Vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong
sự thật của các thế lực phản động, thù địch, có thể khẳng định rằng: Ngày
5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác
của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra
con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam.
110
năm (5/6/1911 - 5/6/2021) là độ lùi lịch sử đã đủ độ tin cậy để có thể khẳng
định rằng ngày 5/6/1911 là một trong những sự kiện trọng đại trong cuộc đời và
sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự lựa chọn, khởi đầu và quyết định chính
xác từ ngày đó đã góp phần quan trọng làm nên nhà cách mạng Hồ Chí Minh và
Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta khi không chỉ đấu
tranh cho một lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài, Người muốn tiến
hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi
của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng Người phát động đã mang tầm cỡ thế
giới.
Nguyễn
Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đã đắm
chìm trong đêm trường nô lệ. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách
thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nền độc lập của dân tộc bị xâm phạm, quyền
được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người dân ở xứ An Nam thuộc
địa đều bị chà đạp, tước bỏ. Không cam chịu làm nô lệ, các phong trào đấu tranh
yêu nước của nhân dân Việt Nam liên tiếp nổ ra: Từ phong trào Cần Vương, Văn
Thân đến cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế; từ phong trào Đông Du, Đông Kinh
Nghĩa Thục, Duy Tân đến phong trào chống thuế ở Trung Kỳ…, song cuối cùng đều
bị dìm trong bể máu.
Cũng
trong những năm tháng đó, không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được
sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với
thời đại qua những sách Tân thư, Tân văn bằng tiếng Hán; được nghe các thầy
giảng giải về nền dân chủ và văn minh phương Tây mà khi theo học lớp dự bị
(préparatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh trước đó, lần
đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng,
Bác ái" nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789. Truyền thống của quê
hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt của thời cuộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ
đến Nguyễn Tất Thành. Vì vậy mà, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc
tiền nhân theo tư tưởng phong kiến hoặc dân chủ tư sản, nhưng khác họ, qua
những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập,
sinh sống ở Huế và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại
mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới - Đó chính là
làm cách mạng và nó khác hẳn những con đường đấu tranh yêu nước đã từng diễn
ra.
Vì
thế mà, Nguyễn Tất Thành đã quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy
vào những người “anh lớn” Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh
Pháp, muốn xem những gì ẩn giấu đằng sau những mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”
của cách mạng Pháp. Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình
đang có, dân tộc mình đang có, để không chỉ làm giàu tri thức cho mình mà chính
là hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc mình. Từ xuất phát điểm này, từ sự
vượt lên chính mình này đã quyết định sự lựa chọn, con đường đi sau đó của
Người - đó là rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một chặng đường dài
xa Tổ quốc. Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết
và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con
đường đúng khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ (Amiran
Latusơ Tơrêvin), rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo
đi”. Có thể nói, đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.
Sống,
học tập và hoạt động không mệt mỏi, thực sự hòa mình vào dòng chảy của các sự
kiện trên thế giới và đi đến lựa chọn đúng, đó là đến với chủ nghĩa Mác -
Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản khi bỏ phiếu
tán thành Quốc tế thứ III của Lênin/Quốc tế Cộng sản - trở thành người cộng sản
Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào tháng
12/1920 (tại Đại hội Tua) khi hiểu rõ rằng: Cách mạng Tháng Mười mở ra con
đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới
trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi thế giới. Vì thế, muốn cứu
nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô
sản và chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế
giới khỏi ách nô lệ…
Người luôn ham học hỏi, không sợ cường
quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với
một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng để gom góp và đanh
thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân - Bản án chế độ thực dân Pháp
năm 1925. Đồng thời, được chứng kiến những diễn biến lớn của thời đại,
Nguyễn Ái Quốc đã thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về
quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những
“khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với
bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của cách mạng 1791, để rồi đi tới khẳng định: Dù màu da có khác nhau,
trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc
lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản. Vì
thế, theo Người, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là
nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của tất cả các dân tộc bị áp
bức và nhân dân cần lao trên thế giới.
Người
đã đi từ dân tộc đến nhân loại, Người đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp
thu chủ nghĩa Mác - Lênin với thế giới quan khoa học và cách mạng, để phát hiện
và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển tất yếu của thời đại khi
khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các
dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Với ý
nghĩa đó, có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước,
cứu dân phù hợp yêu cầu của đất nước và quy luật của thời đại mà còn trang bị
cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho dân tộc
Việt Nam khi nhấn mạnh rằng, ở đó chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất
nước…Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc. Đây là quá trình khảo
nghiệm, thâu thái tinh hoa, tri thức các nền văn minh nhân loại theo cách
"tiếp biến và vượt gộp" của Hồ Chí Minh, để vừa sáng tạo, vừa độc lập
vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam khi quyết định trở về Quảng Châu,
Trung Quốc (11/11/1924) chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau
đó.
Trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác -
Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt
đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ,
bằng những việc làm cụ thể như mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925,
tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về Cách mạng Tháng Mười
Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927.v.v, Nguyễn Ái Quốc đã ngày
mỗi ngày góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, thúc đẩy sự chuyển
biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các
tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, Người đã tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất
các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại
Hương Cảng. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng, trong đó khẳng định: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa
Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập.
Dưới
sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng
đắn, với sức mạnh đoàn kết muôn người như một của các tầng lớp nhân dân yêu
nước, kiên cường, đồng lòng ủng hộ, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã giành
thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời
đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân
chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á; đồng thời, đưa những thân dân/người
dân nô lệ An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do. Tiếp đó,
kiên định con đường đã lựa chọn, nhân dân Việt Nam kiên trì tiến hành thắng lợi
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí
Minh và một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại của Đảng Cộng
sản Việt Nam, thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011), sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một đất nước Việt Nam
đổi mới từng ngày đã khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng các quốc
gia, đóng góp vào sự phát triển bền vững, phồn vinh của nhân loại; góp phần vào
cuộc đấu tranh chung của nhân loại, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài
người tiến lên trong một thế giới đầy biến động.
Sự
thật hành trình ra đi tìm đường cứu nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con
đường cứu nước để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa là như vậy. Từng chặng đường Người đã trải qua, những hoạt động của Người
từ năm 1890-1969 đều được cập nhật khá đầy đủ trong các bộ sách Hồ Chí Minh
toàn tập 15 tập, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 10 tập, trong các cuốn sách Hồ
Chí Minh tiểu sử chi tiết và tóm tắt; trong các công trình nghiên cứu khoa học
của các học giả ở trong và ngoài nước… Tuy nhiên, bất chấp các thông tin chính
xác đã có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không chỉ thường bịa đặt, bẻ
cong sự thật, xuyên tạc về động cơ sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người
mà còn hồ đồ suy diễn để bôi đen nội dung lá đơn xin học ở Trường Thuộc địa của
Người. Trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng học
thuyết Mác - Lênin vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một
nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam mà còn phát triển
học thuyết đó lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại - đó là
những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một
điển hình.
Vì
vậy, vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực
phản động, thù địch, thì vẫn có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là
một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà
còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng
đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đi theo con đường Người đã chọn,
đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân
loại; đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế,
về lực, về thời để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày
càng phát triển vững mạnh và phồn vinh, từng bước khẳng định vị thế của mình
trên trường quốc tế, sánh vai cùng bạn bè quốc tế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét