Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

Khẳng định Chủ nghĩa Mác - Lênin gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Chỉ ra sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên CNXH lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Không chỉ vậy mà trong hàng ngũ cách mạng, cụ thể hơn là ngay trong chính nội bộ ta cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH....

Và cho đến tận bây giờ không ít người vẫn còn hoài nghi về điều ấy. Đặc biệt thời điểm trước Đại hội XIII của Đảng, trên một số trang mạng rộ lên luận điệu cho rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời và đưa ra lời khuyên Đảng Cộng sản Việt Nam nên từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ cần duy nhất tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta là đủ. Luận điệu này nhằm "đánh" vào tư tưởng của cán bộ, đảng viên để thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Cần khẳng định mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là không thể tách rời. Trở lại lịch sử, chúng ta thấy rõ sau nhiều năm bôn ba ở hải ngoại, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đến với Cách mạng Tháng Mười Nga, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chính ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga, của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường giải phóng dân tộc rồi truyền bá vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu sự vận dụng lý luận về xây dựng đảng kiểu mới của V.I Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Việt Nam. Đó cũng là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử đã cho chúng ta thấy rõ tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách cơ bản, hệ thống và sáng tạo.

Chính nhờ ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin mà cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân ở Việt Nam chấm dứt, đánh dấu bằng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi ra đời, Đảng ta luôn nhất quán đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Thực tiễn đã chứng minh, đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã giành những thắng lợi rất to lớn, có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Mới 15 tuổi, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đổ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam). Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách. Trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng ta đã đề ra đường lối lãnh đạo nhân dân đoàn kết vừa diệt thù trong, vừa chống giặc ngoài, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Trước dã tâm muốn cướp nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục vận dụng lý luận về cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, đề ra đường lối tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính”. Đỉnh cao của cuộc kháng chiến ấy là chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Chiến thắng Điện Biên Phủ tiếp tục góp phần làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (7-1954), đế quốc Mỹ lợi dụng thất bại của thực dân Pháp nhảy vào xâm lược miền Nam Việt Nam. Đất nước ta tạm chia thành hai miền Nam-Bắc. Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược là cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Phân tích kỹ bối cảnh của đất nước và tình hình quốc tế, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là quan điểm về bạo lực cách mạng đề ra những chủ trương, giải pháp phù hợp xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam; vừa xác định đúng đắn con đường giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà là dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Bằng đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thắng lợi của công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà cũng chính là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, thắng lợi của đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã đưa Việt Nam vào một thời kỳ mới, thời kỳ thống nhất đi lên xây dựng CNXH. Đặc biệt, sau 35 năm đổi mới, đúng như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh năm 1991), lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, đặc biệt, trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam...

Thực tiễn đó khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự kết hợp sáng tạo giữa lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, là sự kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một bộ phận phát triển mới trong một giai đoạn mới của chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn sinh động cũng khẳng định, không chỉ trong kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà mà trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,  học thuyết Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, thực sự trở thành nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng ta. 

Sự nghiệp xây dựng CNXH vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi tính khoa học cao, sự kiên trì, bền bỉ, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Trong khi đó Việt Nam đi lên xây dựng CNXH từ một đất nước nông nghiệp lạc hậu, thiếu thốn nhiều điều kiện, nguồn lực, lại phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh, sự tàn phá của thiên tai, thảm họa. Thêm vào đó, các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta. Trong bối cảnh ấy, chúng ta càng thấy giá trị, ý nghĩa của những thành tựu mà đất nước đã giành được sau 35 năm đổi mới. Thực tế khẳng định, yếu tố quyết định những thành công ấy là do Đảng ta luôn kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng đổi mới để đưa đất nước phát triển. Bên cạnh các yếu tố khách quan, những tồn tại, khó khăn, bất cập trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước đa phần là do lỗi chủ quan của chính chúng ta. Mọi tư tưởng, quan điểm đổ lỗi cho học thuyết Mác - Lênin là hoàn toàn sai lầm và phản khoa học. Cùng với đó phải luôn đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái xa rời Chủ nghĩa Mác-Lênin, xa rời mục tiêu lý tưởng của Đảng ta.

Phản bác xuyên tạc hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh

 


Vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. 

110 năm (5/6/1911 - 5/6/2021) là độ lùi lịch sử đã đủ độ tin cậy để có thể khẳng định rằng ngày 5/6/1911 là một trong những sự kiện trọng đại trong cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự lựa chọn, khởi đầu và quyết định chính xác từ ngày đó đã góp phần quan trọng làm nên nhà cách mạng Hồ Chí Minh và Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta khi không chỉ đấu tranh cho một lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài, Người muốn tiến hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới.

Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đã đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nền độc lập của dân tộc bị xâm phạm, quyền được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người dân ở xứ An Nam thuộc địa đều bị chà đạp, tước bỏ. Không cam chịu làm nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam liên tiếp nổ ra: Từ phong trào Cần Vương, Văn Thân đến cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế; từ phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến phong trào chống thuế ở Trung Kỳ…, song cuối cùng đều bị dìm trong bể máu.

Cũng trong những năm tháng đó, không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách Tân thư, Tân văn bằng tiếng Hán; được nghe các thầy giảng giải về nền dân chủ và văn minh phương Tây mà khi theo học lớp dự bị (préparatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh trước đó, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789. Truyền thống của quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt của thời cuộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành. Vì vậy mà, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân theo tư tưởng phong kiến hoặc dân chủ tư sản, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới - Đó chính là làm cách mạng và nó khác hẳn những con đường đấu tranh yêu nước đã từng diễn ra.

Vì thế mà, Nguyễn Tất Thành đã quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn giấu đằng sau những mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của cách mạng Pháp. Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình đang có, dân tộc mình đang có, để không chỉ làm giàu tri thức cho mình mà chính là hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc mình. Từ xuất phát điểm này, từ sự vượt lên chính mình này đã quyết định sự lựa chọn, con đường đi sau đó của Người - đó là rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc. Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ (Amiran Latusơ Tơrêvin), rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”. Có thể nói, đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi, thực sự hòa mình vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới và đi đến lựa chọn đúng, đó là đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin/Quốc tế Cộng sản - trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào tháng 12/1920 (tại Đại hội Tua) khi hiểu rõ rằng: Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Vì thế, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản  chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ…

Người luôn ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân - Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Đồng thời, được chứng kiến những diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791, để rồi đi tới khẳng định: Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản. Vì thế, theo Người, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của tất cả các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới.

Người đã đi từ dân tộc đến nhân loại, Người đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin với thế giới quan khoa học và cách mạng, để phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển tất yếu của thời đại khi khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Với ý nghĩa đó, có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp yêu cầu của đất nước và quy luật của thời đại mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho dân tộc Việt Nam khi nhấn mạnh rằng, ở đó chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc. Đây là quá trình khảo nghiệm, thâu thái tinh hoa, tri thức các nền văn minh nhân loại theo cách "tiếp biến và vượt gộp" của Hồ Chí Minh, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam khi quyết định trở về Quảng Châu, Trung Quốc (11/11/1924) chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó.

Trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, bằng những việc làm cụ thể như mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về Cách mạng Tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927.v.v, Nguyễn Ái Quốc đã ngày mỗi ngày góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, thúc đẩy sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, Người đã tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, trong đó khẳng định: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập.

Dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn, với sức mạnh đoàn kết muôn người như một của các tầng lớp nhân dân yêu nước, kiên cường, đồng lòng ủng hộ, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á; đồng thời, đưa những thân dân/người dân nô lệ An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do. Tiếp đó, kiên định con đường đã lựa chọn, nhân dân Việt Nam kiên trì tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một đất nước Việt Nam đổi mới từng ngày đã khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng các quốc gia, đóng góp vào sự phát triển bền vững, phồn vinh của nhân loại; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài người tiến lên trong một thế giới đầy biến động.

Sự thật hành trình ra đi tìm đường cứu nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là như vậy. Từng chặng đường Người đã trải qua, những hoạt động của Người từ năm 1890-1969 đều được cập nhật khá đầy đủ trong các bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập 15 tập, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 10 tập, trong các cuốn sách Hồ Chí Minh tiểu sử chi tiết và tóm tắt; trong các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả ở trong và ngoài nước… Tuy nhiên, bất chấp các thông tin chính xác đã có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không chỉ thường bịa đặt, bẻ cong sự thật, xuyên tạc về động cơ sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người mà còn hồ đồ suy diễn để bôi đen nội dung lá đơn xin học ở Trường Thuộc địa của Người. Trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam mà còn phát triển học thuyết đó lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại - đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Vì vậy, vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, thì vẫn có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đi theo con đường Người đã chọn, đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân loại; đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế, về lực, về thời để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh và phồn vinh, từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, sánh vai cùng bạn bè quốc tế.

Bảo vệ tính chính pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam


Từ mấy ngàn năm xưa, cổ nhân vô cùng coi trọng “danh chính ngôn thuận” và mấy ngàn năm qua, lớp lớp thế hệ ở quốc gia dân tộc nào cũng đều là như vậy. Nhưng thời nay, có không ít người danh đã không chính, hay “hữu danh vô thực”, tức cũng “danh không chính”, thậm chí nhân danh vô lối, tiếm danh tăm tối, lại nói quàng nói xuyên, đi ngược lòng người, bất chấp sự thật và trái lẽ tự nhiên. Điều này càng đúng với những ai đang mưu toan bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử và thực tiễn Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lịch sử Việt Nam hơn 91 năm qua, nhìn bao quát, có thể nói là lịch sử của sự lựa chọn, khẳng định và thực thi mục tiêu phát triển gắn với sự lựa chọn đảng chính trị lãnh đạo đất nước, dẫn dắt dân tộc, vì mục tiêu đó. Ngay từ những thập niên đầu tiên tới những năm 50 của thế kỷ 20 đã và luôn là lịch sử thăng trầm của sự đào thải, sàng lọc, kiểm nghiệm và lựa chọn đó. Năm 1930, qua hơn nửa thế kỷ, kể từ năm 1858, lúc bấy giờ, đất nước rên xiết trong vòng nô lệ của chủ nghĩa thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Nhu cầu tất yếu dân tộc phải độc lập, nhân dân phải được tự do và dân chủ, hoàn toàn bế tắc, chưa thấy tương lai. Độc lập tự do hay là chết? Hàng loạt cuộc khởi nghĩa do giai cấp nông dân, các sĩ phu yêu nước Việt Nam ngõ hầu trả lời câu hỏi lịch sử đó, nhưng đều lần lượt thất bại. Các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội ở nước ta, lúc bấy giờ, nhảy ra tranh đoạt vũ đài chính trị dân tộc, cũng đông đúc chưa từng thấy. Ai cũng biết, từ đảng của giai cấp nông dân (Nghĩa hưng, năm 1907); đảng của giai cấp tư sản, địa chủ (Lập hiến, năm 1923)... tới đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức tiểu tư sản (Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập (năm 1927), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927)... rồi đảng của bọn tay sai của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, (Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đại Việt quốc dân đảng (những năm 1940 tới khi Việt Nam giành được độc lập bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945); chen chúc các đảng phản động (Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... thật huyên náo, tới mức hỗn loạn chính trường. Trong số ấy, chỉ một số đảng mong chấn hưng đất nước nhưng “lực bất tòng tâm”, số còn lại những mưu toan tính biến đất nước thành nơi thử nghiệm những mưu đồ chính trị của giai cấp, tầng lớp họ.

Nhưng rốt cuộc, tất cả những đảng đó đã lùi vào dĩ vãng của lịch sử và bị lịch sử dân tộc chôn vùi rất lặng lẽ trái với sự huyên náo đến mức hỗn loạn lúc các đảng này xuất hiện và khua chiêng gõ mõ trên chính trường Việt Nam lúc bấy giờ. Các đảng này hoặc tự phải diệt vong hoặc bị giải tán. Theo đó, các giai cấp, tầng lớp đại diện cho các đảng đó cũng cáo chung vai trò lãnh đạo dân tộc. Thách thức của lịch sử về vị trí, vai trò của đảng chính trị đối với vận mệnh cứu đất nước khỏi vòng nô lệ, nhân dân khỏi xiềng xích vong quốc nô vẫn đang bỏ ngỏ. Điều đó ai nấy đều rõ.

Trong thời gian ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giữa “một rừng” đảng phái chính trị ở Việt Nam. Không ồn ào như các đảng trên ra đời từ sớm, mà trái lại, Đảng lặng lẽ hiện diện, thậm chí phải tạm lánh ở nước ngoài, vì Đảng “là con nòi” của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, được hun đúc bởi truyền thống yêu nước thương nòi Việt Nam, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyện chiến đấu và hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đảng Cộng sản bị kẻ thù vây bủa, đàn áp đẫm máu, bị các đảng khác đương thời chèn ép, tranh đoạt sự ảnh hưởng. Trong 15 năm đầu, bao lần Đảng bị thực dân Pháp vây ráp, khủng bố trắng, hàng nghìn đảng viên của Đảng bị tù đầy, chém giết, hàng vạn đồng bào bảo vệ Đảng bị bắt bớ, lưu đầy, chỉ riêng 31 Ủy viên Trung ương của Đảng đã bị thực dân Pháp “tặng” cho 221 năm tù khổ sai. Nhiều Tổng Bí thư của Đảng bị thực dân Pháp tử hình... Lịch sử của Đảng 15 năm đầu được viết bằng máu đào và xương trắng đảng viên, chiến sĩ, đồng bào cuộc đấu tranh song trùng: Giữa Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến bán nước của chúng và giữa các đảng chính trị Việt Nam trong việc giành vị thế cầm quyền đất nước... Tất cả được thử thách qua sự sàng lọc, lựa chọn và đào thải của lịch sử, của nhân dân. Đó là khí phách Việt Nam. Điều đó ai cũng đều thấy.

Một đảng cộng sản như thế xứng đáng là một đảng gánh vác sứ mệnh lịch sử, đứng mũi chịu sào trước nhân dân, dẫn dắt dân tộc. Vì sự thật Đảng vốn là “đứa con nòi” phải thuộc về dân tộc, phải là của nhân dân và đảm đương sứ mệnh “phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”, dẫn dắt đất nước thực thi trọng trách nhân dân giao phó: Độc lập dân tộc và CNXH. Đảng Cộng sản Việt Nam là người kết tinh, chung đúc những tố chất của một đảng vô sản kiểu mới và thực tế đủ bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ lãnh nhiệm trọng trách ấy của đất nước đặt ra và được nhân dân tin theo và hy sinh vì nó. Và Đảng trở thành một đảng dẫn dắt dân tộc và sau nay trở thành một đảng cầm quyền. Không một lực lượng chính trị nào Việt Nam lúc bấy giờ và bây giờ đủ tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị có thể làm nổi, không một ai có đủ chính danh cho tới tận hôm nay để có thể, dù cả gan, dù bất chấp đạo lý và pháp lý, làm vấy bẩn nó. 

Sinh ra trong lòng dân tộc và đồng hành cùng dân tộc bẻ gãy gông xiềng nô lệ quàng lên cổ đất nước, giành lại độc lập cho Tổ quốc, lập nên chính quyền của nhân dân, và Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Điều đó làm nên địa vị lịch sử một cách tự nhiên và địa vị pháp lý của Đảng một cách tất yếu. Vấn đề quan trọng hơn hết và quyết định tất thảy là, địa vị cầm quyền đó của Đảng đã được bảo đảm bởi năng lực cầm quyền và uy tín cầm quyền trên thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam suốt hơn 91 năm qua; và, vị thế nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hơn 76 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng, trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và trọng thị.

Dù trong hoàn cảnh nào, Đảng luôn là đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam-giai cấp đại biểu cho yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến. Đảng không có lợi ích nào cao hơn rằng, Đảng là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Mục tiêu phấn đấu của Đảng không có gì khác ngoài “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong vị thế vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành “Đảng ta”, “Đảng của chúng ta”, “Đảng của dân tộc chúng ta”... Đó là đạo lý Việt Nam. Và đi trên con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) tới cái đích cao quý ấy được Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra ngay lúc mới ra đời. Qua hơn 76 năm cầm quyền, Đảng cùng toàn dân tộc xây dựng nên một nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã và đang giữ một vị thế mới trên trường quốc tế mà bất cứ ai cũng thấy. Qua 35 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta càng trưởng thành toàn diện. Trước thềm Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016), dư luận quốc tế nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là chính đảng duy nhất cầm quyền là một mô hình thành công đặc biệt và mô hình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển vì rất nhiều mô hình đã được thử nghiệm, nhưng chưa thấy mô hình nào thành công”. Trọng trách cầm quyền của Đảng, vinh dự được cầm quyền của Đảng trước nhân dân là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân Việt Nam thừa nhận, ủy thác và tin theo, chứ tuyệt đối không phải “từ trên trời rơi xuống” hay sự sắp xếp chủ quan của bất cứ ai, sự ngộ nhận của bất cứ giai cấp, tầng lớp nào. Nhân đây, cần được nói thêm về một số ý kiến lưỡng lự hoặc công kích về chuyện một đảng hay đa đảng và vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Rằng, từ những năm 40 tới những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, ở nước ta, còn có hai đảng là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời ngày 30-6-1944 và tự giải tán vào ngày 20-10-1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời ngày 22-7-1946 và tự giải tán tròn 42 năm sau đó, ngày 22-7-1988) đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng dân tộc Việt Nam tranh đấu vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng CNXH. Nghĩa là, Việt Nam đã từng và có một thời kỳ lịch sử không ngắn, ngót nửa thế kỷ, sau khi dân tộc giành lại nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được hưởng nền tự do, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng có nhiều đảng chính trị khác hoạt động và tự giải tán, chứ đâu phải câu chuyện hão về “đảng toàn trị”, “độc đảng” hoặc đâu cần ai khuyến nghị “muốn có dân chủ, phải đa đảng”(!).

Có thể nói gọn lại, lịch sử dân tộc Việt Nam sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đến lượt mình, Đảng đáp lại yêu cầu của lịch sử dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô, tốc độ, chiều sâu của công cuộc phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Đó là biện chứng phát triển tự nhiên và tất yếu của dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhu cầu phát triển tất yếu của đất nước hiện nay, trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, dưới ngọn cờ của Đảng. Đó là tính tất yếu cầm quyền của Đảng, tính chính danh, chính pháp, bảo đảm tư cách pháp lý và đạo lý để Đảng cầm quyền.

Cần lắm các biện pháp bảo vệ nội bộ

 


Hoạt động, thủ đoạn “tác động chuyển hóa” nội bộ của các thế lực thù địch là nguyên nhân chính, cơ bản, dẫn đến những vấn đề chính trị hiện nay. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ, từ thực tiễn, công tác nắm vững và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay đã có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ với công tác đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch. Trong thời kỳ đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết nhằm tăng cường đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các “tác động chuyển hóa” nội bộ của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, tình trạng “tự chuyển hóa” và hoạt động, thủ đoạn “tác động chuyển hóa” nội bộ của các thế lực thù địch còn diễn biến phức tạp, khó lường.

Thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” - chiến lược tấn công toàn diện và thâm độc, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm lật đổ chế độ chính trị  - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là ở các nước xã hội chủ nghĩa và những nước không tuân theo sự lãnh đạo của chúng từ bên trong, bằng biện pháp phi quân sự. Từ chiến lược “vượt trên ngăn chặn”, “bao vây cấm vận” đến “triệt tiêu đối thủ”, tư tưởng chỉ đạo chiến lược này đã chuyển sang áp dụng các biện pháp tiếp cận, lôi kéo đối phương từ đối đầu sang đối thoại, tăng cường hợp tác hoặc hòa nhập với phương Tây theo sự chỉ huy hoặc khống chế của một trung tâm quyền lực cụ thể. Trong các thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi việc phá hoại về chính trị, tư tưởng, văn hóa là mặt trận quan trọng hàng đầu, là “mũi đột phá” làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, từng bước chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Thông qua quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch không ngừng tìm cách thâm nhập, chuyển hóa, từng bước tác động làm cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự đổi màu theo hướng tư bản chủ nghĩa”, xa rời những chuẩn mực đạo đức truyền thống, hoang mang, dao động, mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin về tương lai và những giá trị của chủ nghĩa xã hội; từ đó, dẫn tới suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.

Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ và đặc biệt là dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng triệt để sự lan tỏa của mạng xã hội để tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá, thực hiện những mưu đồ thâm độc, hiếu chiến. Sự chống phá của các thế lực thù địch hướng trọng tâm vào mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam; lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng các hạn chế, yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội và những vấn đề bức xúc trong đời sống nhân dân để lôi kéo, kích động gây ra sự bất ổn ở cơ sở, tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân; lợi dụng việc nhận thức hạn chế của một bộ phận cán bộ để kích động, gây bức xúc, hoặc lợi dụng sự bức xúc trong đời sống của một số cán bộ, đảng viên. Cùng với đó là các thủ đoạn mua chuộc, tác động vào lợi ích trước mắt, lòng tham của con người nhằm gây ra sự bất ổn về chính trị, sự nghi ngờ về vị trí, vai trò, khả năng lãnh đạo của Đảng, từng bước hạ thấp và cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; từ đó, làm thay đổi chế độ chính trị.

Phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp khiến cho nhiều cán bộ, đảng viên không dễ dàng nhận biết để đấu tranh ngăn chặn, bác bỏ kịp thời, có hiệu quả. Do vậy, vấn đề chính trị hiện nay của đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trở nên phức tạp, khó lường, khó nhận diện và khó được giải quyết triệt để. Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Một số cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, thờ ơ với chính trị, giảm sút và mất lòng tin vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, vào khả năng lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, thắng lợi của công cuộc đổi mới... Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, như Quy định số 75-QĐ/TW, Quy định số 57-QĐ/TW, Quy định số 126-QĐ/TW và các hướng dẫn liên quan, trong đó có việc chỉ rõ những vấn đề chính trị hiện nay, làm cơ sở quan trọng để các cấp, các ngành sớm nhận diện và thực hiện tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh, xử lý các trường hợp vi phạm.

“Tác động chuyển hóa” chính trị nội bộ của các thế lực thù địch là một trong những căn nguyên cơ bản, trực tiếp dẫn đến nhiều vấn đề chính trị nghiêm trọng nảy sinh trong nội bộ Đảng. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm trước mắt của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là phải chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện và giải quyết triệt để các biểu hiện, hiện tượng chuyển biến lệch lạc về tư tưởng, đạo đức, phẩm chất cách mạng nói chung, đặc biệt là phải cảnh giác với các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, kịp thời ngăn chặn, xử lý các trường hợp bị tác động, lôi kéo của các thế lực thù địch. Có như vậy, mới thực hiện có hiệu quả việc phòng ngừa từ xa, từ sớm, giữ vững sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt của Đảng, sự tồn vong của chế độ và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong những năm tiếp theo.

Qua thực tiễn công tác đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” chính trị nội bộ của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan chức năng, nghiệp vụ bảo vệ chính trị nội bộ đã phát hiện các âm mưu, thủ đoạn, cách thức thâm nhập, tác động, lôi kéo cán bộ của các thế lực thù địch; trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu, mở rộng phát hiện, làm cơ sở khoa học để tổ chức, triển khai công tác nắm vững và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay bảo đảm kịp thời, chính xác, tránh oan sai, xử lý những cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực tốt, nhưng cũng nhanh chóng đưa ra khỏi Đảng, khỏi đội ngũ cán bộ những trường hợp suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chấn chỉnh kịp thời tư tưởng, tình hình chính trị nội bộ ở các địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là những “điểm nóng” xuất hiện thời gian gần đây có liên quan đến hoạt động của các thế lực thù địch. Có thể nói, kết quả của công tác đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” chính trị nội bộ của các thế lực thù địch sẽ giúp các cấp ủy, chính quyền, các cơ quan chức năng nâng cao chất lượng công tác phòng ngừa các vấn đề chính trị hiện nay; đồng thời, là cơ sở thực tiễn để bổ sung, sửa đổi các quy định, cơ chế, chính sách bảo đảm công tác cán bộ nói chung, công tác bảo vệ chính trị nội bộ nói riêng được thực hiện chặt chẽ, kỹ lưỡng, thận trọng, công tâm, khách quan.

Dựa trên những nội dung trên, việc nghiên cứu, xử lý tốt mối quan hệ giữa nắm vững và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay với đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của thế lực thù địch trong tình hình hiện nay có ý nghĩa chiến lược, trọng tâm trong tổng thể công tác bảo vệ chính trị nội bộ nói riêng và công tác cán bộ của Đảng nói chung. Trong thời gian tới, vấn đề chính trị hiện nay ngày càng nhận được sự quan tâm, chú trọng có chiều sâu, được cụ thể hóa thành nhiều tiêu chuẩn sát thực tế, là nội dung quan trọng trong nhận xét, đánh giá cũng như trong thẩm định, thẩm tra, xác minh tiêu chuẩn chính trị và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ yêu cầu: Những trường hợp có vấn đề về chính trị hoặc có quan hệ chính trị phức tạp phải được thẩm tra, xác minh và có kết luận của cấp ủy có thẩm quyền; phải tuân thủ nguyên tắc khi xem xét, giải quyết vấn đề chính trị của cán bộ, đảng viên là: Giữa lịch sử chính trị với vấn đề chính trị hiện nay thì vấn đề chính trị hiện nay là hết sức quan trọng; giữa bản thân với quan hệ gia đình thì bản thân là chính; giữa quản lý đầu vào với xử lý đầu ra thì quản lý đầu vào là chính; giữa xử lý với sử dụng thì sử dụng là chính.

“Tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch là một biểu hiện chuyển hóa chính trị ở Việt Nam, do các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhằm làm thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên, làm suy yếu niềm tin đối với Đảng. Đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch là việc đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Điều kỳ lạ quanh những vụ án "ảo"

 


Năm 2016, Tòa án nhân dân (TAND) huyện Đắk Song thụ lý giải quyết 57 vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản do 3 người đứng tên nguyên đơn. Các vụ án này sau đó được ông Phạm Văn Phiếm - nguyên Chánh án TAND huyện Đắk Song thụ lý (8 vụ); bà Nguyễn Thị Hải Âu - nguyên Phó Chánh án (12 vụ) và bà Bùi Thị Dung - thẩm phán, thụ lý giải quyết 20 vụ. Tự tạo lập các vụ án dân sự của cán bộ, lãnh đạo TAND huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) là hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật. Vậy mà lạ kỳ thay, sự việc chấn động này chỉ được tòa án cấp trên kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với người liên quan.

Điều kỳ lạ là sau đó, 57 vụ án đều có quyết định đình chỉ do có đơn xin rút của nguyên đơn. Điều bất thường này được Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát hiện và xác minh. Kết quả cho thấy các vụ án dân sự trên đều vi phạm về việc thụ lý, giải quyết. Các cơ quan chức năng vào cuộc và sự thật về những vụ án "lạ" này nhanh chóng bị phơi bày.

Sự thật khiến những người làm công tác tố tụng không khỏi bàng hoàng: 57 vụ án trên là do cán bộ TAND huyện Đắk Song tự tạo lập hồ sơ. Thậm chí 1 trong 3 nguyên đơn khởi kiện 57 vụ án nói trên chưa từng khởi kiện bất kỳ ai. Cơ quan chức năng cũng khẳng định nhiều nguyên đơn, bị đơn khác không tồn tại!. Nguyên nhân là bà Bùi Thị Dung muốn được tái bổ nhiệm thẩm phán nhưng không đảm bảo yêu cầu do tỷ lệ án hủy vượt mức quy định 1,16%. Không chỉ tự tạo lập các đơn kiện mà không có tranh chấp thực tế, bà Dung còn bỏ tiền để đóng tiền tạm ứng phí, sau đó rút đơn khởi kiện nhằm nâng cao số lượng án giải quyết, giảm tỷ lệ án hủy để được tái bổ nhiệm. Tất nhiên "âm mưu" của bà Dung không thể thực hiện được. Khi vụ việc bị phát hiện, bà Bùi Thị Dung đã tự xin nghỉ việc.

Sự việc này được TAND tỉnh Đắk Nông kết luận "không xử lý kỷ luật" mà chỉ kiểm điểm nghiêm túc, rút kinh nghiệm tại cơ quan đối với Chánh án TAND huyện Đắk Song và các cá nhân liên quan. Trong khi đó, TAND tối cao khẳng định việc tạo lập 57 hồ sơ "ảo" này là vi phạm quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. TAND cấp cao đề nghị TAND tỉnh Đắk Nông xem xét, điều chuyển vị trí những cán bộ có liên quan, đảm bảo việc phòng ngừa, giáo dục theo quy định của pháp luật. Ngày 1/6, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đắk Nông quyết định kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Phạm Văn Phiếm, bà Nguyễn Thị Hải Âu và ông Nguyễn Xuân Triệu (nguyên Thẩm phán TAND huyện Đắk Song) do để cấp dưới tạo lập 57 hồ sơ vụ án "ảo".

Dư luận cho rằng những sai phạm nghiêm trọng như trên mà các cá nhân liên quan chỉ bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách, riêng bà Bùi Thị Dung do đã nghỉ việc nên không bị xử lý kỷ luật là thiếu thỏa đáng. Không thể nói việc lập hồ sơ vụ án giả, tự đóng án phí rồi đình chỉ vụ án là không gây thiệt hại. Thiệt hại rõ ràng có thể nhìn thấy được là niềm tin của người dân vào công lý, vào sự nghiêm minh của pháp luật và sự trung thực của những người thực thi công lý bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Việc tạo ra gần 60 vụ án "ảo" không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức nghề nghiệp mà trong đó sự công minh, công bằng và minh bạch luôn được đề cao. Liệu có ai dám đảm bảo dựng ra hàng loạt vụ án "ảo" để giải quyết thì trong khi xét xử các vụ án thật, họ có thực hiện đúng chức trách của những người cầm cân nảy mực, thay mặt Nhà nước đưa ra các phán quyết công bằng, đúng người, đúng luật?

Vì một nền tư pháp "trong sạch, vững mạnh, dân chủ, hiện đại, bảo vệ công lý", những sai phạm của đội ngũ cán bộ tòa án cần phải được xử lý nghiêm đúng với tính chất, mức độ vi phạm.

Không nên nhắm mắt phán liều

 


Chính phủ vừa tổ chức Lễ ra mắt Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19, thu được hàng nghìn tỷ đồng chỉ sau mấy giờ phát động, thế mà thật lạ lùng lại xuất hiện những luận điệu với lời lẽ nực cười, "chọc gậy bánh xe" xuyên tạc chủ trương, cách làm tốt đẹp và hiệu quả đó. So sánh khập khiễng. Đài Á châu tự do với sự suy diễn thiển cận nêu ra quan điểm: Chính phủ nói không thiếu tiền sao phải huy động tiền dân mua vaccine? Họ còn dẫn lời một ông phó giáo sư với bình luận vu vơ, sợ góp quỹ rồi sẽ “hao hụt”. Tổ chức khủng bố và phản động Việt Tân thêm một lần nữa tấu lên tiếng loa rè, so sánh với một số nước và cho rằng phải tiêm vaccine miễn phí cho dân mới là chính quyền thực sự “lo cho dân”. Trên một số trang mạng còn nêu ý kiến không đúng sự thật từ nước ngoài rằng, Chính phủ gây “khó xử” đối với một số doanh nghiệp khi đóng góp cho quỹ vaccine...

Thật là những kẻ thiếu thiện chí, nhắm mắt phán liều! Trước hết, cần khẳng định, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân từ rất sớm và coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Điều này thể hiện tinh thần nhất quán “lo cho dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Ðảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”.

Tại Đại hội XIII của Đảng, các đại biểu đã bàn thảo, quyết định và công bố trong phiên bế mạc: "Tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vaccine Covid-19 cho cộng đồng...", coi đây là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung triển khai thực hiện ngay sau đại hội. Đó là một quyết định đúng đắn, mang tính lịch sử và đầy trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nguồn lực hạn chế. Với quyết định đó, Việt Nam nằm trong danh sách không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine Covid-19 đại trà cho toàn dân.

Trong bối cảnh hiện nay, thực hiện chủ trương chiến lược và mục tiêu kép vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế-xã hội, Nhà nước Việt Nam đủ nguồn lực tài chính để bảo vệ sản xuất, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Song để sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn lực trong bối cảnh tiềm lực kinh tế đất nước còn khó khăn, rất cần sự chung tay của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong thực hiện “mục tiêu kép”. Việt Nam đã, đang và sẽ chống dịch Covid-19 hiệu quả bằng nguồn lực Việt Nam, cách làm Việt Nam, truyền thống Việt Nam, từng được cả thế giới ghi nhận, cảm phục với nhiều cách làm trở thành hình mẫu. Vì vậy, những sự so sánh với nước ngoài, với các nước phát triển có tiềm lực kinh tế và nền tảng khoa học công nghệ, có nguồn vaccine dồi dào hơn rồi suy diễn cho rằng Chính phủ phải làm như họ mới là “lo cho dân” là không đúng đắn.

Tiêm vaccine là giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính chiến lược để thoát khỏi đại dịch Covid-19. Song theo tính toán của các chuyên gia, để đạt được miễn dịch cộng đồng, Việt Nam cần khoảng 150 triệu liều vaccine phòng Covid-19 để tiêm cho khoảng 75 triệu người dân, với tổng nhu cầu kinh phí khoảng 25.000 tỷ đồng. Cùng với đó, dịch bệnh được dự báo chưa thể kết thúc sớm, “sống chung với dịch bệnh” trở thành yêu cầu thường trực, hiệu lực của vaccine lại không kéo dài, việc tiêm vaccine phải tiến hành định kỳ. Tất cả những điều này đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn trong khi Việt Nam còn nhiều khó khăn, ngân sách nhà nước hạn hẹp. Đó là phân tích hết sức khoa học, qua đó cho thấy, việc huy động nguồn lực tài chính của quốc gia còn có thể bảo đảm cho lâu dài, phát sinh thêm nếu dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp với những biến thể mới khó lường. Ngân sách nhà nước cũng rất cần được sử dụng tổng lực, linh hoạt cho tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất phát triển chứ không chỉ tập trung cho chống dịch. Lịch sử dựng nước và giữ nước đã chứng minh, khi đất nước ta gặp khó khăn, tinh thần đoàn kết, sức dân là vũ khí tối tân nhất, sắc bén nhất để chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù và viết nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc, như Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Trong cuộc chiến chống Covid-19, sự đồng lòng của nhân dân là chìa khóa mở cánh cửa lớn để chúng ta thoát ra khỏi đại dịch và trở về cuộc sống bình thường, bình yên, an dân, an toàn. Truyền thống “Thương người như thể thương thân”, hay “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” đã hun đúc trong mỗi người con đất Việt và gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này. Truyền thống ấy càng tỏa sáng mỗi khi đất nước chúng ta gặp khó khăn như: Chiến tranh, thiên tai, bão lũ, dịch bệnh... Và lần này, lịch sử sẽ tiếp tục ghi nhận chiến thắng vẻ vang của dân tộc-chiến thắng đại dịch Covid-19.

 

Hãy nhìn vào thực tế đang diễn ra

 


Đất nước chúng ta còn khó khăn, Đảng, Nhà nước đã và đang cố gắng nhưng cần sự chung tay, góp sức bằng tấm lòng và trái tim của cả cộng đồng, xã hội... Mỗi đóng góp đều có ý nghĩa cho sự an toàn hơn của bản thân, gia đình chúng ta, cho cộng đồng và cả xã hội. Với lý do đó, ngày 5/6/2021, Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 đã được thành lập.

Lý do thành lập Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 đã được Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rất rõ trong bài phát biểu của mình và người Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế hiểu về Việt Nam đều nắm rõ. Vậy mà một số tờ báo nước ngoài lại đăng tin khiến người đọc có thể nghĩ sai về một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Tờ The Korea Times ở Hàn Quốc viện dẫn nguồn tin giấu tên nói rằng quỹ vaccine đẩy một số tập đoàn, công ty của nước này đang hoạt động ở Việt Nam vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Trong khi đó, với ngôn từ chua ngoa, thiếu hiểu biết, tờ The Sun ở Anh thì lu loa rằng Việt Nam gửi tin nhắn “xin” người dân góp tiền mua vaccine. Đó là những thông tin hoàn toàn lệch lạc, xúc phạm tới nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến chống COVID-19.

Người Việt Nam có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe”.

Việt Nam có gây khó cho doanh nghiệp nước ngoài khi thành lập Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 hay không? Xin khẳng định là không! Chẳng những thế, Việt Nam còn thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ để các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), vượt qua khó khăn. Nên nhớ rằng, theo Quyết định số 1210/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 9/2/2021, có 11 nhóm đối tượng được ưu tiên tiêm vaccine COVID-19 ngay khi vaccine về Việt Nam thì các công nhân thuộc nhóm đối tượng ở cuối (thứ 11 - người tại vùng dịch theo chỉ định dịch tễ). Trong khi nhiều đối tượng ở nhóm cao hơn như cán bộ quản lý, phóng viên, bộ đội, công an... rất nhiều người còn chưa được tiêm vaccine, song với quan điểm “bảo vệ thành trì của sản xuất”, ngay cả các doanh nghiệp không (hay chưa) tham gia quỹ vaccine, Việt Nam vẫn rất quan tâm, chủ động tiêm vaccine cho công nhân trong vùng dịch nguy hiểm.

Việc thành lập Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị để huy động nguồn lực xã hội thực hiện công tác phòng, chống dịch. Ngay từ những ngày đầu, Việt Nam đã chủ trương “chống dịch như chống giặc”. Nói đến “đánh giặc” hay “chống giặc” ở đất nước đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh như Việt Nam thì ai cũng hiểu tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” hay “xe chưa qua, nhà không tiếc”... Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tổng kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn...”. Trong các cuộc kháng chiến, người dân Việt Nam đồng lòng, tự nguyện đóng góp vào “hũ gạo kháng chiến”, "tuần lễ vàng"... thì thời bình ngày nay, tinh thần ấy vẫn tiếp tục được phát huy. Hằng năm, rất nhiều loại quỹ được mọi tầng lớp nhân dân tự nguyện đóng góp, ủng hộ. Mỗi khi có thiên tai, tinh thần “nhường cơm sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách” lại được nhân lên gấp bội. 

Trở lại chuyện tờ báo của Anh đăng tin thất thiệt. Trong thời đại công nghệ thông tin, truyền thông phát triển như hiện nay, việc một chính phủ hay các tổ chức gửi tin nhắn tới người dân đã trở nên quá bình thường. Việt Nam có mô hình chống dịch COVID-19 thành công và được nhiều cơ quan báo chí quốc tế lớn đăng tin cũng một phần nhờ người dân được nhắc nhở chấp hành khuyến cáo “5K” qua tin nhắn và nhạc chờ điện thoại. Các tin nhắn nhắc công dân đi bầu cử, thực hiện dân chủ, quyền công dân hay các tin nhắn cảnh báo đề phòng lừa đảo trên mạng... vẫn được gửi tới mọi người dân khi cần. Do vậy, việc gửi thông điệp “5K + vaccine + công nghệ” hay kêu gọi đồng bào tự nguyện đóng góp cho Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 dịp này vừa có ý nghĩa nhắc nhở người dân về cuộc chiến "chống giặc" COVID-19 để tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng ngừa, vừa nhấn mạnh tầm quan trọng của vaccine, đồng thời thể hiện sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc Việt Nam. Có lẽ, nếu xem trực tiếp hình ảnh những học sinh tiết kiệm tiền ăn sáng, các cụ già dành dụm lương hưu, những phụ nữ tiết kiệm tiền chi tiêu... để đóng góp vào Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 trong ngày ra mắt quỹ sẽ khiến các phóng viên nước ngoài hiểu đúng về Việt Nam.

Đại dịch COVID-19 là một trận chiến cam go mà người dân Việt Nam và nhiều nước khác phải đối mặt. Thế nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, tinh thần đoàn kết xung quanh Đảng và Nhà nước của người dân Việt Nam là một truyền thống quý báu, sẽ tạo nên sức mạnh để Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Tinh thần ấy đã giúp Việt Nam làm nên kỳ tích chống chọi với đại dịch Covid-19 trong suốt hơn một năm qua với số ca nhiễm thấp và vẫn tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, thực hiện thành công mục tiêu kép vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế. Tình hình dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp và kéo dài nên việc thành lập Quỹ Vaccine phòng, chống COVID-19 với sứ mệnh huy động tổng hợp nguồn lực đóng góp xã hội để chia sẻ với ngân sách nhà nước là hết sức cần thiết. Quỹ nhằm phục vụ cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine, nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước và sử dụng vaccine phòng COVID-19 cho người dân trên nguyên tắc bảo đảm sự tự nguyện đóng góp, hoạt động công khai, minh bạch và đúng quy định của pháp luật, thuận lợi nhất cho việc đóng góp.

Đây là quỹ của sự nhân ái, của tinh thần đoàn kết, của niềm tin, của trái tim kết nối trái tim, là sự nhân ái Việt Nam, đoàn kết Việt Nam, niềm tin Việt Nam mà những ai không biết hoặc cố tình hiểu sai, xuyên tạc thì nên tìm hiểu.

Không thể phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước

 


Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (KTNN) là vấn đề căn cốt quy định bản chất chủ nghĩa xã hội (CNXH) của nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là điều không thể xuyên tạc, phủ nhận.

KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền KTTT định hướng XHCN không thủ tiêu cạnh tranh. Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trườngKTNN giữ vai trò chủ đạo không phủ định cạnh tranh mà còn là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Quá trình đổi mới, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu khách quan phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy luật KTTT trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

Đến nay, Việt Nam đã ký kết và triển khai hiệu quả 14 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các hiệp định tiêu chuẩn cao, như CPTPP, EVFTA, v.v.. Đồng thời, chúng ta đã ký, chờ phê chuẩn có hiệu lực hiệp định RCEP; đang tiến hành đàm phán 2 hiệp định với EFTA (Thụy Sĩ, Na uy, Iceland, Liechtenstein) và Israel. Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới, Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam năm 2019 đứng thứ 67/137 nền kinh tế, tăng 10 bậc so với năm 2018. Điều đó cho thấy, cộng đồng quốc tế công nhận độ mở và năng lực cạnh tranh của nền KTTT định hướng XHCN ngày càng cao.

Các doanh nghiệp, tập đoàn KTNN hoạt động chủ yếu trong những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân không muốn làm và không làm được, hoặc đóng vai trò dẫn dắt, khai phá những lĩnh vực quan trọng đối với nền kinh tế, như: quốc phòng, an ninh, năng lượng, sân bay, cảng biển, hạ tầng giao thông…; tham gia cung ứng các sản phẩm dịch vụ công ích nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ nguyên tắc thị trường, bình đẳng với các doanh nghiệp khác. Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương các DNNN phải hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta không ưu ái DNNN và phân biệt đối xử với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế tự chủ sản xuất kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch, chịu sự điều tiết của các quy luật KTTT và thể chế KTTT định hướng XHCN. Trong quá trình cổ phần hóa, đổi mới sắp xếp lại hệ thống DNNN, Chính phủ chủ trương thoái vốn và nhường lại thị phần ở các lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác có khả năng và đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, như: Thương mại tiêu dùng, dịch vụ, du lịch, vận tải, v.v.. Tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc chủ trương xóa bỏ cơ chế can thiệp hành chính trực tiếp, bao cấp dành cho doanh nghiệp nhà nước, đối xử bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nhất là trong tiếp cận các nguồn lực nhà nước, tín dụng, đất đai, tài nguyên, cơ hội đầu tư, kinh doanh, tài chính, thuế… gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện thể chế KTTT. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng, cùng phát triển; trong đó, kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Các yếu tố trên đã tạo môi trường thuận lợi, động lực thúc đẩy sự phát triển vượt bậc về số lượng, quy mô, chất lượng của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, như: số lượng tư nhân đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh là 591.499 doanh nghiệp, chiếm tỉ lệ 96,9% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh của cả nước; gấp nhiều lần so với số liệu tương ứng của DNNN là 2.260 doanh nghiệp và 0,4%. Đặc biệt, trong Quý I và tháng 4/2021 đã có 44.166 doanh nghiệp thành lập mới, 21.381 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; trong đó, doanh nghiệp quy mô vốn đầu tư trên 100 tỷ đồng là 465 doanh nghiệp, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm 2020. Việc kinh tế tư nhân tham gia vào các lĩnh vực nền tảng của nền kinh tế, như: công nghiệp chế tạo, công nghệ cao, xây dựng đường cao tốc, sân bay, cảng biển, năng lượng tái tạo, truyền tải điện, logistics… ngày càng khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Nhiều doanh nhiệp, tập đoàn đã khẳng định thương hiệu đối với thị trường trong nước và quốc tế, như: Vingroup, Thế giới di động, Hòa Phát, Vietjet, VP bank, v.v.. Đây là minh chứng không thể chối cãi về chủ trương kiến tạo, xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong nền KTTT định hướng XHCN của Đảng và Nhà nước ta.

Thực tế đã chứng minh, vai trò chủ đạo của KTNN ngày càng được khẳng định và phát huy; KTNN thực sự là công cụ, lực lượng vật chất để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của KTTT. Số liệu khảo sát của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho thấy: các doanh nghiệp, tập đoàn KTNN nắm giữ tỉ trọng đa số hoặc có vị trí chi phối một số ngành, lĩnh vực nền tảng của nền kinh tế, như: 25% vốn điều lệ, 48% thị phần huy động vốn và 50% thị phần cho vay của toàn hệ thống tín dụng; 86% sản lượng điện phát vào mạng lưới, 97% sản lượng than sạch, 100% sản lượng dầu thô, 85% thị phần bán lẻ xăng dầu; 96,4% thị trường băng thông rộng, v.v. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, thì KTNN cũng chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng sản phẩm quốc nội Việt Nam với 27%, trong khi tỉ lệ của kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư ngước ngoài là 10% và 20%.

Trong điều kiện thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế - xã hội mọi quốc gia trên thế giới, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2016- 2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Đặc biệt, năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ, đại dịch Covid-19 nhưng với sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ nên tăng trưởng GDP vẫn đạt 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới; quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với 2015, đạt trên 340 tỷ USD, tương đương với thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 3.500 USD. Các chỉ số phát triển kinh tế - xã hội được duy trì ổn định, như: Chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 18,6% năm 2011 xuống dưới 4% trong giai đoạn 2016-2020; tỉ giá, thị trường ngoại hối ổn định, cán cân thanh toán thặng dư (xuất siêu 5 năm liên tiếp); tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm từ gần 10% năm 2015 xuống dưới 3% năm 2020; tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 76% năm 2015 lên 90,7 dân số năm 2020…; nhiều công trình hạ tầng về giao thông, năng lượng, thủy lợi, đô thị, khu công nghiệp, thông tin truyền thông, y tế, giáo dục… được hoàn thiện, đưa vào khai thác, sử dụng tạo thêm năng lực cạnh tranh và diện mạo mới cho nền kinh tế. Đồng thời, KTNN là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng trong bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội… tạo cơ sở nền tảng vững chắc để Việt Nam thực hiện thành công “mục tiêu kép” vừa quyết liệt phòng chống dịch với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, vừa tập trung phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Để tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo của KTNN, Đảng, Nhà ta nước chủ trương đẩy mạnh hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Thực hiện nhất quán chủ trương thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực và cơ chế giá thị trường đối với hàng hóa, dịch vụ, kể cả các dịch vụ công cơ bản. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn tăng cường đối thoại giữa Chính phủ, các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương với cộng đồng doanh nghiệp để tập trung sửa đổi kịp thời những mâu thuẫn, chồng chéo, tháo gỡ các “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển kinh tế và doanh nghiệp. Đồng thời, quyết liệt chỉ đạo quá trình đẩy nhanh, nâng cao hiệu quả các chương trình, đề án của Chính phủ về cổ phần hoá, cơ cấu lại, đổi mới DNNN gắn với nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tham nhũng, lãng phí; xây dựng hệ thống doanh nghiệp, tập đoàn KTNN trở thành những điểm sáng, mẫu mực về hiệu quả sản xuất kinh doanh, trách nhiệm cộng đồng. Qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN; khơi dậy khát vọng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân vào sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

GIẢNG VIÊN" THÔNG CHỐT, CỰ CÃI LÒI MẶT PHẢN ĐỘNG NÒI!

Đúng như dự đoán kẻ thông chốt, chửi bới lăng mạ lực lượng kiểm soát Covid-19 tại Q. Cầu Giấy hôm 5/9/2021 là Lê Trường Thanh - giảng viên ĐH Thủ Đô Hà Nội, một tên phản động nòi, có số má, cùng nhóm với Dũng xe ôm và Thúy Hạnh No.U. Kẻ từng ăn chực, nằm rề đàn đúm ở nhà Lê Quốc Quân và tham gia biểu tình yêu cá, yêu cây, chống giàn khoan...

Thanh sinh năm 1973, thạc sĩ Địa lí, dạy khoa Sinh - Địa ĐH Thủ đô, theo Kito giáo. Nó từng đại diện cho phản động NoU Phan Văn Phong (chồng Trần Thị Nga Phủ Lý) trong thương vụ ứng viên tự do bầu cử QH 2015. Trong USB và trang cá nhân của y còn lưu trữ nhiều ảnh chụp Thanh tham gia biểu tình và ăn chơi cùng Dũng xe ôm, Bùi Tiến Hưng (anh trai Bùi Thanh Hiếu, người buôn gió), Thúy Hạnh 50k, Chí râu đen, bà đầm xòe ...!

Mặc dù là thành viên của hội nhóm NoU, chống phá lâu nay, nhưng Thanh còn núp lùm, chưa có nhiều bài viết xuyên tạc chế độ, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia nên chưa đủ chứng cứ để các anh CA "mời trà". 

Sự việc hôm 5/9 có thể coi là "tại nạn nghề nghiệp" của đám rận, khi nhậu nhẹt đàn đúm xong, sẵn có tí hèm trong người, tự nhiên bản chất "côn đồ" nó tuôn ra trước bàn dân thiên hạ. Giờ thì vui rồi, đúng là người tính không bằng trời tính.

Thông chốt để lây lan covid-19 là tội không thể bỏ qua, phạt nặng; nhưng với tên "giảng viên" lưu manh, chống phá đất nước như Lê Trường Thanh mà để đứng trên bục giảng thì rất nguy hiểm, bởi hắn sẽ gieo rắc những thứ xấu xa, tư tưởng phản động vào đầu lớp trẻ! Nhốt vào tù thì tốn cơm nuôi, bắn bỏ thì tốn đạn, vậy để trừ họa cho đất nước theo bà con nên xử lý tên này thế nào?




Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC LUẬN ĐIỆU CHIA RẼ CÔNG AN, QUÂN ĐỘI TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

Hiện nay, tình hình dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp tại Việt Nam cũng như thế giới trước biến thể Delta. Tại thành phố Hồ Chí Minh, sau mấy đợt giãn cách nhưng không mấy hiệu quả do số lượng người ra đường vẫn đông. Theo đó, với quyết tâm phải ngăn chặn, kiểm soát bằng được dịch để đưa cuộc sống trở lại bình thường. Vì vậy, Chính phủ quyết định áp dụng biện pháp cao hơn Chỉ thị 16 đã được Quốc hội trao quyền để thực hiện nghiêm giãn cách theo nguyên tắc "ai ở đâu ở yên đó". Triển khai biện pháp này, các lực lượng vũ trang đã được huy động cùng lực lượng Y tế vừa đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, cứu chữa nhân dân vừa đảm bảo an ninh, trật tự. Các lực lượng được phân công nhiệm vụ cụ thể như Y tế khám chữa bệnh, bộ đội và công an vừa tham gia truy vết, kiểm soát các chốt, vừa hỗ trợ cung cấp lương thực, thực phẩm cho người dân. Sự phân công trên đảm bảo sự vận hành nhịp nhàng, thông suốt có sự hỗ trợ giữa các lực lượng trong phòng chống dịch. Thực tế các lực lượng vô cùng vất vả, gian khổ thậm chí là hi sinh mất mát, chỉ từ đầu dịch đến nay đã có hơn 2000 cán bộ chiến sĩ Công an nhiễm Covid -19, 10 đồng chí hy sinh trên tuyến đầu chống dịch. Tuy vậy, vẫn có những kẻ cố tình xuyên tạc, công kích các lực lượng chống dịch, giải pháp chống dịch của Đảng, Nhà nước. Dã tâm nữa là chúng kích động chia rẽ Công an với Quân đội trong chống dịch, gọi lực lượng Công an là "thằng". Trong khi không có những người chúng gọi là "thằng" thì những đối tượng chống đối vi phạm chống dịch ai xử lý. Và nếu không chốt, không chặn nghiêm dân cứ ra đường đông như ngày thường thì bao giờ chúng ta kiểm soát được dịch đây. Mong là chúng ta hãy thật sự tỉnh táo trước những lời lẽ kích động chia rẽ trên, cùng đồng lòng thực hiện tốt các giải pháp để sớm đẩy lùi dịch bệnh đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới./.

Về học và làm theo Bác

Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh dễ hay khó, như thế nào cho hiệu quả? Trả lời được câu hỏi này, mới có thể nhận thức đúng và có hành động đúng, không rơi vào sự giáo điều, máy móc, dẫn đến mất phương hướng trong chỉ đạo, và trong thực hiện học tập và làm theo Bác. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là tư tưởng dân tộc, mối quan hệ dân tộc - giai cấp và cách mạng giải phóng dân tộc; tư tưởng về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; tư tưởng về Đảng Cộng sản Việt Nam; về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; tư tưởng nhân văn và văn hóa. DỄ HAY KHÓ Thực sự, ai đó đặt mục tiêu, học, làm theo Bác để trở thành một người như Bác - điều đó là khó có thể. Bởi để trở thành một người dành trọn niềm tin, sự tôn kính của cả dân tộc cũng như của nhân loại tiến bộ như Bác là cả một quá trình học tập, rèn luyện vất vả và quá trình ấy cũng phải diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt. Nhưng học và làm theo Bác chắc chắn không phải là cái gì đó quá cao siêu. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người là chuẩn mực của tất thảy những việc diễn ra trong cuộc sống thường ngày, khi thật tâm, thì soi chiếu vào đó, ai cũng đều có thể thấy được những việc mình có thể học theo, làm theo Người. Đó có thể là một thái độ ứng xử, hoà nhã, đúng mực của người cán bộ trong mỗi lần tiếp xúc với dân; là sự nêu cao trách nhiệm, làm hết việc, chứ không làm hết giờ trong thực thi công vụ hàng ngày của mỗi người. Đó cũng có thể là một hành động sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành nhiệm vụ; hay chỉ là sự sẵn lòng chia sẻ khó khăn với người khó khăn hơn mình… Làm tốt những điều này chính là mỗi người đã học làm theo tấm gương hết lòng phục vụ nhân dân; tình đoàn kết, thương yêu đồng chí, thương yêu con người - những giá trị đạo đức tốt đẹp được kết tinh trong con người của Bác. Những điều học Bác thời gian qua đã được hiển thị trong nhiều công việc trong cuộc sống của người dân. Có thể kể gần đây nhất, trong những ngày tháng, khi cả nước gồng mình chống chọi với dịch COVID-19, biết bao tấm gương sống đẹp, sống trách nhiệm với xã hội đã xuất hiện, và những tấm gương này ở mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh, điều kiện. Có cụ già ngoài 80, không quản mệt nhọc đã mang góp quả bí đao, mớ rau muống nhà trồng được; có em nhỏ nhịn ăn sáng để góp 100.000đ; người có điều kiện hơn thì góp tiền mua gạo, mua thiết bị y tế, mua thuốc men để trợ giúp người nghèo, người bệnh…; và, có người góp công, góp sức, ngày đêm không quản nắng mưa canh chốt, nhắc nhở người dân chấp hành kỷ luật trong đợt dịch… Còn nhiều việc tốt lớn, nhỏ khác của người dân, của người cán bộ trong đời thường, trong công việc không thể kể hết. Nhưng tất cả đều toát lên ở đó là trái tim nhân hậu, một lòng giúp đỡ, yêu thương đồng bào với mong mỏi đại dịch qua mau để đất nước từ bắc chí nam, để thế giới lại bình an như ngày nào. Đó là những việc làm từ tâm, là sự yêu thương con người, tinh thần đoàn kết, là tư duy độc lập, sáng tạo, là cách ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn… Những việc làm tưởng chừng giản dị đời thường ấy nhưng đó chính là những việc làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là vô cùng rộng lớn, nhưng nói học và làm theo Người không khó là như thế. Học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không khó. Ai cũng có thể làm. Thế nhưng tại sao, mỗi khi đánh giá, chúng ta lại tỏ ra lúng túng? Tại sao vẫn khó khăn trong phân biệt việc học Bác, làm theo Bác và những việc tốt bình thường ngày? Đây cũng là lý do thời gian qua, có địa phương đơn vị nhận định, việc làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức của Người vẫn chưa đi vào chiều sâu, và chưa thực chất. ĐỂ HIỆU QUẢ Để thực hiện học tập và làm theo Bác hiệu quả, có thể thấy 3 việc cần lưu tâm: Thứ nhất về học tập, cần tổ chức và đổi mới hình thức học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác hơn nữa. Phải hiểu Bác mới làm theo Bác đúng được. Phải hiểu tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là gì thì mới tự giác làm theo Bác hiệu quả. Thực tế, cũng có những điển hình được khen thưởng trong học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở nhiều cấp, nhưng khi được hỏi đã học và làm theo Bác ở điểm nào thì lại rất lúng túng. Chính vì vậy, chưa thể nói nhiều đến việc làm sao làm theo Bác cho hiệu quả khi chưa hiểu thật sâu sắc về Người. Đây là điểm rất cần được khắc phục tới đây. Việc học là sự nghiệp suốt đời của mỗi người. Học theo Bác cũng vậy, cần là việc học thường xuyên liên tục. Đó là việc tự học, tự trau dồi mỗi ngày; học từ tổ chức, từ tập thể nơi mình sinh sống, làm việc; có thể học qua sách vở, học qua các tấm gương, qua các mô hình điển hình; học qua truyền miệng, qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Đã có nhiều cách làm sáng tạo, linh hoạt từ các địa phương và các tổ chức. Bên cạnh những cách học truyền thống như vậy cũng có một số cách học đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp thu đó là học tập, truyền dạy thông qua việc khai thác những câu văn, thơ, câu nói ngắn gọn, những điển ngữ mà Người đã sử dụng để người học dễ nhớ, dần thẩm thấu tu tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Và trong từng lĩnh vực cụ thể, trong từng thời điểm cụ thể, Bác cũng có những câu nói trở thành chân lý của thời đại. Kho tàng tư tưởng, đạo đức, phong cách của của Chủ tịch Hồ Chí Minh những câu nói dễ nghe và dễ nhớ; khi nhớ thì dễ ngấm và khó quên. Nếu khai thác tốt nguồn tư liệu này, các cá nhân, các đơn vị, tổ chức tiếp tục tổ chức vận dụng trong những hoàn cảnh cụ thể, phù hợp, điều này sẽ khiến cho cán bộ, quần chúng thêm hiểu sâu, từ đó ngấm dần tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, từng bước làm theo và đặc biệt dần hiểu mình đã vận dụng, làm theo Bác được điểm nào. Cùng với đó việc học tập có thể bằng cách các tổ chức, đơn vị khai thác, tận dụng tối đa các diễn đàn, các nền tảng công nghệ để lồng ghép, hướng dẫn và “lôi kéo” công chúng cùng tham gia tương tác về những chủ đề cụ thể liên quan đến tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp xúc thường xuyên bằng nhiều cách, công chúng sẽ phải liên tục tìm đọc, nghe, xem… và cứ đều đặn như vậy, tư tưởng, đạo đức, phong cách, những câu nói giản dị nhưng sâu sắc, mang tầm thời đại của Người sẽ thấm dần vào tâm trí người được tác động và đó là cơ sở để biến những điều trên giấy tờ thành những hành động cụ thể. Thứ hai về làm theo, học, hiểu tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác rồi, nhưng điều đó chỉ thật sự có giá trị khi những điều đã học được hiện thực hóa trong cuộc sống, trong từng công việc. cần phải tiếp tục đổi mới, sáng tạo hơn trong cách làm, đặc biệt là cần phải gắn chặt với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị. Ví dụ: các cơ quan làm công tác ngoại giao có thể học tập làm theo tư tưởng: Dĩ bất bất biến ứng vạn biến, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc trong đối ngoại; học về Đạo đức đó là: Tinh thần quốc tế trong sáng “giúp bạn là tự giúp mình”; học về Phong cách đó là: Giản dị, quần chúng trong hoạt động đối ngoại của Bác sẽ hiệu quả hơn việc học Bác tiết kiệm so với các đơn vị sản xuất. Hay, các cơ quan hành chính học làm theo Bác, về tư tưởng học: lấy dân là gốc; về đạo đức, học: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về phong cách, học: gần dân, lắng nghe dân, quan tâm đến vấn đề thiết yếu của dân sẽ hiệu quả hơn việc học làm theo đạo đức: yêu thương con người như các cơ quan làm công tác nhân đạo. Tư tưởng, tấm gương, đạo đức của Bác chỉ phát huy hiệu quả khi tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào trong suy nghĩ và trở thành hành động tự giác của mỗi người, mỗi cơ quan đơn vị. Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân nên chọn ra một số nội dung trọng tâm, trọng điểm trong tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác phù hợp với nhiệm vụ chính trị của mình, phù hợp với bối cảnh cụ thể để học tập sâu, tổ chức thực hiện kỹ. Như vậy, kết quả làm theo Bác sẽ thiết thực và hiệu quả hơn so với cách làm hiện tại. Thứ ba, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải tự nhiên mà có. Đấy là kết quả nêu gương, nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống, và đặc biệt là phải rèn luyện bền bỉ, hàng ngày, rèn luyện suốt đời của Bác. Để học và làm theo Bác hiệu quả, cùng với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách, cũng cần phải nắm chắc, và làm theo nguyên tắc, phương pháp rèn luyện đạo đức, phong cách của Người. Điều này là hết sức quan trọng tránh tình trạng học và làm Bác kiểu phong trào. Đạo đức Hồ Chí Minh là tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, đất nước, dân tộc lên trên tất cả… là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; đó là độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội; yêu thương con người, tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng. Trong việc rèn luyện đạo đức, tác phong, Người không chỉ nêu lên những nội dung của việc tu dưỡng để có đạo đức, tác phong cách mạng mà Người còn chỉ rõ những nguyên tắc trong rèn luyện. Muốn có đạo đức, tác phong cách mạng, trước hết nói phải đi đôi với làm và luôn nêu gương. Việc nêu gương phải được thực hiện trong mọi lĩnh vực, mọi bối cảnh. Trong gia đình, đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái, của anh chị đối với các em; trong nhà trường thì đó là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể, Đảng, Nhà nước đó là tấm gương của những người đứng đầu, phụ trách, lãnh đạo, của cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội thì đó là tấm gương của người này đối với người khác… Cùng với nêu gương, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải rèn luyện tinh thần “xây đi đôi với chống”, “muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây”. Trong khi xây dựng, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức mới phải đồng thời chống lại cái xấu, cái sai, cái vô đạo đức. Để xây và chống có hiệu quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi. Có phong trào, có cuộc vận động cho toàn Đảng, toàn dân; nhưng lại có phong trào, có cuộc vận động riêng cho từng ngành, từng giới. Thông qua đó, lôi cuốn mọi người vào cuộc đấu tranh nhằm “xây” gì, “chống” gì rất cụ thể, rõ ràng để mọi người phấn đấu, tự bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng. Cùng với hai nguyên tắc nêu trên, việc học và làm theo phải được tiến hành thường xuyên, suốt đời. Hôm nay làm tốt, ngày mai và ngày kia cùng nhiều ngày sau vẫn phải rèn rũa, giữ gìn để làm tốt hơn. Theo Bác, mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt hàng ngày, đó là công việc kiên trì, bền bỉ suốt đời. Và việc rèn luyện này phải thường xuyên và ở mọi môi trường, được thực hiện trong hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong đời công, sinh hoạt, học tập, lao động, chiến đấu; trong mọi mối quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ gia đình đến nhà trường, đoàn thể, xã hội; từ quan hệ bạn bè đến đồng chí, anh em, cấp trên, cấp dưới, với Đảng, với nước, với dân và cả trong quan hệ quốc tế. Có rèn luyện công phu theo các nguyên tắc trên đây thì con người mới có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, những phẩm chất ấy sẽ ngày càng được bồi đắp và nâng cao Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh luôn là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta, nhân dân ta. Điều quan trọng, và cũng là trách nhiệm của thế hệ hôm nay là phải thiết thực, trách nhiệm và sáng tạo trong hành động để tài sản vô giá ấy tiếp tục sinh sôi, lan toả và thấm sâu vào đời sống của mỗi một cá nhân, mỗi một địa phương đơn vị. Làm tốt điều này sẽ là động lực để bàn tay chúng ta chạm gần hơn tới mục tiêu đưa đất nước thành một quốc gia phồn vinh hạnh phúc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh bằng các biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phong cách Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, làm việc dân chủ, khoa học, là ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn, nói đi đôi với làm, là giản dị, gần gũi với quần chúng… Để có thể học và làm theo Bác hiệu quả và để hiện thực hóa lời kêu gọi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng đã chỉ ra về học tập, làm theo Bác thì mỗi cá nhân, mỗi tập thể luôn phải không ngừng nghiên cứu, thấm nhuần, tận tâm, nhiệt huyết áp dụng những tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người bằng cả trái tim chân thành trước mỗi sự việc cụ thể, có như vậy học mới không khó, và làm mới chân thành, hiệu quả./.

CHIA SẺ YÊU THƯƠNG!!!

Những ngày qua, chúng ta đã quen thuộc với những hình ảnh đầy cảm xúc, đáng trân trọng và tự hào của hàng ngàn cán bộ chiến sỹ Quân đội căng sức giúp đỡ Nhân dân vùng tâm dịch. Họ tận tình chăm sóc, động viên các F0 như chính người thân của mình; họ băng qua từng con hẻm nhỏ dưới những cơn mưa một cách khẩn trương, kịp thời cung cấp lương thực đến tận tay người dân; họ giữ nghiêm các chốt kiểm soát để ngăn chặn Covid lây lan... Tất cả những gì các anh "Bộ đội Cụ Hồ" làm là vì tình cảm, là trách nhiệm của người con Tổ quốc, "đâu cần Bộ đội có, đâu khó có Bộ đội". Đó chính là sứ mệnh trái tim. Bên ngoài tâm dịch thì sao? Cũng là những trái tim thôi thúc, những bàn tay góp sức để cùng xây đắp niềm tin chiến thắng. Vẫn những chuyến xe không nghỉ, không chỉ mang theo nhu yếu phẩm hỗ trợ Nhân dân mà còn là cả những yêu thương sẻ chia trong khó khăn. Truyền thống dân tộc là thế, sức mạnh đoàn kết trong nguy nan làm nên chiến thắng. Hãy cùng tin tưởng và sẻ chia!!!