quốc. Tuy nhiên, trong điều 117 giải thích các từ ngữ của luật này lại cũng không đưa ra giải thích rõ “lãnh hải” của Trung Quốc được quy định như thế nào, có dựa trên quy định về “lãnh hải” vốn là vùng biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở như trong quy định của Công ước Luật biển năm 1982 của LHQ (UNCLOS) hay không.

Điều đáng lo ngại là khi trả lời báo chí, chuyên gia Tống Trung Bình từ quân đội Trung Quốc cho rằng: “Yêu cầu thông báo trước này sẽ tiêu chuẩn hóa việc quản lý lãnh hải của đất nước, cải thiện khả năng bảo vệ chủ quyền và đảm bảo an toàn của Trung Quốc”.

Tống Trung Bình cũng cho biết: “Quy định mới áp dụng cho lãnh hải của Trung Quốc - bao gồm Biển Hoa Đông, Biển Đông và các đảo và đá ngầm của Trung Quốc - để điều chỉnh việc quản lý của Trung Quốc đối với các vùng lãnh hải đó”.

Ngoài ra, luật này cũng quy định bất kỳ tàu nào bị xem là “gây nguy hiểm cho an toàn giao thông hàng hải của Trung Quốc” cũng sẽ phải báo cáo thông tin, bao gồm tên, biển báo, vị trí hiện tại, cảng đến kế tiếp và thời gian đến dự kiến. Các tàu cũng sẽ phải cung cấp thông tin về hàng hóa và tải trọng của tàu.

Báo chí đại lục lưu ý rằng, Cục An toàn hàng hải “có quyền xua đuổi hoặc từ chối cho phép tàu tiến hành vào vùng biển của Trung Quốc nếu tàu đó bị cho là đe dọa an ninh quốc gia”.

Tham vọng lớn nhất

Một câu hỏi nhiều người sẽ đặt ra là: Trung Quốc duy trì sự mập mờ trong các văn bản luật đó để làm gì?

Chúng ta đều biết, tham vọng lớn nhất của Trung Quốc là độc chiếm Biển Đông. Tuy nhiên, họ không có bất cứ cơ sở pháp lý nào để có thể hỗ trợ cho tham vọng này. Trung Quốc cũng không thể sử dụng vũ lực để chiếm đoạt Biển Đông vì họ sẽ gặp nhiều bất lợi.

Chính vì vậy, Trung Quốc đã áp dụng điều mà các nhà nghiên cứu phương Tây gọi là “chiến thuật vùng xám”, tức là dùng các biện pháp đe doạ, áp chế, thậm chí là tấn công nhưng không trực tiếp sử dụng Hải quân. Bởi vì theo luật quốc tế, khi sử dụng quân đội tham dự, điều đó sẽ bị coi là “xâm chiếm bằng vũ lực”, sẽ là vi phạm Hiến chương LHQ và bị cộng đồng quốc tế lên án.

Trung Quốc cũng phải tìm lý do cho các “hoạt động vùng xám” của mình, và bởi vì không có cơ sở trong luật quốc tế, nên nước này phải tự đặt ra các quy định trong nội luật. Chính vì vậy, Trung Quốc đã cố tình duy trì sự mập mờ trong các văn bản luật, để có cớ giải thích cho các hành động hung hăng, bất chấp công lý.

Ứng phó chiến lược

Để bảo vệ các lợi ích biển của mình trước chiến thuật vùng xám của Trung Quốc, Việt Nam cần sử dụng biện pháp tổng hợp cả về ngoại giao, pháp lý và trên thực địa. Đó là:

Việt Nam cần tiếp tục thể hiện rõ vai trò tích cực trong khối ASEAN để thúc đẩy quá trình đàm phán COC, hướng tới một COC hiệu quả, thực chất, tuân thủ luật pháp quốc tế. COC phải có sự ràng buộc về mặt pháp lý, trong đó cần nêu rõ các nước không được xây dựng đảo nhân tạo; không được quân sự hóa các thực thể; không chặn các tàu chở hàng tiếp tế hoặc luân chuyển nhân sự; không thiết lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ); không đe dọa sử dụng vũ lực khi giải quyết tranh chấp ở Biển Đông.

Đồng thời, Việt Nam cần tăng cường hợp tác với các cường quốc trong khu vực và thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực chia sẻ thông tin tình báo, cung cấp phương tiện, trang bị bảo vệ chủ quyền biển đảo.  Lực lượng hải quân nên mở rộng tham gia diễn tập quốc tế (RIMPAC) để hội nhập sâu hơn cũng như xây dựng các mạng lưới đối tác ở khu vực.

Ngoài ra, Việt Nam cần tranh thủ các diễn đàn quốc tế, khu vực để đấu tranh bảo vệ các lợi ích biển của mình, phân tích rõ ý đồ trong "chiến thuật vùng xám", làm rõ những nguy cơ khiến Biển Đông căng thẳng từ các hành động của Trung Quốc ra sao.

Các lực lượng chức năng, đặc biệt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, kiểm ngư... cần được đầu tư nguồn lực nhiều hơn nữa để hiện đại hóa trang thiết bị, để trên thực địa chúng ta không bị động, bất ngờ.

Chúng ta cũng cần duy trì sự có mặt của các lực lượng lao động trên biển, để góp phần khẳng định chủ quyền một cách vững chắc. Và cơ quan chấp pháp luôn sẵn sàng có mặt để hỗ trợ, bảo vệ người dân khi cần thiết.

Chiến lược để bảo vệ chủ quyền biển đảo vững chắc nhất là chúng ta hướng tới việc phát triển thành đất nước có kinh tế biển giàu mạnh.

 

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

CẦN LAN TỎA TỐT HƠN NỮA “GIÁ TRỊ VĂN HÓA, SỨC MẠNH CON NGƯỜI VIỆT NAM”

 

   Tuyên truyền, lan tỏa tốt hơn nữa “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” chính là đã thiết thực và sâu sát trong kiến tạo niềm tin, bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay. Ngoài ra, còn quán triệt sâu sắc định hướng phát triển văn hóa trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng...

    Bảo vệ giá trị tinh thần cốt lõi 

   Văn hóa là tổng thể toàn bộ các giá trị tinh thần và vật chất mà con người sáng tạo ra để thích ứng với hoạt động sống, sinh tồn, phát triển của con người. Văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người và xã hội với vai trò là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, sức mạnh nội sinh, quyền lực mềm của phát triển bền vững; với các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ, giải trí, giao tiếp, dự báo… đặc thù. Văn hóa đã tác động lớn đến việc xây dựng và hoàn thiện nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; đến việc hình thành, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách con người. Văn hóa còn góp phần nuôi dưỡng tinh thần và kích hoạt các năng lực sáng tạo tiềm ẩn của con người. Thông qua văn hóa và môi trường xã hội, con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của phát triển, nỗ lực đáp ứng yêu cầu của phát triển văn hóa, con người, phát triển bền vững đất nước.

   Trên thực tế, văn hóa - nền tảng tinh thần - chính là không gian tinh thần, hệ tư tưởng, tình cảm, niềm tin, các quan niệm đạo lý, pháp lý, các chuẩn mực chân, thiện, mỹ, khí thế, khát vọng của quần chúng nhân dân trong xã hội. Nền tảng tinh thần ấy chính là sức mạnh quyền lực mềm của văn hóa, là sức mạnh quyền lực mềm của hệ thống giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa đương đại Việt Nam.

   Hiển nhiên, nền tảng tinh thần của quốc gia, dân tộc và của xã hội, của con người Việt Nam hôm nay có chắc, khỏe, vững mạnh mới có cơ sở để thúc đẩy các nhiệm vụ chính trị khác cùng vận hành và phát triển tốt; mới đủ sức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

   Nghị quyết Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII nêu nhiệm vụ “Khơi dây khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế.” Nhiệm vụ này gắn trong bối cảnh xây dựng văn hóa, con người Việt Nam hiện nay đòi hỏi văn hóa, con người phải kế thừa, phát huy được giá trị tích cực, tốt đẹp của văn hóa truyền thống của dân tộc; tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại, khẳng định được bản sắc, cốt cách, bản lĩnh của dân tộc trong giao lưu, hợp tác quốc tế. Muốn vậy, văn hóa, con người Việt Nam cần phải có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng các chuẩn mực trong nước, chuẩn mực khu vực và quốc tế; đủ năng lực đón nhận cơ hội, thách thức do toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại. Chỉ có như vậy, văn hóa, con người Việt Nam  mới trở thành sức mạnh nội sinh, quyền lực mềm của sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Khi đó, văn hóa, con người Việt Nam mới bảo về được nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác được các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Việc “Khơi dây khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong văn hóa, con người Việt Nam khi đó mới thực sự đi vào cuộc sống và có sức lan tỏa kích hoạt các khát vọng, hoài bão, ước mơ.

   Con người và văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những bản sắc riêng đã khẳng định và định vị đươc vị thế trong thực tiễn lịch sử chống giặc ngoại xâm, giữ nước, giành độc lập tự do cho dân tộc; trong các cuộc chiến chống giặc dốt, giặc đói trong thời bình. Thế giới ghi nhận người Việt Nam thông minh, trí tuệ, nhân văn, lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, quân sự, nông nghiệp, văn hóa, thể thao, chính trị… lĩnh vực nào cũng có sự ghi danh, có dấu ấn thành tích của con người Việt Nam; trở thành đất nước có đủ lương thực, thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới, có thứ gạo - ngọc của đất - ngon nhất thế giới; đặc biệt hơn, trong cuộc chiến chống giặc COVID-19, quốc gia hình chữ S trên bản đồ thế giới, được ghi nhận, đánh giá có nhiều điểm sáng trên toàn cầu trong nỗ lực phòng chống dịch bệnh.

   Tuyên truyền, lan tỏa tốt hơn nữa “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” chính là đã thiết thực và sâu sát trong kiến tạo niềm tin, bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay. Ngoài ra, còn quán triệt sâu sắc định hướng phát triển văn hóa trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”. Thể chế chính trị Việt Nam hôm nay đang vào cuộc. Cả hệ thống chính trị đã và đang triển khai đồng bộ, sâu sát đến từng nhà, từng công dân...

   Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng các dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiên cường trong hoạn nạn, bởi khí phách hào hùng trong giữ nước và dựng nước.” …; “Cốt lõi của sức sống đó là văn hóa với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả một hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sức nhạy cảm tiếp thụ cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ bản lĩnh và bản sắc của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để tự bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.”. Thế hệ cha ông đi trước và hôm nay, với trên 97 triệu dân Việt Nam, văn hóa là nền tảng tinh thần, là sức sống, phẩm chất, bản lĩnh, cốt cách của dân tộc, con người Việt Nam, gắn với lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam. Văn hóa ấy cần được bảo tồn, gìn giữ, kế tục và phát huy. Văn hóa ấy sẽ giúp mỗi người Việt Nam có cơ sở, nền tảng lựa chọn cho mình các hành vi văn hóa, bản lĩnh, cốt cách văn hóa phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn xã hội Việt Nam trong giao lưu, hội nhập, mở cửa, tôn trọng, cầu thị với các giá trị văn hóa khác biệt. Văn hóa ấy được kế thừa, phát triển sẽ làm nên một diện mạo, đặc trưng, sức sống mới, thể hiện trình độ phát triển, đặc tính nhân văn, ưu việt, vẻ đẹp Chân, Thiện, Mỹ của con người, đất nước Việt Nam.

   Con người Việt Nam, với cộng đồng các dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể của dân tộc đã tạo dựng được những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng phong phú, đa dạng. Những giá trị văn hóa bền vững, trường tồn tiêu biểu cho bản lĩnh, bản sắc, sức sống, phẩm giá của dân tộc, của con người Việt Nam tiếp tục tỏa sáng, soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau vững bước trưởng thành trong xây dựng, kiến tạo môi trường văn hóa Việt Nam tốt đẹp hơn trong giao lưu hội nhập quốc tế vì phát triển bền vững đất nước.

   Các nội dung trên không chỉ “phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần”,  mà còn thúc đẩy quá trình đầu tư xây dựng con người Việt Nam của thế kỷ XXI năng động, sáng tạo, kế thừa, học hỏi, hòa hợp tốt các giá trị văn hóa truyền thống và giá trị văn hóa hiện đại: tiếp nối được truyền thống yêu nước nồng nàn; gia tăng ý chí tự cường, tự tôn dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, cộng đồng; nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao động; tinh tế trong ứng xử, giản dị trong cuộc sống; dân chủ và trách nhiệm trong xã hội; công khai, minh bạch; trung thực, khách quan, bản lĩnh; tương trợ, hợp tác; khoa học và sáng tạo; thượng tôn pháp luật; … Đây là cơ sở để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ giá trị văn hóa Việt Nam hôm nay: vừa in đậm được dấu ấn sắc thái, bản sắc, cốt cách, bản lĩnh Việt Nam không thể hòa tan, trộn lẫn trước bất kỳ ý đồ xâm lăng hay đồng hóa văn hóa nào, vừa kiến tạo được nền văn hóa Việt Nam hòa hợp, hội nhập tốt trong giao lưu, học hỏi các nền văn hóa đa dạng, tiến bộ khác trên toàn cầu. Nền văn hóa Việt Nam ngày càng hoàn thiện, thấm nhuần các giá trị nhân văn, dân chủ, tiến bộ, khoa học và hội tụ đủ sức mạnh nội sinh để thấm sâu, lan tỏa rộng khắp trong toàn bộ đời sống xã hội. Tất cả góp phần dần hoàn thiện hệ giá trị con người Việt Nam trong thế kỷ XXI; kiến tạo ra những công dân của nền văn hóa số, của Chính phủ số Việt Nam, bổ sung thêm những giá trị văn hóa, con người mới. Những con người không chỉ có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc trưng cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, chăm chỉ mà còn có trí tuệ giàu có; đời sống tinh thần phong phú; đạo đức trong sáng; thể chất, thể lực mạnh mẽ; có nếp sống văn minh, hiện đại; có trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; có ý thức thượng tôn pháp luật; có tư duy độc lập, sáng tạo; có tinh thần hợp tác, phục vụ …

   Ngoài ra, họ còn là thế hệ kế tục, tiếp nối, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; chân thành, thẳng thắn, hiếu học, khát khao cập nhật những cái mới về tin học, về khoa học công nghệ hiện đại, về ngoại ngữ và văn hóa toàn cầu… Những con người Việt Nam này chính là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các bước chuyển của Chính phủ số, phát triển kinh tế số, văn hóa số, môi trường xã hội số hiện tại và tương lai. Tất cả sẽ khẳng định chắc chắn và lan tỏa tốt hơn nữa: “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” và “phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần” trong việc đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay.

     Cần lan tỏa tốt hơn nữa “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” 

   Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay cần thực thi, lan tỏa rộng khắp và mạnh mẽ trong toàn xã hội “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”. Văn hóa là lĩnh vực quan trọng, một trong các trụ cột phát triển của quốc gia, dân tộc. Văn hóa là nhân tố hàng đầu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng, đạo đức, lối sống vốn là lĩnh vực then chốt của văn hóa, cũng là quan điểm quan trọng trong đường lối lãnh đạo của Đảng.

    Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới hiện nay từ góc nhìn văn hóa, con người thì cái được lớn nhất sẽ là sớm hoàn thiện, gọi tên, thống nhất, đồng thuận được “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; cũng sớm hướng đích mục tiêu lĩnh vực văn hóa Việt Nam quan tâm, coi trọng, đó là: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”; đồng thời còn tạo được đà bứt phá trong lộ trình đạt mục tiêu tổng quát của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII: “Năm 2025 nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.”

   Khi lan tỏa được được “giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”, nền tảng tinh thần Việt Nam cũng có nghĩa đã bước đầu hướng đến hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị con người Việt Nam trong tình hình mới. Cái được tiếp theo của văn hóa, con người Việt Nam hôm nay là khẳng định được bản lĩnh, sức mạnh nội sinh để bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi tình huống, để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá trong tình hình hiện nay. Đồng thời tạo được niềm tin vào sức mạnh, nội lực từ chính nền văn hóa, con người Việt Nam; tin văn hóa, con người Việt Nam có thể làm và hiện thực hóa được những khát vọng lớn lao của cả dân tộc trong mọi tình huống, kể các những tình huống khó khăn nhất đến từ các thế lực thù địch ở trong và ngoài quốc gia; đến từ thiên tai hạn hán, lụt lội, bão tố, mưa giông trong thiên nhiên, hay đến từ đại dịch COVID-19 đã và đang bùng phát liên tục nhiều lượt.

   Để tiếp tục duy trì, phát huy góc nhìn mới còn rất nhiều việc phải làm. Những việc xem như giải pháp vĩ mô để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch hiện nay, có thể kể đến các việc như: Tiếp tục phát huy đổi mới xây dựng văn hóa, con người trong lộ trình hoàn thiện Chính phủ điện tử, chính phủ số, và cải cách hành chính Nhà nước 2021 - 2030; Xây dựng văn hóa, con người cần đặt trong lĩnh vực chính trị và tư tưởng chung của quốc gia dân tộc, đặt trong xây dựng Đảng và thể chế chính trị Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chú trọng đặc biệt mối quan hệ giữa chính trị và văn hóa ở chiều cao và chiều sâu, trong đó cốt lõi là những giá trị văn hóa trong lãnh đạo, cầm quyền và quản lý các cấp trong bộ máy Nhà nước; Xây dựng văn hóa, con người trong xã hội kiến tạo kiểu mới, vì nhân dân phục vụ cần tạo điều kiện nghe, tôn trọng các ý kiến phản biện tích cực của công dân, có lộ trình nâng cao dân trí công dân để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng các thành tựu trong lĩnh vực văn hóa xã hội.

   Góc nhìn mới - xây dựng Văn hóa, con người Việt Nam để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch hiện nay còn cho thấy văn hóa, con người Việt Nam tiếp biến, chuyển hóa, dần hoàn thiện theo chiều hướng tích cực, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn xã hội, chủ động hội nhập toàn cầu trong thế giới phẳng, chủ động bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chủ động hướng đến các giá trị văn hóa, con người tốt đẹp hơn, chân, thiện, mỹ hơn. Và chủ động trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; trong đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch.

   Trong tình hình hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch từ góc nhìn mới - góc xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đích thực, trước hết, sẽ bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác được các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới bằng chính sức mạnh của con người và nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

   Cùng với đó, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ổn định, hòa bình, sớm trở thành nước phát triển; mọi đích đến mục tiêu căn cốt, cụ thể trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thiết thực, hiệu quả vì mục tiêu phấn đấu xây dựng là một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

   Văn hóa, con người Việt Nam hôm nay luôn trong quá trình thức tỉnh, cầu thị, hướng chân, thiện, mỹ vì hạnh phúc cộng đồng chung trên dải đất hình chữ S thân thương và vì cả nhân loại chắc chắn sẽ phát triển bền vững, phồn vinh hạnh phúc. Cuộc chiến bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới tại Việt Nam sẽ thành công, ổn định, hòa bình, thành một nước phát triển không chỉ là kỳ vọng cho tương lại mà sẽ là thực tiễn của khoảnh khắc hạnh phúc trong thực tại./.

NGƯỜI TIÊM ĐỦ 2 MŨI VACCINE COVID-19 VẪN CÓ KHẢ NĂNG MẮC VÀ LÂY BỆNH CHO NGƯỜI KHÁC


Trước đề xuất nên “nới lỏng” cho người đã tiêm đủ 2 mũi vaccine để họ đi lại và làm việc trong điều kiện giãn cách, tuân thủ Thông điệp 5K, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, Bộ Y tế đang nghiên cứu để thí điểm tại một số địa phương phía Nam, đồng thời tiếp tục có khuyến cáo về bảo đảm phòng, chống dịch.

Lý do Bộ trưởng Bộ Y tế đưa ra là những người tiêm đủ 2 mũi vaccine vẫn có khả năng mắc bệnh và lây nhiễm cho người khác, dù nguy cơ mắc bệnh, chuyển nặng và lây nhiễm cho người khác đã giảm.

Trao đổi về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn cho rằng, cần phải xác định tiêm 2 mũi vaccine là giúp bản thân người đã tiêm nếu chẳng may nhiễm SARS-CoV-2 thì có thể có triệu chứng nhẹ, ít trở nặng.

Tỷ lệ tử vong ở những người đã tiêm đủ 2 liều vaccine COVID-19 theo các báo cáo khoa học là thấp hơn so với nhóm chưa tiêm hoặc mới được tiêm một mũi.

Song người đã tiêm 2 mũi vẫn có thể nhiễm SARS-CoV-2 vẫn có thể lây cho người khác. Việc tiêm không đồng nghĩa họ được tự do đi lại, không thực hiện các khuyến cáo về phòng, chống dịch cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Vì thế, theo Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn dù có ưu tiên đi làm dịch vụ thì những người đã tiêm hai mũi vaccine vẫn cần thực hiện đầy đủ các khuyến cáo về phòng, chống dịch để đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Tiến sĩ Đặng Quang Tấn, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết thêm, hiện tại Bộ Y tế đã có hướng dẫn về giảm thời gian cách ly đối với người nhập cảnh đã tiêm đủ 2 mũi vaccine COVID-19 và có xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2.

“Riêng đối với những người đã tiêm đủ 2 mũi vaccine COVID-19 trong nước, do diễn biến dịch bệnh đang phức tạp nên cần hiểu rằng việc tiêm đủ mũi vaccine là để người đã tiêm tăng miễn dịch với COVID-19 và giúp người đó nếu có mắc COVID-19 thì cũng có triệu chứng nhẹ và giảm nguy cơ tăng nặng so với những người chưa được tiêm”, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng cho biết.

Vì vậy, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng nhấn mạnh, tiêm đủ 2 mũi vaccine không có nghĩa là không có nguy cơ mắc COVID-19. Do đó, những người đã tiêm đủ mũi vaccine không nên chủ quan mà cần tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch, tuân thủ 5K, chứ không phải cứ tiêm đủ vaccine là tự do đi lại và lơ là các biện pháp phòng, chống dịch.

Trên thực tế cho thấy tại một số quốc gia có tỷ lệ bao phủ vaccine COVID-19 cao, đặc biệt là những người đã tiêm 2 mũi vaccine cao nên đã mở cửa, nhưng sau khi mở của đã ghi nhận trường hợp mắc tăng lên hàng ngày. Do đó, các quốc gia này đã siết chặt lại các biện pháp phòng dịch và kéo dài thêm thời gian giãn cách...

Về tình hình cung ứng vaccine, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, dự kiến đến cuối năm 2021, Việt Nam sẽ có khoảng 90 triệu liều vaccine COVID-19 (không tính nguồn COVAX - đã có cam kết nhưng do khan hiếm vaccine nên chưa có kế hoạch cụ thể). Trong đó, vaccine sẽ về rất nhiều trong tháng 9 (dự kiến hơn 20 triệu liều) và các tháng còn lại trong năm. 

Vì vậy các địa phương cần triển khai cao điểm tiêm vaccine trong các tháng tới, tiến độ tiêm phải đạt 1 triệu mũi/ngày mới hoàn thành kế hoạch.

Trước mắt, Bộ Y tế yêu cầu 5 địa phương gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Long An và Đồng Nai phải hoàn thành tiêm mũi 1 vaccine COVID-19 trước ngày 15/9. 

Về vaccine cho trẻ em, Thủ tướng đã có chỉ đạo, Bộ Y tế đã tích cực làm việc với các công ty cung ứng và sẽ có lộ trình tiêm cụ thể./.

TTXVN

Quân đội tham gia phòng, chống dịch với quyết tâm, trách nhiệm và khả năng cao nhất

 

Quân đội tham gia phòng, chống dịch với quyết tâm, trách nhiệm và khả năng cao nhất

 Thiếu tướng Nguyễn Văn Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn (Bộ Quốc phòng) khẳng định: Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định toàn quân tăng cường nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nắm chắc tình hình, xử lý tốt các tình huống không để bị động bất ngờ.

Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8 diễn ra chiều tối 6/9, trả lời câu hỏi về kết quả bước đầu thực hiện chủ trương đưa lực lượng Quân đội vào TPHCM và một số tỉnh phía Nam để hỗ trợ chống dịch, Thiếu tướng Nguyễn Văn Đức cho biết: Thực hiện Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19 ở TPHCM và các tỉnh phía Nam, Bộ Quốc phòng đã điều động trên 120.000 cán bộ chiến sĩ, dân quân tự vệ để tăng cường hỗ trợ cho TPHCM và các tỉnh phía nam với quyết tâm cao nhất, trách nhiệm cao nhất cùng với cấp ủy, chính quyền, các lực lượng để tham gia phòng chống dịch.

Bộ Quốc phòng cũng đã chỉ đạo các lực lượng duy trì hàng nghìn tổ, chốt, trong số đó, duy trì khoảng 1.900 tổ, chốt trên các tuyến biên giới, đường biển để kiểm soát chặt chẽ việc xuất nhập cảnh trái phép, góp phần ngăn ngừa lây lan dịch COVID-19, duy trì hàng nghìn tổ chốt trong nội địa để tổ chức tuần tra kiểm soát, làm nhiệm vụ phục vụ cho việc cách ly tập trung ở các khu phong tỏa, khu điều trị và tuần tra, kiểm soát bảo đảm về ANTT, góp phần thực hiện nghiêm việc giãn các xã hội, hạn chế người ra đường làm lây lan dịch bệnh trên các địa bàn ở TPHCM và các tỉnh phía nam.

Bộ Quốc phòng đã triển khai 190 khu cách ly tập trung ở các đơn vị, nhiều doanh trại bảo đảm ăn ở cho khoảng 290.000 lượt người, kịp thời điều động hàng nghìn y bác sĩ, kỹ thuật viên, điều động khoảng 600 tấn vật tư trang thiết bị y tế, thuốc men để chi viện cho TPHCM và các tỉnh phía nam. Thành lập 11 bệnh viện dã chiến truyền nhiễm và trung tâm điều trị bệnh nhân COVID-19 với quy mô khoảng trên 6.000 giường bệnh để trực tiếp chia sẻ, hỗ trợ giảm áp lực cho hệ thống y tế của địa phương. Triển khai trên 600 tổ quân y về các trạm y tế phường, xã tại TPHCM và các địa phương lân cận. Riêng ở TPHCM, bố trí khoảng 475 tổ quân y để tham gia vào trạm y tế của 312 xã, phường trên địa bàn Thành phố. Tổ chức 8 kho bảo quản vaccine tại 7 quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, đồng thời vận chuyển và phân phối khoảng 112 tấn vaccine, góp phần đẩy nhanh chiến dịch tiêm chủng quốc gia phòng chống COVID-19 trên phạm vi cả nước trong thời gian qua.

Với tinh thần quân đội sẽ chủ động tìm đến hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân, Bộ Quốc phòng đã tổ chức tăng cường hàng trăm lượt tổ quân y để tiêm vaccine, các tổ hồi sức cấp cứu, tổ quân y cơ động tham gia xét nghiệm, thu dung điều trị cho hàng chục nghìn lượt bệnh nhân. Tổ chức hàng nghìn tấn hàng hóa nông sản, lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm đến tận nơi ở cho từng hộ gia đình, nhân dân.

“Trong thời gian qua, cư dân mạng đã tạo ra nhiều bức tranh vui về các anh bộ đội giúp dân đi chợ, giúp dân các công việc thiết yếu… Đây là ghi nhận của người dân đối với hoạt động, việc làm thiết thực của bộ đội”- Thiếu tướng bày tỏ.

120.000 chiến sĩ được điều động để hỗ trợ TPHCM và các tỉnh phía Nam chống dịch

Thiếu tướng Nguyễn Văn Đức cho hay, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, trong số trên 120.000 cán bộ chiến sĩ, dân quân tự vệ tham gia tăng cường hỗ trợ phòng chống dịch, có khoảng 29.000 cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị, nhiều đồng chí có người thân mất, vợ con nhiễm bệnh cũng không về được vì đang làm nhiệm vụ, nhiều y bác sĩ quân y có hoàn cảnh khó khăn, con nhỏ, nhưng khi hoàn thành nhiệm vụ hỗ trợ cho Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương thì tiếp tục xung phong lên đường TPHCM và các tỉnh phía nam thực hiện nhiệm vụ. Không có đồng chí nào kêu ca phàn nàn, thoái thác nhiệm vụ. Nhiều đồng chí trong quá trình giúp người dân phòng chống dịch cũng bị nhiễm bệnh và có cả hy sinh. Điều này thể hiện quyết tâm, trách nhiệm của chiến sĩ quân đội đối với sức khỏe, tính mạng của nhân dân trong thời điểm khó khăn nhất.

Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định toàn quân tăng cường nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nắm chắc tình hình, xử lý tốt các tình huống không để bị động bất ngờ. Đối với nhiệm vụ tham gia phòng chống dịch COVID-19, Ban Chỉ đạo phòng chống dịch bệnh các cấp trong toàn quân cũng đã xây dựng các phương án cụ thể, kể cả phương án ở cấp độ cao hơn và sớm hơn, tham gia phòng chống dịch bệnh không chỉ ở địa bàn TPHCM, các tỉnh phía Nam mà còn sẵn sàng triển khai ở các địa bàn khác trên cả nước nếu có tình huống dịch xảy ra.

“Xác định đây là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm của quân đội trong thời điểm hiện nay, chiều nay, Ban Chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19 của Bộ Quốc phòng đã họp triển khai một số nối dung tập trung trong thời gian tới. Trước mắt, quân đội tiếp tục duy trì và tăng cường lực lượng, phương tiện, trang bị để tham gia vào phòng chống dịch trên địa bàn TPHCM và các tỉnh phía nam với quyết tâm, trách nhiệm và khả năng cao nhất. Đối với các lực lượng tham gia vừa làm vừa rút kinh nghiệm trong phòng chống dịch thời gian qua để có biện pháp phù hợp trong thời gian tới”- Thiếu tướng khẳng định.

Cùng với đó, tiếp tục triển khai các trạm y tế lưu động, tổ chức lực lượng thăm khám thường xuyên hết số F0, điều chỉnh lực lượng quân y ở các vùng xanh tăng cường hỗ trợ cho vùng đỏ; tiếp tục điều trị các bệnh nhân COVID-19 tại 11 bệnh viện dã chiến ở các khu điều trị của quân đội với phương châm tiếp nhận khẩn trương, điều trị tận tụy, nắm chắc số bệnh nhân nặng cần chuyển lên các tuyến để báo cáo với Ban Chỉ đạo có chỉ huy, chỉ đạo, điều trị cho phù hợp.

Tiếp tục tập trung tham gia vào các chốt kiểm soát, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện phòng chống dịch, hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân bảo đảm lương thực, thực phẩm, thuốc men và những vấn đề thiết yếu phục vụ cho đời sống ở các khu cách ly, ở các khu vực giãn cách xã hội.

Bộ Quốc phòng cũng chỉ đạo các đơn vị chức năng tiếp tục sản xuất, mua sắm các trang thiết bị vật tư y tế cần thiết để trang bị, bổ sung cho các bệnh viện dã chiến truyền nhiễm và các trung tâm điều trị bảo đảm kịp thời, đạt hiệu quả nhất trong thời gian tới./.

 

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG KHÔNG PHẢI DO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGHĨ RA

 


          Như chúng ta đã biết kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại, không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản nghĩ ra. Chủ nghĩa tư bản đã sử dụng kinh tế thị trường làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Đến nay, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản phát triển, như kinh tế thị trường tự do ở Mỹ, kinh tế thị trường xã hội ở Đức, kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi ở Thụy Điển, kinh tế thị trường phối hợp ở Nhật Bản,… Các mô hình kinh tế thị trường này, ở những mức độ khác nhau, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, đều khách quan có các nhân tố xã hội chủ nghĩa. Đây là xu hướng tiến bộ, là những mầm mống của chủ nghĩa xã hội ngay trong lòng các nước tư bản phát triển. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước kinh tế chưa phát triển, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nên việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là rất cần thiết, nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, khai thác mọi tiềm năng, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển, từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mô hình này là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội.Thực tế đã chứng minh trong những năm qua mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã đạt được những kết quả vượt bậc như những gì mà lý luận đã chỉ ra/.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG, KHÔNG THỂ CÓ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

 


 

Những người cố tìmh không hiểu, để thực hiện mưu đồ cá nhân, tổ chức phản động đã đưa ra quan điểm đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cho rằng, chỉ có một loại kinh tế thị trường là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Đây là luận điểm hết sức sai lầm.Bởi vì: Nguồn gốc và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa. Các phạm trù (giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ), quy luật (giá trị, cạnh tranh, cung - cầu) của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù, quy luật của kinh tế thị trường. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản sử dụng để phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thời kỳ đầu mới ra đời là kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chưa có hoặc rất ít sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của thị trường - “bàn tay vô hình”, ngoài những mặt tích cực còn đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là khủng hoảng kinh tế chu kỳ, đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước - “bàn tay hữu hình” để hạn chế, khắc phục những khuyết tật do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường. Ngày nay, nền kinh tế thị trường hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình”, vừa có điều tiết bởi “bàn tay hữu hình”. Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới là không hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung định hướng can thiệp của nhà nước. Chính vì thế khi nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủe nghĩa chúng ta phải có cách nhìn khoa học hơn, đúng đắn để phản bác các quan điểm phi khoa học./.

Cẩn trọng với những nguy cơ đến từ mạng xã hội

 

Việt Nam là một trong số các quốc gia có số người dùng Internet và mạng xã hội thuộc tốp đầu trên thế giới.

Không thể phủ nhận những giá trị tích cực mà mạng xã hội đem lại cho chúng ta trong thời gian qua, tuy nhiên, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước. Nó “được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích”.

Đối với các thế lực thù địch, mạng xã hội luôn là mảnh đất màu mỡ cho các đối tượng này tận dụng để reo rắc những thông tin, hình ảnh, luận điệu có nội dung xấu độc nhằm chống phá Đảng, nhà nước, nhân dân và sự nghiệp đổi mới của ta. Chúng ta có thể nhận diện và cảnh giác một số chiêu trò mà các đối tượng trên đã sử dụng như:

Thứ nhất,  chúng triệt để lợi dụng một số cá nhân cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất về phẩm chất, đạo đức, lối sống, để thành lập các hội, nhóm “xã hội dân sự”; thông qua cái gọi là “diễn đàn dân chủ”, sử dụng các website và các trang mạng xã hội dưới danh nghĩa phản biện, để bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, phát tán thông tin xấu độc xâm hại Tổ quốc, dọn đường mưu toan lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.   

Thứ hai, bằng con đường tổ chức, thông qua liên kết, hợp tác, dưới hình thức tài trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc các tổ chức dưới danh nghĩa từ thiện, nhân đạo, chúng len lỏi, luồn sâu và thông qua các tổ chức này tạo lập chỗ đứng, với sự dọn đường, cổ xúy biểu tình và thúc đẩy bạo loạn của mạng xã hội.  

Thứ ba, thực tế đã cho thấy không ít đối tượng có quan hệ khá mật thiết với tổ chức phản động nước ngoài; và khi những đối tượng xuất hiện trên các trang mạng cá nhân, lập tức được các trang tin hải ngoại dẫn lại và được các tổ chức phản động cổ xúy.

Thứ tư, với sự phụ họa của các hãng truyền thông nước ngoài, các thông tin xuyên tạc, bịa đặt này tiếp tục được thổi phồng, phát tán rộng rãi, tinh vi hơn, gây không ít ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội. 

Thứ năm, khoét sâu vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền với thể chế xã hội chủ nghĩa nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại nhân dân. 

Thứ sáu, thông qua vấn đề chính trị gia và quan hệ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, giữa các lực lượng nhằm xâm hại thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ bảy, chung quanh vấn đề quan hệ quốc tế, võ đoán các nguy cơ cái gọi là “đu dây bên miệng hố”, kích động cái gọi là “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước khác, cốt phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta, cổ xúy cho chủ nghĩa ly khai, xâm hại nhân dân, phá vỡ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

 Thứ tám, các trào lưu tư tưởng, lý luận du nhập, thẩm thấu bằng mọi con đường, âm mưu gặm nhấm, công phá làm băng hoại dưới mọi hình thức, quy mô và mức độ tư tưởng, lý luận của chúng ta từ nền tảng.

Vì thế, cuộc đấu tranh trên mạng xã hội, hơn bao giờ hết, sự phức tạp và quyết liệt, thậm chí có ý nghĩa sinh tử và đầy thách thức.

- Theo Báo CAND-

Lời Bác dạy đội ngũ cán bộ đảng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn thận trọng

trong từng lời nói, việc làm, đặc biệt là phải luôn thật thà, khiêm tốn, thực hiện tốt mọi

chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm huy động

sức mạnh đông đảo của quần chúng cùng hướng vào thực hiện mục tiêu chung của sự

nghiệp cách mạng. Lời dạy của Người không chỉ trở thành phương hướng hành động,

mục tiêu phấn đấu, rèn luyện của cán bộ, đảng viên mà còn tạo được niềm tin trong

quần chúng nhân dân, động viên, cổ vũ nhân dân thi đua lao động, sản xuất, kháng

chiến thắng lợi.


Ngày nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận phải luôn

thấm nhuần lời căn dặn của Người, coi đó là định hướng hành động, không ngừng vươn

lên lãnh trách nhiệm trước Đảng, trước dân, khắc phục mọi khó khăn, yếu kém, nhạy

bén, tham mưu giải quyết một cách kịp thời, có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong

thực tiễn, góp phần thiết thực vào việc củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa

Đảng, Nhà nước với nhân dân.


Thực hiện chức năng đội quân công tác, những năm qua, các đơn vị quân đội đã cử

hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ; tham gia hàng triệu ngày công, triển khai hàng trăm dự

án, đồng hành cùng nhân dân và là lực lượng nòng cốt trong tham gia giúp đỡ nhân dân

phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ - cứu nạn, xây

dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã

hội, ổn định cuộc sống... Nhiều chương trình, mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả

đã để lại ấn tượng tốt đẹp, tạo sự lan tỏa sâu rộng, mang ý nghĩa chính trị - xã hội và

nhân văn sâu sắc, góp phần tăng cường quan hệ đoàn kết gắn bó quân - dân, phát huy

khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với

Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Tự do tuyệt đối về tôn giáo - sự đòi hỏi phi lý

Quyền con người nói chung, quyền “tự do tôn giáo” nói riêng là những quyền tự nhiên, vốn có

và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và các thỏa

thuận pháp lý quốc tế. Song, lợi dụng quyền tự do tôn giáo để đòi “tự do tuyệt đối về tôn giáo”

(tôn giáo đứng ngoài pháp luật) dù mục đích nào cũng đều phi thực tiễn, không thể chấp nhận.

Theo văn bản pháp lý của Liên hợp quốc: mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối mà là một quyền tương đối, có giới hạn. Điều này

được chỉ rõ tại Khoản 2, Điều 29, Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948: “Khi hưởng thụ các

quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm bảo đảm sự

công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp

ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân

chủ”; Khoản 3, Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Quyền tự

do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần

thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền

và tự do cơ bản của người khác”. Như vậy, quan niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo” là sự cố

tình phớt lờ nội dung cốt lõi của các văn bản pháp lý quốc tế, nhằm can thiệp, phá hoại hệ thống pháp

lý các quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch, phản động.

Sở dĩ có quan niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo”, là bởi họ đã cố tình vin vào cái gọi là

“thuyết nhân quyền tự nhiên” về quyền tự do tuyệt đối, vĩnh hằng, không bị giới hạn “không một chủ

thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền bẩm sinh, vốn có của con người”.

Đây là điều hết sức phi lý. Vì trong xã hội, nếu không có hoạt động quản lý của nhà nước thì các

quyền tự do cơ bản của con người không thể thực hiện, tất yếu sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị, trật

tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người dân. Bên cạnh một số ít quyền tuyệt đối,

như: quyền được sống, còn lại đa số các quyền đều là quyền tương đối, thụ hưởng các quyền đó

phải có điều kiện, phải chịu sự chế ước của xã hội. Điều đó càng có sức thuyết phục khi mỗi tín đồ

tôn giáo đồng thời là công dân, được thực hiện các quyền của mình, nhưng phải thực hiện nghĩa vụ

công dân, tuân thủ pháp luật nhà nước. Như vậy, ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn

giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, không thể có tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên

tắc, xem thường pháp luật. Ở Việt Nam, Điều 15, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 2013 chỉ rõ: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”.

Thực tiễn trên thế giới, các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều quan niệm về tự do tín ngưỡng, tôn

giáo phải đặt trong mối quan hệ với nhà nước và pháp luật. Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Ðức quy

định: tự do tôn giáo, tín ngưỡng được bảo đảm, nhưng hoạt động của một tổ chức tôn giáo có thể bị

giới hạn hay bị cấm nếu như mục đích và hoạt động của tổ chức đó vi phạm quy định của Luật hình

sự hay chống lại chế độ xã hội đã được quy định trong Hiến pháp. Tại Áo, Ðiều 28, Bộ Luật về hội

đoàn chỉ rõ: một tổ chức tôn giáo có thể bị giải tán nếu vi phạm quy định trong Bộ luật Hình sự. Ở Mỹ,

tuy Hiến pháp nước này không đưa ra giới hạn đối với tôn giáo, nhưng lại chỉ rõ: các cơ quan chính

quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn

hành chính của bang, chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ

chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân, v.v. Điều này cho thấy: các quốc

gia đã đặt ra giới hạn cho tự do tôn giáo, nhằm bảo đảm trật tự, lợi ích chung của xã hội và của người

dân. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong luật pháp quốc tế cũng như pháp luật các quốc

gia không phải là một quyền tuyệt đối. Các quan điểm biện hộ cho “quyền tự do tuyệt đối về tôn giáo”

không chỉ đi ngược lại hiến pháp, pháp luật các quốc gia mà còn đi ngược lại pháp luật quốc tế về tự

do tín ngưỡng, tôn giáo.

Mặt khác, “tự do tôn giáo” và “tự do thể hiện tôn giáo” là hai vấn đề không đồng nhất với nhau, mỗi

vấn đề có nội hàm riêng biệt. Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966

quy định: “tự do tôn giáo” là mọi người có quyền tuyệt đối tự do lựa chọn tôn giáo của mình, nhưng

khi thể hiện quyền tự do tôn giáo, tức là thực hiện hành vi tôn giáo trên thực tế phải phù hợp với bối

cảnh, điều kiện xã hội cụ thể trên cơ sở tôn trọng nhu cầu riêng tư của người khác, không ảnh hưởng

đến trật tự xã hội. Song, với những toan tính chính trị, các thế lực thù địch ra sức nhào nặn, đồng

nhất, đánh tráo hai khái niệm này, nhằm khẳng định tự do thể hiện tôn giáo là tuyệt đối. Ở khía cạnh

khác, cụm từ “tự do tôn giáo” và “tự do thể hiện tôn giáo” tuy khác về bản chất, nhưng lại có sự trùng

lặp tương đối về mặt ngôn ngữ, nên đã trở thành công cụ chính trị để một số quốc gia tự cho mình

“quyền” để phán xét thành tựu bảo đảm quyền tự do tôn giáo của quốc gia khác vì mục đích chính trị.

Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đều khẳng định chủ trương nhất quán của

Đảng, Nhà nước Việt Nam: luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người

dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này tiếp tục được Đảng ta khẳng định: “Tạo

điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt đúng quy định của pháp luật; chủ động giúp đỡ, giải

quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng” 1 . Điều 24, Hiến pháp

năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Nhà nước tôn

trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng

trước pháp luật”. Mặc dù các văn bản pháp lý của Việt Nam hoàn toàn tương thích với Tuyên ngôn

Nhân quyền thế giới năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của

Liên hợp quốc, nhưng các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị vẫn cố tình tạo cớ, xuyên tạc, cho

rằng hệ thống pháp luật Việt Nam ban hành nhằm hạn chế “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của người

dân và đòi “tự do tuyệt đối về tôn giáo”. Đây là sự xuyên tạc hết sức lố bịch nằm trong chiến lược

“Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch mà chúng ta cần phải đấu tranh.

Khai mạc Hội thi báo cáo viên giỏi toàn quân năm 2021

 

Ngày 7-9, Tổng cục Chính trị (TCCT) tổ chức khai mạc vòng sơ khảo Hội thi báo cáo viên giỏi toàn quân năm 2021. Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm TCCT dự và phát biểu chỉ đạo.

CHUYỂN HƯỚNG XOAY TRỤC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM LÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 


Trong công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước và phát triển kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới gần đây thành tựu kinh tế đất nước ta có sự lớn mạnh đáng kể mang lại uy tín trong đời sống nhân dân, trên trường quốc tế. Một số thế lực thù địch vẫn hàng ngày rêu rao những chiêu trò cũ rích hòng phá hoại công cuộc xây dựng đất nước ta và khối đại đoàn kết toàn dân tộ; về phát triển kinh tế chúng nói phải có sự chuyển hướng, “xoay trục” phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, theo nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, vì kinh tế thị trường vốn là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu chúng ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, “nước với lửa”, chỉ mang đến những thất bại. Chúng suy diễn rằng, dường như Việt Nam đã, đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng sự điều tiết của thị trường, mặc dù vẫn tuyên truyền bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của chủ nghĩa xã hội. Những luận điệu trên thực chất là mưu đồ đen tối, cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Đây là những luận điệu hết sức phản khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Vì vậy chúng ta cần nhìn nhận đúng bản chất và đấu tranh sắc sảo trước luận điểm trên, để ch quần chúng nhân dân hiểu rõ về lý luận xây dựng kinh tế ở nước ta./.