Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

Một số giải pháp góp phần làm thất bại âm mưu cái gọi là gọi “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch

 


Chủ động vạch trần bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự”, làm cho người dân hiểu rõ những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” là một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước của nhân dân ta. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục làm cho người dân thấy rõ bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự” là những hành động cố ý cản trở việc thực thi luật pháp, chính sách của chính quyền. Nói cách khác, đó là hành động vi phạm pháp luật có chủ ý, thể hiện tư tưởng cực đoan, “vô chính phủ” của cá nhân, tổ chức, hay của một nhóm người cụ thể; đi ngược lại lợi ích chính đáng của đại đa số quần chúng nhân dân. Ở nước ta, khi bị các thế lực thù địch lợi dụng, “bất tuân dân sự” trở thành công cụ để lật đổ chính quyền, thay đổi thể chế chính trị. Do đó, mọi người dân cần đề cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi hình thức.

Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân; làm cho khẩu hiệu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” đi vào thực tiễn cuộc sống, được nhân dân quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh ở mọi lúc, mọi nơi. Theo đó, cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn; trong đó, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác này trong các nhà trường, ở các bậc học, từ bậc phổ thông đến đại học. Các cơ quan thông tin, truyền thông cần phát huy thế mạnh của mình, thường xuyên dành dung lượng phù hợp (số trang, số giờ phát sóng,…) để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; trong đó, cần đẩy mạnh hơn nữa tuyên truyền Nghị định 38/2005/NĐ-CP, ngày 18-3-2005 của Chính phủ “Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”. Tập trung làm rõ những hành vi bị cấm, như: “(1). Lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để thực hiện hoặc lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người nhằm gây rối trật tự công cộng hoặc để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác; (2). Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật ở lòng đường, vỉa hè, trước trụ sở cơ quan, tổ chức, tại khu vực đang diễn ra các hội nghị quốc tế, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các hoạt động chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoặc nơi công cộng khác”, v.v. Hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ chấp hành, phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng cụ thể để nội dung mỗi luật và văn bản quy phạm pháp luật nhanh chóng được người dân tiếp nhận. Chính quyền cơ sở ở các địa phương cần coi trọng việc hướng dẫn người dân cách thức, quy trình, thủ tục khiếu nại, tố cáo, phản biện xã hội theo quy định của pháp luật để người dân thực hiện. Kiên quyết, kiên trì động viên, thuyết phục người dân tự giác chấp hành pháp luật theo đúng quy trình, trình tự; đồng thời, giải thích cho họ hiểu rõ lợi ích của việc tuân theo và hệ quả của việc bất chấp quy trình, thủ tục đã được pháp luật quy định.

Thực hiện tốt nền nếp chế độ tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các địa phương, kịp thời giải quyết các bức xúc của người dân, không để “việc bé xé thành to”, tạo cơ hội để các thế lực thù địch kích động phong trào “bất tuân dân sự”. Theo đó, cấp ủy các địa phương cần thực hiện nghiêm túc Quy định 11-QĐi/TW, ngày 18-02-2019 của Bộ Chính trị về “Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”. Người đứng đầu cấp ủy các địa phương (tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn) không chỉ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, mà còn phải trực tiếp thực hiện việc tiếp dân (theo định kỳ, hay đột xuất), kịp thời đối thoại với dân khi cần thiết và xử lý, giải quyết các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân theo thẩm quyền. Cùng với đó, người đứng đầu chính quyền các địa phương phải coi trọng phát huy quyền làm chủ của người dân; nghiêm túc thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở và quy định của địa phương về tiếp công dân để kịp thời giải quyết các vướng mắc, bức xúc chính đáng của người dân. Việc tiếp dân, đối thoại và xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải trên tinh thần tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân; dân chủ, công tâm, khách quan, kịp thời, đúng phạm vi thẩm quyền; trình tự, thủ tục cần đơn giản, tạo thuận lợi cho người dân.

Tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; nâng cao năng lực nghiên cứu, ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đó là những biện pháp nhằm triệt tiêu các nguy cơ tiềm ẩn mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để kêu gọi người dân thực hiện “bất tuân dân sự”. Trong giai đoạn hiện nay, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp xây dựng Chính phủ “kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”; xây dựng nền hành chính phục vụ, trọng dân và gần dân. Đồng thời, nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu, đề xuất, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo sát thực tiễn, có tính khả thi cao. Quá trình thực hiện, cần quán triệt tinh thần: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”1; khắc phục triệt để việc đề xuất, ban hành những chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật xa rời thực tiễn, gây bức xúc dư luận, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Muốn vậy, cần coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước thực sự tinh, gọn, hiệu quả; “Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức”2. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm minh các cá nhân tham nhũng, không có “vùng cấm”; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); tích cực ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn với thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” 

Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương để bám nắm cơ sở; sớm phát hiện và đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng lôi kéo người dân thực hiện “bất tuân dân sự” ngay khi mới manh nha. Các địa phương cần có các phương án, kế hoạch phòng, chống “bất tuân dân sự”, lồng ghép vào các đợt diễn tập khu vực phòng thủ để đánh giá mức độ sẵn sàng của địa phương. Khi có dấu hiệu xảy ra hiện tượng “bất tuân dân sự”, các lực lượng của địa phương cần bình tĩnh phân tích, đánh giá, xác định rõ nguyên nhân, đúng tính chất của tình hình, không nhầm lẫn giữa mâu thuẫn nội bộ nhân dân với mâu thuẫn địch - ta; đồng thời, khéo léo phân hóa, cô lập kẻ cầm đầu; kiên trì đối thoại, thuyết phục người dân bị lôi kéo không vi phạm pháp luật. Trên cơ sở hiểu rõ nguyên nhân vụ việc, có biện pháp đồng bộ, xử lý triệt để, có lý, có tình; xử lý nghiêm minh theo pháp luật những kẻ cầm đầu để răn đe và giáo dục, thuyết phục những người nhẹ dạ, cả tin, bị lôi kéo. Việc huy động các lực lượng tham gia giải quyết các “điểm nóng”, tụ tập đông người, cần thực hiện đúng quy định của Chính phủ.NVS.

Cảnh giác với cái gọi là “bất tuân dân sự”

 


Những năm gần đây, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng thủ đoạn kêu gọi người dân tham gia “bất tuân dân sự” nhằm tập hợp lực lượng để khi có thời cơ thì tiến hành các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, lật đổ chính quyền. Để không mắc mưu, chúng ta cần nâng cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi hình thức.

Theo giải thích của Từ điển mở Wikipedia “Bất tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn, được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”. Cũng theo Từ điển này, những vụ bất tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai Cập chống lại sự chiếm đóng của Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã được sử dụng trong nhiều phong trào phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia, như: chiến dịch của M. Gan-đi để giành độc lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc của N. Man-đê-la ở Nam Phi; “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, hình thức này được thực hiện trong “cách mạng hoa hồng” ở Gru-zi-a (năm 2003), “cách mạng cam” ở U-crai-na (năm 2004), “Mùa xuân Ả Rập” ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, v.v.

Thời gian gần đây, nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các thế lực thù địch ra sức cổ súy cho hình thức “bất tuân dân sự”, xem đó là con đường hữu hiệu để lật đổ chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trên các trang mạng xã hội của các thế lực thù địch xuất hiện nhiều lời kêu gọi thực hiện “bất tuân dân sự” tại Việt Nam, như: “Lối thoát cho Việt Nam - bất tuân dân sự”, hoặc “Bất tuân dân sự - con đường tự do cho Việt Nam”(!), v.v. Họ ra sức tuyên truyền, cổ súy cho các phong trào “bất tuân dân sự” trên thế giới, như phong trào “cách mạng dù” gần đây ở Hồng Kông (Trung Quốc); qua đó, phổ biến kinh nghiệm, giới thiệu các nguyên tắc, hình thức tham gia, hướng dẫn cách đề ra khẩu hiệu, cách mang mặc trang phục và công cụ mang theo của những người tham gia,… với cái gọi là “cẩm nang cho bất tuân dân sự”(!). Các tổ chức phản động ở nước ngoài, như: Việt Tân, Voice cũng mở nhiều lớp huấn luyện nội dung, hình thức “bất tuân dân sự” cho các thành viên để đưa về Việt Nam thực hiện hành động phá hoại. Chúng lợi dụng bức xúc của người dân trước những vấn đề dân sinh, như: vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, ô nhiễm môi trường; những bất cập, chưa sát thực tiễn của một số chủ trương, chính sách cụ thể; hay những hạn chế, yếu kém của chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý xã hội; hoặc lợi dụng sự ngộ nhận của người dân trước những thông tin bịa đặt, xuyên tạc mà các thế lực phản động, cơ hội,… tuyên truyền để kích động họ tụ tập, phản đối, không thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua đó, thúc đẩy hình thành các mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, hợp thức hóa việc thực hiện mưu đồ tập hợp lực lượng, chống đối chính quyền, để khi mâu thuẫn lên cực điểm, chúng sẵn sàng kêu gọi kết hợp đấu tranh bất bạo động với bạo động để chống chính quyền, như vụ gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản nhà nước ở Bình Thuận (tháng 6-2018).NVS

TẠI SAO NGA TẤN CÔNG UKRAINE?

 Ukraine từng là một phần của Liên Xô, cho đến khi tách riêng để trở thành quốc gia độc lập sau cuộc trưng cầu dân chủ năm 1991.

Sau khi Liên Xô tan rã, Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) mở rộng tầm ảnh hưởng về phía đông và kết nạp thêm các nước Baltic thuộc Liên Xô cũ là Estonia, Latvia và Litva năm 2004.

4 năm sau, đến lượt Ukraine mong muốn gia nhập NATO.Tổng thống Putin coi sự mở rộng của NATO là mối đe dọa hiện hữu, đồng thời viễn cảnh Ukraine gia nhập liên minh quân sự phương Tây là một "hành động thù địch".

Đó là quan điểm mà người đứng đầu nước Nga đưa ra trong bài phát biểu trên truyền hình hôm 24/2, nhấn mạnh việc Ukraine tham gia liên minh quân sự là mối đe dọa nghiêm trọng đến Nga.

Trong các bài phỏng vấn và phát biểu trước đây, Tổng thống Putin khẳng định Ukraine là một phần của Nga, trên cả khía cạnh văn hóa, ngôn ngữ và chính trị.Trong khi đại bộ phận người dân nói tiếng Nga sinh sống ở miền Đông Ukraine đồng tình với quan điểm trên, phần còn lại ở phía Tây Ukraine lại có thiên hướng hội nhập với châu Âu.

Đầu năm 2014, các cuộc biểu tình lớn với tên gọi Euromaidan bùng phát ở thủ đô Kiev, khiến chính quyền Tổng thống Viktor Yanukovych bị lật đổ sau khi ông từ chối ký thỏa thuận liên kết EU.

Nga đáp trả bằng cách sát nhập bán đảo Crimea của Ukraine, hỗ trợ cuộc nổi dậy ly khai ở Ukraine, đến nay lực lượng này đã giành quyền kiểm soát một phần khu vực Donbass.

Bất chấp thỏa thuận ngừng bắn vào năm 2015, hai bên vẫn chưa có một nền hòa bình ổn định. Theo chính phủ Ukraine, gần 14.000 người đã chết trong cuộc xung đột và 1,5 triệu người phải di tản trong nước.

Tham vọng của Tổng thống Putin

Trong bài tham luận được viết hồi tháng 7/2021, Tổng thống Putin gọi người Nga và người Ukraine là "một dân tộc".Ông cũng cho rằng phương Tây đã làm biến chất Ukraine và đẩy nước này ra khỏi quỹ đạo của Nga thông qua bằng cách "ép buộc thay đổi danh tính".

CNN nêu quan điểm: Những nỗ lực của Putin nhằm đưa Ukraine trở lại nước Nga đã vấp phải phản ứng dữ dội. Tháng 12 vừa qua, Tổng thống Putin trình cho Mỹ và NATO một danh sách các yêu cầu an ninh, đứng đầu trong số đó là lời đảm bảo rằng Ukraine sẽ không bao giờ gia nhập NATO và liên minh này sẽ thu hồi ảnh hưởng quân sự của mình ở Đông và Trung Âu - những đề xuất mà Mỹ và đồng minh cho là không có cơ sở.

Các cuộc đàm phán cấp cao giữa Nga và phương Tây kết thúc vào tháng 1 mà không có bất kỳ đột phá nào. Trong cuộc họp với tân Thủ tướng Đức Olaf Scholz hôm 16/2, ông Putin lặp lại tuyên bố Ukraine đang thực hiện "cuộc diệt chủng" chống lại những người nói tiếng Nga ở khu vực Donbass và kêu gọi giải quyết xung đột thông qua tiến trình hòa bình Minsk.

Dù vậy, chưa đầy một tuần sau, sau khi Thượng viện Nga thông qua việc triển khai các lực lượng quân sự ra nước ngoài, hôm 22/2, ông Putin nói với các phóng viên rằng thỏa thuận Minsk "không còn tồn tại".

Các thỏa thuận, được gọi là Minsk 1 và Minsk 2, nhằm chấm dứt tình trạng đẫm máu ở miền đông Ukraine, chưa bao giờ được thực hiện đầy đủ, với các vấn đề chính vẫn chưa được giải quyết.

Moskva và Kiev từ lâu đã mâu thuẫn xung quanh các yếu tố chủ chốt của thỏa thuận hòa bình, trong đó có thỏa thuận thứ hai được ký vào năm 2015 và đưa ra kế hoạch tái hợp nhất hai nước cộng hòa ly khai vào Ukraine.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tuyên bố rằng ông không đồng tình với bất cứ điểm nào của hiệp định Minsk, vốn yêu cầu đối thoại về các cuộc bầu cử địa phương ở các khu vực ly khai do Nga hậu thuẫn và khôi phục quyền kiểm soát của chính phủ Ukraine đối với biên giới phía đông.

Tuy nhiên, Tổng thống Putin nhấn mạnh dù người đồng cấp Zelensky có đồng tình hay không, thỏa thuận vẫn phải được thực hiện.

"Tổng thống đương nhiệm (của Ukraine) tuyên bố ông ấy không thích bất kỳ điểm nào trong các thỏa thuận Minsk cả. Nhưng thích hay không thì cũng phải chịu thôi... Họ phải tuân thủ nghị định này, nếu không sẽ không cải thiện được gì cả", Tổng thống Putin nói trong cuộc họp với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.

Đáp lại câu nói của Putin, Tổng thống Zelensky khẳng định: "Chúng tôi không thuộc quyền sở hữu của ông ấy".

Quan điểm của Ukraine

Tổng thống Zelensky trước đó đánh giá thấp nguy cơ chiến tranh toàn diện với Nga, đồng thời lưu ý mối đe dọa đã tồn tại trong nhiều năm và Ukraine đã chuẩn bị cho những xung đột quân sự.

Nhưng sau khi Nga tiến hành cuộc tấn công một số mục tiêu quân sự tại Ukraine, Zelensky đã có bài phát biểu trực tiếp tới người dân, tuyên bố thiết quân luật ở nước này.

Chính phủ Ukraine khẳng định Moskva không thể ngăn cản Kiev xây dựng quan hệ chặt chẽ hơn với NATO, hoặc can thiệp vào chính trị đối nội hoặc đối ngoại của khối này. "Nga không thể ngăn Ukraine xích lại gần NATO và không có quyền lên tiếng trong các cuộc thảo luận liên quan", Bộ Ngoại giao Ukraine cho biết trong một tuyên bố với CNN.

Căng thẳng giữa hai nước càng trở nên trầm trọng do cuộc khủng hoảng năng lượng ở Ukraine mà phía Kiev cho rằng Moskva là tác nhân gây ra.

Ukraine coi đường ống Nord Stream 2 (kết nối nguồn cung cấp khí đốt của Nga trực tiếp với Đức) là mối đe dọa an ninh của đất nước này. Nord Stream 2 là một trong hai đường ống mà Nga đặt ở biển Baltic, ngoài mạng lưới đường ống truyền thống trên đất liền chạy qua Đông Âu, bao gồm cả Ukraine.

Kiev luôn xem các đường ống trên khắp Ukraine là yếu tố bảo vệ chống lại sự xâm lược của Nga, bởi bất kỳ hành động quân sự nào của đối phương cũng có thể làm gián đoạn dòng chảy quan trọng của khí đốt đến châu Âu.

Sau yêu cầu từ Tổng thống Zelensky và chính quyền Mỹ, Thủ tướng Đức Olaf Scholz hôm thứ Ba cho biết ông sẽ tạm dừng việc cấp giấy chứng nhận cho đường ống sau khi Tổng thống Putin điều quân đến các vùng phía Đông Ukraine.

Tuy nhiên, Nord Stream 2 chỉ là một trong vô số thách thức mà chính phủ của Zelensky phải đối mặt. Ukraine đang gặp nhiều thách thức trong nước, từ làn sóng lây nhiễm COVID-19 đến nền kinh tế đối diện với khó khăn.

Người dân Ukraine không hài lòng bởi chính quyền ông Zelensky đã không thực hiện lời hứa từng giúp ông bước lên vũ đài quyền lực, trong đó bao gồm cả việc trấn áp tham nhũng trong hệ thống tư pháp của Ukraine.

Dù vậy, mối quan tâm cấp bách lúc này là thất bại của Tổng thống Zelensky trong việc mang lại hòa bình cho Ukraine.





SỐ LƯỢNG VÀ THIỆT HẠI VỀ XE TĂNG CỦA ƬRUNG QUỐC TRONG CUỘC ХÂM LƯỢC NĂM 1979

     Để tấncông xâm lược Việt Nam, Trung Quốc huy động 7 trung đoàn và 2 tiểu đoàn với 781 хe chiến đấu, gồm 697 хe tăng các loại, 66 thiết giáp chở quân và 18 thiết giáp mangDàn hỏa tiễn.

    Lực lượng trực tiếp tham chiến trong thực tế là 4 trung đoàn tănghạng nhẹ Type-62 (420 хe tăng), 1 trung đoàn tănghạng trungType-59 (80 хe tăng), 1 trung đoàn tăng lội nước Type-63 (80 хe tăng) và 1 tiểu đoàn hỏa tiễn tự hànhType-70 (18 хe). Tổng cộng 580 хe tăngvà 60 thiết giáp.

    Còn lại 1 trung đoàn tănghạng trungT-34 (80 хe tăng) và 1 tiểu đoàn tănghạng trungType-59 (37 хe tăng) nằm Dự bị phía ѕau, không tham chiến.

    Hướng Lạng Sơn có 1 trung đoàn tănghạng nhẹ và 1 tiểu đoàn tăng lội nước, tổng cộng 107 хe tăngType-62, 26 хe tăngType-63 và 13 thiết giápType-63.

    Hướng Hoàng Liên Sơn có 1 trung đoàn tănghạng nhẹ, tổng cộng 102 tăngType-62 và 11 thiết giápType-63.

    Hướng Cao Bằng là nơi tập trunghơn 60% lực lượng хe tăng củaTrung Quốc, gồm 2 trung đoàn tănghạng nhẹ, 1 trung đoàn tănghạng trung, 2 tiểu đoàn tăng lội nước và 1 tiểu đoàn hỏa tiễn tự hành. Tổng cộng 211 хe tăngType-62, 80 хe tăngType-59, 54 хe tăngType-63, 42 thiết giápType-63 và 18 hỏa tiễn tự hànhType-70.

    Số хe “chiến thương” được Trung Quốc хác định là chiếm 31%, nghĩa là khoảng 190 хe.Có 76 chiếc được tính là bị phá hủy – 32 хe được đưavề TQ хử lý và 44 хe bị bỏ lại chiến trường.Còn lại 533 хe (cả chiến thương lẫn phi chiến thương) được ѕửa chữavà khôi phục tình trạng chiến đấu.

    Trong ѕố 640 хe chiến đấu tham chiến, có tới 609 chiếc bị hư hỏng. 87% các tổn thất này (tương đương 530 хe) хảyra trong 4 ngày chiến đấu đầu tiên (trong đó ngày 17-2 lên tới 52%, còn lại lần lượt là 15%, 13%, 7%). Thực tế thì con ѕố này tính tất cả các loại ѕự cố, hỏnghóc kỹ thuật, bao gồm cả không trong tìnhhuống chiến đấu.

    Thông cáo chính thức của Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyên bố tiêu Diệt 280 хe tăngvà thiết giápTrung Quốc, cao gấprưỡi ѕố Trung Quốc nhận. Trong điềukiện chiến tranh thì chuyện này là bình thường.

    Trong bài phát biểu của ĐặngTiểu Bình tại hội nghị quân chính nội bộ ngày 16/4/1979 (ѕaukhi rút quân về nước 1 tháng), ĐặngTiểu Bình chỉ tríchgaygắt các quan chức chính quyền và các lãnh đạo quân đội về những ѕai lầm trong chiến Dịch:

    “Đánh lần nàyvũ khí, quân ѕố đềugấp mấy lần Việt Nam.Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là 5 đánh 1, 6 đánh 1. Chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đềugấp mấy lần, thậm chí 6 đánh 1, 7 đánh 1…” nhưng “…thươngvong của chúng tagấp 4 lần ѕo với Việt Nam. Thần thoại của chúng ta đã bị hủyDiệt” (ý nói về uy thế của Quân Giải phóng Nhân Dân Trung Quốc).

NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ VIỆT NAM!

 Mông Cổ tuyên bố: “Dẫm nát quân dân nhà Trần dưới vó ngựa Nguyên Mông...” 

Sau 3 lần tấn công, toàn bộ tướng lĩnh tiên phong Nguyên Mông đều bị mất đầu - hoàng tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn về Bắc Quốc.

- Người Pháp tuyên bố: “Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm...”

Sau 56 ngày đêm Việt Minh tấn công, Điện Biên Phủ đã xuất hiện từng đoàn lính Pháp xếp hàng dài vài cây số, giơ hai tay lên trời từ trong pháo đài bất khả xâm phạm đi ra.

- Người Mỹ tuyên bố: “Đưa Miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá ...”

Sau gần chục năm Mỹ và chư hầu tham chiến - Miền Bắc Việt Nam tiến thẳng lên thời kỳ đồ nhôm (mà lại nhôm xịn khai thác trên trời) 

- Người Tàu tuyên bố: "Sáng ăn cơm Bắc Kinh - Trưa duyệt binh Hà Nội...” 

Sau 9 năm từ 1979-1988 quân TQ vẫn loanh quanh ăn cơm trộn đạn dọc tuyến biên giới và phía biển, để rồi 6,2 vạn quân TQ được duyệt binh dưới âm phủ.

- Khơ-me đỏ tuyên bố: “Đổi 2 triệu quân Khơ Me để tiêu di.ệt 20 triệu quân CS Việt Nam...” 

Sau một tuần CS VN chính thức tổng tấn công, đã tiêu diệt hoàn toàn chế độ Khơ me đỏ... thậm chí Bộ đội VN còn “đi lạc” sâu vào đất Thái Lan 20km.

- Ngụy VNCH tuyên bố: “Lấy lại đất tổ, không làm khổ dân...” 

Sau 47 năm quân số VNCH ngày càng bị thiếu hụt trầm trọng do Chúa điều động quân lực lên trời hưởng nhang.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh cho Mỹ cút - Đánh cho ngụy nhào. Xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn...” 

Không chỉ Mỹ cút, không chỉ Ngụy nhào (mà còn nhào qua bển), để rồi đất nước Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Ukraine quan trọng như thế nào đối với thế giới

 Đối với những người hỏi: “Tại ѕao Ukraine lại quan trọng”? Thì đâу là lý Do:

Đâу là quốc gia lớn thứ hai theoDiện tích ở Châu Âu theo Diện tíchvà có Dân ѕố trên 40 triệu – nhiềuhơn Ba Lan.

Ukraine хếphạng:

Đứng thứ nhất ở Châu Âuvề trữ lượng quặnguranium có thể phục hồi được đã được chứng minh;

Đứng thứ 2 trên thế giới về trữ lượng quặng mangan đã thăm Dò (2,3 tỷ tấn, chiếm 12% trữ lượng thế giới);

Đứng thứ 2 Châu Âuvà đứng thứ 10 thế giới về trữ lượng quặngtitan;

Đứng thứ 2 Châu Âuvề trữ lượng quặng thủу ngân;

Trữ lượng quặng ѕắt lớn thứ 2 thế giới (30 tỷ tấn);

Thứ 4 trên thế giới về tổnggiá trị tài nguуên thiên nhiên;

Vị trí thứ 3 ở châu Âu (vị trí thứ 13 trên thế giới) về trữ lượngkhí đá phiến (22 nghìn tỷ mét khối)

Vị trí thứ 7 trên thế giới về trữ lượng than (33,9 tỷ tấn)

Ukraine là một quốc gia nôṅg nghiệp quan trọng:

Ukraine có thể đáp ứng nhu cầu lương thực cho 600 triệu người.

Đứng đầu Châu Âuvề Diện tích đất canh tác;

Đứng thứ nhất thế giới về хuất khẩuhướngDươngvà DầuhướngDương;

Đứng thứ 2 thế giới về ѕản хuất đại mạchvà đứng thứ 4 về хuất khẩu đại mạch;

Đứng thứ 3 thế giới về Diện tích đất đen (25% thể tích thế giới);

Sản хuất lớn thứ 3 và хuất khẩu ngô lớn thứ 4 trên thế giới;

Sản хuất khoai tâу lớn thứ 4 trên thế giới;

Nhà ѕản хuất lúa mạch đen lớn thứ 5 trên thế giới;

Đứng thứ 5 thế giới về ѕản lượng ong (75.000 tấn);

Vị trí thứ 8 trên thế giới về хuất khẩu lúa mì;

Đứng thứ 9 thế giới về ѕản lượng trứnggà;

Vị trí thứ 16 trên thế giới về хuất khẩupho mát.

Ukraine là một quốc gia công nghiệpphát triển quan trọng:

Đứng đầu Châu Âuvề ѕản хuất amoniac;

Hệ thống đường ốngDẫn khí đốt tự nhiên lớn thứ 2 của Châu Âuvà thứ 4 trên thế giới;

Đứng thứ 3 Châu Âuvà thứ 11 trên thế giới về chiềuDài mạng lưới đường ѕắt (21.700 km);

Lớn thứ 3 ở Châu Âuvà lớn thứ 8 trên thế giới về công ѕuất lắp đặt của các nhà máу điện hạt nhân;

Nước хuất khẩu ѕắt lớn thứ 3 trên thế giới

Đứng thứ 3 trên thế giới (ѕauMỹ và Pháp) về ѕản хuất máу địnhvị và thiết bị địnhvị;

Nhà ѕản хuất bệ phóng tên lửa lớn thứ 4 thế giới;

Nước хuất khẩu tua bin cho nhà máу điện hạt nhân lớn thứ 4 trên thế giới;

Vị trí thứ 4 trên thế giới về хuất khẩu titan

Vị trí thứ 4 trên thế giới về хuất khẩu đất ѕét

Vị trí thứ 8 trên thế giới về хuất khẩu quặngvà tinh quặng;

Đứng thứ 9 thế giới về хuất khẩu các ѕản phẩm công nghiệp quốc phòng;

Nhà ѕản хuất thép lớn thứ 10 trên thế giới (32,4 triệu tấn).

Vấn đề Ukraine.

Đó là lý Do tại ѕao nền độc lập của nó rất quan trọng đối với phần còn lại của thế giới.


NGUỒN GỐC CỦA MÂU THUẪN XÔ – TRUNG (1956-1961)

     Mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc trong những năm 1956-1961 đã có nguồn gốc sâu xa từ những năm 1920, khi cách mạng Trung Quổc còn chưa thành công và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế còn chịu sự chỉ đạo của Stalin và Quốc tế III.

    Trong giai đoạn này, vấn đề tranh cãi cơ bản giữa Liên Xô và Trung Quốc là sự hợp tác giữa những người cộng sản và lực lượng quốc gia ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa.Thực ra, đây không phải là vấn đề mới trong nội bộ Quốc tế Cộng sản. Ngay từ năm 1920, tại Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản, Lenin và M.N. Roy, đại diện Đảng Cộng sản Ấn Độ đã tranh luận khá gay gắt về vấn đề, liệu những người cộng sản có nên hợp tác với những người quốc gia và họp tác đến mức độ nào ở những nước được gọi là thuộc địa và nửa thuộc địa. Cuộc tranh luận này đã không có hồi kết và luôn luôn có sự thay đổi tuỳ theo tình hình và tưong quan lực lượng của hai bên.

    Nhìn chung, quan điểm của Liên Xô, đứng đầu là Stalin, là cần có “sự hợp tác quốc – cộng” vì nhằm mục tiêu là loại bỏ ảnh hưởng của phương Tầy ở nhũng khu vực mà ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản vẫn chưa giành được ưu thế vượt trội. Ngoài ra, Liên Xô cũng không muốn những khu vực này trở thành “vệ tinh” của các nước tư bản. Trong những năm 1920-1930, Liên Xô đã cố gắng thuyết phục Đảng Cộng sán Trung Quốc hợp tác với Quốc dân Đảng, kể cả khi Quốc dân Đảng đã bộc lộ sự phản bội của họ.

    Trong khi đó, Trung Quốc lại chủ trương một đường lối cách mạng tích cực, thậm chí sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm khi phá vỡ quan hệ với các đảng dân chủ, quốc gia. Họ sợ rằng, những người cộng sản có thế bị lợi dụng và mất quyền lãnh đạo.

    Thực tế cách mạng Trung Quốc năm 1927 cho thấy sự lo ngại của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đúng. Ngày 12/4/1927, Tưởng Giới Thạch, thủ lĩnh của Quốc dân Đảng đã trở mặt, tiến hành những đợt thanh trừng đẫm máu ở Thượng Hải và gây ra những thiệt hại nặng nề cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chỉ có một bộ phận nhỏ của Đảng may mắn được Mao Trạch Đông cứu thoát, rút về khu rừng núi, làm cuộc trường chinh trong những năm 1930 và giành được thắng lợi cuối cùng vào năm 1949. Nói tóm lại, sự ngờ vực, không tin cậy đã tồn tại giữa Liên Xô và Trung Quốc trong suốt giai đoạn trước khi cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949.

    Vì thế nhìn chung Trung Quốc và Mao Trạch Đông không muốn phụ thuộc vào Liên Xô. Ngoài ra, Trung Quốc cũng cho rằng Liên Xô đã không chịu sửa chữa những sai lầm mà họ đã gây ra đối với cách mạng Trung Quốc, khi vẫn tiếp tục đường lối cũ ở các thuộc địa và nửa thuộc địa trong những năm 1950.

    Mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc nảy sinh trực tiếp từ nhân tố đề cao vị trí và vai trò của Trung Quốc trong phong trào cộng sản và giải phóng dân tộc ở các nước đang phát triển nói chung, của Mao Trạch Đông trong so sánh với các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác nói riêng.

        Ngay từ năm 1946, trong một cuộc phỏng vấn, Lưu Thiếu Kỳ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Mao Trạch Đông không chỉ đối với cách mạng Trung Quốc mà còn đối với cả châu Á: “Mao Trạch Đông đã có công lớn trong việc chuyển Chủ nghĩa Mác từ một hình thức châu Âu sang hình thức châu Á. Mác và Lênin là những người Âu châu. Họ viết bằng ngôn ngữ châu Âu về lịch sử và những vấn đề châu Âu, nhưng họ rất ít đề cập đến châu Á hoặc Trung Quốc. Không nghi ngờ là những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác được áp dụng ở tất cá các nước, nhưng đó sẽ là một nhiệm vụ khó đế áp dụng chân lý chung của học thuyết này vào thực tế cách mạng cụ thể của Trung Quốc. Mao Trạch Đông là người Trung Quốc; người phân tích các vấn đề Trung Quốc và lãnh đạo nhân dân Trung Quốc trong cuộc chiến đấu tới thắng lợi.Người áp dụng những quy luật Mác – Lênin vào hoàn cảnh lịch sử và những vân đề thực tế của Trung Quốc. Người là người đầu tiên thành công trong việc này

    Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, trong thời gian hai năm đầu 1949-1951, Mao Trạch Đông đã cố gắng tìm cách chứng tỏ sự “tự trị tư tưởng” và khả năng của những người cộng sản Trung Quốc trong việc tìm ra một mẫu hình cách mạng mới mà các nước thuộc địa và nửa thuộc địa phải noi theo.

    Trong giai đoạn này và những năm tiếp theo, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành tuyên truyền cho “tư tưởng Mao Trạch Đông” (Mao Zedong’s Ideology). Người ta cho rằng, Mao Trạch Đông đã giải quyết được vấn đề xây dựng CNXH cho một nước lạc hậu với đại bộ phận cư dân là nông dân. Với luận điểm đó, Mao Trạch Đông được coi là một nhà lý luận xuất sắc của Chủ nghĩa Mác – Lênin và mô hình Trung Quốc được xem là có ý nghĩa quốc tế và là định hướng cho các nước học tập. Những biểu hiện này cho thấy Trung Quốc không chịu đóng vai trò thứ yếu trong quan hệ với Liên Xô.Điều đó thể hiện ở việc Mao Trạch Đông đã tự đặt mình ngang hàng với Mác và Lênin, chứ không phải với Stalin và Khrushchev; thứ hai, Trung Quốc không phải nhận sự chỉ đạo trong việc thực hiện đường lối đối nội và đối ngoại từ Liên Xô.Cuối cùng, Mao Trạch Đông được coi là lãnh tụ của cả thế giới thứ ba.

    Yếu tố thứ hai đóng vai trò quan trọng trong mâu thuẫn Xô Trung chính là sự khác biệt lớn về con đường cách mạng của hai Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc. Nếu Cách mạng tháng Mười được thực hiện thành công trước hết là bằng việc giành chính quyền ở những thành phố lớn như Saint Peterburg, Matxcova..sau đó mới mở rộng ra khu vực nông thôn. Đó là cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa một bên là giai cấp công nhân, binh lính, thợ thuyền và một bên là giai cấp tư sản phản động, thối nát. Ngược lại, cuộc cách mạng Trung Quốc là một cuộc đấu tranh giành quyền lực kéo dài hơn hai thập kỷ, bắt đầu bằng việc chiếm giữ các vùng nông thôn xa xôi, sau đó mới mở rộng đến các thành phố. Đó là một cuộc chiến tranh du kích lâu dài, gian khó, trong đó nông dân và nông thôn đóng một vai trò quan trọng.

    Nhân tố thứ ba tác động đến mâu thuẫn Xô – Trung là sự cô lập tương đối của Trung Quốc đối với thế giới bên ngoài. Trong so sánh với Liên Xô, vào những năm 1950 của thế kỷ trước, Trung Quốc hầu như không có vị trí quốc tế nào, ngoại trừ sự công nhận ngoại giao của một vài nước XHCN. Nhưng sự cô lập với cộng đồng quốc tế lại có nghĩa là Trung Quốc có thể theo đuổi một chính sách mà Liên Xô buộc phải từ bỏ vì những quyển lợi và trách nhiệm toàn cầu hết sức nặng nề của mình. Cuộc kháng chiên chống Pháp của Việt Nam là một ví dụ.

    Nhân tố thứ tư tác động tới mâu thuẫn Xô – Trung có tính chất kinh tế.Kinh tế Trung Quốc là một nền kinh tế tiểu nông, lạc hậu, không có khả năng nuôi sống một cộng đồng dân cư đông nhất thế giới và luôn tăng trưởng.Áp lực đè lên ngành công nghiệp Trung Quốc vì ý chí chủ quan muốn đuổi kịp và vượt các nước tư bản tiên tiến.Ngoại thương có nhiệm vụ mua bán và tìm được nguồn nguyên liệu đủ cho nền kinh tế phát triển.Ngược lại nền kinh tế quốc dân của Liên Xô khá phát triển. Liên Xô không phải chịu áp lực về nguyên liệu, lao động khi tiến hành công nghiệp hoá.

    Nhân tố thứ năm làm cho mâu thuẫn Xô – Trung thêm phức tạp là lĩnh vực quân sự.Quân đội Trung quốc không có vũ khí nguyên tử và cũng không có nhiều hy vọng sở hữu vũ khí này trong tương lai gần.Ngược lại, Liên Xô là một cường quốc quân sự, có đội quân hùng mạnh, tinh nhuệ, đã phát triển được vũ khí nguyên tử.Để thực hiện các mục tiêu chính trị của mình trong một thời gian ngắn, Trung Quốc không có cách nào khác là phải dựa vào Liên Xô.

    Nhân tố cuối cùng đóng vai trò quan trọng trong mâu thuẫn Xô – Trung chính là những lợi ích cách mạng khác nhau của họ.Nhũng lợi ích này thể hiện ở quan điểm về tốc độ tiến hành cách mạng, mục tiêu, ưu tiên cũng như trọng tâm của tiến trình cách mạng ở những thời điểm khác nhau. Nếu như Trung Quốc cho rằng cần phải ưu tiên trước hết cho cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, chủ yếu ớ châu Á, Phi, Mỹ Latinh, thì Liên Xô lại cho rằng phải tập trung ở các nước tư bản phát triển ở châu Âu, nơi phong trào công nhân ở đó đóng vai trò tiên phong, có tác động tới thế giới thứ ba.

    Cần phải lưu ý rằng, cho đên khi Stalin qua đời, các lợi ích cách mạng của Liên Xô và Trung Quốc không mâu thuẫn với nhau nhiều lắm, vì mục tiêu của Stalin là không mở rộng thêm nữa ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản mà tập trung vào củng cố những khu vực đã giành được sau Thế chiến thứ II.

THẤM THÍA VỀ BÀI HỌC TỰ CƯỜNG Ở UKRAINE.

     Từ quốc gia giàu tài nguyên, có tiềm năng phát triển hàng đầu ở khu vực Đông Âu, Ukraine đã suy sụp để rồi giờ đây đứng bên bờ vực của một cuộc chiến gây ra bởi sự giằng xé giữa Đông và Tây. Người Ukraine đang thấm thía bài học về sự tự cường hơn bao giờ hết…

    Trong con mắt chúng tôi, những sinh viên từng được nhà nước cử đi du học tại Liên Xô, Ukraine là đất nước rất giàu có và tươi đẹp. Có thể nói trong thành phần Liên Xô trước đây, Ukraine là nước cộng hòa phát triển thứ hai chỉ sau Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Nga, với tiềm lực kinh tế mạnh mẽ, xã hội phát triển, văn minh. Ai từng ghé thăm những thành phố Kyiv, Kharkiv, Odessa, hay Lviv xinh đẹp, lang thanh trên những nẻo đường ở bán đảo Crimea mùa Hè, ăn lê, táo, anh đào “mệt nghỉ” trên đường như thời chúng tôi thực tập hẳn sẽ cảm nhận rõ về Ukraine.

    Chính vì vậy sự hụt hơi “bạc nhược” và thụt lùi của quốc gia Đông Âu này, đặc biệt là sau cuộc Cách mạng Nhân phẩm năm 2014, khiến nhiều cựu sinh viên chúng tôi cũng như những bậc đàn anh không khỏi tiếc nuối và buồn lòng.

    Sức mạnh của Ukraine có thể thấy rõ qua các số liệu kinh tế năm 1991, thời điểm Ukraine tách khỏi Liên Xô trở thành quốc gia độc lập. Vào thời điểm đó, GDP bình quân đầu người (tính theo sức mua tương đương – PPP) của quốc gia Đông Âu này là 6.900 USD, xếp thứ 52 trên thế giới, cao hơn nhiều so với mức trung bình ở các nước Trung Âu. Ngày nay GDP bình quân đầu người của Ukraine là 13.341 USD, xong xếp thứ 97 thế giới.

    Tính ra, GDP bình quân đầu người của Ukraine tăng hơn 90%, nhưng trong cùng kỳ con số này ở Ba Lan, Hungary và CH Séc tăng từ 4 -6 lần. Ngay Belarus cũng tăng 278%. Hiện GDP bình quân đầu người của Ukraine không chỉ thua Ba Lan mà còn thua cả Belarus, quốc gia có điều kiện và nguồn lực phát triển kém nhất.

    Có thể nói nếu những năm 90 của thế kỷ trước nước láng giềng Ba Lan mơ ước được như Ukraine thì nay người Ukraine lại mơ được như người Ba Lan và nhiều người Ukraine đang sang Ba Lan để tìm kiếm công việc hậu hĩnh hơn. Một phân tích cho thấy đồng tiền hryvnia của Ukraine trong 25 năm tồn tại đã giảm giá 15 lần so với đồng USD, và kể từ thời điểm độc lập, đồng tiền quốc gia Ukraine đã giảm giá 90.000 lần, một con số rất bất ngờ. Về nợ công, đầu năm 1994, nợ nhà nước của Ukraine là 4,8 tỷ USD (nợ nước ngoài chiếm 75%). Tính đến tháng 6/2018, nợ công của Ukraine tăng gấp 15 lần mức trên, lên 76,3 tỷ USD. Nợ nước ngoài cao gấp 2,6 lần dự trữ ngoại hối và để trang trải nợ công, mỗi người Ukraine phải gánh 1.800 USD.

    Chính vì phụ thuộc vào tiền vay nước ngoài, Ukraine buộc phải tuân theo các điều kiện của Quĩ Tiện tệ Quốc tế (IMF) để có thể nhận các khoản vay mới. Một trong các điều kiện đó là tăng giá bán khí đốt. Không chỉ được nghe từ chính người dân Ukraine mà mới đây một Việt kiều cũng cho tôi biết tiền khí đốt hàng tháng ở thành phố Odessa của nước này lên tới 2.500 hryvnia, trong khi đó lương hưu trí chỉ ở mức 2000 hryvnia, không đủ để trả tiền khí đốt.

    Giá khí đốt tăng cao đã gây thiệt hại nặng nề cho nhiều lĩnh vực kinh tế của Ukraine. Đáng chú ý là nhiều chuyên gia đã đặt câu hỏi tại sao Ukraine không mua khí đốt giá rẻ của Nga như trước kia mà lại phải mua giá cao lòng vòng từ các nước EU, liệu đây có phải sai lầm trong chính sách đối ngoại?

    Chính sách đoạn tuyệt với Nga cũng gây nhiều tác hại, đặc biệt là đối với các tỉnh miền Đông, vốn trước đây là những trung tâm công nghiệp chính của Ukraine. Các nhà máy ở miền Đông Ukraine từng chế tạo máy móc, thiết bị, kể cả động cơ tên lửa và động cơ máy bay, để xuất khẩu chủ yếu sang Liên bang Nga. Nay do chính sách “không quan hệ” với Nga, những nhà máy này ngừng làm ăn với các đối tác Nga khiến cho các xí nghiệp hoạt động cầm chừng, người lao động mất việc, các thành phố công nghiệp miền Đông như Dnipropetrovsk, Kharkiv, Zaporoze … trở nên ảm đạm, không còn sức sống. Chính sách không thân thiện với Nga là một trong những nguyên nhân kìm hãm phát triển kinh tế, đặc biệt là ở các tỉnh ở miền Đông.

    Cuộc cách mạng Nhân phẩm năm 2014 cho đến nay vẫn là điều gây tranh cãi khi Liên bang Nga luôn cho rằng đây là cuộc đảo chính Tổng thống Viktor Yanukovych trước sự làm ngơ, âm thầm hậu thuẫn của các nước phương Tây, và cũng chưa đem lại điều tốt đẹp gì. Liên tiếp các Tổng thống sau cách mạng – Oleksandr Turchynov, Petro Poroshenko, hay như Tổng thống đương nhiệm Volodymyr Zelensky – đều chưa thể chấn hưng kinh tế, tạo ra môi trường hòa bình, ổn định để Ukraine để phát triển.

    Trước cuộc Cách mạng trên, Ukraine được xem như chia làm 2 phe Đông và Tây, với các tổng thống hoặc được miền Đông ủng hộ và thân Nga hoặc được miền Tây ủng hộ và có xu hướng nghiêng về Liên minh châu Âu (EU) lên cầm quyền. Sau Cách mạng, Ukraine quyết chỉ chọn con đường hướng tới EU, NATO và xa rời nước Nga láng giềng. Tuy nhiên có lẽ nước Ukraine hướng tới châu Âu tươi đẹp lại không được tươi đẹp và sáng sủa như nước Ukraine Đông-Tây trước kia.

    Những tưởng Ukraine, với 45 triệu dân, sẽ trở thành một quốc gia trung lập, làm cầu nối giữa Nga và châu Âu, để có thể lợi dụng các lợi thế kinh tế của cả 2 khu vực này làm giàu cho mình thì nay ý tưởng đó hoàn toàn biến mất. Ukraine trở thành nước nghèo ở châu Âu, một vùng đệm tranh chấp giữa Đông và Tây với những khúc mắc chưa biết lúc nào có thể giải quyết.

    Việc Ukraine khó có thể trở thành thành viên NATO chúng tôi đã biết từ thời điểm đưa tin về sự kiện Maidan năm 2014.Điểm vướng chính đó là Điều 5 Hiệp ước NATO.Điều này quy định rằng “bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào vào một hay một số thành viên liên minh đều được coi là tấn công vào toàn bộ liên minh” và tất cả các thành viên sẽ hỗ trợ nạn nhân của cuộc tấn công như vậy. Với điều khoản này, đương nhiên một khi Ukraine ra nhập NATO, như Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nói rõ thì nó cũng đồng nghĩa với việc tất cả các nước thành NATO phải giúp Ukraine lấy bán đảo Crimea, nghĩa là chiến tranh với Nga, điều mà NATO không hề muốn. Như vậy có thể thấy những tuyên bố hùng hồn của các nước phương Tây về quyền được lựa chọn của Ukraine thực chất cũng không phải là thực chất.

    Cuộc cách mạng Nhân phẩm năm 2014 chưa thể đem lại những thành quả tích cực cho người dân và hơn thế nó chính là nguyên nhân khiến bán đảo Crimea sáp nhập vào LB Nga cũng như làm nổ ra cuộc chiến ở Donbass. Cuộc chiến này giống như một cơn bão tràn qua các tỉnh miền Đông Ukraine, quét sạch những triển vọng kinh doanh, kể cả của người Việt Nam ở đó, làm bần cùng miền Đông một thời phát triển.

    Năm 2014, khi tôi và một số phóng viên Việt Nam khác đến Donetsk để đưa tin về người Việt còn mắc kẹt trong xung đột tại đó, chúng tôi, cũng như những người Việt Nam sống ở đây mong mỏi xung đột sẽ mau chóng kết thúc để người dân có thể ổn định làm ăn, mưu cầu cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.

    Tuy nhiên giờ đây, sau gần 8 năm, xung đột tại Donbass vẫn chưa có hồi kết, mà thay vào đó ở phương Tây còn đang lan truyền về một cuộc “chiến tranh” quy mô hơn giữa Nga và Ukraine. Những thông tin này theo quan điểm của tôi là không chắc chắn. Tuy nhiên về mặt nào đó nó cho thấy sự xấu đi của tình hình, về cuộc khủng hoảng còn trầm trọng hơn ở Ukraine, ấn giấu sau đó có thể là những hậu quả kinh tế lớn lao, gây thêm áp lực cho người dân.

    Tóm lại có thể thấy nước Ukraine vẫn bế tắc trong cuộc khủng hoảng cả về quân sự và kinh tế mà chưa tìm được đường hướng thích hợp để giải quyết những khó khăn này. Nếu trước đây, Ukraine có được những thế hệ lãnh đạo kiên định, quyết tâm đi theo con đường tự lực tự cường, không nghiêng sang Tây hay ngả sang Đông, để trông mong vào các khoản tiền viện trợ thì có lẽ, sau 30 năm, đất nước này đã không rơi vào tình cảnh như hiện nay.

Người Mỹ kể về “Chuồng cọp” Côn Đảo

     Nhà báo Don Luce – một trong những nhân chứng trong vụ phát hiện khu “Chuồng cọp” Côn Đảo làm chấn động dư luận thế giới tháng 7/1970.

    Người bạn tốt nhất của tôi đã bị tra tấn đến chết vào năm 1970.Anh là Nguyễn Ngọc Phương – một người đàn ông hiền lành.Nhưng anh ghét chiến tranh và sự tàn phá của nó với đất nước mình.Sau ba ngày bị thẩm vấn và tra tấn liên tục, anh qua đời.“Anh bị các cảnh sát người Việt tra tấn, nhưng các chuyên viên người Mỹ đứng đó và chỉ đạo”, một trong những bạn tù của anh cho biết như vậy.

    Có lẽ đây là sự khác biệt lớn nhất giữa nhà tù ở Việt Nam và nhà tù Abu Ghraib (Iraq). Ở Việt Nam, Mỹ chủ yếu đào tạo và tài trợ cho cảnh sát và quân đội Sài Gòn để làm tay sai của họ. Ở Abu Ghraib và các nhà tù khác tại Iraq, quân đội Mỹ trực tiếp tiến hành hoạt động tra tấn.

    Tuy nhiên, thực tế đã có nhiều người Việt Nam bị lính Mỹ tra tấn trước khi được chuyển cho chính quyền Sài Gòn và đưa vào tù.Việc các nông dân bị trói ngoài trời nắng nóng, và rất nhiều người bị lính Mỹ xử bắn đã được miêu tả đầy đủ trong các tài liệu của quân đội Mỹ rò rỉ ra báo giới.

    Năm 1970, Tổng thống Nixon đã gửi một phái đoàn gồm 10 nghị sĩ đến Việt Nam để nắm tình hình thực tế.Một phần nhiệm vụ của họ là chuyến viếng thăm một nhà tù ở miền Nam Việt Nam để được chấp thuận thăm một nhà tù đang giam giữ lính Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.

    Ông Tom Harkin, khi đó là nhân viên, trợ lý của đoàn Quốc hội Mỹ, đã thuyết phục hai nghị sĩ trong đoàn điều tra hoạt động tra tấn trong “Chuồng cọp” tại nhà tù ngoài khơi bờ biển của Việt Nam. Các dân biểu bay 200 dặm đến Côn Đảo, nơi có nhà tù được người Pháp xây từ năm 1939 này. Tôi được tham gia chuyến đi trong tư cách một thông dịch viên và chuyên gia về các nhà tù ở Việt Nam.

    Chúng tôi đã nhìn thấy những cảnh tượng rất trái ngược nhau khi đến nhà tù. Sử dụng bản đồ được một cựu tù nhân bị giam trong “Chuồng cọp” vẽ, chúng tôi chuyển hướng từ các lộ trình được lên kế hoạch từ trước và vội vã đi xuống một con hẻm giữa hai dãy nhà tù. Chúng tôi tìm thấy cánh cửa nhỏ dẫn đến các lồng sắt giữa các bức tường nhà tù.Một bảo vệ bên trong nghe thấy những tiếng động bên ngoài và mở cửa.Chúng tôi bước vào.

    Hình ảnh của các tù nhân trong lồng đã khắc sâu vào tâm trí tôi, đến giờ vẫn không tẩy xóa nổi: một người đàn ông với ba ngón tay bị cắt rời; một người khác (sớm qua đời sau đó) được đưa đến từ tỉnh Quảng Trị có hộp sọ đã vỡ toác; và nhiều tu sĩ Phật giáo Huế – những người đấu tranh chống sự đàn áp các Phật tử – trong tình trạng thê lương. Tôi nhớ rõ mùi hôi thối khủng khiếp do tiêu chảy và và các vết thương lở loét ở mắt cá chân các tù nhân do xiềng xích cắt vào.

    Các bức ảnh do ông Harkin – nay là Thượng nghị sĩ bang Iowa – chụp ở nhà tù đã được đăng trên tạp chí Life ngày 17/7/1970. Một cuộc biểu tình quốc tế nổ ra sau đó, dẫn đến việc 180 người đàn ông và 300 phụ nữ được chuyển khỏi các Chuồng cọp. Một số đã được chuyến đến các nhà tù khác.Nhiều người bị đưa đến bệnh viện tâm thần.

    Grace Paley đã mô tả cuộc sống trong tù của một trong số 300 phụ nữ bị giam giữ tại Chuồng cọp trong cuốn sách xuất bản năm 1998, giống như những gì tôi hình dung:

    Trong tù, Thiều Thị Tạo bị đánh vào đầu bằng dùi cui.Đầu cô bị kẹp giữa hai thanh thép.Nước được rót xuống cổ họng cô.Cô đã bị giam hãm trên nền đất. Sau đó, vào ngày 20/11/1968, cô bị chuyển đến trụ sở cảnh sát quốc gia…

…Cuối năm 1969, Tạo đã được chuyển đến Chuồng cọp của Côn Đảo. Trong vài ngày, cô đã bị treo lên một cái móc sắt.Hình thức tra tấn này khiến xương sống của cô đã bị hư hại và đến nay cô vẫn phải đeo nẹp ở cổ.Sau một năm ở Côn Đảo, cô được chuyển giao cho các nhà thương điên ở Biên Hòa.

    Trước khi vào tù, Tạo là một học sinh trung học 16 tuổi.Cô đã bị tống giam vì không chào cờ.Cô đã tỏ ra bất tuân phục, giám đốc nhà tù lúc đó cho biết.

    Tù nhân lâu năm nhất ở khu Chuồng cọp là bà Sáu. Bà đã bị mù do vôi ăn da đã được ném vào tù như một biện pháp kỷ luật.

    Ngày nay, phía sau khi Chuồng cọp tai tiếng là nghĩa trang cho 20.000 người đã chết trong nhà tù Côn Đảo. Hầu hết các ngôi mộ không có bia. Các tù nhân tại Côn Đảo thậm chí không có số hiệu. Khi những người sống sót quay lại thăm nơi từng giam giữ mình, họ mang theo hoa, cầu khấn và khẽ hát những bài hát đã được thì thầm trong Chuồng cọp khoảng 35 năm trước đây…

THỜI SỰ QUỐC TẾ: PHẢI CHĂNG MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY ĐÃ QUÊN NHỮNG LỜI HỨA CỦA HỌ VỚI LIÊN XÔ XƯA VÀ NGA NGÀY NAY!

         Năm 1990 khi ngoại trưởng Mỹ mong muốn Liên Xô rút quân đồn trú khỏi Đông Đức để thống nhất nước Đức. Người Liên Xô đã rất quân tử khi rút 300 nghìn quân trong hoà bình để trả lại một nước Đức tươi đẹp. Và ngoại trưởng Mỹ đã hứa rằng Nato sẽ không tiến 1 milimet nào về phía đông. Thủ tướng Đức - Anh cũng đã hứa như vậy với Mikhail Sergeyevich Gorbachov. Và Liên Xô cũng chơi đẹp đến mức tuyên bố không ngăn cản tiến trình chính trị của khối Đông Âu nếu họ muốn. Ưng thì ở chán thì đi chứ không ngăn cản khối rời khỏi chủ nghĩa cộng sản và chỉ cần Mỹ và Nato đảm bảo đừng mở rộng khối về phía đông...

   Nghe mà cảm thán cho một siêu cường trong buổi hoàng hôn của đế chế và những gì xảy ra sau đó là lịch sử. Thế Giới đã từng phải ngả mũ trước người "ANH CẢ" như thế.

   NATO khi hứa như vậy có 16 thành viên còn bây giờ thì sao? là 30, và hầu hết là những nước thuộc Liên Xô cũ. 

   Và có những lúc người Nga tuyệt vọng đến mức đã muốn tham gia vào: NATO và EU. Tổng Thống Vladimir Putin từng xuống nước ngỏ lời với Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton trong chuyến thăm Mosscow năm 2000 rằng : 

   Vladimir Putin: Ngài có nghĩ chúng tôi có thể tham gia Nato không? 

   Bill Clinton: Không, chúng tôi không nghĩ như vậy... 

    Vladimir Putin: Ồ, nếu ta không thể là một liên minh, Tôi hi vọng các ngài cũng đừng trở thành Kẻ Thù của chúng tôi... 

   Sau này Khi tổng thống Nga Vladimir Putin yêu cầu Mỹ - Nato giữ lời hứa không mở rộng khối đến sát Nga thì Mỹ và Đồng Minh nói rằng: Chúng tôi chỉ hứa với Liên Xô và bây giờ Liên Xô đã không còn thì lời hứa cũng không còn nốt. Thế nên trong những năm qua Tổng Thống Vladimir Putin luôn yêu cầu một văn bản chính thức của Mỹ về việc không mở rộng khối liên minh đến biên giới Nga. Nhưng thay vì bàn bạc để có hoà bình thì người Mỹ phớt lờ yêu cầu đó và vươn cánh tay đến tận Ukraine. 

   Bạn có ngủ yên trên giường được hay không khi thằng Hàng Xóm cứ lăm le hướng tên lửa về phía nhà mình? 

   Trước đây, Rất nhiều chính trị gia của Phương Tây cũng nhận thấy Mỹ & Nato hạ nhục chèn ép Nga như vậy chưa bao giờ là một phương pháp hay nhưng Mỹ vẫn làm... 

   Và Chuyện Gì Phải Đến cũng đã đến. Nếu Nga không hành động thì Họ sẽ mất vị thế trên toàn cầu, và đến lúc này khi Tổng Thống Vladimir Putin đưa quân vào Ukraine thì chứng tỏ Nga đã không còn đường lùi... sau lưng họ là Mátxcơva! Là mái nhà của họ…

   Ngày xưa 2 triệu quân Đức Quốc Xã với Hàng vạn xe Tăng cũng chỉ khiến Liên Xô lùi đến đấy. Lùi nữa đồng nghĩa với cái chết của nước Nga mà một người theo chủ nghĩa dân tộc như Tổng Thống Vladimir Putin không thể chấp nhận. 

   Cần Thế Giới để làm gì nếu không có nước Nga?

   Một Trận Chiến là Tất Yếu, và nó đã thực sự xảy ra. Nếu có trách thì chỉ trách Ukraine quá ngây thơ khi tin vào lời hứa viển vông của Mỹ và Nato, bây giờ cứu vãn cuối cùng là Ukraine nhanh chóng ngồi vào bàn đàm phán lại với Nga và từ bỏ hoàn toàn ý định chống lại chính những người chung dòng máu Liên Xô cũ với mình… Nga sẽ thắng, thế nhưng Chiến Thắng nào cũng phải có mất mát hi sinh, thường dân sẽ là những người chịu khổ nhiều nhất, Cá Nhân tôi mong rằng ông: Tổng Thống Vladimir Putin sẽ kết thúc sớm để tránh quá nhiều thương vong cho cả 2 nước… 

   Gửi đôi lời đến báo chí và cộng đồng cư dân mạng Việt đang chửi bới và lên án nước Nga: Có thể các bạn đã quên hoặc còn quá trẻ để nhớ đến những gì Hồng Quân Liên Xô đã làm trong Thế Chiến.

   Thế nhưng ít nhất các bạn được đi học Lịch Sử cũng phải được nghe đến những gì Liên Xô đã làm cho Việt Nam ta trong cả 2 cuộc chiến giành độc lập? Những viện trợ nhân đạo không hoàn lại từ người Anh Em xứ bạch dương trong nhiều thập kỉ qua các bạn còn nhớ? 

   Và Tôi xin nhắc lại lần nữa với Châu Âu: Để có những mùa hè rực nắng, hay mùa đông tuyết trắng đường, những công trình đẹp đẽ ngày hôm nay thì bên dưới đó chính là Máu, Máu của Hồng Quân Liên Xô, những người hùng đã giải cứu thế giới khỏi ách bạo tàn của Phát Xít: Đức, Ý, Nhật... 

   Các Bạn: Có thể Nhớ, có thể Quên, nhưng không bao giờ được phép Phủ Nhận...!!!

Yêu nước ST.

CHỦ TRƯƠNG ĐÁNH NGA ĐẾN NGƯỜI UKRAINE CUỐI CÙNG CỦA MỸ VÀ NATO!

         Sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, những thế lực dân tộc cực đoan ở Ukraina được Mỹ và các thế lực phương Tây phục hồi ca ngợi trùm phát xít Ukraina Stepan Bander chỉ trích, lên án chế độ cộng sản và bài Nga. 


Trong những năm qua, với sự trợ giúp của CIA - Cục tình báo trung ương Mỹ và Mi6 - Cục tình báo Anh, OUN (Tổ chức Quốc gia Ukraina được thành lập vào những năm 1930) và UPA (“Quân đội Khởi nghĩa Ukraina” – một tổ chức phát xít Ukraina tàn bạo khét tiếng trong Chiến tranh Thế giới thứ II) được phục hồi dưới cái tên “Pravyi Sektor” ở miền Tây Ukraina lập tức trở thành lực lượng chủ lực trong cuộc đảo chính “Maidan 2014” lật đổ chính quyền thân Nga, sau đó trở thành chủ lực của đội quân ATO (đội quân trừng phạt) của chính quyền Kiev để thực hiện cái gọi là “dẹp loạn miền Đông”. 


Trong 8 năm qua, đặc biệt những năm 2014-2015 và 2017, chính quyền Kiev sử dụng lực lượng phát xít mới Pravyi Sektor đã gây ra vô vàn tội ác đối với người Nga và các sắc tộc khác ở Ucraina. Mở đầu là vụ đốt cháy Nhà hát Opera Odessa, gây ra cái chết thương tâm cho hơn 30 thường dân. Tiếp theo là các vụ khủng bố đối với các cộng đồng nói tiếng Nga ở Đông Ucraina khiến hàng nghìn người chết và bị thương. Chúng điên cuồng thực hiện các chiến dịch “tiễu phạt” ở Lugansk và Donetsk. Lực lượng ATO dưới sự chỉ đạo từ Kiev đã tiến hành hàng trăm vụ hành quyết hệt như thời Trung cổ nhằm vào những người Ukraina gốc Nga, nói tiếng Nga…


Kết quả điều tra của Tòa án hình sự quốc tế (ICC) tháng 9/2015 đã có tới gần 8.000 người thiệt mạng và 17.820 người bị thương trong các cuộc tấn công của quân đội Ukraina vào dân thường miền Đông nước này. Đó chính là hậu quả của chính sách bài Nga cực đoan, của chính sách chống Nga bằng mọi giá được điều khiển bởi chủ trương “đánh Nga đến người Ukraina cuối cùng” của Mỹ và NATO, và đó cũng là nguyên nhân người Nga ở vùng Donbas” tức nước vỡ bờ” buộc Nga phải phản ứng quyết liệt để bảo vệ an ninh cho công dân Nga ở Ukraina và cho an ninh của Liên bang Nga khi Mỹ và NATO cố tình bước qua “lằn ranh đỏ” bao vây, áp sát, đe doạ đến lợi ích và an ninh của Nga./.


Yêu nước ST.

FIFA LÀ AI? PHẢI CHĂNG FIFA LÀ CỦA MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY!

         Sáng hôm nay ngày 1-3-2022 FIFA Chính thức thông báo cấm bóng đá Nga tham gia vào các giải quốc tế và châu lực . Quyết định này 1 lần này thể hiện sự bất lực của mỹ và PT trong việc giải quyết hủng hoảng tại UKR . Đi ngược lại truyền thống và tôn chỉ THỂ THAO PHI CHÍNH TRỊ. Theo quy định của tổ chức thể thao lớn nhất hành tinh này mọi chính phủ dù là thể chế chính trị nào cũng không được phép can thiệp vào vấn đề thể thao đặc biệt là môn bóng đá. Xung đột ở bất cứ đâu kể cả UKR lúc này hoàn toàn không liên quan đến các cầu thủ , họ không tham gia chính trị, không cầm súng , với quyết định này thì một lần nữa cho thấy các tổ chức mang tầm quốc tế kể cả LHQ đều không thể hiện được vai trò của mình , bị chi phối bởi các nước lớn không công tâm và không có các giải pháp tốt nhất cho các vấn đề. Việc cấm đặc biệt là các môn thể thao không giải quyết vấn đề gì mà chỉ làm cho tình hình phức tạp thêm. 

Thông điệp PHI CHÍNH TRỊ HOÁ THỂ THAO một lần nữa lại bị vi phạm một cách thô bạo./.

Yêu nước ST.

Giá trị của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trong giai đoạn hiện nay

 


Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời 174 năm, nhưng những giá trị của tác phẩm vẫn còn sống mãi. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn vận dụng tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam một cách sáng tạo, hiệu quả. Đó là những quan điểm về mục tiêu cách mạng, vai trò của Đảng Cộng sản, vai trò của giai cấp vô sản, vai trò của việc xây dựng ý thức xã hội mới - ý thức xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong khi chủ nghĩa xã hội thế giới lại đang ở bước thoái trào, những khó khăn và thách thức của thời đại đã và đang cản trở sự phát triển của cách mạng, song lịch sử xã hội loài người vẫn tiếp tục tiến lên theo những quy luật mà “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã dự báo; từ đó, khẳng định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử nhân loại.

Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiểu rõ tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng của những người cộng sản, hiểu rõ thế giới quan và phương pháp luận khoa học mà học thuyết mang lại, đó cũng chính là cách mà cán bộ, đảng viên tự bồi dưỡng lập trường tư tưởng, phương pháp cách mạng, hoàn thành tốt trách nhiệm mà lịch sử giao phó.

HAIVAN

“MỘT DÂN TỘC KHÔNG TỰ LỰC CÁNH SINH MÀ CỨ NGỒI CHỜ DÂN TỘC KHÁC GIÚP ĐỠ THÌ KHÔNG XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC ĐỘC LẬP.”


🇻🇳Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong: “Bài nói chuyện tại hội nghị chiến tranh du kích”, ngày 13 tháng 7 năm 1952. Đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang có biểu hiện trông chờ vào sự giúp đỡ của các nước bạn. Mặt khác, lại xuất hiện tư tưởng nóng vội muốn đánh thắng ngay. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn chấn chỉnh nhận thức, củng cố niềm tin, phát huy nội lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực tham gia thúc đẩy cuộc kháng chiến nhanh chóng giành thắng lợi.


Qua bài nói chuyện, Người nhấn mạnh, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta là trường kỳ gian khổ nhưng lại phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức rõ chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đoàn kết, thống nhất, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường trong thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân, đơn vị, từng địa phương và nhiệm vụ chung của cách mạng. Tinh thần tự lực, tự cường của cả dân tộc là nhân tố quan trọng để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của dân tộc.


Ngày nay, xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhưng tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường vẫn là yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Do đó, trong khi mở rộng hợp tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Đảng ta phát huy cao độ tinh thần đại đoàn kết toàn dân, chủ động tự lực cánh sinh thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.


Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, luôn làm tốt công tác đối ngoại quốc phòng để mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự hợp tác, ủng hộ của các đối tác góp phần xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên chính quy, hiện đại.

Hải Đăng ST

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”

 

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là kết quả của việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc, tiếp thu kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản cũng như phong trào công nhân quốc tế của toàn Đảng. Điều đó, được thể hiện rất rõ trong tất cả các bài viết của cuốn sách, thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:

Một là, tổng kết thực tiễn đổi mới cùng với nghiên cứu lý luận giúp chúng ta khắc phục những quan niệm giản đơn về CNXH, làm cho nhận thức về CNXH đúng đắn hơn, sâu sắc hơn. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư khẳng định “Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...”.

Hai là, tổng kết thực tiễn đổi mới cùng với nghiên cứu lý luận giúp chúng ta hình thành được mô hình CNXH Việt Nam. Chính nhờ tổng kết thực tiễn, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhưng Đảng ta đã hình thành nhận thức tổng quát về mô hình CNXH Việt Nam với tám đặc trưng phù hợp thực tiễn Việt Nam. Để thực hiện được tám đặc trưng đó, chúng ta cần triển khai tám phương hướng lớn.

Ba là, tổng kết thực tiễn đổi mới cùng với nghiên cứu lý luận giúp chúng ta nhận thức rõ hơn, đúng hơn về thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Từ tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam, nhất là hơn 35 năm đổi mới mà Đảng ta đã nhận thức sâu sắc rằng “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới”. Vì vậy “quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”. Do đó, không thể chủ quan, nóng vội được.

Bốn là, tổng kết thực tiễn đổi mới cùng với nghiên cứu lý luận giúp chúng ta xác định rõ và đúng nội hàm của “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Trước đây nhận thức về “bỏ qua” chế độ TBCN cũng giản đơn, thiếu thống nhất. Hiện nay, qua tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta cho thấy “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”.

Năm là, tổng kết thực tiễn đổi mới cùng với nghiên cứu lý luận giúp chúng ta bổ sung, phát triển một số vấn đề lý luận về CNXH Việt Nam. Điều này thể hiện ở những điểm sau:

1) Đưa ra quan niệm về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư đã khẳng định rất rõ “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”. Đây là kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam vừa có những đặc trưng của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường lại vừa có những đặc trưng rất Việt Nam. Đó là có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đúng như Tổng Bí thư khẳng định “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ)”. Đặc biệt chính từ thực tiễn Việt Nam, tổng kết thực tiễn đổi mới, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc rằng “đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”.

2) Đưa ra mô hình nhà nước pháp quyền XHCN là hình thức tối ưu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư chỉ ra rất rõ “Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”.

3) Xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Chính tổng kết thực tiễn đổi mới, nghiên cứu lý luận đã giúp Đảng ta phát triển lý luận về vai trò, vị trí của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư chỉ rõ “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao”.

4) Nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Từ tổng kết thực tiễn đổi mới, Đảng ta nhận thức rõ trong thời kỳ quá độ lên CNXH, khi thực hiện các định hướng lớn xây dựng CNXH chúng ta phải nhận thức và xử lý tốt các quan hệ lớn. Đại hội XI xác định 8 quan hệ lớn, tổng kết thực hiện nghị quyết Đại hội XI, Đại hội XII bổ sung thêm 1 quan hệ lớn và tổng kết thực hiện nghị quyết Đại hội XII, Đại hội XIII bổ sung thêm “mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư nêu rất rõ “chúng ta cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ;”. Đối với Việt Nam đi lên CNXH từ xuất phát điểm thấp lại bị ảnh hưởng bởi các cuộc chiến tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc thì đúng như Tổng Bí thư nhấn mạnh “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả. Tuyệt đối không được cực đoan, phiến diện”.

Qua những đánh giá trên chúng ta thấy tổng kết thực tiễn có vai trò to lớn trong bổ sung, phát triển lý luận về CNXH. Tuy nhiên, đúng như Tổng Bí thư cũng khẳng định trong cuốn sách “Đất nước ta đã qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã qua 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, song hiện vẫn còn không ít vấn đề lý luận, thực tiễn chưa được luận giải thấu đáo và làm sáng tỏ; vẫn còn những vấn đề mới mà thực tiễn phát triển của thế giới, nhất là của Việt Nam đặt ra cần được nghiên cứu, tổng kết để góp phần phát triển, hoàn thiện đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, làm cơ sở tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động”. Do vậy chúng ta phải không ngừng đẩy mạnh tổng kết thực tiễn nâng tầm lý luận của Đảng.

HAIVAN

CUỘC CHIẾN Ở UKRAINE NHÌN TỪ MẠNG XÃ HỘI

Mạng xã hội ở Việt Nam suốt mấy ngày gần đây nóng rực vì những bình luận trái chiều về cuộc chiến đang diễn ra tại Ucraina. Nhiều người bênh Nga, nhưng cũng có không ít người phê phán Putin một cách dữ dội. Các cuộc tranh luận đối kháng trên mạng xã hội (MXH) có lúc căng thẳng đến mức một số bạn bè Facebook “cắt đứt quan hệ ngoại giao” với nhau. Có chủ tút tuyên bố thẳng thừng: “Ai ủng hộ Putin là tôi block luôn đấy nhé”.

Những người phản đối việc Nga công nhận hai nước cộng hòa tự xưng Donesk, Lugansk và đưa quân vào đánh Ukraine cho rằng, việc tổng thống Putin dùng lí do an ninh nước Nga bị đe dọa do Ukraine theo Mỹ và phương Tây, phớt lờ lời kêu gọi của Nga không mở rộng NATO về phía Đông chỉ là một cái cớ để Nga phát động chiến tranh, xâm phạm thô bạo một quốc gia có chủ quyền. Điều này là không thể chấp nhận được và không thể đánh lừa được dư luận. Họ bảo rằng nếu ủng hộ Nga trong việc này sẽ tạo thêm một tiền đề xấu cho các nước lớn khác dùng sức mạnh để bắt nạt, xâm chiếm các nước nhỏ. Nhiều người gọi Putin là kẻ độc tài, là bạo chúa, là kẻ châm ngòi cho thế chiến thứ ba.

Ở chiều ngược lại, cũng có nhiều người ca ngợi hành động của tổng thống Putin, gọi ông là anh hùng, đã ra quyết sách rất kịp thời, đúng đắn. Họ cho rằng, nước Nga phải hành động chứ không thể ngồi yên mãi để cho Mỹ “làm mưa, làm gió” như trong suốt bao nhiêu năm qua. Một facebooker viết: “Tôi tin nước Nga đang phải tự cứu mình, chứ không tin vào truyền thông phương Tây. Ông Putin ra quyết sách rất kịp thời, đúng đắn. Tôi thích sự quyết đoán của tổng thống Putin. Một nước Nga kiêu dũng, dưới sự dẫn dắt sáng suốt và cứng rắn của Putin đã khiến Mỹ và phương Tây phải choáng váng”.

Mặc dù có nhiều quan điểm trái chiều trên MXH về tính đúng – sai trong quyết định của của tổng thống Putin đưa quân đội vào Ukraine, nhưng có một điểm mà hầu như đại đa số dân cư mạng đều có nhận định giống nhau. Đó là việc chính quyền nhà nước Ukraine những năm gần đây đã mắc sai lầm nghiêm trọng trong việc lựa chọn con đường đi cho dân tộc mình. Ở vị trí địa chính trị quan trọng, nhạy cảm như Ukraine và có lịch sử nhiều năm gắn bó với Liên Xô cũ, hơn nữa lại có rất nhiều người Nga sinh sống lâu đời tại nhiều vùng đất giáp Nga, lẽ ra Ukraine phải lựa chọn cho mình một con đường phát triển khôn ngoan hơn, cân bằng hơn giữa Mỹ, phương Tây với người láng giềng anh em là nước Nga.

Từ năm 2014, các nhà lãnh đạo Ukraine đã phạm phải những sai lầm liên tiếp để dần trở thành một nhà nước ở vào thế đối đầu trực tiếp, đe dọa an ninh của Nga. Hơn thế nữa, nền kinh tế Ukraine ngày càng thụt lùi và phụ thuộc vào phương Tây. Từ một nước cộng hòa phát triển nhất của Liên Xô cũ, Ukraine đã trở thành một trong những nước nghèo nhất châu Âu hiện nay. Để rơi vào tình thế “không thấy ai đến cứu mình” hiện nay, Ucraina chỉ nên tự trách mình.

Cư dân mạng cũng không quên so sánh trường hợp của Ucraina với Việt Nam. Từ bài học của Ucraina, mọi người càng thấy rõ đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào một nước này để chống nước khác mà Việt Nam đã lựa chọn là con đường khôn ngoan, nhìn xa, trông rộng.

Ông Carl Thayer, một chuyên gia nước ngoài nghiên cứu lân năm và có uy tín về Việt Nam, có một nhận xét đáng chú ý: “Một trong những thành công lớn nhất của Việt Nam kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới là đã định hướng đường lối đối ngoại đúng đắn”.  

Trong suốt những năm qua, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại này và đó chính là tiền đề vững chắc giúp Việt Nam duy trì được môi trường hòa bình, sự ổn định chính trị, xã hội để đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử như ngày hôm nay.

Từ nhiều năm nay, các thế lực cơ hội, thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc đường lối đối ngoại Việt Nam. Chúng xuyên tạc rằng, chính sách đối ngoại độc lâp, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại cân bằng quan hệ với các nước lớn của Việt Nam là “di dây nguy hiểm”, “tự cô lập mình”, là “lạc hậu, không kịp thời”… Lợi dụng triệt để MXH, chúng giả danh thay mặt một bộ phận người sử dụng MXH “kiến nghị” lãnh đạo Việt Nam cần phải “chọn phe”, đi theo một nước lớn để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Sự chống phá đó đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh mâu thuẫn giữa Mỹ với Trung Quốc ngày càng trở nên sâu sắc, có lúc bên bờ vực xung đột, đe dọa hòa bình, ổn định tại khu vực.      

Những thành tựu phát triển của Việt Nam cùng với vai trò, vị thế quốc tế ngày càng lớn mạnh của đất nước và những bài học từ cuộc khủng hoảng tại Ucraina hiện nay chính là sự bác bỏ thuyết phục nhất đối với những thông tin, luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại Việt Nam của các thế lực chống phá./.

10 GƯƠNG MẶT TRẺ, TIÊU BIỂU TOÀN QUÂN NĂM 2021

 


1. Trung úy Lương Văn Lợi, Đội trưởng Đội Phòng chống ma túy và tội phạm, Đồn Biên phòng Keng Đu, Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An.

2. Lưu Đức Phong, Lao động hợp đồng, Trưởng phòng Nền tảng số, Trung tâm Chuyển đổi số, Tổng công ty Mạng lưới Viettel, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội.

3. Thượng úy Nguyễn Tiến Duy, Trưởng ngành Hàng hải, Tàu 016, Lữ đoàn 162, Vùng 4, Quân chủng Hải quân.

4. Thượng úy Hồ Trà Việt Linh, Đội trưởng Đội 2, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 1, Bộ Tư lệnh 86.

5. Thượng sĩ Trần Mạnh Hải, học viên lớp DQS 07021, Đại đội 2, Tiểu đoàn 3, Trường Sĩ quan kỹ thuật quân sự, Tổng cục Kỹ thuật.

6. Trung úy Lê Viết Thành, giảng viên bộ môn Chỉ huy vận tải, Khoa Vận tải, Học viện Hậu cần.

7. Đại úy Trần Minh Tuyên, Phó Trưởng phòng Kỹ thuật công nghệ, Nhà máy Z183, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng.

8. Đại úy Nguyễn Mạnh Toàn, Trợ lý Phòng Kỹ thuật truyền dẫn-thông tin vệ tinh, Trung tâm Kỹ thuật thông tin công nghệ cao, Binh chủng Thông tin liên lạc.

9. Thiếu tá Nguyễn Đình Luân, Đại đội trưởng Đại đội 7, Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn 210, Quân khu 1.

10. Thượng úy Nguyễn Thị Hồng Anh, Biên tập viên Phòng Thời sự truyền hình, Trung tâm Phát thanh-Truyền hình Quân đội, Tổng cục Chính trị.

HAIVAN