Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

Xây dựng Trường Sa thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển

 

Xây dựng Trường Sa thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu Khánh Hòa phối hợp với các bộ, ngành tập trung nhiều hơn nữa cho công tác quy hoạch, trong đó có quy hoạch xây dựng huyện đảo Trường Sa thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước; là thành trì vững chắc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc

Sau một ngày khảo sát thực địa, sáng 13-3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa nhằm đánh giá tình hình phát triển kinh tế, xã hội năm 2021, nhiệm vụ năm 2022 và nhiệm vụ, giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trước mắt là xây dựng cơ chế chính sách, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị để trình Quốc hội.

Cùng dự có Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Bộ trưởng các bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông Vận tải, Tài nguyên Môi trường, Xây dựng, Công Thương, Tư pháp; lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; về phía tỉnh Khánh Hòa có Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hải Ninh, các lãnh đạo chủ chốt của tỉnh và lãnh đạo các sở, ban, ngành của địa phương.

Báo cáo tại buổi làm việc cho biết năm 2021 trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, song với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Trung ương, Chính phủ; cùng sự quyết tâm, nỗ lực của các hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa đạt được một số kết quả tích cực, trong đó 13/21 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, nổi bật là thu ngân sách đạt trên 14 ngàn tỷ đồng, vượt hơn 2% so với kế hoạch...

Năm 2022, tỉnh triển khai các giải pháp phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, với phương châm "thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19", nâng cao năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế, quyết tâm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,5%.

Đặc biệt, năm 2022, tỉnh Khánh Hòa tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 28-1-2022 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó tập trung công tác lập quy hoạch; cải thiện môi trường đầu tư; tập trung nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; quan tâm thực hiện tốt chính sách đối với người có công, công tác an sinh xã hội, giải quyết việc làm; phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường; thực hiện hiệu quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội...

Kết luận buổi làm việc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định tỉnh Khánh Hòa có vị trí chiến lược, quan trọng về quốc phòng, an ninh; có tiềm năng, lợi thế, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, toàn diện, nhanh và bền vững; có điều kiện phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội với bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh; trở thành trung tâm của cả vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên.

Tỉnh vừa có biển, đồng bằng, miền núi, với có 3 vịnh, là cửa ngõ của Tây Nguyên ra biển, có hệ thống giao thông gồm cả đường bộ, đường sắt, hàng không. Đặc biệt, tỉnh có bờ biển dài, có thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn với gần 200 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có quần đảo Trường Sa thiêng liêng của Tổ quốc.

Tỉnh có nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích, lễ hội truyền thống và địa danh lịch sử. Người dân thông minh, sáng tạo, hiền hòa, yêu nước, giàu truyền thống cách mạng, kiên cường, dũng cảm trong kháng chiến chống ngoại xâm. Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao với hệ thống cơ sở đào tạo, nghiên cứu trên địa bàn...

Trong năm 2021, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã đoàn kết, nỗ lực, chủ động, sáng tạo, phát huy tiềm năng, lợi thế, triển khai quyết liệt, linh hoạt các biện pháp, giải pháp vừa bảo đảm kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, vừa từng bước phục hồi và phát triển kinh tế xã hội, đạt và vượt 13/21 chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Tuy nhiên, Khánh Hòa vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh. Kết quả hợp tác, liên kết với các địa phương khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên còn hạn chế. Vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông còn thấp, chưa đồng bộ; cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, dàn trải, hiệu quả sử dụng chưa cao.

Kết quả việc khắc phục các sai phạm, nhất là thu hồi tài sản thất thoát còn chậm, chưa đạt yêu cầu đề ra. Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành kinh tế trọng điểm. Môi trường đầu tư, kinh doanh, năng lực cạnh tranh còn hạn chế.

"Khánh Hòa phải xem xét, nghiên cứu nguyên nhân của những hạn chế trên. Phải chăng do tỉnh thiếu chủ động, tích cực; tiềm năng lớn mà cơ chế chính sách còn hạn hẹp", Thủ tướng đặt vấn đề.

Người đứng đầu Chính phủ nhận định năm 2022 và những năm tới đây vẫn còn những khó khăn do phải khôi phục kinh tế nhanh, phát triển bền vững. Bên cạnh giải quyết những khó khăn nội tại của nền kinh tế còn phải xử lý các tác động của tình hình quốc tế và có thể phát sinh những khó khăn mới.

Do đó đề nghị Khánh Hòa tăng tính tự lực, tự cường; bám sát thực tiễn; dự báo tốt tình hình; linh hoạt hơn nữa trong thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội. Tỉnh phải phát huy hơn nữa tính chủ động, tích cực, sáng tạo, thích ứng với tình hình. Phát huy cho được tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh; đồng thời tạo cơ hội mới để thu hút nguồn lực từ bên ngoài cho sự phát triển, nhất là tranh thủ nguồn lực về vốn, trí tuệ, khoa học quản trị để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Thủ tướng đề nghị tỉnh tổ chức triển khai, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và trực tiếp là Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị phát triển kinh tế-xã hội tỉnh nhà. Phát huy hơn nữa truyền thống lịch sử văn hóa, đoàn kết, phẩm chất tốt đẹp của người dân Khánh Hòa. Tỉnh tiếp tục tập trung cho bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, tận tụy, trách nhiệm, vì nhân dân phục vụ. xứng tầm với nhiệm vụ thời kỳ mới.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đi đôi với phân bổ nguồn lực, cá thể hóa trách nhiệm, tăng cường giám sát, kiểm tra; tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư; khắc phục những hạn chế, yếu kém kéo dài nhiều năm như trong quản lý đất đai, quản lý cán bộ, khắc phục sai sót sau thanh tra, kiểm tra.

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, tỉnh Khánh Hòa phải kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh; đa dạng hóa huy động nguồn lực cho phát triển, đưa Khánh Hòa trở thành trung tâm dịch vụ, du lịch, y tế, khoa học, công nghệ của cả khu vực... Trong đó nghiên cứu áp dụng mô hình "lãnh đạo công, quản trị tư; đầu tư công, quản lý tư; đầu tư tư, sử dụng công".

Về những nhiệm vụ cụ thể, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu Khánh Hòa phối hợp với các bộ, ngành tập trung nhiều hơn nữa cho công tác quy hoạch. Quy hoạch phải đi trước một bước, có tầm nhìn chiến lược, dài hạn; tận dụng tối đa tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh; đồng thời tạo ra cơ hội mới cho sự phát triển. Trong đó khẩn trương quy hoạch và thực hiện các quy hoạch khu kinh tế Vân Phong, khu đô thị sân bay Cam Lâm...

Đặc biệt quy hoạch xây dựng huyện đảo Trường Sa thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước; là thành trì vững chắc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, trên cơ sở luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982. Trước hết là tập trung cho hậu cần nghề cá; ổn định cuộc sống lâu dài cho người dân trên huyện đảo; củng cố quốc phòng, an ninh trên biển.

 

NGƯỜI ĐÁNH CHÌM TÀU SÂN BAY MỸ!

     Đây là USNS Card (Tàu Sân bay) bị một người đàn ông Việt Nam đánh chìm tại cảng Sài Gòn vào ngày 2/5/1964, khiến 120 lĩnh Mỹ chết và bị thương, 24 máy bay các loại bị phá hủy, chìm theo tàu. Đây chính là Tàu Sân bay duy nhất bị đánh chìm sau Thế chiến thứ hai. Sau đó, Mỹ đã trục vớt xác tàu và kéo nó về nước.
Người đàn ông đó chính là Chiến sỹ Biệt động Sài Gòn Lâm Sơn Náo (tức ông Ba Náo, sinh năm 1936, ngụ phường Tân Kiểng, quận 7, TP Hồ Chí Minh). Tên tuổi của ông đã trở thành huyền thoại và là nỗi sợ hãi thường trực đến mức ám ảnh cho quân đội Mỹ và Ngụy quân Sài Gòn.
Sau vụ đánh chìm Tàu Sân bay này, Mỹ đã phải treo thưởng trị giá lên tới 100.000 USD để lấy đầu ông… Nhưng đã thất bại./.
Môi Trường ST.

VIỆT NAM KHÔNG THEO BÊN NÀY CHỐNG BÊN KIA MÀ VIỆT NAM THEO LẼ PHẢI, THEO CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA!

         "Một dân tộc không biết tự lực cánh sinh mà phải trông chờ vào sự giúp đỡ của dân tộc khác thì không xứng đáng được độc lập!"
Khi Mỹ xâm lược Việt Nam - Liên hợp quốc im lặng! 
Khi Trung Quốc tấn công biên giới Việt Nam năm 1979 - Liên hợp quốc im lặng! 
Khi Khmer đỏ tràn qua biên giới tàn sát người Việt Nam, Liên hợp quốc cũng im lặng.
Nhưng khi Việt Nam phản công tự vệ một cách hoàn toàn chính đáng thì Liên hợp quốc đã triệu tập cuộc họp Đại hội đồng và bỏ phiếu cấm vận Việt Nam. Trong cuộc họp đó, các quốc gia đã bỏ 124 phiếu thuận - lên án Việt Nam "xâm lược" Campuchia, áp đặt các biện pháp bao vây cấm vận bóp nghẹt nước Việt Nam vừa trải qua chiến tranh.
Chỉ có Lào, Syria, Ba Lan, Mông Cổ, Liên Xô, Cuba, Tiệp Khắc, Yemen, Iraq và một số nước khác bỏ phiếu phản đối trong khi một số ít các quốc gia khác bỏ phiếu trắng về nghị quyết cấm vận Việt Nam.
Nhưng không vì thế mà Việt Nam run sợ, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn thành công trong việc lật đổ Pol Pot, giúp đỡ chính phủ Campuchia mới, bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam tổ quốc.
Đã có những lúc, Việt Nam bị gần như cả thế giới chống lại, bao vây,  cấm vận nhưng chúng ta vẫn vượt qua thì sợ gì mấy lá phiếu trắng!
Một dân tộc mà hơn ngàn năm qua số thời gian chiến tranh còn nhiều hơn cả hoà bình thì chẳng có lý do gì để dân tộc đó "sợ bị ai đó" tấn công và phải trông chờ vào lá phiếu của dân tộc khác!
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Một dân tộc không biết tự lực cánh sinh mà phải trông chờ vào sự giúp đỡ của dân tộc khác thì không xứng đáng được độc lập!"
Môi Trường ST.

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2022

Nét đặc sắc của “Ngoại giao cây tre” Việt Nam

 Ngày 14/12/2021, Hội nghị Đối ngoại toàn quốc diễn ra tại Hội trường Diên Hồng. Chủ trì là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là hội nghị đối ngoại đầu tiên trong lịch sử, do Bộ Chính trị và Ban Bí thư chủ trì. 

Nội dung chính là đánh giá toàn diện những thành tựu của công tác đối ngoại trong 35 năm đổi mới, và nhìn lại những bài học kinh nghiệm, đồng thời truyền đi thông điệp mạnh mẽ về một Việt Nam với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lấy hình ảnh cây tre, để định hướng cho trường phái ngoại giao riêng, đặc sắc và độc đáo của đất nước Việt Nam. Tổng Bí thư khẳng định, hơn 90 năm qua, Việt Nam đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. “Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

NÉT ĐẶC SẮC

Trong bài phát biểu kéo dài hơn 60 phút tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc ngày 14/12/2021, Tổng Bí thư khái quát và nhận định: “Chúng ta đã xây dựng nên trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh. Đây là trường phái riêng”. Tổng Bí thư đã ví ngoại giao Việt Nam là “ngoại giao cây tre”: “Thân gầy guộc, lá mong manh/Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi”. Hình tượng đẹp của cây tre luôn gắn bó với con người, làng quê cũng như gắn chặt với truyền thống dân tộc, đặc biệt là bản sắc nền ngoại giao Việt Nam, nền ngoại giao Hồ Chí Minh.

Nội hàm của trường phái “Ngoại giao cây tre” Việt Nam mà Tổng Bí thư nói đến là: 1) Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; 2) linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. 3) Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. 4) Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.

Tổng Bí thư đã phân tích “ngoại giao cây tre”: “Cây tre Việt Nam gốc vững chắc, cành uyển chuyển, mềm dẻo nhưng rất kiên cường. Không có cơn gió nào quật ngã được”. Điều này nói lên nền ngoại giao thấm đượm tâm hồn cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam, đó là: mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định can trường trước mọi thử thách khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân.

Nét đặc sắc khi lấy cây tre làm biểu tượng cho trường phái ngoại giao Việt Nam được thể hiện, đó là:

Một là, luận về gốc tre: Ngoại giao phải có gốc, với hàm ý ngành ngoại giao trong 76 năm qua đã hình thành và phát triển không chỉ kế thừa truyền thống của nhiều thế hệ cha anh đi trước mà đằng sau đó là cả thành tựu của đất nước, dân tộc. “Đây là nền ngoại giao đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa”. Tổng Bí thư còn nói “sau lưng các nhà ngoại giao luôn có toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cả hệ thống chính trị” - Đấy là cái gốc của ngoại giao.

“Gốc tre quyện vào nhau” với hàm ý đoàn kết, các bộ ngành trong nước và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải gắn bó, hợp tác tốt với nhau. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín đất nước là bệ phóng, đường lối đối ngoại là ánh sáng soi đường, dẫn lối, để đối ngoại, ngoại giao Việt Nam vươn cao, bay xa. Tổng Bí thư dùng từ “Mang chuông đi đánh nước người”, với hàm ý chuông có kêu to hay không là nhờ thực lực quốc gia, nhờ cái gốc ở bên trong. Gốc có vững thì thân, cành mới tốt tươi, xum xuê, uyển chuyển được.

Hai là, luận về thân tre. Tổng Bí thư đã nêu ra ba thông điệp rất quan trọng ứng với ngành ngoại giao đó là uyển chuyển, linh hoạt nhưng đặc biệt phải khiêm tốn.

Cây tre Việt Nam sinh sôi, bám chắc ở mọi vùng đất, từ đất phù sa tới những nơi cằn cỗi, khắc nghiệt. Ngoại giao “cây tre Việt Nam” bén rễ từ nền văn hóa Việt Nam với truyền thống hòa hiếu nhưng cũng rất quật cường. “Thân tre gầy guộc”, hàm ý chỉ các nhà ngoại giao khiêm tốn, không khoa trương hình thức mà đi vào thực chất. Mỗi cán bộ ngoại giao cần nói đi đôi với làm học thật, làm thật, từ những cái nhỏ, cái cụ thể, song cần kiên định mục tiêu, phải mạnh mẽ, biết bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Thân cây tre gầy guộc, mảnh mai nhưng cứng rắn, chia làm nhiều đốt tạo nên sự mềm dẻo, hàm ý ngành ngoại giao cần uyển chuyển, linh hoạt tuỳ vào từng thời điểm, hoàn cảnh. Trong mỗi thời kỳ, hoàn cảnh lại có những nhiệm vụ riêng và phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Trong thời bình các nhà ngoại giao là những người tiên phong. Không tiên phong là không bắt kịp sự phát triển, là bỏ lỡ thời cơ. Yêu cầu đặt ra cho đối ngoại, ngoại giao cao hơn về chất lượng, hiệu quả; sâu rộng hơn về lĩnh vực và lực lượng tham gia; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ hơn; chủ động, tích cực hơn trong triển khai thực hiện đường lối đối ngoại thời kỳ mới.

Gốc tre, thân tre phải đi liền với nhau. Hiện nay, ngoại giao không chỉ ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, mà còn góp phần bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm, phát hiện sớm vấn đề để dự báo sớm, cảnh báo sớm những nguy cơ, thách thức và cả cơ hội. Ngoại giao phải ngày càng đa dạng, toàn diện, hiện đại.

Ba là, luận về đặc tính của cây tre: Cây tre rất thân thuộc trong đời sống, một trong những biểu tượng của văn hóa dân tộc, in đậm trong nhiều tác phẩm nghệ thuật. Đặc tính tự nhiên nổi trội của cây tre gần gũi với phẩm chất của dân tộc Việt Nam. Nhiều nước có tre, nhưng nói đến cây tre là nghĩ đến Việt Nam.

Đặc điểm nổi trội của cây tre là dẻo dai, giàu sức sống, dễ thích nghi với môi trường. Tre vững chãi vì sống kết thành bụi, thành lũy, thành rừng, rễ bám sâu vào lòng đất, gió bão cũng phải chịu thua… Trong bụi tre, lũy tre, rừng tre, cây to khỏe ở ngoài che đỡ cho cây non, tre già măng mọc, gợi lên bài học về sự đoàn kết, đồng thuận, thống nhất, về phương châm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Đó cũng là những phẩm chất tiêu biểu cần có của ngành Ngoại giao.

Khái quát biểu tượng cây tre “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, chính là triết lý, phương pháp luận và phương châm chỉ đạo của ngoại giao Việt Nam. Nền tảng văn hóa, truyền thống hữu nghị, hòa hiếu, khoan dung, đường lối của Đảng, là cội nguồn, là cái gốc để ngoại giao vững chắc, vươn cao. Có sự trùng hợp kỳ lạ giữa hình tượng cây tre Việt Nam với trường phái ngoại giao Việt Nam. Nói trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” chính là sự ghi nhận những phẩm chất tốt đẹp, sức mạnh, đóng góp của mặt trận ngoại giao, ngành Ngoại giao, hoạt động ngoại giao.

TRƯỜNG PHÁI NGOẠI GIAO RIÊNG CỦA VIỆT NAM

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (22-26/8/2016), Tổng Bí thư đã nhắc đến trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”. Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần này, nội dung đó được đề cập đậm hơn, sâu hơn và chốt lại trong lời kết của bài phát biểu tâm huyết: Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”.

Để “Ngoại giao cây tre” trở thành trường phái đối ngoại riêng của Việt Nam trong thời gian tới ngành ngoại giao cần quán triệt những quan điểm mới về ngoại giao đã nêu trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng là: ngoại giao là một “mặt trận”, giữ vai trò “tiên phong”, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước, nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam; ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”...

Trong bài phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc, Tổng Bí thư đã phân tích cặn kẽ, sâu sắc vai trò các nhiệm vụ ngoại giao: giữ vững hòa bình, ổn định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phục vụ phát triển đất nước là nhiệm vụ trung tâm; nâng cao vị thế và uy tín đất nước là nhiệm vụ quan trọng. Từ đó, đề ra phương châm chỉ đạo: mạnh dạn đột phá, sáng tạo trong công tác, tìm ra cách làm mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới, tìm hiểu các đối tác mới, hướng đi mới.

Tổng Bí thư đã đúc kết năm bài học sâu sắc cho ngành Ngoại giao: Thứ nhất, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Thứ hai, kiên định nguyên tắc và linh hoạt về sách lược. Thứ ba, xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Thứ tư, bài học về công tác xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. Thứ năm, bài học về sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước.

Tổng Bí thư nêu 6 nhiệm vụ cho ngành ngoại giao cần làm tốt hơn trong thời gian tới: Một là, nắm chắc tình hình để kịp đổi mới tư duy và có giải pháp thích hợp trong công tác đối ngoại. Hai là, quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Ba là, phát huy mọi yếu tố thuận lợi của đất nước để định hình các cơ chế đa phương. Bốn là, nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, nhất là hợp tác kinh tế, văn hoá và hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng. Năm là, chú trọng công tác nghiên cứu và dự báo chiến lược các xu hướng vận động trong chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, các nước láng giềng. Sáu là, tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đủ trình độ, uy tín, phong cách để sánh vai với các nước, bạn bè quốc tế.

Như vậy, trong hơn 35 năm đổi mới Ngoại giao Việt Nam đã đóng góp rất quan trọng vào thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần làm cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” là niềm vinh dự, tự hào to lớn và là nhiệm vụ, yêu cầu mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó, tiếp tục phấn đấu, nỗ lực hơn, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam tiên phong, toàn diện, hiện đại, chủ động thích ứng./.
------------
PT-TG. st




CÙ HUY HÀ VŨ ĐÃ CAY ĐẮNG KHI NHẬN RA MỸ KHÔNG PHẢI LÀ THIÊN ĐƯỜNG NHƯ HẮN TỪNG MƠ

 Những ngày qua cộng đồng giới “dân chủ”, đặc biệt là số cờ vàng ba sọc tỵ nạn, số chống cộng ở nước ngoài được phen muối mặt khi biết tin Cù Huy Hà Vũ đăng tải thông tin muốn được về với đất mẹ Việt Nam khi cho rằng “Tôi còn hộ chiếu, tôi sẽ về nước”.

Như vậy, sau hơn 7 năm lưu vong ở xứ người, nơi được giới “dân chủ” xem là thiên đường, Cù Huy Hà Vũ đã muốn được trở về với nơi chôn rau cắt rốn, muốn được về với quê hương, đất mẹ Việt Nam. Nhưng con đường của một kẻ phản bội, quay lưng với Tổ quốc, quê hương Việt Nam như Cù HUy Hà Vũ sẽ không còn cơ hội để trở về với nơi mình đã sinh ra và lớn lên.

Vậy là xứ thiên đường đã dạy cho Cù Huy Hà Vũ biết thế nào là ảo vọng của “thiên đường dân chủ” và biết đâu là giá trị thực chất của cuộc sống và biết đâu là quê hương của mình. Cho dù đã tỉnh ngộ và muốn được trở về với nơi chôn rau cắt rốn nhưng con đường để Cù Huy Hà Vũ thực hiện được ước mơ của mình còn vô cùng xa xăm cho dù anh có khoe mình còn hộ chiếu hay không. Bởi khi đã lựa chọn theo con đường phản bội Tổ quốc và chấp nhận sống kiếp lưu vong khi làm “con tốt” trên bàn cờ chính trị của Mỹ và các nước phương Tây thì coi như tự Cù Huy Hà Vũ đã chặn đứng con đường trở về quê hương của mình và giờ tất cả đã quá muộn, con đường về với đất mẹ sẽ không còn cho những kẻ quay lưng, phản bội Tổ quốc như Cù Huy Hà Vũ đã phải trả giá quá đắt./.
--------------------------
PT-TG. st


CÒN MÃI TINH THẦN VÀ KHÍ PHÁCH GẠC MA

 🇻🇳 (34 năm cuộc chiến bảo vệ chủ quyền ở Gạc Ma 14/3/1988 – 14/3/2022)🇻🇳

34 năm đi qua, sóng biển có thể đã xóa nhòa mọi dấu vết nhưng không thể xóa được ký ức bi tráng của người dân Việt Nam, về những con người quả cảm mà sự hy sinh của họ được dựng thành những tượng đài bất tử về tình yêu Tổ quốc. Tinh thần chiến đấu của các anh là một dấu son trong lịch sử dân tộc mà thế hệ hôm nay và mai sau phải khắc cốt ghi tâm.
Nhớ lại sự kiện Gạc Ma không chỉ là thể hiện lòng biết ơn trước sự hy sinh anh dũng của 64 chiến sĩ hải quân cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc mà tấm gương của những anh hùng 

👍Dưới đây là danh sách các liệt sỹ đã hy sinh trong khi bảo vệ chủ quyền biển đảo trong trận chiến Gạc Ma ngày 14.3.1988:

1. Trần Văn Phương - 1965 Thiếu uý B trưởng 3.1983 Gạc Ma - Quảng Phúc, Quảng Trạch, Quảng Bình

2. Trần Đức Thông - 1944 Trung tá Lữ phó Gạc - Ma Minh Hoà, Hưng Hà, Thái Bình

3. Nguyễn Mậu Phong - 1959 Thượng uý B trưởng 11.1977 Gạc Ma - Duy Ninh, Lệ Ninh, Quảng Bình

4. Đinh Ngọc Doanh - 1964 Trung uý B trưởng 9.1982 Gạc Ma - Ninh Khang, Hoa Lư, Ninh Bình (Cam Nghĩa, Cam Ranh, Khánh Hoà)

 danh sach 64 anh hung liet si hy sinh ngay 14/3/1988 o gac ma hinh anh 1

Danh sách các liệt sỹ hy sinh ở Cô Lin - Gạc Ma năm 1988. Ảnh chụp màn hình tư liệu của nhà báo Mai Thanh Hải.

5. Hồ Công Đệ - 1958 Trung uý (QNCN) Y sĩ 2.1982 Gạc Ma - Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hoá

6. Phạm Huy Sơn - 1963 Chuẩn uý (QNCN) Y sĩ 2.1982 Gạc Ma - Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ An

7. Nguyễn Văn Phương - 1969 Trung sĩ Cơ yếu 3.1987 Gạc Ma - Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình

8. Bùi Bá Kiên - 1967 Trung sĩ Chiến sĩ 3.1986 Gạc Ma - Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng

9. Đào Kim Cương - 1967 Trung sĩ Báo vụ 2.1985 Gạc Ma - Vương Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh

10. Nguyễn Văn Thành - 1967 Trung sĩ Chiến sĩ 3.1982 Gạc Ma - Hương Điền, Hương Khê, Hà Tĩnh

11. Đậu Xuân Tứ (Tư) - 1964 Trung sĩ Chiến sĩ 3.1985 Gạc Ma - Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ An

 danh sach 64 anh hung liet si hy sinh ngay 14/3/1988 o gac ma hinh anh 2

Tượng đài “Những người nằm lại phía mặt trời”, trái tim của khu tưởng niệm chiến sỹ Gạc Ma. Ảnh: VietNamNet

12. Lê Bá Giang - 1968 Hạ sĩ Báo vụ 3.1987 Gạc Ma - Hưng Dũng, Vinh, Nghệ An

13. Nguyễn Thanh Hải - 1967 Hạ sĩ Quản lý 3.1986 Gạc Ma - Sơn Kim, Hương Sơn, Hà Tĩnh

14. Phạm Văn Dương - 1967 Hạ sĩ A trưởng 3.1986 Gạc Ma - Nam Kim 3, Nam Đàn, Nghệ An

15. Hồ Văn Nuôi - 1967 Trung sĩ Chiến sĩ 8.1985 Gạc Ma - Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ An

16. Cao Đình Lương - 1967 Trung sĩ A trưởng 8.1985 Gạc Ma - Trung Thành, Yên Thành, Nghệ An

17. Trương Văn Thịnh - 1966 Trung sĩ Chiến sĩ 8.1985 Gạc Ma - Bình Kiến, Tuy Hoà, Phú Yên

18. Võ Đình Tuấn - 1968 Trung sĩ Quản lý 8.1986 Gạc Ma - Ninh Ích, Ninh Hoà, Khánh Hoà

19. Phan Tấn Dư - 1966 Trung sĩ Báo vụ 2.1986 Gạc Ma - Hoà Phong, Tây Hoà, Phú Yên

20. Vũ Phi Trừ - 1955 Đại uý Thuyền trưởng HQ604 Đội 10 - Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hoá

 danh sach 64 anh hung liet si hy sinh ngay 14/3/1988 o gac ma hinh anh 3

Danh sách liệt sỹ hy sinh trong trận chiến Gạc Ma năm 1988. Ảnh chụp màn hình tư liệu của nhà báo Mai Thanh Hải. 

21. Vũ Văn Thắng Thượng uý Thuyền phó HQ604 - Văn Hàn, Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình

22. Phạm Gia Thiều - 1962 Thượng uý Thuyền phó HQ604 - Hưng Đạo, Đông Hạ, Nam Ninh, Nam Định

23. Lê Đức Hoàng - 1962 Trung uý Thuyền phó HQ604 - Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hoá

24. Trần Văn Minh - 1962 Thiếu úy (QNCN) Máy trưởng HQ604 - Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ An

25. Đoàn Khắc Hoành - 1959 Thượng sĩ Trưởng thông tin HQ604 - 163 Trần Nguyên Hãn, Q. Lê Chân, Hải Phòng

26. Trần Văn Chức - 1965 Hạ sĩ Nv cơ điện HQ604 - Đội 1, Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình

27. Hán Văn Khoa - 1962 Trung sĩ Nv cơ điện HQ604 - Đội 6, Văn Lương, Tam Nông, Phú Thọ

28. Nguyễn Thanh Hải - 1968 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 - Mỹ Ca, Chính Mỹ, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng

29. Nguyễn Tất Nam - 1967 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 - Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ An

30. Trần Khắc Bảy - 1967 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 - Lê Hồ, Kim Bảng, Hà Nam

 danh sach 64 anh hung liet si hy sinh ngay 14/3/1988 o gac ma hinh anh 4

31. Đỗ Viết Thành - 1964 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 - Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hoá

32. Nguyễn Xuân Thuỷ - 1967 Hạ sĩ Chiến sĩ HQ604 - Phú Linh, Phương Đình, Trực Ninh , Nam Định

33. Nguyễn Minh Tân - 1956 Thượng uý E83 công binh HQ604 - Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình34. Võ Minh Đức - 1968 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Liên Thuỷ, Lệ Ninh, Quảng Bình

35. Trương Văn Hướng - 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Hải Ninh, TP Đồng Hới, Quảng Bình

36. Nguyễn Tiến Doãn Binh nhất A trưởng E83 HQ604 - Ngư Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình

37. Phan Hữu Tý - 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Phong Thuỷ, Lệ Thủy, Quảng Bình

38. Nguyễn Hữu Lộc - 1968 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 22 Hoà Cường, Đà Nẵng

39. Trương Quốc Hùng - 1967 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 55, Hoà Cường, Đà Nẵng

40. Nguyễn Phú Đoàn - 1968 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 47, Hoà Cường, Đà Nẵng

41. Nguyễn Trung Kiên- 1968 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Nam Tiến, Nam Ninh, Nam Định

42. Phạm Văn Lợi - 1968 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 53, Hoà Cường, Đà Nẵng

43. Trần Văn Quyết - 1967 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 - Quảng Thuỷ, Quảng Trạch, Quảng Bình

44. Phạm Văn Sỹ - 1968 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 7, Hoà Cường, Đà Nẵng

45. Trần Tài - 1969 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 12, Hoà Cường, Đà Nẵng

46. Lê Văn Xanh - 1967 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 38, Hoà Cường, Đà Nẵng

47. Lê Thể - 1967 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 29 An Trung Tây, Đà Nẵng

48. Trần Mạnh Việt - 1968 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 - Tổ 36, Bình Hiên, Đà Nẵng

49. Trần Văn Phòng - 1962 Thượng uý C trưởng E83 HQ604 - Minh Tân, Kiến Xương, Thái Bình

50. Trần Quốc Trị - 1955 Binh nhất A trưởng E83 HQ604 - Đông Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình

51. Mai Văn Tuyến - 1968 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 - Tây An, Tiền Hải, Thái Bình

52. Trần Đức Hoá - 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình

53. Phạm Văn Thiềng - 1967 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Đông Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình

54. Tống Sỹ Bái - 1967 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Khóm 3, phường 1, Đông Hà, Quảng Trị

55. Hoàng Anh Đông - 1967 Binh nhì Chiến sĩ E83 HQ604 - Khóm 2, phường 2, Đông Hà, Quảng Trị

56. Trương Minh Phương - 1963 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Quảng Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình

57. Hoàng Văn Thuý - 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Hải Ninh, TP Đồng Hới, Quảng Bình

58. Võ Văn Tứ - 1966 Binh nhất Chiến sĩ E83 HQ604 - Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình

59. Phan Hữu Doan - 1960 Trung uý Thuyền phó HQ605 - Chí Tiên, Thanh Hòa, Phú Thọ

60. Bùi Duy Hiển - 1966 Trung sĩ Báo vụ HQ605 - Thị trấn Diêm Điền, Thái Thuỵ, Thái Bình

61. Nguyễn Bá Cường - 1962 Thượng sĩ Học viên HVHQ HQ605 - Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam

62. Kiều Văn Lập - 1963 Thượng sĩ Học viên HVHQ HQ605 - Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội

63. Lê Đình Thơ - 1957 Thượng uý (QNCN) Nv đoàn 6 HQ605 - Hoằng Minh, Hoằng Hoá, Thanh Hoá
------------
PT-TG. st

Những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam.

 

 

          Từ những kinh nghiệm về thu hút, trọng dụng người có tài năng của các quốc gia trên có thể rút ra một số bài học tham khảo trong quá trình xây dựng chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam như sau:

          Một là, việc phát hiện, thu hút và trọng đãi người có tài năng đều được nhấn mạnh và được coi trọng. Trong lịch sử Việt Nam cũng như ở một số quốc gia trên thế giới đều đã rất quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo và chiến lược con người, đặc biệt là chiến lược nhân tài.

          Hai là, việc lập kế hoạch nguồn nhân lực nhằm đảm bảo có sự tiếp nối các thế hệ công chức lãnh đạo cấp cao có tài năng luôn được coi là một trọng những khâu quan trọng trong quản lý và phát triển nguồn nhân lực.

          Ba là, công tác tuyển dụng luôn được đặc biệt quan tâm. Dù trong hệ thống chức nghiệp hay theo hệ thống việc làm, để được coi là công chức có tài năng và sau này có thể được cất nhắc, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt, ứng cử viên phải trải qua cuộc tuyển chọn nghiêm ngặt và cạnh tranh cao.

          Bốn là, sự thăng tiến về nghề nghiệp của các công chức được coi là có tài năng tùy thuộc vào trình độ, năng lực và kết quả công việc.

          Năm là, trong quá trình công tác, và để trở thành công chức lãnh đạo, quản lý, công chức phải được luân chuyển giữ các vị trí công tác khác nhau và làm việc ở các cơ quan khác nhau, thậm chí ở các cấp chính quyền khác nhau.

          Sáu là, quá trình phát triển của công chức tài năng phải trải qua các giai đoạn, từ phát hiện đến đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng, qua đó tài năng được sàng lọc, phát triển trong điều kiện được sự chăm sóc, giúp đỡ một cách đồng bộ từ gia đình, nhà trường đến nhà nước, xã hội; từ địa phương đến trung ương.

          Bảy là, đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với việc bố trí, sử dụng; người hoàn thành tốt chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải được trọng dụng. Các chương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao thường được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả ở các trường đại học danh tiếng, có uy tín cao.

          Tám là, việc chú trọng gửi sinh viên, cán bộ tài năng đi du học và tu nghiệp ở các nước tiên tiến và tăng cường liên kết, hợp tác với các cơ sở đào tạo có uy tín trên thế giới để tổ chức đào tạo chất lượng quốc tế ở trong nước là điều kiện tiên quyết trong quy trình phát triển người có tài năng.

          Chín là, chính sách trọng dụng, đãi ngộ thoả đáng với người có tài năng thường có sự khác biệt và cao hơn mức thông thường./.

 

Một số vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về thu hút, trọng dụng người có tài năng.

          Thứ nhất, đặc điểm nổi bật và khác biệt của công chức tài năng.

          Công chức tài năng là nhóm công chức được bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo cấp cao (công chức cấp cao) trong các cơ quan của Chính phủ, có trình độ, năng lực chuyên môn mang tính tổng hợp, hoặc cũng có thể quản lý những cơ quan chuyên ngành sâu. Số này chiếm tỷ lệ khoảng 1,5% đến 3% số công chức của nền công vụ (nguồn: worldbank). Để được coi là công chức có tài năng và sau này có thể được cất nhắc, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt, họ phải trải qua các cuộc tuyển chọn nghiêm ngặt, được đào tạo nhiều hơn so với những công chức bình thường. Đây là những người sẽ được hưởng mức lương và địa vị cao trong xã hội. Sự thăng tiến về nghề nghiệp của đối tượng này tùy thuộc vào trình độ, năng lực và hiệu quả công việc.

          Thứ hai, vị trí do người có tài năng nắm giữ trong hệ thống cơ quan nhà nước.

          Đội ngũ công chức tài năng khi được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý cấp cao sẽ là cầu nối hữu hiệu giữa công tác hoạch định chính sách và thực thi chính sách. Đội ngũ này có thể tham mưu cho Chính phủ có quyết sách phù hợp với tình hình tài chính và nguồn nhân lực hiện có. Kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ đã tạo điều kiện cho đội ngũ công chức cấp cao xây dựng và hướng dẫn triển khai thực hiện các chiến lược.

          Thứ ba, về cấu trúc của đội ngũ công chức cấp cao trong nền công vụ.

          Đội ngũ công chức cấp cao trong mô hình công vụ chức nghiệp giống như một “câu lạc bộ khép kín”. Được tuyển chọn rất sớm trong cuộc đời chức nghiệp của mình, các ứng cử viên được đào tạo, bồi dưỡng để trở thành các công chức tài năng và đi theo một lộ trình chức nghiệp thăng tiến. Điểm bất lợi của hệ thống này là chỉ lựa chọn được những người đã có sẵn mà không tạo được sự cạnh tranh cao để chọn được những người tốt nhất từ nhiều nguồn khác nhau. Với hệ thống này, những người giỏi từ khu vực tư nhân khó có cơ hội được chọn lựa.

          Tính “mở” là một ưu điểm của hệ thống công vụ vị trí việc làm. Tất cả những công chức chuyên môn cao trong các cơ quan của Chính phủ và các tổ chức bên ngoài đều có cơ hội cạnh tranh để được lựa chọn vào các vị trí cấp cao. Hệ thống này không chỉ là mở rộng sự lựa chọn những người tốt nhất từ nhiều nguồn khác nhau mà còn tạo cơ hội cho những người được lựa chọn từ bên ngoài mang văn hóa riêng của mình để đẩy mạnh việc đổi mới và thích ứng với cơ quan nhà nước. Vì hệ thống này tạo cơ chế “có vào, có ra” nên cũng có những rủi ro xảy ra, đó là sự “đỡ đầu” trong bổ nhiệm hoặc các công chức cấp cao không ở lại nền công vụ đủ thời gian để phát triển chức nghiệp của mình giống như những người trong hệ thống khép kín.

          Mặc dù về lý thuyết là như vậy nhưng trong thực tế thì các nước thiên về hệ thống chức nghiệp hay thiên về hệ thống việc làm hiện nay cũng sử dụng phương pháp kết hợp để lựa chọn những người có tài vào đội ngũ công chức cấp cao.

          Thứ tư, về tuyển dụng công chức tài năng bố trí vào vị trí lãnh đạo cấp cao.

          Những người có năng lực vượt trội về kỹ năng quản lý, năng lực lãnh đạo, sáng kiến đổi mới, kỹ năng giao tiếp và trình độ chuyên môn thường là những yếu tố quan trọng trong hệ thống các tiêu chí tuyển chọn công chức cấp cao.

          Trong các nền công vụ theo hệ thống chức nghiệp, những người đạt được thành tích cao trong học tập có thể cần các kỹ năng “mềm” và những kiến thức về hoạt động của chính phủ thông qua đào tạo, bồi dưỡng và quản lý chức nghiệp. Những kỹ năng mềm và kiến thức đó cùng với sự đánh giá rất tinh vi của các nhà lãnh đạo chính trị đã xây dựng được một đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý tài năng cho khu vực công. Vì vậy, việc tuyển chọn những sinh viên có thành tích xuất sắc trong các trường đại học và những công chức trẻ có tiềm năng để đào tạo, bồi dưỡng bổ sung cho đội ngũ lãnh đạo cấp cao là cần thiết. Ví dụ như một nửa số thí sinh trúng tuyển vào học tại Trường Hành chính quốc gia Pháp để sau này trở thành công chức lãnh đạo cấp cao là sinh viên xuất sắc mới tốt nghiệp từ các trường đại học với độ tuổi trung bình là 24. Ở Ấn Độ, những ứng cử viên thi vào ngành hành chính nói chung hoặc vào các ngạch đặc biệt phải dưới 26 tuổi.

          Trái lại, nền công vụ theo hệ thống vị trí việc làm lại tìm những người đã thể hiện được kỹ năng quản lý và năng lực chuyên môn cao. Hành vi ứng xử và kết quả công việc đối với các nhiệm vụ được giao trước đây là các tiêu chí chính cho việc chọn lựa. Vì vậy, việc lựa chọn các công chức lãnh đạo cấp cao bắt đầu muộn hơn rất nhiều so với nền công vụ theo hệ thống chức nghiệp, thường là ở giai đoạn sau của quá trình công tác. Chẳng hạn như ở Mỹ, thường là các ứng cử viên tiềm năng từ bậc 14 và 15 (hai bậc cao nhất của thang lương chung) thì được bồi dưỡng và huấn luyện để tuyển chọn cho vị trí công chức lãnh đạo cao cấp.

          Công trạng là cơ sở cho việc tuyển chọn đối với cả hai hệ thống chức nghiệp và việc làm. Trong hệ thống chức nghiệp, cạnh tranh là khốc liệt, và chỉ một số ít những người tham dự kỳ thi tuyển dụng được chọn vào ngạch công chức lãnh đạo cấp cao. Ví dụ: Ở Nhật Bản, chỉ có khoảng 2,5% số người tham gia kỳ thi tuyển dụng được lựa chọn. Ở Pháp, để được chọn vào học tại Trường Hành chính quốc gia (ENA), thí sinh phải qua kỳ thi cạnh tranh rất khốc liệt. Sự minh bạch cũng là một trong những tiêu chí quan trọng trong công tác tuyển chọn. Chẳng hạn như ở Singapore, Ủy ban Công vụ Singapore có nhiệm vụ giám sát việc tuyển dụng vào ngạch hành chính và tất cả các vị trí từ ngạch D trở lên. Công trạng và sự minh bạch cũng được giám sát bởi các cơ quan độc lập trong quá trình tuyển chọn những người làm việc ở địa phương để bổ nhiệm vào vị trí công chức lãnh đạo cấp cao.

Thứ năm, về công tác quản lý đội ngũ công chức tài năng.

          Việc quản lý đội ngũ công chức tài năng đang giữ vị trí lãnh đạo cấp cao thường được thực hiện bởi một cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm về quản lý nhân sự và một cơ quan độc lập (ví dụ như Ủy ban công vụ) để đảm bảo công tác quản lý nguồn nhân lực của Chính phủ có hiệu quả. Quản lý chức nghiệp thường được phân quyền trong hệ thống vị trí việc làm hơn là trong hệ thống chức nghiệp. Việc bổ nhiệm vào ngạch hành chính cấp cao của Mỹ được phân quyền: các bộ, ngành cấp liên bang có thể bám theo các tiêu chuẩn do Cơ quan quản lý nhân sự liên bang đặt ra để thiết kế các vị trí cấp cao cho bộ, ngành mình, cũng như tuyển dụng công chức lãnh đạo cấp cao từ những ứng cử viên đã được Cơ quan quản lý nhân sự liên bang xác nhận. Ở Anh, mỗi bộ có quyền quyết định vị trí nào được coi là vị trí lãnh đạo cấp cao của công chức. Trái lại, đối với hệ thống chức nghiệp, công chức lãnh đạo cấp cao được cơ quan phụ trách về nhân sự của chính phủ quản lý một cách tập trung.

          Nhìn chung các quốc gia đều rất quan tâm đến việc lập kế hoạch nguồn nhân lực đối với đội ngũ công chức lãnh đạo cấp cao để đảm bảo cho đội ngũ này không bị hẫng hụt. Việc tuyển dụng mới phải được điều chỉnh thường xuyên để đảm bảo sự tiếp nối giữa các độ tuổi, có sự rà soát đối với những đối tượng sắp nghỉ hưu và những vị trí trống cần bổ sung. Ngoài ra, quy hoạch nhân sự cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với công tác tuyển dụng và sử dụng đội ngũ công chức lãnh đạo cấp cao. Ví dụ, Cơ quan quản lý nhân sự Liên bang Mỹ khuyến khích các cơ quan Liên bang làm quy hoạch nhân sự và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tiềm năng. Các Bộ của Anh hàng năm tổ chức làm quy hoạch để phát hiện và bồi dưỡng những tài năng sau này đảm trách các vị trí lãnh đạo cấp cao.

          Thứ sáu, về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tài năng.

          Vì đội ngũ công chức tài năng đề xuất và tổ chức thực hiện những sáng kiến mới, nên công tác đào tạo, bồi dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng đối với việc quản lý chức nghiệp của đối tượng này hơn là các công chức thông thường khác. Công chức tài năng của Pháp được đào tạo 27 tháng tại Trường Hành chính quốc gia Pháp (ENA) và các trường tuyển dụng khác trước khi đảm nhận các nhiệm vụ trong Chính phủ. Công chức cấp cao của Singapore phải tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng với thời lượng ít nhất 100 giờ mỗi năm. 

          Mức độ và tính đa dạng của đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ công chức tài năng để trở thành các công chức lãnh đạo cấp cao đòi hỏi mỗi cơ sở đào tạo phải có đủ năng lực xây dựng chương trình, nội dung đào tạo và tổ chức thực hiện đào tạo, vì vậy việc phát triển các cơ sở đào tạo cần phải tiến hành đồng thời hoặc tiến hành trước khi xây dựng một đội ngũ công chức tài năng giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức tài năng có thể được tiến hành trong nước hoặc ở nước ngoài tùy theo trình độ phát triển của mỗi quốc gia.

          Thứ bảy, về các tiêu chuẩn trách nhiệm của công chức cấp cao

          Công chức cấp cao giữ chức vụ lãnh đạo phải đảm bảo các tiêu chuẩn trách nhiệm cao hơn các công chức thông thường khác. Giữ các vị trí có tầm ảnh hưởng đáng kể và thường xuyên làm việc với các quan chức chính trị, họ thường đối diện với các tình huống về xung đột lợi ích. Các quy định pháp lý thường đặt ra các chuẩn mực của công chức lãnh đạo khi làm việc với giới truyền thông, phải công khai tài sản, các điều kiện khi tham gia các hoạt động chính trị, các quy định về xung đột lợi ích, ví dụ khi bản thân họ hay người thân trong gia đình họ có lợi ích ở các công ty đang làm ăn với chính phủ. Ví dụ ở Anh, Bộ quy tắc hành vi ứng xử mới cho tất cả Bộ trưởng và công chức cao cấp đã được ban hành năm 1995.

          Thứ tám, về đánh giá thực thi công việc

          Hầu hết các chính phủ đều quan tâm và có những biện pháp hữu hiệu để đánh giá chính xác kết quả thực hiện công việc của công chức lãnh đạo cao cấp:

          - Phải đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng công việc. Bộ luật về đánh giá kết quả và chất lượng của Chính phủ Mỹ được ban hành năm 1993 quy định các cơ quan phải thành lập Ban đánh giá chất lượng thực thi công việc. Ban này có trách nhiệm đưa ra những kiến nghị về việc bổ nhiệm công chức lãnh đạo dựa trên kết quả thực thi công việc, kể cả những kiến nghị về chấm điểm xếp hạng và chế độ khen thưởng.

          - Công việc phải được đánh giá một cách nghiêm túc. Ở Nhật Bản, chấm điểm thành tích đối với nhân viên là rất nghiêm ngặt, việc đánh giá không chỉ được thực hiện bởi lãnh đạo cấp trên trực tiếp, mà còn được thực hiện bởi các đồng nghiệp cùng cấp và công chức dưới quyền.

          - Đánh giá thực thi công vụ phải được thực hiện một cách khách quan và công khai, minh bạch. Ở Ốtxtrâylia , trách nhiệm đối với công việc, các mục tiêu và chỉ số đánh giá thực thi công việc trước tiên phải được thỏa thuận giữa công chức và lãnh đạo cấp trên trực tiếp. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở cho việc trả lương theo công việc và con đường thăng tiến của công chức.

          Thứ chín, phát triển chức nghiệp phụ thuộc vào kết quả thực thi công việc.

          Trong nền công vụ theo hệ thống vị trí việc làm, mối liên kết giữa chất lượng công việc và sự thăng tiến là khá chặt chẽ bởi vì tất cả công chức tài năng có thể đăng ký thi tuyển vào các vị trí cao nhất. Trong nền công vụ chức nghiệp, hầu hết các vị trí lãnh đạo cấp cao được bố trí bằng cách đề bạt tại chỗ, nhưng phát triển chức nghiệp không còn là tự động, cũng như không phải là phát triển ở cùng một tốc độ. Ở Singapore, công chức cấp cao được xếp hạng theo các tiêu chí đã định sẵn, và những người thực thi công việc với chất lượng cao hơn thì sẽ tiến xa hơn và nhanh hơn. 

          Quá trình thực hiện công việc cũng phát hiện ra các công chức có tiềm năng để bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo cấp cao. Chương trình phát triển lãnh đạo tốc độ cao của Anh đã đào tạo đội ngũ công chức có tiềm năng và công trạng để chuẩn bị cho việc bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo cấp cao. Trong Chương trình Phát triển chức nghiệp của Canađa, các công chức tài năng được phát hiện từ các cấp độ EX1 đến EX3, các công chức này thể hiện tiềm năng lãnh đạo và có thể sau này sẽ trở thành các trợ lý thứ trưởng, và họ sẽ được đầu tư để phát triển và thăng tiến.

          Những công chức lãnh đạo bị đánh giá là chất lượng công việc kém sẽ bị đánh tụt hạng hoặc có thể bị cho thôi việc. Các quy định về việc đánh tụt hạng của công chức lãnh đạo của Ốtxtrâylia  đã tạo khuôn khổ cho việc quản lý những công chức lãnh đạo mà không hoàn thành công việc. Dựa trên kết quả đánh giá thực thi công việc, Tổng thư ký của Bộ có thể quyết định một mức lương thấp hơn trong cùng một thang lương hoặc đánh tụt hạng sau khi có sự phê chuẩn của Ủy ban Công vụ. Các công chức lãnh đạo của Ấn Độ với chất lượng công việc thấp có thể buộc phải nghỉ hưu sau 20 năm làm việc. 

          Thứ mười, vấn đề lương, thưởng và các khoản thu nhập.

          Lương, thưởng và các khoản thu nhập cũng là một trong những nội dung quan trọng trong thu hút và trong dụng công chức có tài năng. Ngay từ năm 1978, một trong những biện pháp để xây dựng đội ngũ công chức cấp cao của Mỹ là việc sử dụng các biện pháp trả lương theo kết quả thực thi công việc để đãi ngộ công chức tài năng. Chất lượng thực thi công việc được Anh và Niu-di-lân bắt đầu sử dụng như là một nhân tố quyết định của việc trả lương cho công chức lãnh đạo cấp cao - công chức tài năng trong những năm cuối thập kỷ 80 và thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Khi tính toán tổng thu nhập của công chức, tỷ lệ dành cho thâm niên công tác được giảm và tăng tỷ lệ tiền lương đối với kết quả thực thi công việc. Các trưởng hành pháp của Niu-di-lân có thể được thưởng lên tới 15% của lương cơ bản nếu bộ của họ đạt được mục tiêu đề ra trong kế hoạch chiến lược. Theo Kế hoạch quản lý thực thi công việc của Canađa được xây dựng vào năm 2000-2001, cơ quan có thể được quyền chủ động sử dụng một khoản kinh phí bằng 10-25% của tiền lương cơ quan để trả cho các công chức lãnh đạo cấp cao (nguồn: worldbank).