Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

Tự do tuyệt đối về tôn giáo - sự đòi hỏi phi lý

Quyền con người nói chung, quyền “tự do tôn giáo” nói riêng là những quyền tự nhiên, vốn có

và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và các thỏa

thuận pháp lý quốc tế. Song, lợi dụng quyền tự do tôn giáo để đòi “tự do tuyệt đối về tôn giáo”

(tôn giáo đứng ngoài pháp luật) dù mục đích nào cũng đều phi thực tiễn, không thể chấp nhận.

Theo văn bản pháp lý của Liên hợp quốc: mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối mà là một quyền tương đối, có giới hạn. Điều này

được chỉ rõ tại Khoản 2, Điều 29, Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948: “Khi hưởng thụ các

quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm bảo đảm sự

công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp

ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân

chủ”; Khoản 3, Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Quyền tự

do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần

thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền

và tự do cơ bản của người khác”. Như vậy, quan niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo” là sự cố

tình phớt lờ nội dung cốt lõi của các văn bản pháp lý quốc tế, nhằm can thiệp, phá hoại hệ thống pháp

lý các quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch, phản động.

Sở dĩ có quan niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo”, là bởi họ đã cố tình vin vào cái gọi là

“thuyết nhân quyền tự nhiên” về quyền tự do tuyệt đối, vĩnh hằng, không bị giới hạn “không một chủ

thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền bẩm sinh, vốn có của con người”.

Đây là điều hết sức phi lý. Vì trong xã hội, nếu không có hoạt động quản lý của nhà nước thì các

quyền tự do cơ bản của con người không thể thực hiện, tất yếu sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị, trật

tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người dân. Bên cạnh một số ít quyền tuyệt đối,

như: quyền được sống, còn lại đa số các quyền đều là quyền tương đối, thụ hưởng các quyền đó

phải có điều kiện, phải chịu sự chế ước của xã hội. Điều đó càng có sức thuyết phục khi mỗi tín đồ

tôn giáo đồng thời là công dân, được thực hiện các quyền của mình, nhưng phải thực hiện nghĩa vụ

công dân, tuân thủ pháp luật nhà nước. Như vậy, ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn

giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, không thể có tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên

tắc, xem thường pháp luật. Ở Việt Nam, Điều 15, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 2013 chỉ rõ: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”.

Thực tiễn trên thế giới, các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều quan niệm về tự do tín ngưỡng, tôn

giáo phải đặt trong mối quan hệ với nhà nước và pháp luật. Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Ðức quy

định: tự do tôn giáo, tín ngưỡng được bảo đảm, nhưng hoạt động của một tổ chức tôn giáo có thể bị

giới hạn hay bị cấm nếu như mục đích và hoạt động của tổ chức đó vi phạm quy định của Luật hình

sự hay chống lại chế độ xã hội đã được quy định trong Hiến pháp. Tại Áo, Ðiều 28, Bộ Luật về hội

đoàn chỉ rõ: một tổ chức tôn giáo có thể bị giải tán nếu vi phạm quy định trong Bộ luật Hình sự. Ở Mỹ,

tuy Hiến pháp nước này không đưa ra giới hạn đối với tôn giáo, nhưng lại chỉ rõ: các cơ quan chính

quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn

hành chính của bang, chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ

chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân, v.v. Điều này cho thấy: các quốc

gia đã đặt ra giới hạn cho tự do tôn giáo, nhằm bảo đảm trật tự, lợi ích chung của xã hội và của người

dân. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong luật pháp quốc tế cũng như pháp luật các quốc

gia không phải là một quyền tuyệt đối. Các quan điểm biện hộ cho “quyền tự do tuyệt đối về tôn giáo”

không chỉ đi ngược lại hiến pháp, pháp luật các quốc gia mà còn đi ngược lại pháp luật quốc tế về tự

do tín ngưỡng, tôn giáo.

Mặt khác, “tự do tôn giáo” và “tự do thể hiện tôn giáo” là hai vấn đề không đồng nhất với nhau, mỗi

vấn đề có nội hàm riêng biệt. Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966

quy định: “tự do tôn giáo” là mọi người có quyền tuyệt đối tự do lựa chọn tôn giáo của mình, nhưng

khi thể hiện quyền tự do tôn giáo, tức là thực hiện hành vi tôn giáo trên thực tế phải phù hợp với bối

cảnh, điều kiện xã hội cụ thể trên cơ sở tôn trọng nhu cầu riêng tư của người khác, không ảnh hưởng

đến trật tự xã hội. Song, với những toan tính chính trị, các thế lực thù địch ra sức nhào nặn, đồng

nhất, đánh tráo hai khái niệm này, nhằm khẳng định tự do thể hiện tôn giáo là tuyệt đối. Ở khía cạnh

khác, cụm từ “tự do tôn giáo” và “tự do thể hiện tôn giáo” tuy khác về bản chất, nhưng lại có sự trùng

lặp tương đối về mặt ngôn ngữ, nên đã trở thành công cụ chính trị để một số quốc gia tự cho mình

“quyền” để phán xét thành tựu bảo đảm quyền tự do tôn giáo của quốc gia khác vì mục đích chính trị.

Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đều khẳng định chủ trương nhất quán của

Đảng, Nhà nước Việt Nam: luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người

dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này tiếp tục được Đảng ta khẳng định: “Tạo

điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt đúng quy định của pháp luật; chủ động giúp đỡ, giải

quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng” 1 . Điều 24, Hiến pháp

năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Nhà nước tôn

trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng

trước pháp luật”. Mặc dù các văn bản pháp lý của Việt Nam hoàn toàn tương thích với Tuyên ngôn

Nhân quyền thế giới năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của

Liên hợp quốc, nhưng các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị vẫn cố tình tạo cớ, xuyên tạc, cho

rằng hệ thống pháp luật Việt Nam ban hành nhằm hạn chế “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của người

dân và đòi “tự do tuyệt đối về tôn giáo”. Đây là sự xuyên tạc hết sức lố bịch nằm trong chiến lược

“Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch mà chúng ta cần phải đấu tranh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét