Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Ép 'thế chấp' ảnh khỏa thân khi vay nặng lãi

HÀ NỘINguyễn Thị Vân Anh yêu cầu khách hàng có nhu cầu vay lãi nặng phải thế chấp chứng minh thư và ảnh, video khỏa thân. Ngày 25/10, Vân Anh, 29 tuổi cùng chồng là Đào Quốc Huy và Bùi Ngọc Thủy (37 tuổi), Khương Thị Tuyến (29 tuổi) bị Công an quận Nam Từ Liêm khởi tố về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Riêng Vân Anh bị khởi tố thêm tội Cưỡng đoạt tài sản. Theo điều tra, từ cuối tháng 12/2020, vợ chồng Vân Anh tham gia các nhóm kín về mua bán dâm trên mạng xã hội để quảng cáo cho vay lãi nặng theo hình thức "bốc bát họ". Vân Anh đề nghị người có nhu cầu phải chụp chứng minh thư cùng ảnh chân dung, ảnh giao diện tài khoản mạng xã hội và đặc biệt là ảnh khỏa thân. Ai không đáp ứng được các điều kiện trên thì phải cung cấp mật khẩu điện thoại thế chấp hoặc tên đăng nhập, mật khẩu tài khoản mạng xã hội, tài khoản icloud. Đến hạn không trả, vợ chồng Vân Anh sẽ dùng những tài liệu "nhạy cảm" này để uy hiếp khách hàng. Hành vi của nhóm này khiến nhiều người khốn đốn. Một trong những nạn nhân là cô gái từ đầu tháng 5 đến nay đã vay 7 lần, tổng cộng 163 triệu đồng, lãi suất 10.000-20.000 đồng/triệu/ngày, với hình thức "bốc bát họ". Cô bị Vân Anh đe dọa sẽ tung ảnh, video nhạy cảm lên mạng xã hội và gửi cho người thân nếu không trả đủ. Khi bị bắt trong một vụ mua bán dâm, cô gái khai phải làm công việc này để có tiền trả lãi vay. Từ đây, đường dây của Vân Anh bị phát hiện. Theo cảnh sát, nhóm Vân Anh cho 989 người vay lãi nặng với số tiền hơn 5 tỷ đồng, lãi suất 146-730%. Họ đã thu lãi cùng gốc của 779 người, hưởng lợi hơn 1,3 tỷ đồng.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo- người có ba công lớn

Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo (1921-2008) được biết đến là một vị tướng giỏi trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, bậc thầy của nghệ thuật dụng binh. Trong cuộc đời binh nghiệp, ông từng đúc kết: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra đời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”.

Đại tá khi mới 27 tuổi          

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (tên khai sinh là Tạ Thái An), sinh ngày 25-10-1921. Cha ông là Tạ Quang Khai, mẹ là Nguyễn Thị Tành làm nghề thợ may tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (nay xã Bảo Khê thuộc TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên). Cha ông do tham gia phong trào yêu nước nên bị thực dân Pháp lùng bắt, vì vậy gia đình ông đã rời bỏ quê hương lên sinh sống tại huyện Tràng Định (Lạng Sơn).

Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang. Năm 1941, Tạ Quang tham gia Việt Minh, rồi được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Khi ấy, Tạ Quang đã vinh dự được Bác Hồ đặt cho tên mới là Hoàng Minh Thảo - cái tên như một tiên đoán về cuộc đời và sứ mệnh của vị tướng tài ba xuất chúng trong quân đội này. Theo đó, họ Hoàng là lấy tên của trường Hoàng Phố, đệm và tên là Minh Thảo, dành cho con người thông minh, có tấm lòng tình nghĩa, thảo thơm.

Tháng 10-1945, khi mới 24 tuổi, Hoàng Minh Thảo đã được giao làm Khu trưởng Chiến khu 3, thay tướng Nguyễn Bình vào Nam làm Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1948, Hoàng Minh Thảo là đại tá trẻ nhất toàn quân được phong cấp hàm khi mới 27 tuổi. Từ Tư lệnh Chiến khu 3, Hoàng Minh Thảo được cử vào Chiến khu 4 thay tướng Nguyễn Sơn. Năm 1950, Đại tá Hoàng Minh Thảo được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304 - đơn vị bộ đội chủ lực chiến đấu vừa được thành lập. Cuộc đời binh nghiệp của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là một bản anh hùng ca gắn liền với những chiến công vang dội. Năm 1975, ông là Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đã giáng đòn điểm huyệt vào quân lực Việt Nam cộng hòa, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975, tiếp nối là Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).

Bậc thầy nghệ thuật dụng binh

Trong một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúc đó là Trung tướng) ra Hà Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “Đánh Tây Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên; đánh xuống đồng bằng ven biển; đánh vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi”.

Ý kiến của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được Đại tướng Võ Nguyên Giáp hết sức ủng hộ. Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng một loạt hoạt động cài thế bao vây, chia cắt, cô lập Buôn Ma Thuột. Quân giải phóng tăng cường hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý của quân lực Việt Nam cộng hòa về phía bắc (Kon Tum), đánh trận “giả” ở Pleiku, phía Việt Nam cộng hòa mắc mưu, đưa Trung đoàn 45, đơn vị mạnh của Sư đoàn 23 bộ binh từ Buôn Ma Thuột lên Pleiku, để sơ hở hướng Nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột. Màn nghi binh kinh điển ở Pleiku chính là yếu tố then chốt giúp Quân giải phóng giành thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, làm bàn đạp để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sau này nhận định: “Ta ghìm địch ở Bắc Tây Nguyên để phá vỡ địch ở đầu yếu là Nam Tây Nguyên. Đó là một thành công trong nghệ thuật dùng mưu”.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã để lại nhiều dấu ấn về nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh lừa địch. Đây là một kinh nghiệm lịch sử vô cùng quý giá cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là linh hồn với tài nghệ thuật dụng binh. Nguyên lý của ông là: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”.

 Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Hoàng Minh Thảo là vị tướng trẻ, được “cắm chốt nằm vùng” suốt 10 năm ở núi rừng Tây Nguyên. Ông là một vị tướng chiến lược văn võ song toàn. Ông hiểu rõ kẻ địch, có nhiều mưu cao, kế sâu, chủ động dùng chiến thuật nghi binh lừa địch khiến chúng kinh hồn bạt vía, hoang mang hoảng loạn, vội vàng tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Mỗi khi nhắc đến chiến thắng Điện Biên Phủ người ta thường nhắc đến tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Còn chiến thắng Tây Nguyên vang dội không thể không nhắc đến danh tướng Hoàng Minh Thảo - một nhà cầm quân tài năng, nhà khoa học quân sự đầu ngành của quân đội ta. Tài năng và đức độ của ông được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam.

Cố Trung tướng Phạm Hồng Cư (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam) từng nêu rõ: Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là người ba công lớn. Thứ nhất, ông là một vị tướng giỏi về trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất tin tưởng và quý trọng. Thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông Thảo đã thay ông Nguyễn Bình làm Tư lệnh Chiến khu Ba, giải phóng được Móng Cái, Hà Khẩu, tổ chức chống Pháp ở Hải Phòng. Ông tổ chức huấn luyện du kích rất giỏi, sau ông được điều động về làm Tư lệnh Quân khu 4. Thứ hai, ông làm Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, là linh hồn trong Chiến dịch Tây Nguyên. Thứ ba, ông là một trong những người đặt nền móng cho Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng)...

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được phong Giáo sư ngành Khoa học quân sự năm 1986, Nhà giáo Nhân dân năm 1988. Ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự, là Ủy viên Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam.

ST


Xây dựng chiến lược tổng thể ứng phó Covid-19

Bộ Y tế tiếp thu ý kiến, sớm hoàn thiện dự thảo Chiến lược tổng thể ứng phó hiệu quả đại dịch Covid-19 trong tình hình mới, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu. Tại cuộc họp chiều 25/10, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu Bộ Y tế trình Chính phủ dự thảo nêu trên đồng bộ với Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Theo Bộ Y tế, các giải pháp trong Chiến lược tổng thể ứng phó hiệu quả đại dịch Covid-19 (chiến lược) nhằm đạt bốn mục tiêu lớn: Giảm tỷ lệ người mắc Covid-19; tăng tỷ lệ bao phủ vaccine; giảm tỷ lệ tử vong; phục hồi phát triển kinh tế gắn với kiểm soát dịch bệnh. Chiến lược dự kiến thực hiện trong 2 năm, sau đó điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Nhiều đại biểu góp ý chiến lược phải nêu được mục tiêu hàng đầu là bảo vệ sức khỏe người dân; thích ứng an toàn, linh hoạt; đưa đời sống sinh hoạt dần trở lại trạng thái bình thường mới. Phương châm là "thống nhất Trung ương, linh hoạt địa phương". Việt Nam phấn đấu kiểm soát đại dịch sớm nhất, tranh thủ cơ hội, lợi thế để thu hẹp khoảng cách với các nước đi trước. Chiến lược cũng cần nhấn mạnh tinh thần khoa học, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ. Toàn bộ hệ thống y tế được tăng cường để sẵn sàng ứng phó với các biến chủng virus mới, cũng như đại dịch truyền nhiễm trong tương lai. Đại biểu đề xuất tiêu chí đánh giá mức độ an toàn để trở lại trạng thái bình thường mới cần bổ sung mức độ đồng thuận xã hội với chính sách đưa ra. Việt Nam cần chủ động nguồn vaccine, sinh phẩm, thuốc điều trị; việc giãn cách sẽ được thực hiện theo hướng hạn chế di chuyển, sinh hoạt của người dân. Cùng ngày, Bộ Y tế gửi công điện đến các địa phương, đề nghị xây dựng kế hoạch lập cơ sở điều trị người mắc Covid-19, trong đó đảm bảo số giường hồi sức cấp cứu (ICU) tại sơ sở khám chữa bệnh bao gồm cả y tế tư nhân. Việc này nhằm sẵn sàng đáp ứng tình hình dịch bệnh ở cấp độ 4. Các bệnh viện phải vừa điều trị bệnh nhân Covid-19, vừa điều trị bệnh khác. Quy định về thích ứng an toàn Covid-19 do Chính phủ ban hành ngày 11/10, phân loại bốn cấp độ nguy cơ gồm: Cấp 1 (nguy cơ thấp - bình thường mới), màu xanh; cấp 2 (nguy cơ trung bình), màu vàng; cấp 3 (nguy cơ cao), màu cam; cấp 4 (nguy cơ rất cao), màu đỏ. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, các tiêu chí để đánh giá cấp độ nguy cơ dịch bệnh là số ca nhiễm mới/100.000 dân/tuần; tỷ lệ tiêm vaccine; năng lực thu dung, điều trị. Đến ngày 21/10, Bộ Y tế công bố đánh giá cấp độ dịch bệnh của 63 tỉnh, thành, trong đó 26 tỉnh xanh, 37 tỉnh vàng, không có tỉnh cam và đỏ.

Thu phí chữa Covid

Một chiều, khi sang khu vực bệnh nhân đã hồi phục, tôi nghe thấy tiếng gọi: “Bác sĩ, bác sĩ, không nhận ra em à?”. Tôi quay lại. À, chị Phương, bệnh nhân giường số 16 cũ - buồng bệnh nhân nặng tôi phụ trách, nay chuẩn bị xuất viện. Tôi nhớ tuần trước đó, chị nằm bẹp thở oxy dòng cao, người nhễ nhại mồi hôi, buồn bã lo âu, luôn nói nhát gừng: "đói bụng", "khát", "uống nước". Đến độ tôi tưởng chị là người nước ngoài. Ở khu vực Bình Dương có nhiều người Đài Loan, Trung Quốc nằm viện, biết vài từ tiếng Việt. Tôi phải dỗ chị "gắng ăn uống để lấy sức". Thế mà chị đã hồi phục. Chị gọn gàng hẳn, mặt hồng hào tươi tỉnh, nói liền một hơi: "Ơn bác sĩ quá à, không có bác sĩ bữa trước tôi chết rồi". Một chị khác, nằm ở giường phía ngoài, đã ngoan ngoãn nghe theo lời khuyên của bác sĩ, bảo nằm nghiêng là nằm nghiêng, bảo nằm sấp là nằm sấp, không kêu than như vài bệnh nhân khác. Sáng hôm tôi đo cho chị, thấy oxy máu tốt quá, SpO2 lên 98%. Tôi giảm liều oxy thở xuống, một lúc sau quay lại đo, vẫn 98%. "Em đỡ nhiều rồi rồi nhé, mai cho chuyển sang buồng nhẹ hơn, sắp về được rồi", tôi bảo. Chị mỉm cười, giọng thì thào: Tôi sắp được về rồi hả bác sĩ, mừng quá trời. Vẻ mừng rỡ của người thoát chết nó ấn tượng ghê lắm, chính chị cũng không tin là có ngày về. Suốt vài tháng qua, mỗi đêm nằm xuống giường đi ngủ, tôi thầm cầu mong ngày mai được gặp lại các bệnh nhân ở khoa mình điều trị, chính tay tôi được viết bệnh án chuyển họ về khoa nhẹ. Tôi biết rồi đây những người may mắn thoát qua đại dịch, trong ký ức của họ sẽ là những bóng áo xanh, áo trắng không rõ mặt người, chỉ những giọng nói Bắc - Trung - Nam, ân cần bên họ lúc khó khăn nhất. Dịch lắng xuống, chính chúng tôi cũng mang theo về miền Bắc rất nhiều tình cảm. Đó là tình đồng bào. Chuyến đi chống dịch đem lại cho tôi cảm xúc lẫn lộn, khó tả. Nếu thoáng qua thì tôi thấy, trước cái chết mọi người đều bình đẳng, giàu cũng như nghèo. Nhưng trong tim tôi vẫn có điều bất ổn, đó là mọi nguồn lực trong xã hội chưa được huy động hết. Công việc chăm sóc bệnh nhân Covid-19 rất quá tải. Chỉ sau một đêm thôi, sáng ra, chúng tôi vào buồng bệnh, đúng là ngập trong chất thải. Phải mất rất nhiều công sức thì vệ sinh bệnh nhân mới tạm ổn. Nhiều bệnh nhân không chịu nổi cảnh ướt át ấy, luôn mồm gọi bác sĩ. Tôi nhớ một bác trung niên không nói được, cầm tờ 200 nghìn vẫy vẫy, chỉ vào cái bỉm dơ của mình. Đấy mới chỉ là công tác vệ sinh đơn giản như thay bỉm, thay dra giường. Công tác chăm sóc, thực hiện y lệnh còn rất nhiều việc nữa: vệ sinh răng miệng hàng ngày, rồi tiêm truyền thuốc, cho uống thuốc sao cho đúng giờ, đúng kỹ thuật. Vệ sinh chăm sóc các ống thông dạ dày, đường tiểu. Cao hơn nữa là thay băng, vô khuẩn catheter tĩnh mạch trung tâm, rồi xoay trở xoa bóp chống loét, vỗ lưng phục hồi chức năng hô hấp... Nếu bệnh nhân phải đặt ống thở máy, công tác chăm sóc còn nhân lên gấp bội. Ở khoa tôi, lúc bình thường, nếu có bệnh nhân thở máy thì phải cắt ra hai điều dưỡng chuyên chăm sóc một bệnh nhân thở máy, chưa kể bác sĩ cứ chốc lại phải đảo qua xem. Ví dụ sinh động nhất là hồi chúng ta chữa cho bệnh nhân số 91 - phi công người Scotland - anh em trong ngành thường nói vui, 91 người chăm một làm gì chẳng sống. Còn bây giờ, nhiều khi một người chăm 91. Thế nên giờ đây người ta rất sợ đặt ống thở máy. Thế mà anh bạn tôi, đang làm ở một bệnh viện tư vừa báo tin vui, một bệnh nhân của anh vừa cai được máy thở, "rút được ống thở, sống rồi!". Hỏi có bí quyết gì không, anh bảo: "Chẳng có bí quyết gì đâu, chỉ có chăm sóc thôi. Nhiều người chăm một người, chăm dữ lắm thì mới qua được". Điều đó nói lên rằng y tế công đang thực sự quá tải, nhà nước đang quá tải, cần có sự chung tay đóng góp của mọi nguồn lực trong xã hội để tháo gỡ. Cho y tế tư nhân tham gia điều trị Covid một cách chính thức, với chính sách công khai minh bạch, có giám sát là một giải pháp, thay vì để y tế công gánh vác toàn phần. Tôi tin đây là một giải pháp khơi dậy nguồn lực trong dân - từ cả hai phía cung và cầu, để y tế công tập trung sức còn lại cứu chữa cho những người có hoàn cảnh khó khăn, người không có tiền thuê dịch vụ điều trị riêng cho mình. Nếu cho phép thu phí điều trị bệnh nhân Covid thì bệnh viện tư nên được thu bao nhiêu? Theo tôi, do điều trị bệnh nhân Covid có đặc thù là nguy cơ lây nhiễm cao, nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ nên năng suất làm việc giảm, chưa kể các điều kiện khác về trang thiết bị, thuốc, vì vậy mức phí có thể cao hơn bảng giá điều trị thông thường. Mức phí dịch vụ điều trị Covid của bệnh viện tư có thể sẽ cao hơn bệnh viện công một cách hợp lý, người bệnh nếu có thẻ Bảo hiểm Y tế thì vẫn được khấu trừ phần chi trả của bảo hiểm. Như thế, tôi ước tính người mắc Covid điều trị tại bệnh viện tư sẽ phải chi thêm vài trăm nghìn một ngày nếu mức độ bệnh vừa, nằm phòng thường, cho đến vài triệu một ngày nếu bệnh nặng phải nằm phòng điều trị tích cực. Điều kiện kèm theo để đảm bảo công bằng là một bộ chính sách thông thoáng, minh bạch của Bộ Y tế. Có ý kiến sẽ bảo, cho tư nhân thu phí chữa Covid sẽ tạo ra bất bình đẳng trong xã hội. Tôi thì nghĩ, không có bình đẳng tuyệt đối trong xã hội, chúng ta có thừa nhận nó, cải tiến chính sách để góp phần điều chỉnh nó mới tạo ra bình đẳng hơn. Đại dịch vẫn còn tính bất định rất lớn, do đó, ngay từ bây giờ, chúng ta phải chủ động thiết kế một xã hội có thể sống chung với dịch, tích cực tìm ra sự chuyển hoán mới thay vì ngồi đợi mọi thứ sẽ trở lại như xưa. Đại dịch còn giúp chúng ta nỗ lực tìm ra cách thức làm việc hiệu quả, nhân văn hơn. Đưa y tế tư nhân vào cuộc là để cho một nhóm bệnh nhân có thu nhập cao sẵn sàng tự chi trả chi phí điều trị Covid, đây cũng là cách giúp tạo ra công bằng cho những người không có nhiều tiền.

Cảnh giác với những thông tin xuyên tạc bức tranh kinh tế- xã hội Việt Nam


          Thực ra thủ đoạn bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội Việt Nam của các thế lực thù địch không có gì mới. Nhiều năm trở lại đây, mỗi khi đất nước ta đạt được những thành tựu phát triển, họ lại càng hằn học, tìm mọi cách để chống phá. Thế nhưng lần này, họ lợi dụng tình hình dịch bệnh phức tạp, đời sống của một bộ phận nhân dân khó khăn do phải cách ly, giãn cách xã hội, không có việc làm để xuyên tạc những nỗ lực trong phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế của chúng ta thì đó là một tội ác lớn. Xét về phía cạnh pháp lý là không đúng với luật pháp quốc tế. Xét về góc độ đạo lý lại càng sai.

          Về chiến thuật, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị vẫn triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”.

          Thế nhưng gần đây, thủ đoạn của họ lại nham hiểm hơn, tận dụng tối đa hệ thống báo chí, mạng xã hội ở nước ngoài, các kênh Facebook, YouTube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Mánh lới của họ là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chính vì vậy, mọi người phải hết sức cảnh giác trước các thông tin xấu độc này.

          Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, các cơ quan chức năng của Nhà nước, cán bộ và nhân dân cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

          Trước mắt, cần công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế-xã hội của các ngành, các địa phương, nhất là hoạt động phòng, chống dịch, các hoạt động hỗ trợ nhân dân, an sinh xã hội để các thế lực thù địch không còn “cái cớ” để xuyên tạc, bôi đen sự thật. 

          Điều đáng phấn khởi là trong những ngày gần đây, số người nhiễm dịch Covid-19 ở nước ta ngày càng giảm, nền kinh tế từng bước được khôi phục, đời sống của nhân dân được cải thiện, tốt dần lên.

          Quan điểm chỉ đạo điều hành đất nước trong thời gian tới của Chính phủ đã được Thủ tướng khẳng định trước Quốc hội tại phiên khai mạc Quốc hội tuần qua là: Đặt sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết; từng bước thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Phòng, chống dịch là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; tiêm chủng, xét nghiệm, cách ly, điều trị là đặc biệt quan trọng; đề cao ý thức, trách nhiệm, tính tự chủ của người dân, doanh nghiệp trong phòng, chống dịch.

          Vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, khôi phục và ổn định thị trường lao động, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta và là câu trả lời đanh thép trước các thế lực thù địch rằng: Không thể bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Khát lao động

Hàng chục doanh nghiệp phía Nam tôi quen buộc phải thu hẹp quy mô hoặc tiếp tục tạm dừng sản xuất bởi cùng lý do: thiếu người làm. Trong dòng người từ Sài Gòn cuồn cuộn đổ về các tỉnh hai tuần trước có công nhân của nhà máy chúng tôi. Suốt đợt dịch, chúng tôi đã cố gắng hết sức bù đắp cho nhân viên trong khu phong tỏa bằng những đợt hỗ trợ định kỳ. Họ cảm động, nhưng chưa đủ, gần một nửa số công nhân đã hồi hương ngay trước ngày khởi động lại sản xuất. Công ty tôi thuộc số ít may mắn nhờ hơn nửa số công nhân còn lại. Nhưng hoạt động của chúng tôi và các đối tác, từ việc cung ứng nguyên liệu đầu vào cho đến thị trường đầu ra bị đảo lộn. Các bạn hàng đang phải thông cảm cho nhau vì cùng cảnh thiếu người. Người lao động hồi hương đã kéo theo hệ lụy về năng suất lao động trong dài hạn. Không dễ để đào tạo được một công nhân lành nghề. Để họ thạo việc, doanh nghiệp cần ít nhất một năm. Để có lao động tay nghề cao cần ít nhất năm năm hay 10.000 giờ làm việc. Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế - ILO, năng suất lao động của công nhân Việt Nam đứng gần cuối bảng trong các nước ASEAN. Nếu giữ được mức tăng trưởng 5%-6% như trước dịch, Việt Nam chỉ hy vọng đạt trình độ tương đương với Phillippines vào năm 2038 và Thái Lan năm 2069. Sự chuyển đổi công việc mới sau hồi hương với tỷ lệ không nhỏ công nhân sẽ đòi hỏi tay nghề mới. Kỹ năng cũ của người thợ coi như xóa bài làm lại, và "hạn chót" để năng suất lao động cân bằng với các quốc gia lân cận thêm nguy cơ lùi xa hơn. Tình trạng khan hiếm nhân công còn ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Kịch bản giành giật lao động sẽ dẫn đến chi phí nhân công tăng vọt trước mắt và định hình mặt bằng mới cao hơn về lâu dài. Đã từng có tiền lệ như trong ngành tài chính ngân hàng, cơn sốt trên thị trường nhân lực hơn 10 năm trước để lại di chứng tới tận ngày nay. Từ thâm tâm, tôi mừng khi công nhân hồi hương. Gia đình là bệ đỡ và làm dịu những sang chấn tâm lý họ phải chịu đựng sau hơn 100 ngày phong tỏa. Nhưng tôi cũng cảm thấy có điều gì đó chưa ổn. Mỗi lao động chưa tìm thấy chỗ dựa từ chính doanh nghiệp, chế độ của mình. Trong nỗi lo toan về công việc, tôi tìm được một niềm vui. Tôi có cơ duyên kết bạn với tỷ phú Peter Vesterbacka, một trong 100 người có sức ảnh hưởng nhất thế giới năm 2011 của Time. Hơn năm năm qua, Peter dồn lực xây dựng đường hầm dưới biển dài hơn 100 km, nối liền Phần Lan và Estonia, tạo lên khu vực vịnh Finest - trung tâm phần mềm lớn dự kiến sẽ thu hút chất xám khắp thế giới. Tôi được ông chia sẻ kế hoạch dài hơi của chính phủ và bản thân để thu hút nguồn nhân lực cho đất nước. Phần Lan chỉ có dân số bằng một nửa TP HCM. "Mỗi cư dân luôn là tài sản quốc gia", ông nói, "ở Mỹ có đồng hồ hiển thị nợ công thì Phần Lan có đồng hồ dân số luôn công khai". Ông đang tìm kiếm và trao tặng những suất học bổng toàn phần cho học sinh quốc tế đến Phần Lan học trung học nhằm nhận lại nguồn nhân lực cao cấp trong 10 năm tới. Ông làm tôi nghĩ về vốn quý nhân lực, điều mà chúng ta chưa coi trọng đúng mức khi Việt Nam hôm nay còn đang ở cơ cấu dân số vàng. Hơn 30 năm mở cửa, hàng trăm ngàn doanh nghiệp mới và quy luật cung cầu trên thị trường lao động đã từng bước đẩy cao "mặt bằng lương tối thiểu". Nhưng lương chỉ là một yếu tố, người lao động xứng đáng được nhiều hơn thế, như điều kiện lao động và sự tôn trọng. Đáng tiếc, vẫn còn không ít doanh chủ chỉ coi người lao động như một công cụ đơn thuần. Vài năm trước, tôi cộng tác với công ty lớn trong ngành vật liệu xây dựng. Nhìn dàn xe sang của ban giám đốc, người ta rất dễ nghĩ họ là công ty thành đạt. Nhưng khi thăm nhà máy, tôi giật mình, công nhân không có đủ khẩu trang che bụi và trang thiết bị an toàn tối thiểu. Trong bữa tối tại nhà hàng sang trọng, họ lắc đầu khi tôi hỏi ngân sách mỗi năm cho đào tạo nhân sự. Vẫn còn không ít ông chủ nghĩ mọi thành bại chỉ do chính họ quyết định. Điều này không hẳn sai, nhưng chưa đủ. Nếu nhân viên được đối đãi tốt, sự cam kết lâu dài của họ làm mức thu nhập doanh nghiệp vượt khoảng 26% so với trung bình ngành, theo kết quả khảo sát của tổ chức nghiên cứu Taleo, Mỹ. Nhưng không thể chỉ trách các doanh chủ. Khu vực công nghiệp đóng góp gần 56% và dịch vụ đóng góp 35,7% vào GDP. Liệu sẽ có chính sách mới nào từ Tổng Liên đoàn Lao động hay Bộ Lao động Thương binh và xã hội khiến các công nhân muốn gắn bó với công xưởng? Sự thiếu hụt nhân công hiện giống như đoạn phim tua nhanh về tương lai, mô phỏng cho nhà nước và doanh nghiệp về tình trạng thiếu nguồn lao động Việt Nam phải đối mặt trong 15-20 năm nữa, khi trở thành "quốc gia già". Ở khía cạnh tích cực, tôi nghĩ đây là viên thuốc đắng nhưng dã tật. Thuốc liệu có giúp nhiều người ngộ ra về giá trị của nhân viên, coi trọng từng người làm công như người cộng sự?

KẺ THÙ TRONG LÒNG TA MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT!

 


V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.


Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.


Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.


Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.


Để chủ động đấu tranh, xử lý triệt để, có hiệu quả loại giặc này, cần có sự đoàn kết, chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân:


1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì.


2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch.


4. Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gũi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi.


5. Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta.

              XT st

Ý THỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19


          Đại dịch COVID-19 khởi phát từ cuối năm 2019 ở Vũ Hán, Trung Quốc và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đặt tên bệnh này là COVID-19. Đến thời điểm hiện tại, đại dịch đã ảnh hưởng nặng nề, sâu sắc trên phạm vi toàn cầu. Chỉ sau 2 năm bùng phát dịch, toàn thế giới đã có 242 triệu ca nhiễm, và đã cướp đi sinh mệnh của 4.91 triệu người.

         Đặc biệt, loại virus gây bệnh này lại liên tục biến chủng. Theo ông Sharon Peacock, giáo sư về sức khỏe cộng đồng và vi sinh tại Đại học Cambridge, Anh cho biết, càng nhiều người nhiễm COVID-19 thì virus Sars-CoV-2 càng có nhiều cơ hội phát triển và đột biến. Khi đột biến, nó lại tăng thêm khả năng tránh hệ miễn dịch và gia tăng tốc độ lây nhiễm. Ngày 14/5/2021, Hội đồng khoa học cố vấn cho Chính phủ Anh đã công bố mô hình dự đoán cho thấy, biến thể virus từ Ấn Độ có mức độ lây nhiễm cao hơn đến 50% so với biến thể được phát hiện tại Anh, mà biến thể ở Anh cũng đã có mức độ lây nhiễm cao hơn khoảng 60-70% so với virus SARS - CoV- 2 phát hiện tại Vũ Hán, Trung Quốc hồi đầu năm 2020. Biến chủng Delta từ Ấn Độ vừa qua có tốc độ lây nhiễm cao hơn và nguy hiểm hơn rất nhiều so với các dòng trước đây. Mới đây, đã phát hiện biến chủng Lambda tại Peru và Nam Mỹ.

          Khi đại dịch xảy ra, đã có những nhận thức và quan điểm rất khác nhau về xử lý dịch bệnh. Trung Quốc, quốc gia đầu tiên có những ca khởi phát đã che dấu, không công bố dịch bệnh; Mỹ và châu Âu không đánh giá đúng mức độ nguy hiểm của Virut Sars - CoV- 2, coi đó chỉ như bệnh cúm mùa, không cần giữ khoảng cách, kỳ thị với việc đeo khẩu trang, cho rằng, cứ để cho mọi người tự miễn nhiễm; Ấn Độ và các nước châu Phi đã chủ quan, tổ chức các sự kiện đông người như lễ hội, các cuộc vận động chính trị... Hậu quả là sau đó nhiều nước đã và đang phải đối mặt với tình trạng cực kỳ khó khăn trước sự gia tăng của các ca nhiễm bệnh và số người chết hàng ngày. Châu Á hiện là khu vực gia tăng nhiều ca nhiễm.

          Qua tình hình dịch bệnh ở một số quốc gia và ngay tại Việt Nam, có thể thấy rõ rằng virus lây lan hay được kiểm soát đều liên quan đến ý thức và hành vi của con người. Ở những nơi đông đúc nhưng người dân hiểu biết về dịch bệnh, có ý thức phòng bệnh tốt hơn thì sẽ giảm thiểu được những nguy cơ lây nhiễm. Ở Trung Quốc, các thành phố có mật độ dân số rất cao như Bắc Kinh, Thượng Hải, do thực hiện nghiêm ngặt các quy định phòng dịch, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn nhiều so với các tỉnh Hồ Bắc, Đại Liên, những nơi có mật độ dân cư thấp hơn. Ở các nước châu Âu, khi chính quyền áp dụng lệnh phong tỏa, người dân tự giác đeo khẩu trang và tiêm chủng thì tỷ lệ nhiễm bệnh giảm đáng kể. Song, khi bắt đầu nới lỏng cách ly, mọi người đi lại nhiều hơn thì lập tức số ca nhiễm lại gia tăng trở lại như ở Nga, Pháp.

          Ở Việt Nam, khi dịch bùng phát, cả hệ thống chính trị và toàn dân cùng quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh với tinh thần “chống dịch như chống giặc”. Bộ Y tế liên tục phát đi khuyến cáo nhắc nhở người dân tự bảo vệ mình và cộng đồng. Trong tình hình đó, cùng với sự nỗ lực của Chính phủ, của đội ngũ y bác sĩ, và những nguồn lực vật chất, chúng ta rất cần phải dùng đến sức mạnh của ý thức để cùng đẩy lui dịch bệnh này.

          Như vậy, ý thức được đề cập ở đây là sự nhận thức và hành động của cá nhân và cộng đồng để ứng phó trước đại dịch, được xem xét dưới góc độ ý thức xã hội, theo quan điểm duy vật biện chứng.

          Ý thức xã hội hay ý thức cá nhân đều nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh cơ sở đã sinh ra nó. Mặt khác, ý thức xã hội cũng có tác động mạnh mẽ trở lại tồn tại xã hội. Nếu ý thức là đúng đắn, nó có tác dụng tích cực, thúc đẩy xã hội tiến lên. Ngược lại nếu ý thức đó là sai lầm, thì nó sẽ cản trở, kìm hãm, thậm chí phá hoại những thành quả mà cả cộng đồng đã nỗ lực xây dựng. Trong những trường hợp nhất định, ý thức có sức mạnh đặc biệt, là yếu tố quyết định tạo nên những kỳ tích trước những khó khăn cả về điều kiện vật chất và những giới hạn về sức lực của con người. Qua đó cho thấy, việc phát huy vai trò của ý thức trong bảo vệ cộng đồng và phòng chống dịch là việc làm cần thiết. Thực chất của việc phát huy vai trò của ý thức là tìm ra, khơi dậy, nâng cao ý thức tiến bộ, tích cực trong đời sống xã hội, tạo ra sức mạnh tinh thần cho công cuộc phòng chống dịch hiện nay ở nước ta.

          Để ý thức xã hội có tác dụng tích cực với đời sống thì phải đảm bảo rằng ý thức đó là đúng đắn, nghĩa là phản ánh đúng bản chất, quy luật của hiện tượng khách quan; ý thức ấy phải được phổ biến, thâm nhập vào đông đảo quần chúng nhân dân; ý thức đó phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc trong đời sống; tính tích cực, tự giác của chủ thể ý thức (các cá nhân, cộng đồng xã hội và lực lượng đóng vai trò là trung tâm của thời kỳ lịch sử ấy) cũng quyết định mức độ tác dụng của ý thức đến tồn tại xã hội.

          Như vậy, khi nhấn mạnh vai trò của ý thức xã hội trong việc phòng chống dịch COVID-19, trước hết chúng ta phải xây dựng nhận thức đúng, phải phát huy tính tích cực, sáng tạo, của ý thức, khai thác những xung lực tích cực từ tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, vận dụng đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân. Trên cơ sở đó, tìm con đường, biện pháp phát triển ý thức cá nhân để nâng cao ý thức xã hội, và thông qua ý thức xã hội được phát triển để điều chỉnh ý thức cá nhân, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao nhất để đẩy lùi dịch bệnh. Ngoài ra, khi xem xét ý thức của con người chúng ta nên nhìn nhận ở cả bình diện nhận thức và ứng xử, bởi “chính vì con người quan hệ với khách thể bằng sự hiểu biết, bằng tri thức, cho nên phương thức quan hệ của con người đối với thế giới cũng được gọi là ý thức”(1). Lan tỏa những hành động đúng đắn, cao đẹp, đấu tranh phê phán, loại trừ những hành vi vô ý thức, đi ngược lại những nỗ lực của cộng đồng cũng là việc làm cần thiết.

          Nhìn lại chặng đường chống dịch vừa qua, có thể thấy rõ những tác động của dịch bệnh lên ý thức con người, đồng thời cũng thấy rõ những ảnh hưởng của ý thức xã hội, ý thức cá nhân tới cuộc chiến chống dịch COVID-19 của Việt Nam.

          Đại dịch đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và ý thức phòng chống dịch bệnh dần trở thành ý thức phổ biến trong toàn xã hội. Người dân thích ứng dần với cuộc sống thời dịch: đeo khẩu trang khi ra đường, tiết chế chi tiêu phòng lúc khó khăn, phòng bị trước cho việc phải đi cách ly hoặc phong tỏa. Mọi hoạt động của con người, từ cách đi lại, làm việc, học tập, giao tiếp, ăn uống cho đến các tập quán, truyền thống, thói quen... đều phải thay đổi để phù hợp với với việc “chống dịch như chống giặc” và trạng thái bình thường mới.

          Khi dịch bùng phát mạnh, đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng đã làm việc với cường độ lao động căng thẳng với nỗ lực tột cùng cả về trí tuệ và sức lực để giành giật sự sống cho các bệnh nhân. Nhiều cán bộ chiến sĩ, các tình nguyện viên không quản ngại gian khổ, nguy hiểm tích cực khoanh vùng, truy vết, lập chốt bảo vệ, bố trí cho người đi cách ly và làm công tác tiếp tế, cứu trợ. Chính ý thức được nêu cao đó đã góp phần giúp chúng ta kìm chế được sự phát triển của dịch bệnh ở nhiều tỉnh thành: Hà Nội, Hải Dương, Nha Trang, Đà Nẵng, Bắc Giang, Bắc Ninh...

          Song, bên cạnh đó vẫn còn những bộ phận, cá nhân ý thức kém gây thêm khó khăn cho công tác chống dịch: Đó là việc thiếu trung thực trong khai báo y tế; không thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng dịch, chống đối người thi hành công vụ; trốn cách ly; không thực hiện nghiêm các yêu cầu dãn cách hoặc phong tỏa; đưa thông tin không đúng về tình hình dịch bệnh gây hoang mang trong dư luận và gây sức ép với các lực lượng phòng chống dịch; kích động mâu thuẫn trong cộng đồng, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước… Một số cơ sở y tế lúc đầu còn từ chối tiếp nhận người bệnh đi về từ vùng dịch hoặc có dấu hiệu nghi nhiễm, để người dân phải di chuyển nhiều, tiếp xúc nhiều, nguy có lây lan lớn hơn. Cùng với đó làsự chủ quan, lơ là, thiếu trách nhiệm trong phòng chống dịch từ cấp cơ sở ở một số địa phương cũng đã xảy ra. Nếu như lực lượng cơ sở “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”, quản lý, giám sát được những người từng đi đến vùng có dịch hoặc kết thúc cách ly tập trung về địa phương thì sẽ không bỏ lọt các ca gây lây nhiễm. Ngoài ra, cũng phải nói đến sự thiếu chủ động, thiếu cương quyết chưa linh hoạt trong công tác quản lý ở một số địa phương. Trong quá trình duy trì trật tự xã hội thời dịch, có cán bộ còn cứng nhắc, yếu kém khi xử lý tình huống gây bức xúc trong dư luận...

          Tóm lại, thực tế đã cho thấy ý thức tốt hay kém đều tác động trực tiếp đến thành quả phòng chống dịch của toàn xã hội. Để tháo gỡ những cản trở về tư tưởng, ý thức, chúng ta cần lưu ý những chỉ dẫn quan trọng của nghĩa duy vật biện chứng: “Chừng nào hoạt động của con người là có mục đích, tức là hoạt động sống tích cực của nó được dẫn dắt bởi những quan niệm và hiểu biết về những đặc tính hiện thực của các khách thể, thì chừng đó con người thoát khỏi và đối lập với hiện thực khách quan”(2). Khi virus Sars - CoV- 2 còn là cái tất yếu thách thức loài người thì chỉ khi con người nhận thức đúng và chế ngự được nó thì con người mới được tự do. Và, khi chúng ta còn đang cần thời gian để làm được điều đó thì cần phải biết sống an toàn cùng nó. Ph. Ăngghen cũng từng nhấn mạnh: “Nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức, thì do đó, cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người”(3)[3]. Theo đó, thì rất cần thiết việc kiên quyết thống nhất ý chí, chấp hành theo những nguyên tắc chung của cộng đồng, những tất yếu trong xã hội, để có tự do và an toàn cho tất cả mọi người. Ngoài ra, còn phải kết hợp các biện pháp để đảm bảo cuộc sống, để động viên, khích lệ, đoàn kết, hỗ trợ để ý thức của con người được nâng cao và có nhiều sáng tạo mới.

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC VIRUS “TIN GIẢ”

 Bên cạnh virus SAR-COV-2 có một loại virus khác không kém phần nguy hiểm đó là tin giả, truyền thông đen hay những thông tin bị bóp méo trên các diễn đàn, mạng xã hội của các tổ chức phản động, cơ hội chính trị có tư tưởng cực đoan được đăng tải phát tán liên tục. Mục đích không nằm ngoài ý đồ hướng lái dư luận gây hoang mang mất niềm tin của nhân dân vào chính sách đối phó với dịch bệnh của Chính phủ và nhân dân Việt Nam.

Những ngày vừa qua Việt Nam đã có dấu hiệu tích cực khi số người nhiễm Covid-19 được điều trị khỏi liên tục tăng, số ca nhiễm và tử vong do Covid-19 ở TP. Hồ Chí Minh và các địa phương trên cả nước có chiều hướng giảm. Bên cạnh hàng loạt những biện pháp nhằm đẩy lùi dịch bệnh theo Chỉ thị số 16. Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt đẩy nhanh chiến dịch tiêm vắc xin cho người dân cả nước, trong đó ưu tiên những tỉnh, thành phố có dịch bùng phát mạnh; cả hệ thống chính trị vào cuộc, toàn dân tộc Việt Nam đồng lòng trên tinh thần “chống dịch như chống giặc” với mong mỏi sớm trở lại trạng thái bình thường. Những nỗ lực và thành quả trong đối phó với Covid-19 của Việt Nam là thực tế hoàn toàn khách quan, được dư luận quốc tế đánh giá cao.

Những thông tin liên quan đến dịch bệnh Covid-19 trong đợt bùng phát từ cuối tháng 4/2021 đến nay luôn được cập nhật công khai, liên tục trên các phương tiên truyền thông chính thống của Việt Nam, chủ trương phòng, chống dịch bệnh của Chính phủ trước sự biến thể mới Covid-19 với tốc độ lây lan nhanh luôn thu hút được sự quan tâm đặc biệt của quần chúng nhân dân cũng như cộng đồng quốc tế. Vậy mà trên không gian mạng có những luận điệu mang tính kích động, hướng lái dư luận về các quyết sách của Đảng, Chính phủ trong phòng, chống Covid-19 xuất hiện dày đặc trên diễn đàn của nhiều tổ chức truyền thông phản động, tổ chức khủng bố như VOA, AFI, Việt Tân, Việt Nam thời báo, Tiếng dân hay của số đối tượng phản động lưu vong như: Nguyễn Văn Đài, Điếu cày Nguyễn Văn Hải, Chương Quốc Huy, Thanh Thiếu Bùi,… chúng không từ mọi thủ đoạn, thậm chí một vụ việc rất nhỏ chưa rõ thực hư được đăng tải trên mạng xã hội chúng cũng có thể cắt ghép, suy diễn theo hướng không thể tiêu cực hơn.

Không chỉ bôi nhọ sự nỗ lực của Chính phủ trong việc bảo vệ sức khỏe, sự an toàn cho người dân trước dịch bệnh, mà sự việc được chúng bóp méo, quy chụp cho bản chất của chế độ, nhằm công kích sự lãnh đạo của Đảng. Cách đây hơn khoảng hai tháng giảng viên T.T.T Trường Đại học Duy Tân, Đà nẵng khi giảng dạy trao đổi trực tuyến với sinh viên đã có những phát ngôn hàm hồ, thể hiện nhận thức lệch lạc, thiển cận khiến cả cộng đồng mạng và dư luận bức xúc, bà này cho rằng hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam kém và so sánh khập khiễng giữa Việt Nam và các nước tư bản phương Tây. Với trình độ nhận thức thấp kém, lệch lạc trên, ngày 09/8/2021 giảng viên này đã bị Trường Đại học Duy Tân sa thải vì không đủ tư cách để đứng trên bục giảng. Sự việc ngay lập tức thu hút sự chú ý của các thế lực phản động, nhiều tài khoản xã hội của các đối tượng này xuất hiện những dòng trạng thái lố bịch, coi giảng viên này như một người hùng dám nói lên tiếng nói của mình. Giảng viên này nhục nhã về nơi đã sinh ra mình, bao bọc, nuôi dưỡng mình trưởng thành; người vô trách nhiệm thờ ơ trước những khó khăn của đất nước mình mới nói một cách vô cảm như vậy, ngay cả với những nơi được coi là dân chủ điều đó cũng không thể chấp nhận được; còn những kẻ té nước theo mưa lưu vong, ăn bám để chống phá đất nước, phản bội lại dân tộc mình đó mới thực sự là nhục nhã, hổ thẹn.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam, Chiến dịch triển khai tiêm Vắc xin nhanh chóng của Chính phủ để hạn chế sự lây lan dịch bệnh trở thành chủ đề nóng mà các đối tượng tập trung công kích. Với ý đồ gieo rắc tư tưởng bài Trung Quốc, các loại vắc xin Sinopharm và Sinovac do Trung Quốc sản xuất khi đưa vào Việt Nam, chúng xuyên tạc về khả năng phòng ngừa, phớt lờ thực tế những loại vắc xin này đã được tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa vào danh mục phòng chống Covid-19 toàn cầu và hơn 50 quốc gia trên thế giới sử dụng để phòng, chống dịch bệnh. Những thông tin trên làm cho tư tưởng của nhân dân hoang mang, dao động, tác động vào tâm lý của một bộ phận người dân vốn đang bất an về dịch bệnh, còn với sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tận tâm của các y, bác sỹ, lực lượng Công an, Quân đội thì chúng cố tình lờ đi, cho dù sự thật đó có trên tất cả các kênh truyền thông chính thống, không chỉ của Việt Nam mà cả quốc tế.

Việc lợi dụng tự do tôn giáo là chiêu bài được các đối tượng sử dụng để chống phá nhà nước nhằm vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo đã được quy định trong Hiến pháp. Khi chính quyền địa phương thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 15, 16 của Chính phủ, các Giáo hội kêu gọi chức sắc, tín đồ thực hiện nghiêm túc quy định phòng chống dịch của Chính phủ thì một số linh mục vẫn nhiều lần tập trung giáo dân để hành lễ, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh (Linh mục Nguyễn Đình Thục, Chánh xứ Lộc Mỹ, Giáo phận Vinh, Nghệ An; Linh mục Bùi Khiêm Cường, quản xứ Kẻ Đọng, Giáo phận Hà Tĩnh..), do đó đã bị các cơ quan chức năng xử lý theo quy định; viện cớ này các tổ chức phản động, số đối tượng cực đoan lại được dịp nói xấu chính quyền Việt Nam hạn chế quyền tự do tôn giáo, còn lý do gì khác khi họ coi thường tính mạng của hàng trăm giáo dân ngoài động cơ chính trị, lợi ích cá nhân, họ chính là những người có câu trả lời đầy đủ.

Chúng ta biết rằng cuối tháng 4/2021 vừa qua, ổ dịch Hội thánh Tin lành truyền giáo Phục Hưng tại Thành phố Hồ Chí Minh do không chấp hành các quy định về phòng chống dịch đã dẫn tới hậu quả đến nay vẫn chưa thể giải quyết; hơn nữa với tôn chỉ là tình yêu thương, bác ái phụng sự thiên chúa, kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát tại Việt Nam Giáo hội và Hội đồng Giám mục các Giáo phận đưa ra lời kêu gọi cộng đoàn chức sắc, các giáo dân tuân thủ quy định của Chính phủ; gần đây nhất ngày 02/6/2021 Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam lại có thư kêu gọi cộng đồng dân chúa Việt Nam với tinh thần liên đới và tương thân để phòng chống đại dịch Covid-19. Trong bối cảnh trên việc làm của các linh mục trên không chỉ lạc lõng trong Giáo hội Công giáo mà còn lạc lõng giữa khí thế của một dân tộc đang quyết tâm chiến thắng đại dịch./.

 

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TƯƠNG LAI CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI.

 Bàn về tương lai của xã hội loài người, nhiều học giả đã luận giải theo những chiều cạnh khác nhau, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố chế độ xã hội mà con người hướng tới, xã hội loài người trong tương lai sẽ phát triển theo hướng nào, Chủ nghĩa xã hội, hay Chủ nghĩa tư bản.

  Chế độ xã hội tương lai phải vì con người, vì sự tồn tại và phát triển của thế giới theo hướng tích cực. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: "Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có". Những điều đó chỉ có thể có trong Chủ nghĩa xã hội.

  Chủ nghĩa tư bản ngày nay cũng đã có những thành tự nhất định. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Tuy nhiên, Chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch COVID-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Như vậy, Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của xã hội loài người.

  Chủ nghĩa xã hội sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ lâm vào thoái trào, song có những biến đổi, đột phá trong giai đoạn hiện nay. Các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn lại đã tiến hành đổi mới, kiên trì con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội với những chủ trương, chính sách rộng mở, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Đời sống của nhân dân ở các nước XHCN không ngừng được nâng lên, niềm tin vào chế độ được giữ vững, củng cố vững chắc. Đảng Cộng sản ở mỗi nước luôn được xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao phẩm chất, trình độ năng lực đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Các nước XHCN cũng tích cực tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề mang tính toàn cầu, thể hiện được bản chất ưu việt của chế độ XHCN trong xây dựng, bảo vệ con người, môi trường sống lành mạnh.

  Như vậy, tương lai của xã hội loài người không phải là Chủ nghĩa tư bản hay xã hội nào khác mà chính là Chủ nghĩa xã hội với bản chất tốt đẹp: tất cả vì con người, vì sự phát triển hài hòa giữa con người và môi trường sống. Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu thế khách quan của lịch sử.

KHÔNG CÓ TỔ CHỨC NÀO CÓ THỂ THAY THẾ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 Tình hình dịch bệnh Covid-19 với biến chủng Delta vô cùng nguy hiểm đã cơ bản được kiểm soát trên cả nước. Có được kết quả đó chính là sự đồng lòng đoàn kết của nhân dân cả nước xung quanh sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó càng chứng minh một chân lý: Không có tổ chức nào có thể thay thế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước trong giai đoạn hiện nay.

  Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn chân chính của người dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng chỉ có một mục đích: xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công CNXH và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Chỉ có Đảng mới có nền tảng tư tưởng tiến bộ, phù hợp với văn hóa, truyền thống Việt Nam. Chỉ có Đảng mới tuyên truyền, giác ngộ, tập hợp, phát huy cao nhất lòng yêu nước, trí tuệ, đoàn kết của nhân dân ta trong sự nghiệp cách mạng. Chỉ có những đảng viên kiên trung mới chịu đựng được mọi gian lao, thử thách, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân, vì sự tiến bộ của loài người, trở thành tấm gương sáng cho nhân dân noi theo. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đều vì dân, đại diện và hiện thực hóa ý chí, nguyện vọng, khát vọng của nhân dân, làm cho “dân giàu”, dân “thụ hưởng” nhiều hơn thành quả của sự nghiệp đổi mới, với quan điểm xuyên suốt: “phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Đảng không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế của Đảng đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của Đảng Cộng sản Việt Nam.        

  Trong thời kỳ mới, tình hình cách mạng của nước ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng rất nhiều khó khăn va thách thức. Đảm bảo cho sự phát triển đi lên bền vững của đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản cần được phát huy hơn nữa. Toàn thể người dân Việt Nam ta hãy đoàn kết nhất trí, một lòng theo Đảng, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, thịnh vượng.

VẠCH TRẦN TIN GIẢ “CHÍNH QUYỀN MỞ THẢ CỬA CHO BAY THOẢI MÁI”

 Mới đây, tài khoản FB mang tên “Hoàng Dũng” đã đăng tải bài viết cho rằng “Việt Nam cần khoảng 2 đến 4 tuần nữa để xuất hiện một làn sóng dịch mới. Lần này nó sẽ không chỉ dừng lại ở 4 tỉnh TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Long An vì chính quyền mở bung hết cửa cho bay thoải mái”. Ngay sau đó, đã có rất nhiều người bày tỏ sự hoang mang ngay bên dưới bài đăng này của Hoàng Dũng.

Trước hết, cần khẳng định thông tin “chính quyền mở bung hết cửa cho bay thoải mái” là giả. Trên thực tế, không hề có chuyện chính quyền thả cửa như Hoàng Dũng rêu rao. Theo Nghị quyết 128 của Chính phủ đã trao quyền kiểm soát, phòng chống dịch cho các địa phương. Trong đó cũng đề cập các hành động cụ thể để kiểm soát dịch như phân vùng bảng màu, có các cấp độ để linh hoạt các giải pháp ứng phó. Việc người dân đi lại giữa các tỉnh vẫn phải tuân thủ một số yêu cầu bắt buộc như tiêm vaccine, giấy xét nghiệm âm tính. Một số địa phương khi có người dân trở về từ vùng dịch còn yêu cầu thực hiện các biện pháp cách ly y tế tại nhà từ 7-14 ngày tùy nơi. Thế nên, đừng nghĩ chính quyền TP.HCM hay một số tỉnh phía Nam tháo gỡ phong tỏa, không còn chốt chặn, không còn barie, không còn quân đội, công an túc trực,… thì xem như cả nước “thả cửa cho bay thoải mái”.

Hiện nay, dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp với sự nguy hiểm của biến chủng Delta. Thủ tướng liên tục cảnh báo với các Bộ, ban, ngành rằng: Chúng ta đã kiểm soát được tình hình dịch bệnh và từng bước chuyển sang trạng thái mới, song đợt dịch thứ tư đã gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế-xã hội, sức khỏe và đời sống của nhân dân. Do vậy, thời gian tới đây, phải thực hiện phải rất toàn diện, hiệu quả và kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp, biện pháp. Bên cạnh đó, người đứng đầu Chính phủ cũng nhắc nhở phòng chống dịch theo công thức 5K + vaccine, thuốc điều trị + công nghệ + ý thức của nhân dân và các biện pháp khác.

Nguy hiểm hơn, trong hoàn cảnh người dân đã được tiêm vaccine đang quay trở lại làm việc, lao động, sản xuất thì tin giả của Hoàng Dũng gây tác động tiêu cực đến tâm lý người dân, ổn định xã hội. Vì vậy, mong rằng các cơ quan chức năng sẽ sớm có biện pháp ngăn chặn việc đối tượng này và những đối tượng tương tự tung tin sai sự thật để đảm bảo quyền lợi tiếp nhận thông tin đúng của người dân.

 

VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” với các thủ đoạn tinh vi nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.

Giáo dục lý luận chính trị là một phần quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ cách mạng. Đảng ta chỉ rõ: công tác tư tưởng lý luận đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng làm cho hệ tư tưởng của Đảng của giai cấp công nhân, lý tưởng XHCN, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến việc học tập lý luận, Người khẳng định: “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Trong Đảng, “về tư tưởng, nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin” và “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng” nói chung và xem nhẹ việc học tập lý luận nói riêng. Với những cán bộ, đảng viên ngại, lười học lý luận chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đó là những người chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng, trong khi đó thì “có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”. Đó cũng chính là những người không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu vai trò của lý luận chính trị đối với thực tiễn và mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận chính trị và thực tiễn, nên trong công tác, họ không có lý luận dẫn đường. Lối làm việc theo lối kinh nghiệm, đầy cảm tính mà nguyên nhân là do kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông đã khiến họ gặp phải không ít khó khăn và lúng túng khi xử lý công việc, dẫn đến phạm không ít sai lầm, khuyết điểm. Vì thế, Người nhấn mạnh, Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận... Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng; đồng thời, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi, nâng cao trình độ lý luận; thực hiện tốt nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn. Phải chống giáo điều cũng như bệnh lười học, ngại học, hình thức trong học tập lý luận chính trị và vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn.

Thực tiễn công tác giáo dục lý luận chính trị những năm qua cho thấy, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị được đổi mới cả về nội dung và phương pháp; tăng cường quản lý, kỷ luật trong giảng dạy, học tập; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên. Trong đó, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị liên tục được đổi mới, cập nhật, có sự thống nhất hài hòa giữa lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục, bồi dưỡng cũng được thay đổi theo hướng tích cực, hiện đại, ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, đánh giá thái độ, kết quả học tập, rèn luyện. Nhờ đó, chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị từng bước được cải thiện, góp phần đáng kể khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị, dạy và học hình thức./.

Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 Xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân không bao giờ tách rời với việc làm cho Nhà nước luôn trong sạch, vững mạnh. Điều này luôn luôn thường trực trong tâm trí và hành động của chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi nước nhà giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ cũng như lúc cách mạng chuyển giai đoạn, Hồ Chí Minh càng chú ý hơn bao giờ hết đến việc đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh của các cấp chính quyền, bởi vì thường những lúc đó cách mạng đứng trước những thứ thách rất gay gắt và những tiêu cực rất dễ trở thành nguy cơ làm biến chất Nhà nước.

Chỉ một tháng sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng nêu rõ phải chống đặc quyền, đặc lợi: bộ máy nhà nước không phải là bộ máy áp bức, bóc lột nhân dân, cán bộ, công chức không phải là những “ông quan cách mạng”. Hồ Chí Minh chỉ ra sáu căn bệnh cần đề phòng: trái phép, cậy thể, hú hỏa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người nhắc nhở: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung. Vì hạnh phúc của dân tộc vì lợi ích của nước nhà, mà tôi phải nói. Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng”. Hồ Chí Minh đã dùng những cụm từ “công bộc”, “đầy tớ” để chỉ ra một mặt trách nhiệm của người cán bộ công chức trong xây dựng một Nhà nước mới - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hồ Chí Minh thường chỉ rõ những tiêu cực và nhắc nhở mọi người đề phòng và khắc phục, cụ thể là:

Một là, Đặc quyền, đặc lợi

Xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh đòi hỏi phải tẩy trừ những thói cậy mình là người trong cơ quan chính quyền để cửa quyền, hách dịch với dân, lạm quyền, đồng thời để vơ vét tiền của, lợi dụng chức quyền để làm lợi cho cá nhân mình, làm như thế tức là sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Hai là, Tham ô, lãng phí, quan liêu.

Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí, quan liêu là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ giặc nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm. Người phê bình những người “lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức”. Quan điểm của Hồ Chí Minh là: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến...Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”. Ngày 27- 1 1-1946. Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ với mức từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền hối lộ. Ngày 26-1-1946. Hồ Chí Minh ký lệnh nói rõ tội tham ô, trộm cắp của công dân là tội tử hình.

Lãng phí là một căn bệnh mà Hồ Chí Minh lên án gay gắt. Chính bản thân Người luôn làm gương, tích cực thực hành chống lãng phí trong cuộc sống và công việc hàng ngày. Người biết quý từng đồng xu, bát gạo do dân đóng góp cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Lãng phí ở đây được Hồ Chí Minh xác định là lãng phí sức lao động, lãng phí thời giờ, lãng phí tiền của. Chống lãng phí là biện pháp để tiết kiệm, một vấn đề quốc sách của mọi quốc gia.

Liên quan đến bệnh tham ô, bệnh lãng phí là bệnh quan liêu, một căn bệnh không những có ở cấp Trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện mà còn ngay ở cả cấp cơ sở. Hồ Chí Minh phê bình những người và các cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không đi sâu vào từng vấn đề. Bệnh quan liêu làm cho chúng ta chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy chứ không kiểm tra đèn nơi đến, chốn... thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, đây là bệnh gốc sinh ra các bệnh lãng phí; muốn trừ sạch bệnh tham ô, lãng phí phải tẩy sạch bệnh quan liêu “Tư túng”, “chia rẽ”, “kiêu ngạo”.

Những hành động trên gây mất đoàn kết, gây rối cho công tác. Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè, kéo cảnh, tệ nạn bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc nước là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai. Trong chính quyền, còn hiện tượng gây mất đoàn kết, không biết cách làm cho mọi người hòa thuận với nhau, còn có người “bênh vực lớp này, chống lại lớp khác”. Ngoài bệnh cậy thế, có người còn kiêu ngạo, “tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi... Cử chỉ lúc nào cũng vác mặt quan cách mạng”, làm mất uy tín của Chính phủ. Đây chính là bài học đắt giá, cảnh tỉnh đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. 

Xử lý nghiêm hành vi phát tán thông tin sai sự thật trên mạng xã hội

 Theo phản ánh của cử tri, thời gian gần đây, lợi dụng những diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, nhiều cá nhân đã đưa ra những thông tin sai sự thật, giật gân, câu “like” trên các trang mạng xã hội, tạo tâm lý hoang mang và gây nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch. Cử tri kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan thực thi pháp luật tăng cường rà soát, xử lý nghiêm túc, cương quyết đối với những cá nhân cố tình phát tán thông tin sai sự thật trên mạng xã hội. Về vấn đề cử tri nêu, Bộ TT&TT cho biết, thời gian qua, Bộ TT&TT đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường công tác hậu kiểm, xử lý các hành vi vi phạm, đặc biệt là xử lý các đối tượng có hành vi sai phạm, phát ngôn thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội. 

Trong trường hợp xác định được nhân thân của đối tượng cung cấp thông tin vi phạm các quy định hiện hành thì tùy theo mức độ, Bộ TT&TT sẽ xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp kỹ thuật, áp dụng theo quy định tại Nghị định số 15/2020/NĐ-CP; Trường hợp vi phạm mức độ nhẹ thì nhắc nhở, rút kinh nghiệm, trường hợp vi phạm ở mức độ nặng có thể xem xét xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi giấy phép, thu hồi tên miền. Đối với trường hợp có dấu hiệu vi phạm hình sự thì chuyển hồ sơ cơ quan công an điều tra, xem xét, xử lý theo quy định. 

Cũng theo Bộ TT&TT, từ tháng 1/2021 đến nay, Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam (trực thuộc Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Bộ TT&TT) đã xác thực thông tin và công bố 33 tin giả, tin sai sự thật. Trong trường hợp không xác định được nhân thân của tổ chức, cá nhân vi phạm thì Bộ TT&TT gửi yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ như Google, Youtube, Facebook thực hiện các biện pháp ngăn chặn, gỡ bỏ theo quy định tại Thông tư số 38. Chỉ tính riêng trong thời gian có dịch COVID-19, Bộ TT&TT đã đề nghị Google, Youtube, Facebook gỡ 11 tài khoản giả mạo Bộ Y tế, 152 bài viết đưa tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh COVID-19 (Tỷ lệ gỡ chặn đạt 100%).  Thanh tra Bộ TT&TT cũng đã xử lý vi phạm việc cung cấp thông tin sai sự thật về dịch COVID-19 trên mạng xã hội tại một số địa phương, cụ thể: Năm 2020 đã xử lý 122 vụ việc tại 21 tỉnh/ thành phố; quý I/2021 xử lý 57 vụ việc tại 13 tỉnh/thành phố. Cùng với đó, Bộ TT&TT đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử để phù hợp với Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính. 

Ngoài ra, Bộ TT&TT sẽ tập trung nghiên cứu bổ sung các nội dung sau: Mở rộng thẩm quyền xử phạt của Thanh tra Y tế, Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lực lượng Công an nhằm tăng công tác thực thi, xử lý vi phạm; Bổ sung biện pháp tạm ngừng hoạt động tên miền của các trang thông tin điện tử quảng cáo sản phẩm, thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh sai sự thật nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm; đối với xã hội, mỗi người dân hết sức thận trọng khi xem, đọc các tin trên mạng xã hội; đồng thời, sẽ là những thinh gỉa thông thái, không chia sẻ, cổ súy cho những cho những hành vi gây rối, đi ngược với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.