Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

Đoàn kết là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam

 


Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam.

Người nói, “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữ là “đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Nói về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Người xác định: “Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”.

Người còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Nghĩa là đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm dân, nhân dân dùng để chỉ “mọi con dân nước việt”, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên” không phân biệt giống nòi, dân tộc, tín ngưỡng “già, trẻ, gái trai, giầu, nghèo, quý tiện”. Như  vậy, dân hay nhân dân vừa là đông đảo quần chúng, vừa là mọi người Việt Nam. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt tầng lớp, giai cấp trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Ngay từ năm 1941, trong bài “Kính cáo đồng bào”, Bác viết: “Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết”. Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại. “Cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm...”[1].

Do đó, đại đoàn kết dân tộc cũng là đại đoàn kết toàn dân và ngược lại. Người dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam.



[1] Sdd, t3, tr 198

Quá trình hình thành, phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch

 Quá trình hình thành, phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch

Có thể nói, khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của Thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Ngược dòng lịch sử, thậm chí nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: “Diễn biến hòa bình” nếu xét ở góc độ mục tiêu, tính chất, nội hàm (bao gồm cả hoạt động phản gián, lật đổ) thì xuất hiện từ thời Xuân Thu (Thế kỷ VI, trước Công nguyên), cách đây khoảng 2.700 năm, do Tôn Tử - nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng của Trung Quốc phát kiến và được nêu tại Thiên 13 của cuốn “Binh pháp Tôn Tử”. Tư tưởng chủ đạo của “Thiên”, hay còn gọi “kế sách” này là “Bất chiến tự nhiên thành”, có nghĩa “không đánh mà thắng”. Có lẽ cũng vì thế mà sau này một số người thường gọi “Diễn biến hòa bình” bằng cái tên rất đặc trưng: “Cuộc chiến tranh không khói súng”. Như vậy, có thể khẳng định: “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị; mà đã là chiến tranh thì dù “có khói súng” (bằng quân sự) hay “không có khói súng” (phi quân sự) cũng đều chung tính chất quyết liệt và chung mục tiêu là tiêu diệt đối phương bằng sức mạnh “Cứng” hay sức mạnh “Mềm”, hoặc kết hợp cả hai nguồn sức mạnh “Cứng” và “Mềm”. Chúng ta thấy, ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do CNĐQ phát kiến, nhưng hiện đang là “sản phẩm” của họ và họ có nó trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Không phủ nhận CNĐQ đã đạt được những thành công nhất định trong việc sử dụng và phát triển chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong giai đoạn đầu, từ khoảng thập niên 20 đến thập niên 50 của thế kỷ trước “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ xác định là một giải pháp quan trọng, giải pháp kết hợp; trong khi giải pháp quân sự, sử dụng sức mạnh quân sự đóng vai trò quyết định trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của họ. Đến giai đoạn kế tiếp, từ khoảng thập niên 50 (CNXH đã phát triển thành hệ thống, gồm 13 nước) đến thập niên 90, cũng như hiện nay, khi điều kiện sử dụng giải pháp quân sự bị thu hẹp và khó thực hiện, trong khi tiến công CNXH là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, thì “Diễn biến hòa bình” được CNĐQ đặc biệt coi trọng và nâng tầm thành chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với việc sử dụng chiến lược nguy hiểm này, CNĐQ đã gây một loạt sự kiện với cái gọi là “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”,… mà thực chất là các hoạt động bạo loạn, lật đổ chính quyền ở một số nước, như: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung ga ri,… vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Đặc biệt, cuối thập niên 80, đầu 90, CNĐQ đã sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá quyết liệt CNXH. Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng trong đó có bàn tay chống phá của CNĐQ. Đáng chú ý là, trong quá trình tiến hành “Diễn biến hòa bình”, họ thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là “phi chính trị hóa” quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô hùng mạnh, với bề dày hơn 70 năm xây dựng bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Biểu hiện cụ thể là, Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mất phương hướng chính trị, không xác định được mục tiêu chiến đấu, mục tiêu bảo vệ và cuối cùng Đảng Cộng sản không còn chỗ dựa, không được bảo vệ, mất vai trò lãnh đạo, dẫn tới sụp đổ chế độ XHCN.

Huyênh hoang, tự đắc với chiến quả giành được và nhằm khuyếch trương chiến lược “Diễn biến hòa bình”, những quan chức Nhà Trắng và các triết gia của CNĐQ đã cao giọng dự báo về sự kết thúc của CNXH. Tiêu biểu là Francis Fukuyama - một người Mỹ gốc Nhật Bản - với bài viết “Sự cáo chung của Lịch sử” được công bố lần đầu trên Tạp chí “Lợi ích Quốc gia” Mỹ, số mùa hè 1989, sau này được hoàn chỉnh thành cuốn sách “Sự cáo chung của Lịch sử và con người cuối cùng” xuất bản năm 1992, phát hành rộng rãi ở 14 nước, với nhiều thứ tiếng khác nhau. Ý đồ chính trị của cuốn sách được thể hiện rõ: phủ nhận phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác; phủ nhận giá trị tiến bộ và khoa học của ý thức hệ giai cấp vô sản; tuyên truyền các giá trị của CNTB; luận chứng cho việc thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo. Tương tự như vậy là cuốn “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” của S. Huntington; trong đó, ông ta biện giải và cho rằng nền văn minh phương Tây là “vô giá”, là “độc nhất vô nhị”. Điển hình trong số đó phải kể đến Tổng thống Mỹ R. Ních Sơn với cuốn sách “Chớp thời cơ” và cuốn “Năm 1999 - Chiến thắng không cần chiến tranh” nêu dự báo đến cuối Thế kỷ XX các nước XHCN còn lại sẽ “tự sụp đổ”. Đến nay đã giữa thập niên thứ 2 của Thế kỷ XXI, nhưng thực tế thì sao? Mọi người đã rõ và đều thấy rằng đó chỉ là sự võ đoán, hoàn toàn không có cơ sở, hay nói cách khác là sự ảo tưởng phi lý, phi thực tiễn.

Nhưng không vì thế mà chúng ta mất cảnh giác và xem nhẹ “Diễn biến hòa bình”, đặc biệt là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Bởi lẽ, chống phá các nước XHCN, tiến tới xóa bỏ CNXH, trong đó có nước ta, luôn là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của CNĐQ. Chừng nào CNĐQ còn tồn tại thì chừng đó họ còn giữ và theo đuổi mục tiêu đó. Tuy nhiên, tham vọng là một việc, còn đạt được hay không lại là việc khác. Hơn nữa, quyền quyết định trong vấn đề này là ở chúng ta chứ không phải họ, nên cho dù âm mưu của họ có thâm hiểm đến đâu, thủ đoạn có tinh vi, xảo quyệt đến nhường nào thì cuối cùng cũng không tránh khỏi thất bại.

Đối với nước ta, ngay sau khi kết thúc “Chiến tranh Việt Nam” - theo cách gọi của người Mỹ, và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược - theo cách gọi của nhân dân Việt Nam, họ đã nhanh chóng tiến hành một cuộc chiến tranh mới “không khói súng” - “Diễn biến hòa bình”. Ngoại trưởng Mỹ Kitxinhgơ khi đó đã ngạo mạn tuyên bố: “Chúng ta thất bại trong chiến tranh, nhưng sẽ giành chiến thắng trong hòa bình”. Để hiện thực hóa tham vọng, họ đã liên tục tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh,… bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”; trong đó, thúc đẩy mạnh mẽ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Đáng chú ý là những năm gần đây, lợi dụng việc nước ta mở cửa, hội nhập quốc tế, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,… họ đã sử dụng những hình thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm, hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo khủng hoảng niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN. Đặc biệt, nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân - công cụ bạo lực bảo vệ chế độ XHCN ở nước ta - họ đã phối hợp hoạt động các lực lượng phản động trong và ngoài nước để chống phá toàn diện, kể cả từ hệ thống pháp luật Nhà nước. Điển hình là, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước và Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia sửa đổi Hiến pháp cũng như hiện nay đang tổ chức thực thi Hiến pháp mới, các thế lực thù địch, phản động đã ra sức chống phá dưới dạng tham gia “góp ý”, “kiến nghị”,… trong đó trắng trợn đòi bỏ Điều 4 của Chương I, đòi bỏ hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; rằng, cần phải sửa Chương IV - “Bảo vệ Tổ quốc” với biện giải lố bịch: “Lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân, theo đó chỉ có chức năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, chứ không có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước hay bất cứ tổ chức chính trị nào”; rằng, “Quân đội không chịu sự lãnh đạo của Đảng”. Rõ ràng đây là những luận điểm hết sức phản động, hoàn toàn trái với cơ sở lý luận, thực tiễn. Thế nhưng đáng quan ngại là, không phải ai cũng thấy, trong đó có một số ít người do thiếu thông tin và nhận thức hạn chế đã ngộ nhận, cả tin, thậm chí bị “thuyết phục” bởi những luận điệu tuyên truyền độc hại đó. Cũng không nằm ngoài mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, họ còn sử dụng thủ đoạn “vàng thau lẫn lộn”, đánh đồng sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam với binh sĩ quân đội Ngụy quyền Sài Gòn, bằng cách ngụy biện: “họ đều hy sinh vì Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc”, từ đó đòi Nhà nước ta ghi công và cho hưởng chế độ liệt sĩ. Thật nực cười, phi lý! Điều đó cho thấy, các thế lực thù địch không từ bất cứ một thủ đoạn nào hòng đạt cho được mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. Và, khi không thực hiện được, họ dở chiêu bài bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín của Quân đội. Cho nên chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, đồng thời gắn liền với đó, xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị là vấn đề đặc biệt quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Thực chất đây là mối quan hệ giữa “bảo vệ và xây dựng”; trong đó, mỗi nội dung có nội hàm riêng, nhưng giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, không tách rời nhau. Khi giải quyết vấn đề này, cần gắn chặt hai nội dung, không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào. Sẽ là không đúng, nếu chúng ta chỉ chú trọng một chiều đến yếu tố “bảo vệ”, tức là đấu tranh chống “phi chính trị hóa” quân đội, mà xem nhẹ yếu tố “xây dựng”, mà ở đây là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; tương tự như vậy, nếu chỉ xem trọng yếu tố “xây dựng”, mà không quan tâm đúng mức đến yếu tố “bảo vệ” cũng là sai. Phương pháp nghiên cứu, xem xét và giải quyết đúng đắn vấn đề này là, phải trên cơ sở tư duy biện chứng, khoa học; coi trọng giải quyết đồng bộ cả hai nội dung: đấu tranh làm thất bại mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và đẩy mạnh xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị.

Một số giải pháp xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị

Cần quán triệt sâu sắc phương châm: gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã đề cập ở trên, mục đích thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch hòng làm cho Quân đội ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, để xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ chốt các cấp. Đề cập đến vấn đề này, thoạt nghe có vẻ giáo điều, “muôn thuở”, nhưng thực tế không phải vậy. Trái lại, nó thật sự quan trọng và cấp thiết, nhất là trong tình hình phức tạp hiện nay, khi mà các thế lực thù địch đang thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” quân đội. Quá trình tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng phải coi trọng mọi đối tượng, coi trọng tính toàn diện; nhưng trước hết và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và nội dung trọng tâm là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục giữ vững bản chất giai cấp công nhân, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu cho Quân đội. Đây là vấn đề cốt yếu nhất, là cơ sở nền tảng vững chắc đảm bảo cho Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp đến đâu cũng vững vàng, không bị “diễn biến, chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, luôn trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân, Tổ quốc XHCN. Đồng thời, còn nhằm trang bị “vũ khí luận” cho cán bộ, đảng viên để họ đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Đi đôi với giáo dục chính trị, tư tưởng, cần coi trọng xây dựng về tổ chức, trước hết là tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Các cấp phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, coi đó là khâu then chốt, nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐND. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và cũng là yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, trong đó có mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực tiễn đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, quyết định sức mạnh, sự trưởng thành, chiến thắng của QĐND. Vì thế trong thời gian tới chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác này.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp, cần chú trọng kiện toàn cấp ủy gắn với tổ chức chỉ huy đảm bảo chất lượng, số lượng và cơ cấu; gắn xây dựng cấp ủy viên với cán bộ chủ chốt các cấp; chăm lo xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất, năng lực, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt, trong hoạt động lãnh đạo, cấp ủy các cấp phải tăng cường sự đoàn kết, thống nhất; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; đồng thời, tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát theo phương châm: “Giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”, nhất là việc thực hiện Nghị quyết, Điều lệ Đảng, giải quyết kịp thời, minh bạch các đơn thư tố cáo, khiếu nại và xử lý nghiêm các vi phạm. Cấp ủy các cấp lãnh đạo chặt chẽ việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về tiến hành chuẩn bị tổ chức đại hội đảng nhiệm kỳ 2015-2020. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 về những điều đảng viên không được làm của Ban Chấp hành Trung ương.

Cùng với đó, phải thực hiện tốt và gắn chặt các mặt công tác cán bộ, tổ chức, dân vận, chính sách, tư tưởng,… Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng khắp  và là nguồn động lực tinh thần to lớn cho toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, tăng cường các biện pháp phòng ngừa những phát sinh phức tạp về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ. Gắn liền với đó, phải hết sức coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống việc lộ, lọt thông tin, các hiện tượng móc nối, cài cắm, xâm nhập hoặc thẩm thấu quan điểm xấu từ bên ngoài vào Quân đội dưới mọi hình thức; phấn đấu đảm bảo tuyệt đối an toàn về an ninh, chính trị, tư tưởng của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thường xuyên chăm lo kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng, đoàn thể, hội đồng quân nhân. Bởi, đây là các tổ chức, cá nhân trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị - yếu tố quyết định chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị. Từ thực tiễn, nhất là qua Sơ kết 9 năm thực hiện Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), Nghị quyết 513/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) chúng ta cần đánh giá đúng thực chất (cả ưu điểm và hạn chế, tồn tại), rút ra những bài học kinh nghiệm, để tiếp tục vận dụng thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới. Trong đó, cần coi trọng nâng cao phẩm chất, năng lực cho chính ủy, chính trị viên để họ hoàn thành tốt chức trách, cương vị được giao; đồng thời, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính ủy, chính trị viên với người chỉ huy, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các mặt công tác, các nhiệm vụ của đơn vị.

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN của quân và dân ta được tiến hành trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường; do đó bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, cũng có không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, thách thức gay gắt nổi lên là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với Quân đội ta, họ thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” bằng những hình thức, thủ đoạn mới tinh vi, thâm độc. Cùng với đó là những diễn biến phức tạp mới ở Biển Đông, trực tiếp đe dọa đến chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trước tình hình trên, chúng ra cần chú trọng thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, mọi thông tin được chuyển tải nhanh, lan tỏa rộng, thì công tác này lại càng quan trọng, nhưng trong thực hiện có không ít khó khăn, phức tạp. Vì thế, công tác thông tin, tuyên truyền càng cần phải được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, chính xác. Trong đó phải bảo đảm sự chủ động, giữ vững “trận địa thông tin”, làm chủ nguồn tin và độ tin cậy nguồn tin, nhằm tạo dư luận tốt trong xã hội nói chung và trong Quân đội nói riêng. Trong khi thông tin, tuyên truyền về những sự kiện nhạy cảm cần gắn với định hướng tư tưởng, giúp cho bộ đội và nhân dân nhận thức đúng và hiểu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó không bị kích động bởi những thông tin xấu độc, trái chiều. Trong thời gian qua, nhìn chung chúng ta thực hiện khá tốt công tác này, nhưng bên cạnh đó cũng còn những hạn chế, vô tình tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Một vấn đề không thể thiếu của quá trình xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị đó là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Quân đội ta đã trải qua 70 năm xây dựng và đã tiến hành tổng kết, sơ kết, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, từ đó đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm về công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội về chính trị. Mặc dù thực tiễn luôn vận động, phát triển, nhưng phần lớn những bài học kinh nghiệm đó vẫn rất quý báu, còn nguyên giá trị đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay. Do đó, chúng ta cần tiếp tục quan tâm đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác đảng, công tác chính trị. Vì vậy, Tổng cục Chính trị, các trung tâm nghiên cứu, viện, học viện, nhà trường trong Quân đội có vai trò, trách nhiệm rất lớn trong công tác này. Nếu được quan tâm đầu tư về mọi mặt, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

 

Sự điều chỉnh chính sách đối với khu vực Trung Đông của các nước lớn

Cùng với sự thay đổi trong chính sách phát triển của các nước lớn trong khu vực, thời gian qua, cục diện khu vực Trung Đông cũng chứng kiến bước chuyển lớn trong cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc trên thế giới. Mỹ giảm dần can dự trên thực địa, nhất là về quân sự; Trung Quốc, Nga đẩy mạnh ảnh hưởng cả về kinh tế và quân sự, tăng cường can dự để lấp dần những khoảng trống, đã tác động lớn tới cục diện và cán cân lực lượng tại khu vực.

Với Mỹ, mặc dù không còn là ưu tiên hàng đầu, song khu vực Trung Đông vẫn là một phần quan trọng trong chính sách đối ngoại - an ninh của Mỹ. Chính quyền Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn cơ bản vẫn duy trì các mục tiêu cốt lõi của chính quyền tiền nhiệm, như: 1- Bảo đảm an ninh cho các đồng minh, kiềm chế sự trỗi dậy của I-ran; 2- Duy trì các lợi ích kinh tế, quân sự, an ninh chiến lược tại khu vực. Theo báo cáo thường niên năm 2021 của Viện Nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI) về “Xu hướng chuyển giao vũ khí quốc tế”, trong giai đoạn 2016 - 2020, Trung Đông chiếm khoảng 47% số thỏa thuận mua vũ khí của Mỹ, góp phần quan trọng giúp Mỹ khẳng định vị trí số một về xuất khẩu vũ khí trên toàn cầu. Đồng thời, chính quyền Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn cũng thực hiện một số thay đổi quan trọng trong chính sách của Mỹ đối với khu vực, như: 1- Quyết liệt hoàn thành việc rút quân và giảm dần can dự quân sự như tại Áp-ga-ni-xtan và I-rắc; 2- Tăng cường quan hệ với các đồng minh trong khu vực, như I-xra-en, A-rập Xê-út, Các tiểu Vương quốc A-rập Thống nhất (UAE) thông qua hợp tác về quân sự, kinh tế bất chấp một số khác biệt; 3- Coi trọng giải quyết các vấn đề khu vực thông qua các biện pháp ngoại giao. Trong giải quyết vấn đề xung đột giữa I-xra-en và Pa-le-xtin, Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn quyết định nối lại viện trợ cho người dân Pa-le-xtin, khẳng định giải pháp “hai nhà nước” thông qua đàm phán là con đường khả thi nhất để đạt được nghị quyết lâu dài cho xung đột I-xra-en - Pa-le-xtin. Bên cạnh đó, chính quyền của Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn cũng rất coi trọng vấn đề hạt nhân và chương trình tên lửa đạn đạo của I-ran, một mặt, tích cực đàm phán nối lại JCPOA; mặt khác, tiếp tục thực hiện chiến thuật kiềm tỏa, buộc I-ran phải nhượng bộ. Trong cuộc trao đổi với Thủ tướng I-xra-en Náp-ta-li Ben-nét vào tháng 8-2021, Tổng thống Mỹ G. Bai-đơn khẳng định sẽ bảo đảm I-ran không thể sản xuất được bất kỳ một vũ khí hạt nhân nào và Mỹ sẽ xem xét triển khai các bước kiềm chế hành động gây nguy hiểm tới khu vực của I-ran.

ới Trung Quốc, khi Mỹ giảm dần sự hiện diện tại khu vực, Trung Quốc ngày càng quyết tâm đạt được các mục tiêu chiến lược tại khu vực, như: 1- Bảo đảm nguồn cung dầu mỏ, khí đốt giá rẻ từ Trung Đông; 2- Hoàn thiện hơn nữa mạng lưới Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) qua khu vực Trung Đông tới châu Phi, châu Âu, tạo thế trong cạnh tranh nước lớn; 3- Tập hợp lực lượng, tìm kiếm sự ủng hộ chính trị của các nước lớn trong khu vực, như I-ran, A-rập Xê-út, UAE. Về chính trị, Trung Quốc tập trung: 1- Đẩy mạnh trao đổi đoàn, điện đàm cấp cao với lãnh đạo các quốc gia trong khu vực; 2- Ký kết các thỏa thuận hợp tác lâu dài, tăng cường đồng thuận chính trị với “Sáng kiến 5 điểm” để giữ vững an ninh, ổn định và hòa bình lâu dài tại khu vực Trung Đông; 3- Tăng cường chia sẻ kinh nghiệm quản trị với các quốc gia khu vực thông qua một số cơ chế như Diễn đàn phát triển và cải cách A-rập - Trung Quốc, Diễn đàn An ninh Trung Đông năm 2021. Trung Quốc cho biết sẵn sàng làm trung gian giải quyết các vấn đề còn tồn tại của khu vực, như xung đột I-xra-en - Pa-le-xtin, ủng hộ sáng kiến của A-rập Xê-út nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng ở Y-ê-men. Về kinh tế, Trung Quốc tập trung: 1- Đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ BRI phù hợp với chiến lược phát triển của các quốc gia khu vực; 2- Tăng cường trao đổi thương mại, đầu tư, nhất là trong lĩnh vực công nghệ số, củng cố vị thế là đối tác thương mại và nhà đầu tư lớn nhất ở Trung Đông. Đồng thời, với sự bùng phát mạnh mẽ của dịch bệnh COVID-19, Trung Quốc tích cực hỗ trợ vắc-xin và nhiều trang thiết bị y tế giúp các quốc gia khu vực nhanh chóng kiểm soát dịch bệnh COVID-19. Trong bối cảnh Mỹ đang ngày càng thắt chặt “vòng vây” kiềm tỏa sự vươn lên của Trung Quốc, Trung Đông sẽ tiếp tục đóng vai trò huyết mạch trong chiến lược “phá vây” của Trung Quốc, hứa hẹn sẽ có những bước tiến vượt bậc trong quan hệ hai bên thời gian tới. 

Với Nga, khu vực Trung Đông ngày càng giữ vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại - an ninh của Nga. Từ vị trí “rất quan trọng với lợi ích của Nga” trong “Học thuyết chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” năm 2000, Trung Đông trở thành khu vực có vị trí “chiến lược quan trọng đối với lợi ích của Nga” trong “Những định hướng cơ bản chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” năm 2008. Năm 2016, với mong muốn thể hiện rõ vị thế cường quốc tại khu vực Trung Đông, Nga đưa ra chủ trương “khẳng định vị thế cường quốc trong giải quyết các vấn đề khu vực” trong Học thuyết chính sách đối ngoại(7). Với chiến lược đúng đắn, linh hoạt và thực dụng, thông qua trục quan hệ I-ran, I-xra-en, A-rập Xê-út, Nga ngày càng củng cố được vị thế cường quốc trong xử lý các vấn đề khu vực, bảo đảm các lợi ích chiến lược, như: 1- Vị thế nước lớn của Nga; 2- An ninh khu vực phía Tây Nam trước sự mở rộng mạng lưới quân sự của phương Tây do Mỹ đứng đầu; 3- Thu hút nguồn lực bên ngoài trong bối cảnh vẫn bị phương Tây cấm vận. Trong khuôn khổ chuyến thăm đầu tiên tới Nga vào ngày 22-10-2021, Thủ tướng I-xra-en N. Ben-nét nhấn mạnh “Nga có vai trò rất quan trọng tại khu vực Trung Đông”(8). Tiến trình giải quyết khủng hoảng Xy-ri do Nga bảo trợ thông qua các Hội nghị Át-xta-na, Xô-chi đã và đang cho thấy hiệu quả thiết thực hơn rất nhiều so với các cuộc đàm phán ở thành phố Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) do Mỹ và các nước đồng minh dẫn dắt. Thành tựu này cùng với sự “lạnh nhạt” của Mỹ đã thúc đẩy Nga tăng cường can dự hơn nữa tại khu vực Trung Đông, thông qua các mối quan hệ đan xen đối với cả I-ran, Xy-ri, A-rập Xê-út và I-xra-en, góp phần kiến tạo hòa bình cho một số “điểm nóng” của khu vực, như xung đột I-xra-en - Pa-le-xtin, vấn đề hạt nhân I-ran, nội chiến tại Y-ê-men(9) và khủng hoảng kinh tế - chính trị tại Li-băng(10), bảo đảm vị thế và các lợi ích chiến lược của Nga tại khu vực. Trong bối cảnh bạo lực leo thang giữa I-xra-en và Ha-mát tại khu vực Bờ Tây, ngày 31-5-2021, Bộ trưởng Ngoại giao Nga Xéc-gây Vích-tô-rô-vích La-vơ-rốp cho biết, cả I-xra-en và Pa-le-xtin đều bày tỏ sẵn sàng tham gia đàm phán dưới sự trung gian dẫn dắt của Nga(11). (Trích Tapchicongsan)

Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng

 


Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân tộc và giai cấp.

Đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng, mặc dù trong từng thời kỳ của cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác nhau. Hồ Chí minh đã rút ra những luận điểm có tính chân lý: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”[1]; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công” [2].



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t7, tr392

[2] Sđd, t10, tr350

 

NHỮNG “ĐỘC CHIÊU” CHỈ CÓ TRONG

CHIẾN TRANH DU KÍCH VIỆT NAM

Sự sáng tạo, đỉnh cao của nghệ thuật đánh du kích có lẽ là cái giàn thun bắn lựu đạn, đơn giản và hiệu quả. Ông Tư Bốn (tên gọi thân mật của Trung tướng Nguyễn Việt Thành, nguyên Giám đốc Công an Tiền Giang) kể lại:

"Cái giàn thun bắn lựu đạn là do sáng kiến của tôi và tôi là người sử dụng giàn thun khá hiệu quả, không chỉ bắn xa ngoài 300m mà còn bắn rất chính xác. Coi vậy chớ theo thời gian lịch sử, giàn thun bắn lựu đạn đã đi vào huyền thoại với những cái tên gọi khá mỹ miều tôi từng được nghe: Nào là "pháo hãm thanh", "cối tự hành", "nỏ thần thời chống Mỹ", kể cũng không có gì cường điệu.

Tôi còn nhớ một hôm, chú Chín Hải (Lê Văn Phẩm, nguyên Phó Bí thư Khu ủy Khu 8, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Mỹ Tho) đi họp về, có nói nơi nào đó bắn lựu đạn bằng cái ná thun và biểu tôi làm thử. Từ đó, hình ảnh cái giàn thun bắn lựu đạn cứ thoắt ẩn, thoắt hiện trong đầu. Cái ná thun thì hồi nhỏ, tôi "rành sáu câu" nhưng tìm đâu ra dây cao su cho giàn thun này bây giờ? Cái bao da may bao lớn? Thân ná chọn loại gỗ gì, cỡ cùm chân hay bắp vế? Không phải chuyện đùa, thao tác nửa chừng mà đứt dây, gãy ná là "bỏ mẹ".

Chuyện cái giàn thun bắn lựu đạn dài dòng lắm! Tóm lại, trong cái khó ló cái khôn, những giây phút hiếm hoi ngã mình trên cánh võng, bất chợt tôi đã nghĩ ra. Có ai ngờ rằng, cái cọng dây thun nhỏ xíu thường dùng buộc các bịch mũ đựng hàng, buộc bịch đựng nước ngọt đã làm cho bọn Mỹ-ngụy thất điên, bát đảo. Một cây làm chẳng nên non! Từng sợi thun nhỏ được kết với nhau thành từng sợi cỡ ngón tay; từng sợi thun cỡ ngón tay lại được bện xoắn với nhau thành từng sợi cỡ cùm tay, bắp tay. Giữa hai sợi thun đã được bện xoắn nhiều lần, có một cái bao da dùng để đựng quả lựu đạn. Thân ná là hai thân cây cỡ bắp đùi rời nhau, cơ động dễ dàng, tiện lợi hơn khi sử dụng cây tại chỗ. Năm lần bảy lượt, làm tới làm lui, cuối cùng cái giàn thun bắn lựu đạn cũng hoàn thành.

Lại lao vào tập bắn! Nhiêu khê lắm, khó khăn không kém gì khi làm cái giàn thun. Tập bắn thẳng đến tập bắn cầu vồng; tập bắn xa, bắn gần; tập bắn sao cho lựu đạn vừa chạm đất là nổ, thậm chí còn cho nó nổ chụp từ trên không xuống. Thuần thục rồi mà khi vào bắn thật, đã xảy ra một số trường hợp đứt dây thun, gãy giàn, lựu đạn rơi tại chỗ "chạy thấy mẹ".

Nói vậy thôi, chớ giàn thun bắn lựu đạn đã phát huy hiệu quả chiến đấu rất cao. Bọn địch kinh hoàng vì bất ngờ lựu đạn từ trên trời rơi xuống, không biết đằng nào mà đối phó. Bằng cách sử dụng lựu đạn gài, chốt chặn đường tiến quân của địch; bằng cách gài lựu đạn chặn trước chặn sau; gài trên bờ, gài dưới mương và dùng giàn thun bắn lựu đạn vào đội hình địch khi chúng co cụm, chúng tôi đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề!".

Trầm ngâm một chút, ông nói tiếp: "Sau Hiệp định Pari, địch không những không chấp hành nghiêm chỉnh mà còn xua quân thực hiện kế hoạch "cắm cờ giành dân, lấn đất", "phá thế da beo", "tràn ngập lãnh thổ". Lấn chiếm tới đâu, chúng cho đóng đồn, bót tới đó. Không đủ sức đánh bức hàng, chúng tôi đã dùng giàn thun bắn lựu đạn đánh bức rút hàng loạt đồn, bót địch. Quan sát thấy địch nổi lửa nấu cơm là chúng tôi dùng "pháo hãm thanh" bắn vào đồn vài quả lựu đạn. Bắn ngày này qua ngày khác, không theo một quy luật nào. Khi thì chỉ cách nhau vài ba phút bắn vài ba quả, khi cách nhau một vài tiếng đồng hồ bắn thêm mấy quả nữa.

Bị đói, bị thương, bọn địch la khóc rần trời, còn tinh thần thì hoang mang, lo sợ cực độ. Bởi, bắn lựu đạn bằng giàn thun không nghe tiếng "đề pa", không nghe tiếng rít; bỗng dưng lựu đạn từ trên trời rơi xuống nổ cái oành! Không biết lúc nào mà trốn tránh, không có cách gì để đối phó. Cuối cùng, địch đành phải bỏ đồn tháo chạy"…

ST

 

 

Cảnh giác với luận điệu bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

 

Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Chúng cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân.

Bóc trần âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc

Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản.

Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ.

Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội...

Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá.

Chúng còn đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”...

Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo.

Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”.

Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội...

Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ...

Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân.

Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta.

Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước.

Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch.

Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch.

Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta.

Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu.

 

Xã hội XHCN phải dựa trên lực lượng sản xuất phát triển cao, chế độ công hữu về TLSX chủ yếu từng bước được xác lập


Xã hội XHCN phải dựa trên lực lượng sản xuất phát triển cao, chế độ công hữu về TLSX chủ yếu từng bước được xác lập,

 tổ chức quản lý hiệu quả, năng suất lao động cao, phân phối theo lao động là chủ yếu

CNXH ra đời từ những tiền đề được tạo ra trong lòng xã hội tư bản, đó là lực lượng sản xuất to lớn do nền đại công nghiệp tạo ra.

+ Phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là lực cản lớn nhất, kìm hãm sự phát triển của tiến bộ xã hội. Cuộc cách mạng XHCN phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, từng bước xác lập chế độ công hữu. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản”[1].

+ Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ đặc trưng kinh tế của CNXH là thiết lập từng bước chế độ công hữu;

+ Đồng thời, các ông coi trọng cách thức tổ chức lao động, tổ chức sản xuất để thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản, bằng cách tăng năng xuất lao động. V.I.Lênin khẳng định: “CNCS có nghĩa là năng xuất lao động cao hơn (so với năng xuất lao động dưới chế độ tư bản) của những công nhân tự nghuyện, tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại”[2].

+ Theo các nhà kinh điển, phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối cơ bản trong CNXH. Đó là nguyên tắc lao động ngang nhau thì được hưởng ngang nhau, thể hiện sự công bằng trong CNXH.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t4, tr615

[2] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ M. 1976, t39, tr25 

Làm cho sản xuất bung ra là bước đột phá đầu tiên về kinh tế của cách mạng Việt Nam

 


 Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979), với chủ trương bằng mọi cách “làm cho sản xuất bung ra”, là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó.

Hội nghị chủ trương ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc trao đổi tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hoá; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức; sửa lại thuế lương thực và giá lương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại chế độ phân phối theo định suất, định lượng,...

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 nhanh chóng được nhân dân cả nước đón nhận và biến thành hành động cụ thể trong thực tiễn nền kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn, trong cả nước xuất hiện rất nhiều điển hình về cách làm ăn mới. Long An từ giữa năm 1980 đã thí điểm mô hình “mua cao, bán cao”, “bù giá vào lương” thay cho cơ chế “mua cung, bán cấp”. Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh thí điểm hình thức khoán.

- Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp.

Tiếp đó, trong công nghiệp, bước đầu xác định quyền tự chủ của các cơ sở trong sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính của các xí nghiệp theo các Quyết định 25/CP và 26/CP của Hội đồng Chính phủ. Nghị quyết Trung ương 6, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ cho thấy những ý tưởng ban đầu của đổi mới, tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng đó là bước đầu có ý nghĩa, đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi mới sau này.

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác PCTN


Có thể khẳng định, PCTN là một lĩnh vực công tác luôn thu hút được sự quan tâm đặc biệt của xã hội, thể hiện sự tin tưởng của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thời gian qua, công tác PCTN trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng đạt được những kết quả khá tích cực, để lại dấu ấn tốt, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: "Công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực đã trở thành phong trào, xu thế, được nhân dân đồng tình, đánh giá cao". Để công cuộc đấu tranh PCTN hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức Đảng, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương của tỉnh cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, mạnh mẽ, đồng bộ với quyết tâm cao, trong đó tập trung vào các nội dung cơ bản:

Một là, cần chú trọng công tác tuyên truyền về PCTN gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Gắn công tác PCTN với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gắn PCTN với xây dựng và chỉnh đốn Đảng; chấn chỉnh, đấu tranh, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh PCTN của một số cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Hai là, xây dựng và ban hành bộ quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên trong công việc và trách nhiệm giải trình trước cơ quan có trách nhiệm về những vấn đề liên quan theo quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao. Có cơ chế phù hợp khen thưởng, bảo vệ người tố cáo tham nhũng, lãng phí đúng. Tạo điều kiện, cơ chế đãi ngộ xứng đáng cho đội ngũ chuyên trách làm công tác PCTN. Nâng cao mức sống cho đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao, từ đó chấp hành tốt "bốn không"(không muốn tham nhũng, không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không cần tham nhũng) trong PCTN.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật Đảng; quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước. Nhiệm vụ này phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, công khai, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ. Kiểm tra toàn diện công tác cán bộ, chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ có biểu hiện tham nhũng, dư luận xã hội phản ánh, tố cáo; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đặc biệt, cần phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và báo chí trong đấu tranh PCTN.

Bốn là, thực hiện cải cách hành chính quyết liệt hơn, chú trọng rà soát, đơn giản hóa, công khai thủ tục hành chính, mở rộng các lĩnh vực cung cấp dịch vụ công trực tuyến; công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin và giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng kế hoạch và thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác hàng năm, điều chuyển vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, mức độ hài lòng của người dân không cao, uy tín giảm sút. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước theo đúng quy định của Luật PCTN năm 2018.

Năm là, đưa nội dung PCTN và kiểm tra, rà soát các cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, việc thực hiện các kiến nghị của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cấp ủy. Trong đó, đặc biệt tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra các lĩnh vực quản lý, cho thuê đất công, mua bán, chuyển nhượng tài sản công, quản lý trật tự xây dựng, xây dựng cơ bản, quản lý, sử dụng tài chính, công tác tổ chức, cán bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong công tác tổ chức, cán bộ; kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên có biểu hiện tham nhũng, nhiều đơn thư phản ánh, tố cáo tham nhũng; cán bộ có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước.

Sáu là, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ án liên quan đến tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Tập trung lực lượng, phối hợp chặt chẽ để giải quyết các vụ việc phát sinh mới với nguyên tắc: "Tích cực, khẩn trương, làm rõ đến đâu xử lý đến đó", "Không có vùng cấm", "Không có ngoại lệ". Kiên quyết xử lý nghiêm những người bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc xử lý hành vi tham nhũng. Ngăn chặn, xử lý có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, nhất là "tham nhũng vặt" trong giải quyết công việc.

Bảy là, các cơ quan chức năng tập trung nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; chấp hành nghiêm quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm các hành vi phạm tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời. Phối hợp chặt chẽ trong giải quyết các vụ việc, vụ án kinh tế, tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ việc, vụ án kinh tế, tham nhũng. Chú trọng công tác điều tra, mở rộng án, thu hồi tài sản, không để các đối tượng đối phó, tiêu hủy tài liệu, bỏ trốn, tẩu tán tài sản; không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

Tám là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nhất là việc thực thi công vụ, những vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp. Đồng thời, công bố công khai các kết luận và kết quả kiểm tra, thanh tra có liên quan đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức. Cụ thể hóa và tăng cường kiểm tra nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm các quy định của Luật PCTN về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và trong các lĩnh vực, nhất là việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Xử lý nghiêm đối với cán bộ, công chức có hành vi tham nhũng, tiêu cực, sai phạm về chuyên môn.

 

NGỜI SÁNG PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ

TRONG THIÊN TAI, DỊCH BỆNH

Trong thiên tai, dịch bệnh, hình ảnh hàng vạn chiến sĩ Quân đội dầm mình trong mưa bão để cứu dân; chiến sĩ biên phòng ngày đêm canh gác trên chốt chống dịch; các anh bộ đội, dân quân phục vụ tại các khu cách ly tập trung… đã làm sáng thêm những phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ.

Những ngày đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 xuất hiện, hoành hành khắp thế giới. Việt Nam cũng bị đe dọa và Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp. Ngay trong khó khăn, hiểm nguy khi tình hình dịch Covid-19 ngày càng lan rộng, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đã xung kích vào điểm nóng tâm dịch; kiên cường trên các tuyến biên giới tham gia phòng, chống dịch bệnh.

Mặc cho thời tiết khắc nghiệt, giữa cái giá rét thấu xương những ngày Đông, trên các đường mòn, lối mở ở dọc tuyến biên giới, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ địa bàn để ngăn chặn các đối tượng nhập cảnh trái phép, chặn đứng nguy cơ dịch bệnh xâm nhập vào nội địa.

Tham gia cắm chốt, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ không thể về nhà, phải hoãn cưới vợ, nhiều trường hợp bố mẹ mất cũng không thể về chịu tang. Tạ lỗi với bố mẹ, khất hẹn với vợ chưa cưới và người thân, những người lính Biên phòng “căng” mình để cắm chốt trong những lều bạt nơi rừng thiêng nước độc hàng tháng trời để thực hiện nhiệm vụ.

Trên mặt trận chống dịch, không chỉ những người lính biên phòng, mà các lực lượng làm nhiệm vụ trong các khu cách ly cũng đã trọn nghĩa với đồng bào và người nước ngoài đến Việt Nam. Nhưng ngày đầu năm 2020, thực hiện yêu cầu của Chính phủ cũng như quy định của Bộ Y tế, người Việt Nam ở nước ngoài về hay người nước ngoài sang Việt Nam phải thực hiện cách ly bắt buộc trong 14 ngày. Hàng nghìn khu cách ly tập trung trên địa bàn cả nước được thiết lập để đón công dân từ nước ngoài trở về thực hiện cách ly. Mặc cho đối mặt với muôn vàn khó khăn, nguy cơ lây nhiễm cao nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ phục vụ ở các khu cách ly luôn nỗ lực hết mình để đảm bảo điều kiện ăn, ở tốt nhất cho các công dân. Ai cũng xác định tốt tâm lý 3 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng chung tay phòng, chống dịch bệnh) với các công dân. Trong khu cách ly, cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, phục vụ tận tình, chu đáo các công dân thực hiện nghĩa vụ phòng dịch.

Tận mắt chứng kiến và trực tiếp được chào đón, chăm sóc chu đáo ân cần, được quan tâm lo lắng như người thân của các cán bộ, chiến sĩ,… những công dân thực hiện nghĩa vụ cách ly phòng bệnh đều rất cảm động. Những hành động, việc làm cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ đã để lại trong lòng kiều bào và nhân dân những ấn tượng không bao giờ phai mờ. Đến bây giờ, sau hơn hai năm dịch Covid-19 bùng phát, câu chuyện về những “bà đỡ” bất đắc dĩ trong các khu cách ly giúp công dân “vượt cạn” hay chiến sĩ nhường suất ăn cho công dân… vẫn luôn được nhắc mãi.   Và còn đó, những tấm gương cán bộ, chiến sĩ quên mình trong tham gia giúp nhân dân phòng, chống dịch đã trở thành biểu tượng cao đẹp về lòng nhân ái, tinh thần quả cảm của Bộ đội Cụ Hồ.

Nếu như trong cuộc chiến chống Covid-19, mỗi cán bộ, chiến sĩ chiến đấu với tinh thần “chống dịch như chống giặc” để hạn chế thấp nhất sự xâm nhập của dịch bệnh; sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” dành những điều kiện tốt nhất cho đồng bào mình trong khu cách ly… thì trong công cuộc phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã không quản gian khó, không sợ hy sinh, sẵn sàng tới những nơi khó khăn nhất, nguy hiểm nhất để giúp dân chạy lũ, tiếp tế lương thực, thực phẩm, tìm kiếm người bị nạn… khắc phục hậu quả thiên tai. Những ngày cuối tháng 10 năm 2020, đồng bào các tỉnh miền Trung oằn mình trong bão lũ. Nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của người dân trôi theo dòng nước dữ. Làng xã bị cô lập, đất đai sạt lở, hàng nghìn người dân rơi vào cảnh khó khăn. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, mệnh lệnh cứu dân, hạn chế thấp nhất thiệt hại của thiên tai lại được phát đi. Các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang đã huy động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều phương tiện như ô tô, xuồng máy, áo phao... có mặt kịp thời sơ tán, ứng cứu nhân dân.

Xác định “phòng chống lụt bão là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có mặt ở những địa bàn khó khăn nhất giúp nhân dân ứng phó với bão lũ, khắc phục hậu quả thiên tai để hạn chế thấp nhất thiệt hại và đưa cuộc sống của người dân ổn định trở lại.

Dầm mình trong dòng nước lũ suốt cả ngày, tham gia sơ tán, di dời hàng trăm người dân và tài sản bà con đến nơi an toàn nhưng khi nghe tiếng người kêu cứu, cán bộ, chiến sĩ quân đội không ngần ngại lao mình xuống dòng nước lũ, quyết tâm cứu người bị nạn. Vẫn còn đó những tấm gương không quản hiểm nguy lao vào tâm lũ, hy sinh tính mạng cứu nhân dân trong phòng,chống thiên tai của cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Ngay sau khi nước rút, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang đã điều động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ giúp dân khắc phục hậu quả sau lũ. Các cán bộ, chiến sĩ tích cực tham gia sửa chữa nhà cửa bị hư hỏng, khắc phục sạt lở đất, khai thông các tuyến đường giao thông, nạo vét kênh mương thủy lợi, hỗ trợ thu hoạch hoa màu, vệ sinh các trường học... giúp dân sớm ổn định lại cuộc sống.

Thật khó nói hết những gian lao của những người lính, các anh luôn có mặt ở những điểm nóng để giúp dân khi xảy ra thiên tai, hoạn nạn. Cùng với cứu hộ, cứu nạn, họ còn tham gia thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, thực hiện các phong trào, công tác chính sách xã hội, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa... Hình ảnh người lính đem con chữ đến những bản làng nghèo xa xôi, thắp lên hy vọng và ước mơ cho những em nhỏ vùng cao, chia sẻ cùng nhân dân những nhọc nhằn, gian khó đã trở thành quen thuộc.

Xung kích, đi đầu, gần dân, giúp dân vượt qua thiên tai, hoạn nạn, đó chính là mệnh lệnh chiến đấu trong thời bình của cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” xông pha vào các khu vực trọng yếu, nguy hiểm để giúp dân chống chọi với thiên tai, dịch bệnh góp phần tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

 

Điểm nhấn trong công tác PCTN

 

Chiến lược quốc gia về PCTN đến năm 2020 của Chính phủ cũng xác định "PCTN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng Nhân dân PCTN là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới". 

Trong những năm qua, tỉnh đã quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo PCTN; ban hành đồng bộ hệ thống văn bản chỉ đạo, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN... với phương châm xác định PCTN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, lãnh đạo tỉnh đã tập trung thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp về PCTN, nổi bật là nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của toàn xã hội trong PCTN.

Năm 2020, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành, địa phương chủ động nắm chắc tình hình, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch, tập trung giải quyết kịp thời các vấn đề nổi cộm, bức xúc ở cơ sở. Lực lượng Công an phối hợp với các địa phương đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, trong đó tập trung vào tội phạm hoạt động theo băng nhóm, cướp giật, trộm cắp tài sản và ma túy; công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án bảo đảm đúng người, đúng tội, không oan sai, không bỏ lọt tội phạm.

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác nội chính, cải cách tư pháp và PCTN năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021, đồng chí Võ Văn Bình, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu các cấp, các ngành cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tuyên truyền sâu rộng, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản của Trung ương, của tỉnh về công tác nội chính, PCTN và cải cách tư pháp; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho các tầng lớp Nhân dân; tiếp tục tổ chức thực hiện tốt công tác tiếp công dân, nhất là nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của Nhân dân.