Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với
cách mạng Việt Nam.
Người nói, “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữ
là “đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Nói về cách mạng xã hội chủ nghĩa,
Người xác định: “Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu
tranh thống nhất nước nhà”.
Người còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, mục
đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng
đầu của cả dân tộc. Nghĩa là đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan
của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự
nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm dân, nhân dân dùng để chỉ “mọi con
dân nước việt”, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên” không phân biệt giống nòi,
dân tộc, tín ngưỡng “già, trẻ, gái trai, giầu, nghèo, quý tiện”. Như vậy,
dân hay nhân dân vừa là đông đảo quần chúng, vừa là mọi người Việt Nam. Đại
đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt tầng lớp, giai cấp
trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức. Ngay từ năm 1941, trong bài “Kính cáo đồng bào”, Bác viết: “Hiện thời
muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết”. Trong lúc này
quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại. “Cứu
quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần
trách nhiệm...”[1].
Do đó, đại đoàn kết dân tộc cũng là đại đoàn kết toàn dân và ngược lại.
Người dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét