Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021
Ép 'thế chấp' ảnh khỏa thân khi vay nặng lãi
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo- người có ba công lớn
Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân
Hoàng Minh Thảo (1921-2008) được biết đến là một vị tướng giỏi trận mạc, uyên
thâm về lý luận quân sự, bậc thầy của nghệ thuật dụng binh. Trong cuộc đời binh
nghiệp, ông từng đúc kết: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra đời. Đánh bằng mưu kế, thắng
bằng thời thế”.
Đại
tá khi mới 27 tuổi
Thượng
tướng Hoàng Minh Thảo (tên khai sinh là Tạ Thái An), sinh ngày 25-10-1921. Cha
ông là Tạ Quang Khai, mẹ là Nguyễn Thị Tành làm nghề thợ may tại xã Bảo Khê,
huyện Kim Động (nay xã Bảo Khê thuộc TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên). Cha ông do
tham gia phong trào yêu nước nên bị thực dân Pháp lùng bắt, vì vậy gia đình ông
đã rời bỏ quê hương lên sinh sống tại huyện Tràng Định (Lạng Sơn).
Năm
1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn
và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lấy bí
danh hoạt động là Tạ Quang. Năm 1941, Tạ Quang tham gia Việt Minh, rồi được cử
đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Khi ấy, Tạ Quang đã vinh dự được Bác Hồ
đặt cho tên mới là Hoàng Minh Thảo - cái tên như một tiên đoán về cuộc đời và
sứ mệnh của vị tướng tài ba xuất chúng trong quân đội này. Theo đó, họ Hoàng là
lấy tên của trường Hoàng Phố, đệm và tên là Minh Thảo, dành cho con người thông
minh, có tấm lòng tình nghĩa, thảo thơm.
Tháng
10-1945, khi mới 24 tuổi, Hoàng Minh Thảo đã được giao làm Khu trưởng Chiến khu
3, thay tướng Nguyễn Bình vào Nam làm Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1948, Hoàng Minh Thảo
là đại tá trẻ nhất toàn quân được phong cấp hàm khi mới 27 tuổi. Từ Tư lệnh
Chiến khu 3, Hoàng Minh Thảo được cử vào Chiến khu 4 thay tướng Nguyễn Sơn. Năm
1950, Đại tá Hoàng Minh Thảo được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304 - đơn vị
bộ đội chủ lực chiến đấu vừa được thành lập. Cuộc đời binh nghiệp của Thượng
tướng Hoàng Minh Thảo là một bản anh hùng ca gắn liền với những chiến công vang
dội. Năm 1975, ông là Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đã giáng đòn điểm huyệt vào
quân lực Việt Nam cộng hòa, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân
1975, tiếp nối là Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống
nhất đất nước (30-4-1975).
Bậc
thầy nghệ thuật dụng binh
Trong
một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúc đó là Trung tướng) ra Hà
Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây
Nguyên thì đánh ở đâu trước?”. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “Đánh Tây
Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất,
là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ
động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên; đánh
xuống đồng bằng ven biển; đánh vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam
ra làm đôi”.
Ý
kiến của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được Đại tướng Võ Nguyên Giáp hết sức ủng
hộ. Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng một loạt hoạt động cài thế bao vây, chia
cắt, cô lập Buôn Ma Thuột. Quân giải phóng tăng cường hoạt động nghi binh thu
hút sự chú ý của quân lực Việt Nam cộng hòa về phía bắc (Kon Tum), đánh trận
“giả” ở Pleiku, phía Việt Nam cộng hòa mắc mưu, đưa Trung đoàn 45, đơn vị mạnh
của Sư đoàn 23 bộ binh từ Buôn Ma Thuột lên Pleiku, để sơ hở hướng Nam Tây
Nguyên và Buôn Ma Thuột. Màn nghi binh kinh điển ở Pleiku chính là yếu tố then
chốt giúp Quân giải phóng giành thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, làm bàn đạp để giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sau
này nhận định: “Ta ghìm địch ở Bắc Tây Nguyên để phá vỡ địch ở đầu yếu là Nam
Tây Nguyên. Đó là một thành công trong nghệ thuật dùng mưu”.
Thắng
lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã để lại nhiều dấu ấn về nghệ thuật quân sự, đặc
biệt là nghệ thuật nghi binh lừa địch. Đây là một kinh nghiệm lịch sử vô cùng
quý giá cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong thời kỳ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Thượng tướng
Hoàng Minh Thảo là linh hồn với tài nghệ thuật dụng binh. Nguyên lý của ông là:
“Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”.
Những
năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Hoàng Minh Thảo là vị tướng trẻ, được “cắm chốt
nằm vùng” suốt 10 năm ở núi rừng Tây Nguyên. Ông là một vị tướng chiến lược văn
võ song toàn. Ông hiểu rõ kẻ địch, có nhiều mưu cao, kế sâu, chủ động dùng
chiến thuật nghi binh lừa địch khiến chúng kinh hồn bạt vía, hoang mang hoảng
loạn, vội vàng tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Mỗi khi nhắc đến chiến thắng Điện
Biên Phủ người ta thường nhắc đến tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Còn chiến
thắng Tây Nguyên vang dội không thể không nhắc đến danh tướng Hoàng Minh Thảo -
một nhà cầm quân tài năng, nhà khoa học quân sự đầu ngành của quân đội ta. Tài
năng và đức độ của ông được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam.
Cố
Trung tướng Phạm Hồng Cư (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt
Nam) từng nêu rõ: Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là người ba công lớn. Thứ nhất,
ông là một vị tướng giỏi về trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, được Đại
tướng Võ Nguyên Giáp rất tin tưởng và quý trọng. Thời kỳ Cách mạng Tháng Tám
năm 1945, ông Thảo đã thay ông Nguyễn Bình làm Tư lệnh Chiến khu Ba, giải phóng
được Móng Cái, Hà Khẩu, tổ chức chống Pháp ở Hải Phòng. Ông tổ chức huấn luyện
du kích rất giỏi, sau ông được điều động về làm Tư lệnh Quân khu 4. Thứ hai,
ông làm Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, là linh hồn trong Chiến dịch Tây Nguyên.
Thứ ba, ông là một trong những người đặt nền móng cho Học viện Quân sự Cao cấp
(nay là Học viện Quốc phòng)...
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được phong Giáo sư ngành Khoa học quân sự năm 1986, Nhà giáo Nhân dân năm 1988. Ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự, là Ủy viên Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam.
ST
Xây dựng chiến lược tổng thể ứng phó Covid-19
Thu phí chữa Covid
Cảnh giác với những thông tin xuyên tạc bức tranh kinh tế- xã hội Việt Nam
Thực ra
thủ đoạn bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội Việt Nam của các thế lực thù địch
không có gì mới. Nhiều năm trở lại đây, mỗi khi đất nước ta đạt được những
thành tựu phát triển, họ lại càng hằn học, tìm mọi cách để chống phá. Thế nhưng
lần này, họ lợi dụng tình hình dịch bệnh phức tạp, đời sống của một bộ phận
nhân dân khó khăn do phải cách ly, giãn cách xã hội, không có việc làm để xuyên
tạc những nỗ lực trong phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội và phát
triển kinh tế của chúng ta thì đó là một tội ác lớn. Xét về phía cạnh pháp lý
là không đúng với luật pháp quốc tế. Xét về góc độ đạo lý lại càng sai.
Về chiến thuật, các thế lực thù địch,
phản động và các phần tử cơ hội chính trị vẫn triệt để lợi dụng internet, mạng
xã hội, các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ
vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám
đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”.
Thế nhưng gần đây, thủ đoạn của họ lại
nham hiểm hơn, tận dụng tối đa hệ thống báo chí, mạng xã hội ở nước ngoài, các
kênh Facebook, YouTube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”,
“giả như thật”. Mánh lới của họ là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý
tò mò của nhiều người. Chính vì vậy, mọi người phải hết sức cảnh giác trước các
thông tin xấu độc này.
Cùng với việc nhận diện rõ các thông
tin xấu, độc, xuyên tạc, các cơ quan chức năng của Nhà nước, cán bộ và nhân dân
cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; hoàn
thiện các quy định pháp lý về quản lý hoạt động trên không gian mạng, tạo căn
cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.
Trước mắt, cần công khai, minh bạch
các hoạt động kinh tế-xã hội của các ngành, các địa phương, nhất là hoạt động
phòng, chống dịch, các hoạt động hỗ trợ nhân dân, an sinh xã hội để các thế lực
thù địch không còn “cái cớ” để xuyên tạc, bôi đen sự thật.
Điều đáng phấn khởi là trong những
ngày gần đây, số người nhiễm dịch Covid-19 ở nước ta ngày càng giảm, nền kinh
tế từng bước được khôi phục, đời sống của nhân dân được cải thiện, tốt dần lên.
Quan điểm chỉ đạo điều hành đất nước
trong thời gian tới của Chính phủ đã được Thủ tướng khẳng định trước Quốc hội
tại phiên khai mạc Quốc hội tuần qua là: Đặt sức khỏe, tính mạng của người dân
lên trên hết, trước hết; từng bước thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu
quả dịch Covid-19. Phòng, chống dịch là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; tiêm
chủng, xét nghiệm, cách ly, điều trị là đặc biệt quan trọng; đề cao ý thức,
trách nhiệm, tính tự chủ của người dân, doanh nghiệp trong phòng, chống dịch.
Vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa phục
hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
sinh xã hội, khôi phục và ổn định thị trường lao động, nâng cao thu nhập, đời
sống cho người dân. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta và là
câu trả lời đanh thép trước các thế lực thù địch rằng: Không thể bôi đen bức
tranh kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Khát lao động
KẺ THÙ TRONG LÒNG TA MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT!
V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.
Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.
Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.
Để chủ động đấu tranh, xử lý triệt để, có hiệu quả loại giặc này, cần có sự đoàn kết, chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân:
1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì.
2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch.
4. Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gũi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi.
5. Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta.
XT st
Ý THỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19
Đại
dịch COVID-19 khởi phát từ cuối năm 2019 ở Vũ Hán, Trung Quốc và Tổ chức Y tế
thế giới (WHO) đã đặt tên bệnh này là COVID-19. Đến thời điểm hiện tại, đại
dịch đã ảnh hưởng nặng nề, sâu sắc trên phạm vi toàn cầu. Chỉ sau 2 năm bùng
phát dịch, toàn thế giới đã có 242 triệu ca nhiễm, và đã cướp đi sinh mệnh của
4.91 triệu người.
Đặc
biệt, loại virus gây bệnh này lại liên tục biến chủng. Theo ông Sharon Peacock,
giáo sư về sức khỏe cộng đồng và vi sinh tại Đại học Cambridge, Anh cho biết,
càng nhiều người nhiễm COVID-19 thì virus Sars-CoV-2 càng có nhiều cơ hội phát
triển và đột biến. Khi đột biến, nó lại tăng thêm khả năng tránh hệ miễn dịch
và gia tăng tốc độ lây nhiễm. Ngày 14/5/2021, Hội đồng khoa học cố vấn cho
Chính phủ Anh đã công bố mô hình dự đoán cho thấy, biến thể virus từ Ấn Độ có
mức độ lây nhiễm cao hơn đến 50% so với biến thể được phát hiện tại Anh, mà
biến thể ở Anh cũng đã có mức độ lây nhiễm cao hơn khoảng 60-70% so với virus
SARS - CoV- 2 phát hiện tại Vũ Hán, Trung Quốc hồi đầu năm 2020. Biến chủng
Delta từ Ấn Độ vừa qua có tốc độ lây nhiễm cao hơn và nguy hiểm hơn rất nhiều
so với các dòng trước đây. Mới đây, đã phát hiện biến chủng Lambda tại Peru và
Nam Mỹ.
Khi đại
dịch xảy ra, đã có những nhận thức và quan điểm rất khác nhau về xử lý dịch
bệnh. Trung Quốc, quốc gia đầu tiên có những ca khởi phát đã che dấu, không
công bố dịch bệnh; Mỹ và châu Âu không đánh giá đúng mức độ nguy hiểm của Virut
Sars - CoV- 2, coi đó chỉ như bệnh cúm mùa, không cần giữ khoảng cách, kỳ thị
với việc đeo khẩu trang, cho rằng, cứ để cho mọi người tự miễn nhiễm; Ấn Độ và
các nước châu Phi đã chủ quan, tổ chức các sự kiện đông người như lễ hội, các
cuộc vận động chính trị... Hậu quả là sau đó nhiều nước đã và đang phải đối mặt
với tình trạng cực kỳ khó khăn trước sự gia tăng của các ca nhiễm bệnh và số
người chết hàng ngày. Châu Á hiện là khu vực gia tăng nhiều ca nhiễm.
Qua
tình hình dịch bệnh ở một số quốc gia và ngay tại Việt Nam, có thể thấy rõ rằng
virus lây lan hay được kiểm soát đều liên quan đến ý thức và hành vi của con
người. Ở những nơi đông đúc nhưng người dân hiểu biết về dịch bệnh, có ý thức
phòng bệnh tốt hơn thì sẽ giảm thiểu được những nguy cơ lây nhiễm. Ở Trung
Quốc, các thành phố có mật độ dân số rất cao như Bắc Kinh, Thượng Hải, do thực
hiện nghiêm ngặt các quy định phòng dịch, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn nhiều so với
các tỉnh Hồ Bắc, Đại Liên, những nơi có mật độ dân cư thấp hơn. Ở các nước châu
Âu, khi chính quyền áp dụng lệnh phong tỏa, người dân tự giác đeo khẩu trang và
tiêm chủng thì tỷ lệ nhiễm bệnh giảm đáng kể. Song, khi bắt đầu nới lỏng cách
ly, mọi người đi lại nhiều hơn thì lập tức số ca nhiễm lại gia tăng trở lại như
ở Nga, Pháp.
Ở Việt
Nam, khi dịch bùng phát, cả hệ thống chính trị và toàn dân cùng quyết tâm đẩy
lùi dịch bệnh với tinh thần “chống dịch như chống giặc”. Bộ Y tế liên tục phát
đi khuyến cáo nhắc nhở người dân tự bảo vệ mình và cộng đồng. Trong tình hình
đó, cùng với sự nỗ lực của Chính phủ, của đội ngũ y bác sĩ, và những nguồn lực
vật chất, chúng ta rất cần phải dùng đến sức mạnh của ý thức để cùng đẩy lui
dịch bệnh này.
Như
vậy, ý thức được đề cập ở đây là sự nhận thức và hành động của cá nhân và cộng
đồng để ứng phó trước đại dịch, được xem xét dưới góc độ ý thức xã hội, theo
quan điểm duy vật biện chứng.
Ý thức
xã hội hay ý thức cá nhân đều nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh cơ sở đã
sinh ra nó. Mặt khác, ý thức xã hội cũng có tác động mạnh mẽ trở lại tồn tại xã
hội. Nếu ý thức là đúng đắn, nó có tác dụng tích cực, thúc đẩy xã hội tiến lên.
Ngược lại nếu ý thức đó là sai lầm, thì nó sẽ cản trở, kìm hãm, thậm chí phá
hoại những thành quả mà cả cộng đồng đã nỗ lực xây dựng. Trong những trường hợp
nhất định, ý thức có sức mạnh đặc biệt, là yếu tố quyết định tạo nên những kỳ
tích trước những khó khăn cả về điều kiện vật chất và những giới hạn về sức lực
của con người. Qua đó cho thấy, việc phát huy vai trò của ý thức trong bảo vệ cộng
đồng và phòng chống dịch là việc làm cần thiết. Thực chất của việc phát huy vai
trò của ý thức là tìm ra, khơi dậy, nâng cao ý thức tiến bộ, tích cực trong đời
sống xã hội, tạo ra sức mạnh tinh thần cho công cuộc phòng chống dịch hiện nay
ở nước ta.
Để ý
thức xã hội có tác dụng tích cực với đời sống thì phải đảm bảo rằng ý thức đó
là đúng đắn, nghĩa là phản ánh đúng bản chất, quy luật của hiện tượng khách
quan; ý thức ấy phải được phổ biến, thâm nhập vào đông đảo quần chúng nhân dân;
ý thức đó phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc trong đời sống; tính tích cực,
tự giác của chủ thể ý thức (các cá nhân, cộng đồng xã hội và lực lượng đóng vai
trò là trung tâm của thời kỳ lịch sử ấy) cũng quyết định mức độ tác dụng của ý
thức đến tồn tại xã hội.
Như
vậy, khi nhấn mạnh vai trò của ý thức xã hội trong việc phòng chống dịch
COVID-19, trước hết chúng ta phải xây dựng nhận thức đúng, phải phát huy tính
tích cực, sáng tạo, của ý thức, khai thác những xung lực tích cực từ tính độc
lập tương đối của ý thức xã hội, vận dụng đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa
ý thức xã hội và ý thức cá nhân. Trên cơ sở đó, tìm con đường, biện pháp phát
triển ý thức cá nhân để nâng cao ý thức xã hội, và thông qua ý thức xã hội được
phát triển để điều chỉnh ý thức cá nhân, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao nhất
để đẩy lùi dịch bệnh. Ngoài ra, khi xem xét ý thức của con người chúng ta nên
nhìn nhận ở cả bình diện nhận thức và ứng xử, bởi “chính vì con người quan hệ
với khách thể bằng sự hiểu biết, bằng tri thức, cho nên phương thức quan hệ của
con người đối với thế giới cũng được gọi là ý thức”(1). Lan tỏa những hành động
đúng đắn, cao đẹp, đấu tranh phê phán, loại trừ những hành vi vô ý thức, đi
ngược lại những nỗ lực của cộng đồng cũng là việc làm cần thiết.
Nhìn
lại chặng đường chống dịch vừa qua, có thể thấy rõ những tác động của dịch bệnh
lên ý thức con người, đồng thời cũng thấy rõ những ảnh hưởng của ý thức xã hội,
ý thức cá nhân tới cuộc chiến chống dịch COVID-19 của Việt Nam.
Đại
dịch đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và ý thức phòng chống dịch bệnh dần trở
thành ý thức phổ biến trong toàn xã hội. Người dân thích ứng dần với cuộc sống
thời dịch: đeo khẩu trang khi ra đường, tiết chế chi tiêu phòng lúc khó khăn,
phòng bị trước cho việc phải đi cách ly hoặc phong tỏa. Mọi hoạt động của con
người, từ cách đi lại, làm việc, học tập, giao tiếp, ăn uống cho đến các tập
quán, truyền thống, thói quen... đều phải thay đổi để phù hợp với với việc
“chống dịch như chống giặc” và trạng thái bình thường mới.
Khi
dịch bùng phát mạnh, đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng đã làm việc với cường độ lao
động căng thẳng với nỗ lực tột cùng cả về trí tuệ và sức lực để giành giật sự
sống cho các bệnh nhân. Nhiều cán bộ chiến sĩ, các tình nguyện viên không quản
ngại gian khổ, nguy hiểm tích cực khoanh vùng, truy vết, lập chốt bảo vệ, bố
trí cho người đi cách ly và làm công tác tiếp tế, cứu trợ. Chính ý thức được
nêu cao đó đã góp phần giúp chúng ta kìm chế được sự phát triển của dịch bệnh ở
nhiều tỉnh thành: Hà Nội, Hải Dương, Nha Trang, Đà Nẵng, Bắc Giang, Bắc Ninh...
Song,
bên cạnh đó vẫn còn những bộ phận, cá nhân ý thức kém gây thêm khó khăn cho
công tác chống dịch: Đó là việc thiếu trung thực trong khai báo y tế; không
thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng dịch, chống đối người thi hành công
vụ; trốn cách ly; không thực hiện nghiêm các yêu cầu dãn cách hoặc phong tỏa;
đưa thông tin không đúng về tình hình dịch bệnh gây hoang mang trong dư luận và
gây sức ép với các lực lượng phòng chống dịch; kích động mâu thuẫn trong cộng
đồng, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước… Một số cơ sở y tế lúc đầu còn từ
chối tiếp nhận người bệnh đi về từ vùng dịch hoặc có dấu hiệu nghi nhiễm, để
người dân phải di chuyển nhiều, tiếp xúc nhiều, nguy có lây lan lớn hơn. Cùng
với đó làsự chủ quan, lơ là, thiếu trách nhiệm trong phòng chống dịch từ cấp cơ
sở ở một số địa phương cũng đã xảy ra. Nếu như lực lượng cơ sở “đi từng ngõ, gõ
từng nhà, rà từng người”, quản lý, giám sát được những người từng đi đến vùng
có dịch hoặc kết thúc cách ly tập trung về địa phương thì sẽ không bỏ lọt các
ca gây lây nhiễm. Ngoài ra, cũng phải nói đến sự thiếu chủ động, thiếu cương
quyết chưa linh hoạt trong công tác quản lý ở một số địa phương. Trong quá
trình duy trì trật tự xã hội thời dịch, có cán bộ còn cứng nhắc, yếu kém khi xử
lý tình huống gây bức xúc trong dư luận...
Tóm
lại, thực tế đã cho thấy ý thức tốt hay kém đều tác động trực tiếp đến thành
quả phòng chống dịch của toàn xã hội. Để tháo gỡ những cản trở về tư tưởng, ý
thức, chúng ta cần lưu ý những chỉ dẫn quan trọng của nghĩa duy vật biện chứng:
“Chừng nào hoạt động của con người là có mục đích, tức là hoạt động sống tích
cực của nó được dẫn dắt bởi những quan niệm và hiểu biết về những đặc tính hiện
thực của các khách thể, thì chừng đó con người thoát khỏi và đối lập với hiện
thực khách quan”(2). Khi virus Sars - CoV- 2 còn là cái tất yếu thách thức loài
người thì chỉ khi con người nhận thức đúng và chế ngự được nó thì con người mới
được tự do. Và, khi chúng ta còn đang cần thời gian để làm được điều đó thì cần
phải biết sống an toàn cùng nó. Ph. Ăngghen cũng từng nhấn mạnh: “Nếu như lợi
ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức, thì do đó, cần ra sức làm cho
lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài
người”(3)[3]. Theo đó, thì rất cần thiết việc kiên quyết thống nhất ý chí, chấp
hành theo những nguyên tắc chung của cộng đồng, những tất yếu trong xã hội, để
có tự do và an toàn cho tất cả mọi người. Ngoài ra, còn phải kết hợp các biện
pháp để đảm bảo cuộc sống, để động viên, khích lệ, đoàn kết, hỗ trợ để ý thức
của con người được nâng cao và có nhiều sáng tạo mới.
CẢNH GIÁC TRƯỚC VIRUS “TIN GIẢ”
Bên cạnh virus SAR-COV-2 có một loại virus khác không kém phần nguy hiểm đó là tin giả, truyền thông đen hay những thông tin bị bóp méo trên các diễn đàn, mạng xã hội của các tổ chức phản động, cơ hội chính trị có tư tưởng cực đoan được đăng tải phát tán liên tục. Mục đích không nằm ngoài ý đồ hướng lái dư luận gây hoang mang mất niềm tin của nhân dân vào chính sách đối phó với dịch bệnh của Chính phủ và nhân dân Việt Nam.
Những ngày vừa qua
Việt Nam đã có dấu hiệu tích cực khi số người nhiễm Covid-19 được điều trị khỏi
liên tục tăng, số ca nhiễm và tử vong do Covid-19 ở TP. Hồ Chí Minh và các địa
phương trên cả nước có chiều hướng giảm. Bên cạnh hàng loạt những biện pháp
nhằm đẩy lùi dịch bệnh theo Chỉ thị số 16. Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt đẩy
nhanh chiến dịch tiêm vắc xin cho người dân cả nước, trong đó ưu tiên những
tỉnh, thành phố có dịch bùng phát mạnh; cả hệ thống chính trị vào cuộc, toàn
dân tộc Việt Nam đồng lòng trên tinh thần “chống dịch như
chống giặc” với mong mỏi sớm trở lại trạng thái bình thường. Những nỗ
lực và thành quả trong đối phó với Covid-19 của Việt Nam là thực tế hoàn toàn
khách quan, được dư luận quốc tế đánh giá cao.
Những thông tin liên
quan đến dịch bệnh Covid-19 trong đợt bùng phát từ cuối tháng 4/2021 đến nay
luôn được cập nhật công khai, liên tục trên các phương tiên truyền thông chính
thống của Việt Nam, chủ trương phòng, chống dịch bệnh của Chính phủ trước sự
biến thể mới Covid-19 với tốc độ lây lan nhanh luôn thu hút được sự quan tâm đặc
biệt của quần chúng nhân dân cũng như cộng đồng quốc tế. Vậy mà trên không gian
mạng có những luận điệu mang tính kích động, hướng lái dư luận về các quyết
sách của Đảng, Chính phủ trong phòng, chống Covid-19 xuất hiện dày đặc trên
diễn đàn của nhiều tổ chức truyền thông phản động, tổ chức khủng bố như VOA,
AFI, Việt Tân, Việt Nam thời báo, Tiếng dân hay của số đối tượng phản động lưu
vong như: Nguyễn Văn Đài, Điếu cày Nguyễn Văn Hải, Chương Quốc Huy, Thanh Thiếu
Bùi,… chúng không từ mọi thủ đoạn, thậm chí một vụ việc rất nhỏ chưa rõ thực hư
được đăng tải trên mạng xã hội chúng cũng có thể cắt ghép, suy diễn theo hướng
không thể tiêu cực hơn.
Không
chỉ bôi nhọ sự nỗ lực của Chính phủ trong việc bảo vệ sức khỏe, sự an toàn cho
người dân trước dịch bệnh, mà sự việc được chúng bóp méo, quy chụp cho bản chất
của chế độ, nhằm công kích sự lãnh đạo của Đảng. Cách đây hơn khoảng hai tháng
giảng viên T.T.T Trường Đại học Duy Tân, Đà nẵng khi giảng dạy trao đổi trực
tuyến với sinh viên đã có những phát ngôn hàm hồ, thể hiện nhận thức lệch lạc,
thiển cận khiến cả cộng đồng mạng và dư luận bức xúc, bà này cho rằng hệ thống
an sinh xã hội tại Việt Nam kém và so sánh khập khiễng giữa Việt Nam và các
nước tư bản phương Tây. Với trình độ nhận thức thấp kém, lệch lạc trên, ngày
09/8/2021 giảng viên này đã bị Trường Đại học Duy Tân sa thải vì không đủ tư
cách để đứng trên bục giảng. Sự việc ngay lập tức thu hút sự chú ý của các thế
lực phản động, nhiều tài khoản xã hội của các đối tượng này xuất hiện những
dòng trạng thái lố bịch, coi giảng viên này như một người hùng dám nói lên
tiếng nói của mình. Giảng viên này nhục nhã về nơi đã sinh ra mình, bao bọc,
nuôi dưỡng mình trưởng thành; người vô trách nhiệm thờ ơ trước những khó khăn
của đất nước mình mới nói một cách vô cảm như vậy, ngay cả với những nơi được
coi là dân chủ điều đó cũng không thể chấp nhận được; còn những kẻ té nước theo
mưa lưu vong, ăn bám để chống phá đất nước, phản bội lại dân tộc mình đó mới
thực sự là nhục nhã, hổ thẹn.
Tại Thành phố Hồ Chí
Minh và một số tỉnh phía Nam, Chiến dịch triển khai tiêm Vắc xin nhanh chóng
của Chính phủ để hạn chế sự lây lan dịch bệnh trở thành chủ đề nóng mà các đối
tượng tập trung công kích. Với ý đồ gieo rắc tư tưởng bài Trung Quốc, các loại
vắc xin Sinopharm và Sinovac do Trung Quốc sản xuất khi đưa
vào Việt Nam, chúng xuyên tạc về khả năng phòng ngừa, phớt lờ thực tế những
loại vắc xin này đã được tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa vào danh mục phòng
chống Covid-19 toàn cầu và hơn 50 quốc gia trên thế giới sử dụng để phòng,
chống dịch bệnh. Những thông tin trên làm cho tư tưởng của nhân dân hoang mang,
dao động, tác động vào tâm lý của một bộ phận người dân vốn đang bất an về dịch
bệnh, còn với sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ,
sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tận tâm của các y, bác sỹ, lực
lượng Công an, Quân đội thì chúng cố tình lờ đi, cho dù sự thật đó có trên tất
cả các kênh truyền thông chính thống, không chỉ của Việt Nam mà cả quốc tế.
Việc lợi dụng tự do
tôn giáo là chiêu bài được các đối tượng sử dụng để chống phá nhà nước nhằm vu
cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo đã được quy định trong Hiến pháp. Khi
chính quyền địa phương thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 15, 16 của Chính
phủ, các Giáo hội kêu gọi chức sắc, tín đồ thực hiện nghiêm túc quy định phòng
chống dịch của Chính phủ thì một số linh mục vẫn nhiều lần tập trung giáo dân
để hành lễ, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh (Linh mục Nguyễn Đình Thục,
Chánh xứ Lộc Mỹ, Giáo phận Vinh, Nghệ An; Linh mục Bùi Khiêm Cường, quản xứ Kẻ
Đọng, Giáo phận Hà Tĩnh..), do đó đã bị các cơ
quan chức năng xử lý theo quy định; viện cớ này các tổ chức phản động, số đối
tượng cực đoan lại được dịp nói xấu chính quyền Việt Nam hạn chế quyền tự do
tôn giáo, còn lý do gì khác khi họ coi thường tính mạng của hàng trăm giáo dân
ngoài động cơ chính trị, lợi ích cá nhân, họ chính là những người có câu trả
lời đầy đủ.
Chúng ta biết rằng
cuối tháng 4/2021 vừa qua, ổ dịch Hội thánh Tin lành truyền giáo Phục Hưng tại
Thành phố Hồ Chí Minh do không chấp hành các quy định về phòng chống dịch đã
dẫn tới hậu quả đến nay vẫn chưa thể giải quyết; hơn nữa với tôn chỉ là tình
yêu thương, bác ái phụng sự thiên chúa, kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát
tại Việt Nam Giáo hội và Hội đồng Giám mục các Giáo phận đưa ra lời kêu gọi
cộng đoàn chức sắc, các giáo dân tuân thủ quy định của Chính phủ; gần đây nhất
ngày 02/6/2021 Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam lại có thư kêu gọi cộng đồng
dân chúa Việt Nam với tinh thần liên đới và tương thân để phòng chống đại dịch Covid-19.
Trong bối cảnh trên việc làm của các linh mục trên không chỉ lạc lõng trong
Giáo hội Công giáo mà còn lạc lõng giữa khí thế của một dân tộc đang quyết tâm
chiến thắng đại dịch./.
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TƯƠNG LAI CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI.
Bàn về tương lai của xã hội loài người, nhiều học giả đã luận giải theo những chiều cạnh khác nhau, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố chế độ xã hội mà con người hướng tới, xã hội loài người trong tương lai sẽ phát triển theo hướng nào, Chủ nghĩa xã hội, hay Chủ nghĩa tư bản.
Chế độ xã hội tương lai phải vì con người, vì
sự tồn tại và phát triển của thế giới theo hướng tích cực. Như Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đã nêu rõ: "Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự
phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và
chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi
với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo
và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ
lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh
bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân
và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên
để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ
không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và
hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực
sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không
phải chỉ cho một thiểu số giàu có". Những điều đó chỉ có thể có trong Chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa tư bản ngày nay cũng đã có những thành tự nhất định. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều
kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ
phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Tuy nhiên, Chủ nghĩa tư bản vẫn không
thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng
vẫn tiếp tục diễn ra. Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng
nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động
của đại dịch COVID-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy
thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản
chủ nghĩa. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và
tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Như vậy, Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai
của xã hội loài người.
Chủ nghĩa xã hội sau khi Liên Xô và các nước
Đông Âu sụp đổ lâm vào thoái trào, song có những biến đổi, đột phá trong giai
đoạn hiện nay. Các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn lại đã tiến hành đổi mới,
kiên trì con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội với những chủ trương, chính sách
rộng mở, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
công nghệ. Đời sống của nhân dân ở các nước XHCN không ngừng được nâng lên,
niềm tin vào chế độ được giữ vững, củng cố vững chắc. Đảng Cộng sản ở mỗi nước
luôn được xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao phẩm chất, trình độ năng lực đáp ứng
với yêu cầu, nhiệm vụ. Các nước XHCN cũng tích cực tham gia giải quyết có hiệu
quả các vấn đề mang tính toàn cầu, thể hiện được bản chất ưu việt của chế độ
XHCN trong xây dựng, bảo vệ con người, môi trường sống lành mạnh.
Như vậy, tương lai của xã hội loài người không
phải là Chủ nghĩa tư bản hay xã hội nào khác mà chính là Chủ nghĩa xã hội với
bản chất tốt đẹp: tất cả vì con người, vì sự phát triển hài hòa giữa con người
và môi trường sống. Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu thế
khách quan của lịch sử.
KHÔNG CÓ TỔ CHỨC NÀO CÓ THỂ THAY THẾ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Tình hình dịch bệnh Covid-19 với biến chủng Delta vô cùng nguy hiểm đã cơ bản được kiểm soát trên cả nước. Có được kết quả đó chính là sự đồng lòng đoàn kết của nhân dân cả nước xung quanh sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó càng chứng minh một chân lý: Không có tổ chức nào có thể thay thế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn chân chính của người dân Việt Nam. Đảng Cộng
sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng chỉ có một mục
đích: xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng,
văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công CNXH và cuối
cùng là chủ nghĩa cộng sản. Chỉ có Đảng mới có nền tảng tư tưởng tiến bộ, phù hợp
với văn hóa, truyền thống Việt Nam. Chỉ có Đảng mới tuyên truyền, giác ngộ, tập
hợp, phát huy cao nhất lòng yêu nước, trí tuệ, đoàn kết của nhân dân ta trong sự
nghiệp cách mạng. Chỉ có những đảng viên kiên trung mới chịu đựng được mọi gian
lao, thử thách, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân
dân, vì sự tiến bộ của loài người, trở thành tấm gương sáng cho nhân dân noi
theo. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đều vì dân, đại diện và hiện
thực hóa ý chí, nguyện vọng, khát vọng của nhân dân, làm cho “dân giàu”, dân “thụ
hưởng” nhiều hơn thành quả của sự nghiệp đổi mới, với quan điểm xuyên suốt: “phải
gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội,
tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa
là: Đảng không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã
hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế
của Đảng đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội
phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp
pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có
công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc
để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong thời kỳ mới, tình hình cách mạng của nước ta có
nhiều thuận lợi nhưng cũng rất nhiều khó khăn va thách thức. Đảm bảo cho sự
phát triển đi lên bền vững của đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản cần
được phát huy hơn nữa. Toàn thể người dân Việt Nam ta hãy đoàn kết nhất trí, một
lòng theo Đảng, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, xây dựng đất nước ngày càng phồn
vinh, thịnh vượng.
VẠCH TRẦN TIN GIẢ “CHÍNH QUYỀN MỞ THẢ CỬA CHO BAY THOẢI MÁI”
Mới đây, tài khoản FB mang tên “Hoàng Dũng” đã đăng tải bài viết cho rằng “Việt Nam cần khoảng 2 đến 4 tuần nữa để xuất hiện một làn sóng dịch mới. Lần này nó sẽ không chỉ dừng lại ở 4 tỉnh TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Long An vì chính quyền mở bung hết cửa cho bay thoải mái”. Ngay sau đó, đã có rất nhiều người bày tỏ sự hoang mang ngay bên dưới bài đăng này của Hoàng Dũng.
Trước hết, cần khẳng định thông tin “chính quyền mở
bung hết cửa cho bay thoải mái” là giả. Trên thực tế, không hề có chuyện chính
quyền thả cửa như Hoàng Dũng rêu rao. Theo Nghị quyết 128 của Chính phủ đã trao
quyền kiểm soát, phòng chống dịch cho các địa phương. Trong đó cũng đề cập các
hành động cụ thể để kiểm soát dịch như phân vùng bảng màu, có các cấp độ để
linh hoạt các giải pháp ứng phó. Việc người dân đi lại giữa các tỉnh vẫn phải
tuân thủ một số yêu cầu bắt buộc như tiêm vaccine, giấy xét nghiệm âm tính. Một
số địa phương khi có người dân trở về từ vùng dịch còn yêu cầu thực hiện các
biện pháp cách ly y tế tại nhà từ 7-14 ngày tùy nơi. Thế nên, đừng nghĩ chính
quyền TP.HCM hay một số tỉnh phía Nam tháo gỡ phong tỏa, không còn chốt chặn,
không còn barie, không còn quân đội, công an túc trực,… thì xem như cả nước “thả
cửa cho bay thoải mái”.
Hiện nay, dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp với
sự nguy hiểm của biến chủng Delta. Thủ tướng liên tục cảnh báo với các Bộ, ban,
ngành rằng: Chúng ta đã kiểm soát được tình hình dịch bệnh và từng bước chuyển
sang trạng thái mới, song đợt dịch thứ tư đã gây hậu quả nghiêm trọng về kinh
tế-xã hội, sức khỏe và đời sống của nhân dân. Do vậy, thời gian tới đây, phải
thực hiện phải rất toàn diện, hiệu quả và kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp,
biện pháp. Bên cạnh đó, người đứng đầu Chính phủ cũng nhắc nhở phòng chống dịch
theo công thức 5K + vaccine, thuốc điều trị + công nghệ + ý thức của nhân dân
và các biện pháp khác.
Nguy hiểm hơn, trong hoàn cảnh người dân đã được tiêm vaccine đang quay trở lại làm việc, lao động, sản xuất thì tin giả của Hoàng Dũng gây tác động tiêu cực đến tâm lý người dân, ổn định xã hội. Vì vậy, mong rằng các cơ quan chức năng sẽ sớm có biện pháp ngăn chặn việc đối tượng này và những đối tượng tương tự tung tin sai sự thật để đảm bảo quyền lợi tiếp nhận thông tin đúng của người dân.
VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” với các thủ đoạn tinh vi nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.
Giáo dục lý luận chính trị là một phần quan trọng trong công
tác tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ cách mạng. Đảng ta chỉ rõ: công tác
tư tưởng lý luận đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng làm cho
hệ tư tưởng của Đảng của giai cấp công nhân, lý tưởng XHCN, những giá trị tốt
đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm
vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến việc
học tập lý luận, Người khẳng định: “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ
phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng
túng như nhắm mắt mà đi”. Trong Đảng, “về tư tưởng,
nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin” và “giáo dục tư tưởng và
lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất, phải kiên quyết chống cái thói xem
nhẹ tư tưởng” nói chung và xem nhẹ việc
học tập lý luận nói riêng. Với những cán bộ, đảng viên ngại, lười học lý luận
chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đó là những người chỉ bo bo giữ lấy
kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự
thực hành cách mạng, trong khi đó thì “có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng
như một mắt sáng một mắt mờ”. Đó cũng chính là những
người không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu vai trò của lý luận chính trị đối
với thực tiễn và mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận chính trị và thực tiễn, nên
trong công tác, họ không có lý luận dẫn đường. Lối làm việc theo lối kinh
nghiệm, đầy cảm tính mà nguyên nhân là do kém lý luận, hoặc khinh lý luận,
hoặc lý luận suông đã khiến họ gặp phải không ít khó khăn và lúng túng khi
xử lý công việc, dẫn đến phạm không ít sai lầm, khuyết điểm. Vì thế, Người nhấn
mạnh, Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận...
Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí
khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương
hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng; đồng thời,
yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ lý
luận; thực hiện tốt nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn. Phải chống giáo
điều cũng như bệnh lười học, ngại học, hình thức trong học tập lý luận chính
trị và vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn.
Thực tiễn công tác giáo dục lý luận chính trị những năm qua
cho thấy, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị được đổi mới cả về
nội dung và phương pháp; tăng cường quản lý, kỷ luật trong giảng dạy, học tập;
chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên. Trong đó, nội dung chương trình
đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị liên tục được đổi mới, cập nhật,
có sự thống nhất hài hòa giữa lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục, bồi
dưỡng cũng được thay đổi theo hướng tích cực, hiện đại, ứng dụng những thành
tựu của khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, quản
lý, đánh giá thái độ, kết quả học tập, rèn luyện. Nhờ đó, chất lượng, hiệu quả của
công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị từng bước được cải
thiện, góp phần đáng kể khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính
trị, dạy và học hình thức./.
Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân không bao giờ tách rời với việc làm cho Nhà nước luôn trong sạch, vững mạnh. Điều này luôn luôn thường trực trong tâm trí và hành động của chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi nước nhà giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ cũng như lúc cách mạng chuyển giai đoạn, Hồ Chí Minh càng chú ý hơn bao giờ hết đến việc đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh của các cấp chính quyền, bởi vì thường những lúc đó cách mạng đứng trước những thứ thách rất gay gắt và những tiêu cực rất dễ trở thành nguy cơ làm biến chất Nhà nước.
Chỉ một tháng sau khi thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho ủy ban nhân dân các kỳ,
tỉnh, huyện và làng nêu rõ phải chống đặc quyền, đặc lợi: bộ máy nhà nước không
phải là bộ máy áp bức, bóc lột nhân dân, cán bộ, công chức không phải là những “ông
quan cách mạng”. Hồ Chí Minh chỉ ra sáu căn bệnh cần đề phòng: trái phép, cậy
thể, hú hỏa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người nhắc nhở: “Chúng ta không sợ
sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên ai không
phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi và gắng sức cho thêm tiến
bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự
sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung. Vì hạnh phúc của dân tộc vì lợi ích
của nước nhà, mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình,
chính trực” vào lòng”. Hồ Chí Minh đã dùng những cụm từ “công bộc”, “đầy tớ” để
chỉ ra một mặt trách nhiệm của người cán bộ công chức trong xây dựng một Nhà
nước mới - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong quá trình lãnh đạo xây
dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hồ Chí Minh thường chỉ rõ những tiêu
cực và nhắc nhở mọi người đề phòng và khắc phục, cụ thể là:
Một là, Đặc quyền, đặc lợi
Xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh
đòi hỏi phải tẩy trừ những thói cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để
cửa quyền, hách dịch với dân, lạm quyền, đồng thời để vơ vét tiền của, lợi dụng
chức quyền để làm lợi cho cá nhân mình, làm như thế tức là sa vào chủ nghĩa cá
nhân.
Hai là, Tham ô, lãng phí, quan liêu.
Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí, quan
liêu là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ giặc nguy hiểm hơn giặc ngoại
xâm. Người phê bình những người “lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh
liêm, đạo đức”. Quan điểm của Hồ Chí Minh là: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan
liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến...Tội
lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”. Ngày 27- 1 1-1946. Hồ Chí
Minh đã ký sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ với mức từ 5 năm
đến 20 năm tù khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền hối lộ. Ngày 26-1-1946.
Hồ Chí Minh ký lệnh nói rõ tội tham ô, trộm cắp của công dân là tội tử hình.
Lãng phí là một căn bệnh mà Hồ Chí Minh
lên án gay gắt. Chính bản thân Người luôn làm gương, tích cực thực hành chống
lãng phí trong cuộc sống và công việc hàng ngày. Người biết quý từng đồng xu,
bát gạo do dân đóng góp cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Lãng phí ở đây được
Hồ Chí Minh xác định là lãng phí sức lao động, lãng phí thời giờ, lãng phí tiền
của. Chống lãng phí là biện pháp để tiết kiệm, một vấn đề quốc sách của mọi
quốc gia.
Liên quan đến bệnh tham ô, bệnh lãng
phí là bệnh quan liêu, một căn bệnh không những có ở cấp Trung ương, ở cấp
tỉnh, ở cấp huyện mà còn ngay ở cả cấp cơ sở. Hồ Chí Minh phê bình những người
và các cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế,
không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Đối với công việc
thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không đi sâu vào từng vấn
đề. Bệnh quan liêu làm cho chúng ta chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo
cáo trên giấy chứ không kiểm tra đèn nơi đến, chốn... thành thử có mắt mà không
thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ không giữ đúng, có kỷ luật mà
không nắm vững. Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ dung túng, che chở cho nạn tham
ô, lãng phí. Vì vậy, đây là bệnh gốc sinh ra các bệnh lãng phí; muốn trừ sạch
bệnh tham ô, lãng phí phải tẩy sạch bệnh quan liêu “Tư túng”, “chia rẽ”, “kiêu
ngạo”.
Những hành động trên gây mất đoàn kết,
gây rối cho công tác. Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè, kéo cảnh, tệ nạn
bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có
tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc nước là
việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai. Trong chính quyền, còn
hiện tượng gây mất đoàn kết, không biết cách làm cho mọi người hòa thuận với
nhau, còn có người “bênh vực lớp này, chống lại lớp khác”. Ngoài bệnh cậy thế,
có người còn kiêu ngạo, “tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh
rồi... Cử chỉ lúc nào cũng vác mặt quan cách mạng”, làm mất uy tín của Chính
phủ. Đây chính là bài học đắt giá, cảnh tỉnh đối với mỗi cán bộ, đảng viên,
nhất là người đứng đầu.
Xử lý nghiêm hành vi phát tán thông tin sai sự thật trên mạng xã hội
Theo phản ánh của cử tri, thời gian gần đây, lợi dụng những diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, nhiều cá nhân đã đưa ra những thông tin sai sự thật, giật gân, câu “like” trên các trang mạng xã hội, tạo tâm lý hoang mang và gây nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch. Cử tri kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan thực thi pháp luật tăng cường rà soát, xử lý nghiêm túc, cương quyết đối với những cá nhân cố tình phát tán thông tin sai sự thật trên mạng xã hội. Về vấn đề cử tri nêu, Bộ TT&TT cho biết, thời gian qua, Bộ TT&TT đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường công tác hậu kiểm, xử lý các hành vi vi phạm, đặc biệt là xử lý các đối tượng có hành vi sai phạm, phát ngôn thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội.
Trong
trường hợp xác định được nhân thân của đối tượng cung cấp thông tin vi phạm các
quy định hiện hành thì tùy theo mức độ, Bộ TT&TT sẽ xử phạt vi phạm hành
chính và biện pháp kỹ thuật, áp dụng theo quy định tại Nghị định số 15/2020/NĐ-CP;
Trường hợp vi phạm mức độ nhẹ thì nhắc nhở, rút kinh nghiệm, trường hợp vi phạm
ở mức độ nặng có thể xem xét xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi giấy phép, thu
hồi tên miền. Đối với trường hợp có dấu hiệu vi phạm hình sự thì chuyển hồ sơ
cơ quan công an điều tra, xem xét, xử lý theo quy định.
Cũng
theo Bộ TT&TT, từ tháng 1/2021 đến nay, Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam
(trực thuộc Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Bộ TT&TT) đã
xác thực thông tin và công bố 33 tin giả, tin sai sự thật. Trong trường hợp
không xác định được nhân thân của tổ chức, cá nhân vi phạm thì Bộ TT&TT gửi
yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ như Google, Youtube, Facebook thực
hiện các biện pháp ngăn chặn, gỡ bỏ theo quy định tại Thông tư số 38. Chỉ
tính riêng trong thời gian có dịch COVID-19, Bộ TT&TT đã đề nghị Google,
Youtube, Facebook gỡ 11 tài khoản giả mạo Bộ Y tế, 152 bài viết đưa tin xuyên
tạc về tình hình dịch bệnh COVID-19 (Tỷ lệ gỡ chặn đạt 100%). Thanh tra
Bộ TT&TT cũng đã xử lý vi phạm việc cung cấp thông tin sai sự thật về dịch
COVID-19 trên mạng xã hội tại một số địa phương, cụ thể: Năm 2020 đã xử lý 122
vụ việc tại 21 tỉnh/ thành phố; quý I/2021 xử lý 57 vụ việc tại 13 tỉnh/thành
phố. Cùng với đó, Bộ TT&TT đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định
số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao
dịch điện tử để phù hợp với Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành
chính.
Ngoài
ra, Bộ TT&TT sẽ tập trung nghiên cứu bổ sung các nội dung sau: Mở rộng thẩm
quyền xử phạt của Thanh tra Y tế, Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lực
lượng Công an nhằm tăng công tác thực thi, xử lý vi phạm; Bổ sung biện pháp tạm
ngừng hoạt động tên miền của các trang thông tin điện tử quảng cáo sản phẩm,
thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh sai sự thật nhằm ngăn chặn kịp thời hành
vi vi phạm; đối với xã hội, mỗi người dân hết sức thận trọng khi xem, đọc các
tin trên mạng xã hội; đồng thời, sẽ là những thinh gỉa thông thái, không chia
sẻ, cổ súy cho những cho những hành vi gây rối, đi ngược với chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.