Thứ Hai, 18 tháng 4, 2022

Đừng “té nước theo mưa”…

 

Vừa kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm, vừa tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh chân chính, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi đăng tải thông tin thất thiệt, chưa được kiểm chứng, “té nước theo mưa”, đây là những công việc mà các cơ quan chức năng đang nỗ lực làm tốt để củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư, từ đó huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực hợp pháp, thúc đẩy phục hồi nhanh, phát triển bền vững kinh tế-xã hội đất nước.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của doanh nghiệp theo đúng chủ trương của Nhà nước về phát triển cân bằng giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ, tín dụng, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên thời gian vừa qua, hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp có những vi phạm pháp luật và đấu giá quyền sử dụng đất còn nhiều bất cập, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

 Ngày 5/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã có Quyết định khởi tố vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xảy ra tại Tập đoàn Tân Hoàng Minh và các tổ chức, đơn vị có liên quan, tiến hành điều tra, xác minh một số hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến phát hành trái phiếu, huy động tiền của nhà đầu tư của các công ty thành viên thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh.

 

Ngay sau đó, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã ký ban hành Công điện số 304/CĐ-TTg ngày 7/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh hoạt động thị trường trái phiếu doanh nghiệp và đấu giá quyền sử dụng đất.

 

Công điện nêu rõ hàng loạt giải pháp cấp bách, trước mắt và cả giải pháp căn cơ, lâu dài, hướng tới mục tiêu bảo đảm thị trường trái phiếu doanh nghiệp hoạt động ổn định, lành mạnh, minh bạch, an toàn, phát triển bền vững và hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất tuân thủ quy định pháp luật, phòng, chống hiệu quả các hành vi lợi dụng, hành vi vi phạm để trục lợi.

 Mới nhất, ngày 11/4, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái tiếp tục ký ban hành Công điện số 311/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó nhấn mạnh các nhiệm vụ cung cấp thông tin chính thống, chính xác về tình hình hoạt động thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu… của cơ quan chức năng để nhà đầu tư yên tâm, tin tưởng;  không để xảy ra các vi phạm về công bố thông tin gây ảnh hưởng đến tâm lý thị trường; xử lý nghiêm các hành vi đưa thông tin không chính xác, thất thiệt, gây tác động tiêu cực đến hoạt động của thị trường.

 Thực tế, ngay từ đầu tháng 12/2021, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã bám sát, dự báo tình hình đang tiềm ẩn nhiều rủi ro khi các doanh nghiệp đã tăng cường huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo hình thức phát hành riêng lẻ với quy mô lên tới hơn 436 nghìn tỷ đồng trong 11 tháng đầu năm 2021, tăng trên 23,4% so với cùng kỳ năm 2020.

 Tại Công điện số 8857/CĐ-VPCP ngày 3/12/2021 về tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã yêu cầu Bộ Tài chính khẩn trương thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật về phát hành và sử dụng vốn thu được từ phát hành trái phiếu, nhất là phát hành trái phiếu riêng lẻ của các doanh nghiệp bất động sản, của tổ chức tín dụng có liên quan đến doanh nghiệp bất động sản, các doanh nghiệp có khối lượng phát hành lớn, lãi suất cao, các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh thua lỗ, các doanh nghiệp phát hành không có tài sản bảo đảm…

 Đồng thời, khẩn trương rà soát các quy định pháp luật liên quan đến thị trường trái phiếu doanh nghiệp và phát hành trái phiếu doanh nghiệp để kịp thời sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, giám sát thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bảo đảm thị trường phát triển lành mạnh, minh bạch, an toàn.

 Thủ tướng cũng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình và hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng, kịp thời phát hiện và cảnh báo các rủi ro và có biện pháp xử lý theo quy định, bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

 Bộ Công an phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan có liên quan nắm bắt tình hình, tiếp nhận thông tin, vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật (nếu có) để xử lý nghiêm theo đúng quy định pháp luật.

 Phát hành trái phiếu doanh nghiệp là hình thức huy động vốn hợp pháp của các doanh nghiệp đủ điều kiện phát hành. Kênh huy động vốn này được tạo điều kiện để thu hút nguồn lực của xã hội cho phát triển kinh tế-xã hội. Cần thấy rằng vụ Tân Hoàng Minh không phải là toàn bộ "bức tranh" phát hành trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức phát hành vừa qua. Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh của thị trường trái phiếu cũng đã phát sinh những rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường, cần được chấn chỉnh, quản lý, giám sát chặt chẽ hơn và có biện pháp xử lý kịp thời để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư và đóng góp thiết thực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

 Đặc biệt, sau 1 năm triển khai các quy định mới về phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp và các nghị định hướng dẫn, trước tình hình thị trường vẫn phát sinh những rủi ro mới, quy định của pháp luật cần tiếp tục điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn, khắc phục, loại bỏ những rủi ro mới phát sinh, "bịt" những kẽ hở có thể lợi dụng hoặc những điểm chưa chặt chẽ có thể gây ra vi phạm pháp luật ngoài ý muốn chủ quan của tổ chức phát hành.

 Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã đánh giá, rà soát và xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 153/2020/NĐ-CP theo hướng tăng cường tính công khai, minh bạch, giảm thiểu các rủi ro phát sinh nhằm mục tiêu phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp bền vững. Đồng thời kiến nghị Chính phủ, Quốc hội tiếp tục sửa Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp vào thời gian tới.

 Một số chính sách đang đề xuất bao gồm: Thu hẹp quy định về mục đích phát hành trái phiếu nhằm hạn chế việc chuyển nhượng vốn lòng vòng, gây thiếu minh bạch và khó khăn cho nhà đầu tư khi đánh giá rủi ro của trái phiếu và doanh nghiệp phát hành; hướng dẫn cụ thể về điều kiện phát hành và hồ sơ chào bán trong đó có yêu cầu về tỷ lệ an toàn tài chính khi phát hành trái phiếu, tổ chức đại diện người sở hữu trái phiếu; quy định rõ loại trái phiếu nhà đầu tư cá nhân được mua và giao dịch nhằm định hướng nhà đầu tư cá nhân mua các trái phiếu doanh nghiệp có tính an toàn và công khai, minh bạch hơn; bổ sung các quy định để đẩy nhanh việc thiết lập thị trường giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán cho các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và bổ sung quy định về trách nhiệm của các tổ chức cung cấp dịch vụ nhằm chấn chỉnh các tổ chức cung cấp dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp.

 Dự thảo Nghị định đã được lấy ý kiến rộng rãi qua Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Cổng Thông tin của Bộ Tài chính, ý kiến của các bộ, ngành liên quan, ý kiến bằng văn bản và đối thoại trực tiếp với thành viên thị trường. Hiện nay, dự thảo Nghị định đang được hoàn thiện để gửi Bộ Tư pháp thẩm định trình Chính phủ ban hành.

 Mặt khác, một vấn đề rất đáng lưu tâm là lợi dụng việc Cơ quan điều tra khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm pháp luật, một số cá nhân sử dụng mạng xã hội đăng tải thông tin thất thiệt, chưa được kiểm chứng, được cho là vi phạm của các cá nhân, doanh nghiệp khác (chủ yếu trên lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản), thu hút lượng lớn người theo dõi trên mạng xã hội; xuất hiện những bình luận, chia sẻ cho rằng thời gian tới cơ quan chức năng sẽ khởi tố, xử lý những cá nhân, doanh nghiệp này, tác động xấu tới dư luận xã hội, tâm lý nhà đầu tư, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tài chính, chứng khoán của Việt Nam, gây thiệt hại về uy tín, kinh tế của cá nhân, doanh nghiệp và nhà đầu tư, gây hoang mang dư luận.

 Bộ Công an đang chỉ đạo các lực lượng chức năng thu thập, củng cố tài liệu chứng cứ, kiên quyết xử lý nghiêm theo đúng quy định tất cả những đối tượng có hoạt động đăng tải thông tin thất thiệt, chưa được kiểm chứng, góp phần tạo môi trường kinh doanh ổn định, lành mạnh. Bộ Công an đã khuyến cáo người dân không nghe theo và tiếp tay lan tỏa những thông tin thất thiệt, chưa được kiểm chứng.

 Tình hình kinh tế-xã hội của đất nước đang chuyển biến rất tích cực trên tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi huy động mạnh mẽ các nguồn lực trong và ngoài nước cho quá trình phục hồi và phát triển.

 Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, công tác xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã được triển khai quyết liệt, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả quan trọng, đột phá, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực trong toàn xã hội. Khi có dấu hiệu của tội phạm hình sự rõ ràng thì không thể bỏ qua và việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm sẽ giúp các doanh nghiệp chân chính, làm ăn tử tế có cơ hội phát triển bền vững, các nhà đầu tư được hoạt động trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng.

 Nghị quyết 50/NQ-CP được Chính phủ ban hành ngày 20/5/2021 về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển các loại thị trường và các yếu tố thị trường; mặt khác, thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; đông thời không hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự. Điều này góp phần giúp những người kinh doanh chân chính yên tâm, từ đó huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực hợp pháp, thúc đẩy phục hồi nhanh, phát triển bền vững kinh tế-xã hội đất nước.

 Thu Hà

An ninh mạng cần có cách tiếp cận toàn cầu, toàn dân

 

Thời gian qua, tình hình an toàn, an ninh mạng diễn biến phức tạp trên không gian mạng toàn cầu, khó kiểm soát, khó dự báo, tác động ngày càng sâu sắc tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, chủ quyền, an ninh quốc gia của các nước và tâm lý, nhận thức của người dân.

 Tại cuộc họp, Thủ tướng biểu dương các thành viên BCĐ, Văn phòng, các tiểu ban của BCĐ, các lực lượng bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong thời gian qua đã bám sát tình hình, nỗ lực làm tốt nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn được giao, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ thành công Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2025, bảo đảm môi trường an toàn, lành mạnh cho người dân và doanh nghiệp trên không gian mạng.

 Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông quốc tế công bố năm 2021, Việt Nam xếp thứ 25/194 quốc gia, vùng lãnh thổ, thứ 7 khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thứ 4 trong ASEAN về an toàn, an ninh mạng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, có những vấn đề cần tiếp tục quan tâm và cố gắng hơn nữa, như nâng cao nhận thức về an toàn, an ninh mạng; đầu tư cho công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng chưa tương xứng nhiệm vụ được giao; việc phối hợp giữa các cơ quan còn có hạn chế, hợp tác quốc tế chưa phát huy hiệu quả tích cực; vai trò đầu mối thực hiện các nhiệm vụ liên ngành còn có vướng mắc; việc triển khai nhiệm vụ của một số bộ, ngành, địa phương có lúc chưa kịp thời; còn tình trạng lộ, lọt bí mật Nhà nước; công tác đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ nhân lực chưa được quan tâm đúng mức…

 Tình hình, bối cảnh mới đặt ra yêu cầu cấp thiết, kịp thời của việc bảo vệ an toàn, an ninh mạng; thích ứng nhanh, hiệu quả với các diễn biến mới; vừa tích cực, chủ động hội nhập, tham gia các xu thế lớn, vừa có các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng; vừa tăng cường công khai, minh bạch, vừa bảo vệ được dữ liệu cá nhân.

 Thủ tướng nhấn mạnh, cần nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội do không gian mạng mang lại để phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời chủ động phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó để hạn chế các tác động tiêu cực, khắc phục các tồn tại, hạn chế, phát huy mặt tích cực, thành quả đã đạt được, tăng cường hơn nữa bảo vệ an toàn, an ninh mạng đối với không gian mạng quốc gia, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ người dân, doanh nghiệp, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

 Các thành viên BCĐ, Bộ Công an với vai trò là Cơ quan thường trực BCĐ, Văn phòng BCĐ an toàn, an ninh mạng quốc gia, Tiểu ban an toàn, an ninh mạng, các bộ, ngành liên quan khẩn trương thực hiện các biện pháp bảo vệ an toàn, an ninh mạng, nhất là khi tình hình chính trị thế giới thời gian tới diễn biến phức tạp, công tác chuyển đổi số của quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ; yêu cầu tăng cường hơn nữa vai trò của BCĐ, Văn phòng BCĐ, các tiểu ban, thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay để giải quyết các yêu cầu đặt ra trong tình hình hiện nay.

 Phải có cách tiếp cận toàn dân về an ninh mạng

Thủ tướng nêu rõ, bảo vệ an toàn, an ninh mạng là trọng tâm của quá trình chuyển đổi số, là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục, vừa cấp bách, vừa lâu dài, là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, thu hút được các nguồn lực, chủ động hội nhập quốc tế; do vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, xuyên suốt, đồng bộ, thống nhất, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan.

gười đứng đầu Chính phủ yêu cầu quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về an toàn, an ninh mạng. Ông cho rằng phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc, toàn diện về an toàn, an ninh mạng để thống nhất về nhận thức và hành động, đây là vấn đề toàn cầu nên cần cách tiếp cận toàn cầu, huy động sự hợp tác quốc tế, đề cao chủ nghĩa đa phương, đây là vấn đề tác động tới toàn dân nên phải có cách tiếp cận toàn dân, người dân phải là trung tâm, chủ thể tham gia vào công tác này.

 Cùng với đó, phải nắm chắc tình hình, nâng cao khả năng dự báo, điều chỉnh, bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp kịp thời, phù hợp. Rà soát, xây dựng, hoàn thiện thể chế về an toàn an ninh mạng. Đầu tư hơn nữa về lãnh đạo, chỉ đạo, bố trí nguồn lực, tài chính, coi đầu tư cho an ninh mạng là đầu tư cho phát triển; nâng cấp công nghệ thường xuyên; chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực; xây dựng các cơ chế, chính sách để ưu tiên các nguồn lực.

 Thủ tướng nhấn mạnh nhiệm vụ tích cực. chủ động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn, an ninh mạng trên tinh thần làm bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, đóng góp vào hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

 Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, các cơ quan trong hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, huy động sức mạnh tổng hợp của người dân và doanh nghiệp. Thúc đẩy hợp tác công tư, xây dựng thế trận lòng dân và thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về an toàn, an ninh mạng. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Nghiên cứu thành lập Hiệp hội An ninh mạng quốc gia…

 BCĐ An toàn, an ninh mạng quốc gia là tổ chức liên ngành để tham mưu và tổ chức thực hiện những vấn đề chiến lược, tổng thể, toàn diện, thể hiện được vai trò trung tâm, điều hành, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, tạo ra sức mạnh tổng hợp chung, tổ chức thực hiện bài bản, đồng bộ, đạt hiệu quả cao nhất trong công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng.

SÁU gợi ý trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 

TS  Lê Hoàng Việt Lâm (Khoa Lý luận chính trị và khoa học xã hội nhân văn Trường Đại học An ninh Nhân dân) lưu ý những vấn đề ứng xử thông tin trên internet, mạng xã hội. Đồng thời, TS Lâm đưa ra sáu gợi ý, khuyến nghị nâng cao hiệu quả việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Một là, mỗi một cán bộ đảng viên, công nhân viên chức, nhất là người đứng đầu cần nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

 Mỗi khi có nhận thức rõ, đúng thì người cán bộ, đảng viên mới có thể đề ra các kế hoạch, chương trình hành động để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mang lại hiệu quả thiết thực.

Hai là, đẩy mạnh các hoạt động báo cáo chuyên đề, tập huấn kỹ năng nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong đoàn viên các cấp. Thực tiễn cho thấy, việc nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là điều không hề dễ dàng mà là rất khó, đòi hỏi nghiên cứu chuyên sâu, vì vậy chỉ thông qua các buổi báo cáo chuyên đề, tập huấn kỹ năng… mới là kênh giáo dục, cung cấp tri thức tốt nhất, phục vụ cho việc nhận diện, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.

 Ba là, trong quá trình đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần phải quán triệt quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Hiện nay, các đối tượng chủ yếu tuyên truyền, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, trong khi mạng xã hội là một không gian ảo, hậu quả thường không xảy ra tức thì, nên nhiều cán bộ Đoàn tỏ ra thờ ơ, không thấy được tính chất nguy hiểm của nó.

 Bốn là, mỗi cán bộ, đảng viên bên cạnh việc “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, thì cần phải “dám nói”. Bởi lẽ thực tế cho thấy, im lặng là thủ tiêu đấu tranh và là môi trường dung dưỡng cho cái xấu nảy sinh và phát triển - và đó chính là cơ hội, mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch tuyên truyền, chống phá.

 Năm là, mỗi một cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cần phải nêu gương, bởi “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(Hồ Chí Minh (2002), toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.263). Chức vụ càng cao, trách nhiệm nêu gương phải càng lớn. Nêu gương là trách nhiệm, bổn phận, đạo lý của bất cứ một người đảng viên nào.

 Việc nêu gương tưởng như mơ hồ, trừu tượng, nhưng nó được soi chiếu rất cụ thể vào mỗi cán bộ đảng viên, trong mối quan hệ với người thân, gia đình; trong thực hành chức trách, nhiệm vụ được giao… Nó được “định hình” từ việc có hoàn thành nhiệm vụ công việc của mình hay không? Lập trường tư tưởng chính trị có vững vàng, kiên định, có tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân hay không? Đạo đức, lối sống có công tâm, khách quan không?… Một khi cán bộ đảng viên nêu gương tốt, đó là cơ sở để không dính đến tiêu cực, tham ô, lãng phí, quan liêu, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với người cán bộ đứng đầu - nhân tố quan trọng để họ tin tưởng vào sự lãnh đạo của của Đảng và cũng là yếu tố quan trọng để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.

 Sáu là, các cơ quan Đảng, đặc biệt là các cơ quan trực tiếp liên quan đến công tác tuyên giáo, rèn luyện, giáo dục cần có sự quan tâm ĐÚNG và TRÚNG, bằng cả TÂM và TẦM của mình trong các mặt hoạt động của cán bộ, đảng viên, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, các dư luận viên, nhất là trong các mặt công tác liên quan đến giáo dục chính trị, tư tưởng.

 Thực tiễn cho thấy, để cho bất cứ một tổ chức nào hoạt động hiệu quả, thì vai trò của người đứng đầu đóng vai trò quyết định. Một khi người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức chính trị sâu sắc, đặc biệt là có thái độ chính trị tốt thì chắc chắn họ sẽ luôn sát sao, chỉ đạo có hiệu quả việc phòng ngừa, đấu tranh các quan điểm sai trái, thù địch.

Chân giày và thông điệp sai lầm cho trẻ

 

Hành vi đi giày trong lớp mẫu giáo của vị quan chức giáo dục dễ tạo nên trong tâm trí trẻ một thông điệp sai lầm: Quy định, kỷ luật chỉ dành cho trẻ em và cấp dưới.

Không khó hiểu khi mấy tấm ảnh một quan chức ngành Giáo dục ở Hà Nội và các cán bộ đi cùng mang giày vào lớp mẫu giáo được lau sạch bóng, nơi giáo viên và trẻ mầm non đều chân trần được lan truyền và gây bất bình trên mạng xã hội vài ngày gần đây.

 Đương nhiên, hành động này chỉ là vô tình, như lời giải thích của cô hiệu trưởng. Nhưng đây là sự vô tình không được phép có đối người làm lãnh đạo giáo dục, nhất là ở môi trường giáo dục mầm non, nơi những “cây non nhân cách” đang ở trong giai đoạn đầu tiên của quá trình vun trồng, nuôi dưỡng.

 Rất khó thuyết phục dư luận bằng cách lý giải của cô hiệu trưởng, rằng vị lãnh đạo này và một số thành viên trong đoàn có chuyên môn khác, không hiểu biết sâu về trường mầm non - có đặc thù bỏ giày dép bên ngoài lớp - trong khi việc đi giày vào lớp ở tiểu học hay các cấp học khác là rất bình thường.

 Quan sát xung quanh để hành xử phù hợp với môi trường là năng lực, thậm chí là phản xạ bản năng của mỗi con người, kể cả trẻ nhỏ. Cháu tôi chẳng hạn, khi bước vào một căn phòng lau sạch bóng và ai nấy đều đi chân đất, cháu đều có phản xạ bỏ giày dép dù không có biển “để dép bên ngoài” hay lời nhắc nhở nào.

Trong trường hợp vị quan chức trên, chẳng lẽ ông và các cán bộ đi cùng không nhìn thấy các cháu nhỏ đi chân trần trong lớp học sạch bong như vậy?

 Đối với trẻ mẫu giáo, một trong những bài học đầu tiên được dạy là giữ vệ sinh cả ở nhà và nơi công cộng. Vì thế, nhiều thế hệ học trò từ người mái đầu bạc trắng đến các cháu vẫn nhớ như in lời dạy của Bác Hồ: “Giữ gìn vệ sinh thật tốt'.

 Với người lớn và đặc biệt là cán bộ ngành Giáo dục ở cơ sở giáo dục, đây không chỉ là vấn đề vệ sinh, mà còn là chuyện “trồng người”. Hành vi sai sẽ biến thành tấm gương xấu trước đôi mắt trong trẻo của trẻ thơ.

 Các giáo viên mầm non đã tốn biết bao công sức để rèn cho trẻ nề nếp ăn ở sạch sẽ và ý thức tuân thủ quy định chung, chỉ một hành động trên cũng đủ xóa đi tất cả.

 Ở lớp mầm non, cách xuất hiện của các cán bộ quản lý giáo dục cũng như cách họ được tiếp đón đã định vị họ là người lãnh đạo, người dẫn dắt trong mắt con trẻ. Việc họ đi giày, trong khi lớp có quy định bỏ giày, giống như một thông điệp ngầm in vào tâm trí những em bé non nớt một cách vô thức: Người lớn, cấp trên có quyền làm sai, quy định và kỷ luật chỉ dành cho trẻ em hay cấp dưới.

 Tôi tin chắc rằng hành vi đi giày vào lớp của vị lãnh đạo trên chỉ là vô tình, nhưng chính sự vô tình thể hiện rõ nhất văn hóa “làm quan” của ông ở địa bàn, cơ sở thuộc quyền quản lý của mình. Tôi cũng sẵn sàng tin rằng ông yêu trẻ con, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, nhưng hành vi vô tình đó cũng làm hỏng phần nào thành tựu trồng người mà ông nhọc công bồi đắp.

 

Câu chuyện trên cũng là một bài học cho tất cả chúng ta: Đứng trước trẻ nhỏ, mọi điều chúng ta làm, dù cố ý hay không, cũng đều có ý nghĩa “hướng đạo”. Khi dạy dỗ trẻ cũng là dịp chúng ta tự kiểm soát, kiểm điểm bản thân xem đã sống đúng như những gì mình nói hay chưa, vì trong mắt trẻ, hành động thực tế của người lớn là bài học dễ khắc sâu hơn nhiều so với lời thuyết giảng.

 

Những lời khuyên hồ đồ về Công nghiệp Việt Nam!

 

Xuất phát từ việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và lãnh đạo, chỉ đạo đúng, hiệu quả đường lối cách mạng nói chung, đường lối kinh tế nói riêng, đưa đất nước Việt Nam ngày càng phát triển giàu mạnh.

Lâu nay, núp dưới danh nghĩa “góp ý” để “chấn hưng”, “xây dựng” quê hương, đất nước, một số đối tượng phản động, thù địch, cơ hội chính trị đã có những lời nói, việc làm với mục đích chống phá đường lối, chính sách của Đảng ta với nhiều âm mưu, thủ đoạn rất thâm độc, xấu xa.

Những “đánh giá”, “lời khuyên” vô lý của Trương Quốc Huy thật sự là sai lầm, xuyên tạc, vu khống…với mục đích xấu, chống phá, đi ngược lại đường lối, chính sách của Đảng và thực tiễn nền kinh tế nước ta.Nổi lên là Trương Quốc Huy, thành viên của tổ chức khủng bố phản động Việt Tân đang sống ở Hoa Kỳ. Hãy nghe những “đánh giá” và “góp ý” của Trương Quốc Huy khi bàn về kinh tế và kinh tế công nghiệp của Việt Nam. Vừa qua, trên N10 Tv, Trương Quốc Huy cho rằng: “Cái đám Việt cộng học chủ nghĩa xã hội có biết con mẹ gì về kinh tế đâu” và “Đất nước ta cơ bản là nước công nghiệp tức là làm công và thất nghiệp”. Y định nghĩa ở Việt Nam “Công nghiệp là thất nghiệp đi làm công” và khuyên chúng ta “Đừng có công nghiệp cái mẹ gì hết trơn đó”…

 Thực tế đã khẳng định năng lực lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, hiệu quả của Đảng, vai trò to lớn của nền kinh tế công nghiệp cũng như mối quan hệ hữu cơ của kinh tế công nghiệp với các ngành kinh tế khác ở Việt Nam.

 Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò của công nghiêp nặng: “Để xây dựng thắng lợi xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải quyết tâm phát triển tốt công nghiệp nặng”. Người chỉ ra tính tất yếu: “Muốn đảm bảo đời sống sung sướng mãi mãi phải công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa”, “phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu… Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự của nhân dân ta”. Đồng thời, Hồ Chủ tịch cũng xác định mối quan hệ hữu cơ giữa công nghiệp với các ngành kinh tế khác, đặc biệt là nông nghiệp. Người ví: “Công nghiệp và nông nghiệp như hai chân con người, hai chân có mạnh thì đi mới vững chắc”. Người cũng chỉ rõ cần có sự cân đối trong phát triển: “Giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, văn hóa, giáo dục…với nhau và trong mỗi ngành phải phát triển cân đối”.

 Những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn thực hiện đúng đắn, sáng tạo tư tưởng trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đem lại những thắng lợi to lớn cho đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đánh giá về thành tựu kinh tế trong nhiệm kỳ Đại hội XII như sau: “Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng được tập trung thực hiện và bước đầu đạt được kết quả quan trọng.

 Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm, tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên. Công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển nhanh; công nghiệp hỗ trợ có bước phát triển, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng của sản phẩm. Các hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục tăng; du lịch, dịch vụ phát triển nhanh. Nông nghiệp có bước phát triển mạnh sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế”…

 

Đồng thời, Nghị quyết của Đại hội XIII cũng xác định Phương hướng phát triển nền kinh tế Việt Nam những năm tới, trong đó nêu cụ thể về kinh tế công nghiệp: “Xây dựng nền công nghiệp quốc gia hiện đại, vững mạnh, gồm những ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp mũi nhọn gắn với công nghệ thông minh. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tham gia phát triển những ngành công nghiệp mới, hiện đại”…

 Nghị quyết Đại hội còn chỉ rõ các mục tiêu cụ thể trong nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng như hướng tới các dấu mốc quan trọng của đất nước, như:

 “- Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

 - Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

 - Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”.

 Để thực hiện những mục tiêu trên, chúng ta cũng đã đề ra 12 định hướng chiến lược cụ thể, khả thi để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân triể khai thực hiện thắng lợi trong cuộc sống.

 Những vấn đề trên xuất phát từ lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với tình hình Việt Nam và chứng minh trên thực tế; được nhân dân trong nước và quốc tế thừa nhận trên cơ sở những thành tựu kinh tế to lớn mà đất nước đã đạt được. Đây là kết quả của ý Đảng, lòng dân đã và đang giúp phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam.

 Vì vậy, những “đánh giá”, “lời khuyên “không cần công nghiệp” hết sức sai lầm, với mục đích thâm độc, xấu xa nhằm chống phá Việt Nam, như kiểu của phản động Việt Tân Trương Quốc Huy trên đây là không thể chấp nhận được. Do đó chúng ta cần phải nâng cao cảnh giác, kiên quyết, kiên trì phòng, chống có hiệu quả những “đánh giá”, “lời khuyên” sai trái ấy và tiếp tục tin tưởng, vững bước đi theo con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa: con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 Công Minh

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

NHẬN DIỆN ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

     Chống phá cách mạng Việt Nam là một mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Một trong những âm mưu xuyên suốt của các thế lực phản động trong chống phá cách mạng Việt Nam đó là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong thời gian qua các đối tượng thù địch đã thường xuyên đưa ra những luận điệu đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Chúng cho rằng Đảng chỉ nên lãnh đạo quân đội trong chiến tranh, khi hòa bình Đảng cần giao quyền lãnh đạo quân đội cho Nhà nước... Đây hoàn toàn là những luận điệu sai trái, đánh lừa dư luận xã hội các thế lực phản động.   
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước và thời đại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa đã nhấn mạnh rõ: “khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và Công an; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội”.
Do đó phải luôn luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, Quân đội nói riêng. Thường xuyên chăm lo xây dựng cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.
Phát huy vai trò, tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng, của đơn vị, hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ được giao. Đồng thời kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đập tan các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động, thù địch đối với cách mạng Việt Nam./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA:“…NHÂN DÂN NƯỚC NÀO CŨNG YÊU CHUỘNG HÒA BÌNH, CŨNG CHÁN GHÉT CHIẾN TRANH, CŨNG MUỐN SỐNG TỰ DO ĐỘC LẬP”!

         Đây là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết chúc mừng Hội nghị Á-Phi (các nước châu Á và châu Phi), được khai mạc vào ngày 18 tháng 4 năm 1955, tại Băng-đung (In-đô-nê-xi-a).
Tham dự hội nghị có đại biểu của 29 quốc gia, đại diện cho 1.440 triệu nhân dân châu Á và châu Phi (trong đó có đoàn đại biểu Việt Nam). Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Chúc mừng Hội nghị Á - Phi”. Người ca ngợi cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Á-Phi vì độc lập, tự do, hòa bình, dân chủ và bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh của nhân dân các nước châu Á và châu Phi.
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống lại các thế lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trải qua những cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, chịu đựng biết bao mất mát, hy sinh, hơn ai hết, dân tộc ta nhận rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Bởi vậy, yêu chuộng hòa bình là một trong những truyền thống nổi bật, là nét đẹp văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
Kế tục truyền thống yêu chuộng hòa bình, giữ vững ý chí độc lập, tự do; trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển đã thực hiện thành công chủ trương “Giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, mà thường xuyên trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển và quan điểm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; trong đó biện pháp chủ yếu là thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan, vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và vì hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế. Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
Môi Trường ST.

Hạn chế tiêu cực bởi xâm lăng văn hóa

 

Gần đây, quá trình toàn cầu hóa càng trở nên mạnh mẽ hơn cùng với sự phát triển của phương tiện truyền thông mới khiến thế giới trở thành một “ngôi làng toàn cầu” và thúc đẩy quá trình tiếp biến, biến đổi văn hóa nhanh hơn: Phương thức giải trí mới tràn đến dồn dập, lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn.

Chấn chỉnh công bộc “ngồi tót sỗ sàng”...

 

Hơn hai thế kỷ trước, trong “Truyện Kiều”, cụ Nguyễn Du đã phác thảo chân dung một kiểu người gian manh, trịch thượng, bất nhân... đó là Mã Giám Sinh. Đặc điểm nhận dạng kiểu người này là “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao...”, nhưng văn hóa ứng xử thì “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng...”.

Tiếp tục nghiên cứu, mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng phù hợp.

 Khẳng định tầm quan trọng của các hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tại Hội nghị Tổng kết công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại Quốc phòng giai đoạn 2016 - 2021, phương hướng nhiệm vụ đến năm 2025 do Bộ Quốc phòng tổ chức sáng 14.4, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đã nhấn mạnh, cùng với việc triển khai có hiệu quả các thỏa thuận hợp tác, các cơ chế và lĩnh vực hợp tác hiện có, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, mở rộng quan hệ, lĩnh vực hợp tác quốc phòng phù hợp...

Nhiều thành tựu quan trọng

Theo báo cáo, 5 năm qua, công tác hội nhập và đối ngoại quốc phòng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật là quan hệ hợp tác quốc phòng song phương với các nước tiếp tục được củng cố, đi vào chiều sâu, thực chất, đóng góp tích cực vào việc xây dựng lòng tin, duy trì quan hệ hữu nghị với các nước, góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, tăng cường tiềm lực quốc phòng.

Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia. Đối ngoại quốc phòng đa phương có sự chuyển biến mạnh về tư duy từ “tham dự” sang “chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”. Đặc biệt năm 2020, Bộ Quốc phòng Việt Nam hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch các hội nghị quốc phòng - quân sự ASEAN, với việc ra tuyên bố chung của Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) và Tuyên bố chung của Bộ trưởng Quốc phòng các nước ADMM+.  

Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, sự tham gia của Việt Nam mở rộng cả về hình thức, quy mô và địa bàn. Ngoài hình thức cá nhân, Việt Nam đã triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1, 2, 3 đến Nam Sudan được Liên Hợp Quốc đánh giá cao.

Trong giai đoạn 2016 - 2021, quán triệt và triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đã được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt và hiệu quả trên cả các mặt hoạt động, đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Cụ thể, quan hệ hợp tác quốc phòng song phương với các nước tiếp tục được củng cố, đi vào chiều sâu, thực chất, đóng góp tích cực vào việc xây dựng lòng tin, duy trì quan hệ hữu nghị với các nước, góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, tăng cường tiềm lực quốc phòng. Chủ động, tích cực tham gia có trách nhiệm vào các hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương, góp phần củng cố lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế. Chủ động tham gia và tổ chức đăng cai các Hội thao Quân sự quốc tế như Army Games, Hội thao quân sự ASEAN; đạt được hiệu quả cao trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh...

Về hợp tác phòng, chống Covid-19, trong bối cảnh đại dịch bùng phát và diễn biến phức tạp, Bộ Quốc phòng, ngoài việc chung tay cùng cả nước, cử lực lượng tích cực tham gia phòng, chống dịch, và thực hiện tốt “ngoại giao vaccine”.

Tiếp tục triển khai hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng

Tập trung thảo luận, làm rõ những kết quả đạt được của công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong giai đoạn 2016 - 2021; các đại biểu tham dự hội nghị cũng đóng góp ý kiến vào những phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2025.

Theo đó, phương hướng, nhiệm vụ đến năm 2025 là tiếp tục triển khai hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo đúng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII… nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”; làm sâu sắc hơn nữa quan hệ quốc phòng song phương, nhất là với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng, các nước ASEAN và bạn bè truyền thống; tiếp tục nâng tầm đối ngoại quốc phòng đa phương trên tinh thần Chỉ thị 25-CT/TW ngày 8.8.2018 của Ban Bí thư; Đẩy mạnh tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; gắn đối ngoại quốc phòng với các mặt trận đối ngoại; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các ban, bộ, ngành địa phương và cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài trong triển khai công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ từ nay đến năm 2025, theo Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Xuân Chiến, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu, trong đó tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước; kiên định, nhất quán với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; kiên định chính sách quốc phòng nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, nỗ lực ngăn ngừa không để xảy ra xung đột, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Bên cạnh đó, diễn biến tình hình thế giới, khu vực và các thách thức an ninh phi truyền thống, dịch Covid-19... cần được nắm chắc, theo dõi sát để làm tốt công tác tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng; tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin, phối hợp với các cơ quan trong và ngoài Quân đội trong công tác nắm, dự báo tình hình, tham mưu điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại của đất nước...

Cùng với việc triển khai có hiệu quả các thỏa thuận hợp tác, các cơ chế và lĩnh vực hợp tác hiện có với các nước, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, mở rộng quan hệ, lĩnh vực hợp tác quốc phòng phù hợp; chú trọng nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại biên giới, phối hợp thực thi pháp luật trên biển, khắc phục hậu quả chiến tranh./.

Huấn luyện bộ đội tinh nhuệ, thiện chiến.


Chiến đấu viên đặc công nhái chống khủng bố của Lữ đoàn Ðặc công hải quân 126, luyện tập kỹ thuật nhảy dù.

Những năm qua, Lữ đoàn Ðặc công Hải quân 126 (Quân chủng Hải quân) luôn nỗ lực vượt khó, thích ứng an toàn, linh hoạt trong điều kiện dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Ðơn vị coi trọng huấn luyện bộ đội tinh nhuệ, thiện chiến, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc trong tình hình mới.

Ðiểm nổi bật trong huấn luyện thời gian qua của Lữ đoàn 126 là tiếp tục tập trung huấn luyện bộ đội theo tiêu chí "4 giỏi": Bơi lặn giỏi, bắn súng giỏi, tác chiến giỏi và rèn luyện võ, thể lực giỏi.

Thượng tá Phan Văn Cảnh, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Ðặc công 126 cho biết: Quá trình huấn luyện đơn vị luôn bám sát phương châm "cơ bản, thiết thực, vững chắc". Riêng chuyên ngành đặc công nhái chống khủng bố, bên cạnh tiêu chuẩn về trình độ võ thuật, lặn sâu, đòi hỏi chiến đấu viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, linh hoạt, phản xạ nhanh nhạy, sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết, địa hình. Ðợt kiểm tra huấn luyện vừa qua, các nội dung huấn luyện bộ đội đều khá, giỏi. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị luôn đoàn kết, nỗ lực vượt khó, làm chủ vững chắc các trang bị, khí tài mới.

Thiếu tá Vũ Ðức Tài, Ðại đội trưởng Ðại đội 2, Tiểu đoàn 1 của Lữ đoàn cho biết: Huấn luyện dã ngoại trên biển là điều kiện tốt nhất để bộ đội rèn luyện sát thực tế chiến đấu, sát chiến trường. Trước khi đi dã ngoại, đơn vị quán triệt, giao nhiệm vụ cụ thể đến từng cá nhân, yêu cầu toàn đơn vị phải đoàn kết, vượt khó trong điều kiện huấn luyện vất vả. Từng tổ, mũi phải hiệp đồng chặt chẽ, bảo đảm an toàn, hoàn thành tốt nội dung giáo án đã được xác định.

Một trong những giải pháp quan trọng để Lữ đoàn Ðặc công Hải quân 126 huấn luyện bộ đội thiện chiến, tinh nhuệ là đột phá vào khâu huấn luyện cán bộ. Hằng năm, trước khi bước vào huấn luyện, toàn đơn vị đã làm tốt công tác chuẩn bị, nhất là tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ các cấp bảo đảm thiết thực, sát thực tế chiến đấu. Các quân nhân mới về đơn vị công tác đều được học tập truyền thống, nhiệm vụ của Lữ đoàn. Thông qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, cấp trên trực tiếp bồi dưỡng cho cấp dưới, đồng chí, đồng đội trao đổi, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm cho nhau. Cán bộ trung đội, đại đội đảm nhiệm chức vụ hai năm trở lên đều phải hoàn thành tốt và xuất sắc các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu đề ra.

Trung tâm Huấn luyện lặn sâu của Lữ đoàn 126 được trang bị nhiều phương tiện, khí tài mới. Sau khi huấn luyện chuyển giao, cán bộ, chiến sĩ tích cực học tập, nghiên cứu để vận hành, làm chủ hoàn toàn hệ thống trang thiết bị phục vụ huấn luyện người nhái. Theo Trung tá Bùi Ðạt Hưng, Chỉ huy trưởng Trung tâm, để hoàn thành tốt nhiệm vụ, đơn vị phát huy tính sáng tạo, tâm huyết, trách nhiệm của từng quân nhân trong xây dựng đơn vị. Trung tâm gắn trách nhiệm cá nhân của chỉ huy, cán bộ, nhân viên chuyên môn trong việc quản lý, khai thác, sử dụng, làm chủ trang bị.

Việc huấn luyện dã ngoại, đặc nhiệm nhái chống khủng bố đòi hỏi cường độ huấn luyện cao. Nếu cán bộ chỉ sơ suất nhỏ sẽ dẫn đến mất an toàn. Vì thế, cán bộ từ tiểu đội trở lên được chỉ huy các cấp bồi dưỡng, luyện rèn bài bản. Hằng ngày, thông qua giao ban, cán bộ các cấp phải đánh giá kết quả huấn luyện của đơn vị mình. Chỉ huy, người phụ trách các bộ phận huấn luyện dã ngoại xa đơn vị, phải tổng hợp tình hình mọi mặt báo cáo về Lữ đoàn theo phân cấp.

Tạo sự chuyển biến thực chất, rõ nét về mô hình tăng trưởng.

 Phó Thủ tướng Lê Minh Khái vừa ký Nghị quyết số 54/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025.

Chương trình đặt mục tiêu hình thành cơ cấu hợp lý, hiệu quả trong từng ngành, lĩnh vực; giữa các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế; phát triển được nhiều sản phẩm quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao; tạo bứt phá về năng lực cạnh tranh của một số ngành kinh tế chủ lực và chuyển biến thực chất, rõ nét về mô hình tăng trưởng, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, nâng cao tính tự chủ, khả năng thích ứng, sức chống chịu của nền kinh tế.

Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của Chương trình bao gồm: Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân hơn 6,5%/năm, trong đó tốc độ tăng năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,5-7%/năm. Ðến năm 2025, thu hẹp khoảng cách về năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước trong nhóm ASEAN 4, đặc biệt đối với các chỉ số về thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực.

Bên cạnh đó, tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025 bình quân 3,7% GDP; giảm tối thiểu 10% tổng số đơn vị sự nghiệp công lập, có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ tài chính; quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt tối thiểu 85% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu 47% GDP, dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 20% GDP; tỷ trọng chi cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt không dưới 1% GDP; số lượng doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng trung bình 15%/năm giai đoạn 2021-2025...

Ðến năm 2025 phấn đấu đạt khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp, trong đó có khoảng 60.000 - 70.000 doanh nghiệp quy mô vừa và lớn; tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP khoảng 55%; tối thiểu có năm đến mười sản phẩm quốc gia xây dựng được thương hiệu quốc tế. Phấn đấu đến hết năm 2025 có khoảng 35 nghìn hợp tác xã, trong đó có hơn ba nghìn hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản, khoảng 50% hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị...

Ðể đạt được các mục tiêu đặt ra, Nghị quyết nêu rõ những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu. Theo đó, tập trung hoàn thành các mục tiêu cơ cấu lại đầu tư công, ngân sách nhà nước, hệ thống các tổ chức tín dụng và đơn vị sự nghiệp công lập.

Về cơ cấu lại đầu tư công: Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Ðầu tư chủ trì, phối hợp các bộ, ngành và địa phương xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng thể chế quản lý đầu tư công; cải thiện các yếu tố để tăng cường năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế. Nghiên cứu xây dựng các chính sách, giải pháp nhằm đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả…

Về cơ cấu lại ngân sách nhà nước: Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp các bộ, ngành và địa phương xây dựng Ðề án Ðổi mới cơ chế phân cấp quản lý, phân bổ ngân sách nhà nước để bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và chủ động của ngân sách địa phương trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Rà soát tình hình thực hiện và xây dựng đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách nhà nước trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét…

Ðối với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp các bộ, ngành và địa phương nghiên cứu hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng phù hợp với nguyên tắc thị trường, bảo đảm an toàn, lành mạnh và ổn định của hệ thống; tăng cường tính minh bạch, cạnh tranh, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển mới...

Nghị quyết nêu rõ các giải pháp phát triển các loại thị trường, nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực; phát triển lực lượng doanh nghiệp, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã; phát triển kinh tế đô thị, tăng cường liên kết vùng, liên kết đô thị-nông thôn và phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn; cơ cấu lại các ngành theo hướng hiện đại, phát triển kinh tế xanh, bền vững và phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế.

“ Cuốc xẻng từ dưới lên, đường, sữa từ trên xuống”

 

 

Câu chuyện cuốc xẻng từ dưới lên, đường sữa từ trên xuống phản ánh bề nổi mối quan hệ lao động và thụ hưởng hay một thực trạng trong thi đua khen thưởng hiện nay có chỗ còn lệch lạc, nhiêu khê. Khen thưởng nhầm người, nhầm việc, hạ thấp giá trị lao động trung thực, hạ thấp con người trở thành yếu tố văn hóa tiêu cực, có hại cho sự phát triển của mỗi đơn vị và đời sống xã hội.

Khen cũng khó

Phê đã khó, khen đúng lại càng khó hơn. Đây không chỉ là câu chuyện khen chê trong một đơn vị mà còn là vướng mắc trong công tác thi đua khen thưởng. Khi thi đua còn hình thức thì khen thưởng sao thực chất được? Góp ý dự Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi), có ý kiến cho rằng, một số phong trào thi đua phát động rầm rộ nhưng khi thực hiện thì có “phát” mà chưa có “động”. Đơn cử như việc đánh giá, tổng kết khen thưởng có chỗ còn qua loa, nặng về thành tích; bình xét khen thưởng cảm tính, cào bằng, phân chia lần này, lần khác... gây bất cập trong công tác quản lý.

Danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, cá nhân phải là người có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, có giải pháp công tác, có đề tài nghiên cứu hoặc áp dụng công nghệ mới để tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả công tác và phải được hội đồng xét duyệt công nhận. Quy định này trong Luật có chỗ không thực tế, vì các tiêu chí của “sáng kiến thực sự” thường nằm trong đề tài nghiên cứu tập thể, công phu, bài bản, có thời gian, có nguồn kinh phí hỗ trợ… do một nhóm chuyên gia thực hiện mà có khi nghiệm thu xong còn nằm trong “ngăn kéo” hàng chục năm. Và không phải ai cũng có điều kiện tham gia đề án, sáng kiến như vậy. Vì vậy, có nơi chặt chẽ “kiếm” được một chiến sĩ thi đua cơ sở “cấp bộ” khó như “lên trời”, tìm kiếm mỏi mắt như “sao buổi sớm” trong khi giới hạn số lượng 15% thì rất rộng rãi.

Khi bình xét ở đơn vị có nơi rơi vào tình huống khó xử. Người đứng đầu dẫn dắt đơn vị mà không hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì sao tập thể đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Và vì vậy “sếp” luôn là người xứng đáng với danh hiệu khen thưởng cao nhất vì vị trí, trách nhiệm và cống hiến… Tỷ lệ còn lại phân bổ dần trên xuống như hình ảnh ví von “cuốc xẻng từ dưới phân lên; đường sữa từ trên phát xuống”. 

Vấn đề khó khi đưa Luật Thi đua, khen thưởng vào cuộc sống không nằm ở các hình thức khen thưởng nào, việc mở rộng đối tượng khen thưởng ra sao và cũng không ở lĩnh vực công, tư hay phát hiện nhân tố mới… mà chính là ở cách thức lựa chọn người thực sự xứng đáng để khen thưởng như thế nào?

Rõ ràng, vấn đề khó của dự Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi) và cũng chính là cái khó khi đưa luật này vào cuộc sống không nằm ở các hình thức khen thưởng nào, việc mở rộng đối tượng khen thưởng ra sao và cũng không ở lĩnh vực công, tư hay phát hiện nhân tố mới… mà chính là ở cách thức lựa chọn người thực sự xứng đáng để khen thưởng như thế nào? Và làm sao loại bỏ được hiện tượng chạy khen thưởng, chạy thành tích làm việc tư lợi, mờ ám?

Đi đâu loanh quanh…

Nếu chỉ loanh quanh ở các hình thức khen thưởng thì thực sự chưa có bước đột phá “gỡ rối” cho những hạn chế trong thực thi Luật Thi đua, khen thưởng thời gian qua. Cái vướng là ở thủ tục, cách thức xem xét khen thưởng vừa quá chặt, vừa quá lỏng, vừa dễ bị “vận dụng” trái với bản chất, ý nghĩa của thi đua. Đây chính là vấn đề quy trình xét, điều kiện, tiêu chí xét các hình thức khen thưởng

Khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được; khen thưởng đột xuất; khen thưởng theo phong trào thi đua; khen thưởng theo niên hạn, khen thưởng theo cống hiến và khen thưởng đối ngoại. Đây là 6 loại hình khen thưởng trong dự Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi rất rành mạch theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà. Và có thể bóc tách ra được 5 vấn đề khen thưởng để hướng tới nguyên tắc “thành tích đến đâu thì khen thưởng đến đó”… Khi thiết kế dự thảo Luật theo hướng này, sẽ rất dễ để chúng ta đưa ra quy trình, thẩm quyền khen thưởng. 

Quy trình là vấn đề vướng mắc nhất trong thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng. Quy trình không rõ thì khen nhầm, khen sót, khen hình thức, khen cho có… dễ xảy ra và nó tác động trở lại làm suy giảm phong trào thi đua thực chất. Và cái khó của Luật Thi đua, khen thưởng là ở chỗ vừa là luật nội dung quy định các hình thức khen thưởng, đối tượng được khen thưởng; vừa là luật hình thức quy định quy trình, điều kiện xét từng loại khen thưởng đó. Và làm sao giải quyết hài hòa, thấu đáo cả hai vấn đề này cả ở khâu thi đua, cả ở khâu khen thưởng?

Khi có nhiều hình thức khen thưởng khác nhau, nhiều đối tượng ngành nghề khác nhau mà chỉ có một quy trình khen thưởng thì vướng mắc là tất yếu.

Vì vậy, khi bổ sung các hình thức khen thưởng, mở rộng phạm vi thi đua khen thưởng cả “tư” lẫn “công” thì việc xây dựng quy trình thực sự quan trọng bảo đảm tính khả thi của đạo luật. Trên thực tế, việc thảo luận về quy trình trong dự luật này chưa được đề cập đúng mức, thỏa đáng. Đây còn là vấn đề kỹ thuật lập pháp đòi hỏi các nhà lập pháp và ban soạn thảo phải khảo sát đánh giá kỹ lưỡng và nghiên cứu kỹ bổ sung cho dự luật kịp thời. Như vậy, dự luật mới không mất cân đối, “khập khiễng” đủ nội dung mà khuyết quy trình khó vào cuộc sống.

Một vấn đề quan trọng nữa mà dự luật cần tập trung giải quyết là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong phát động, theo dõi, thúc đẩy phong trào thi đua và bình xét thi đua, quyết định khen thưởng. Phân cấp cho người đứng đầu  đơn vị, tổ chức có thẩm quyền đầy đủ, cầm cân nảy mực sao cho việc khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời như “gieo trồng và gặt hái” sẽ hướng cho công tác thi đua thực chất và liên tục. 

Tin tưởng rằng việc sửa đổi Luật Thi đua, khen thưởng lần này sẽ khắc phục những hạn chế trong qua trình thực thi, thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước rộng khắp có sức lan tỏa sâu rộng, tạo nên động lực, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cách mạng./.

Tinh thần bất tử của một cuộc cách mạng.

 Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) cách chúng ta 104 năm đã đi vào lịch sử.

 Thành tựu lớn nhất của cuộc cách mạng này là nó đã làm cuộc cách mạng dân chủ tư sản một cách triệt để. Triệt để tới mức so với cuộc đại cách mạng tư sản Pháp cách đó 125 năm thì nó “đã làm một cuộc tẩy rửa... một cách kiên quyết, nhanh chóng và mạnh dạn hơn nhiều, có kết quả và sâu rộng hơn nhiều”(1). Đó là “xóa bỏ những tàn dư của thời trung cổ, vĩnh viễn tiêu diệt những tàn dư ấy, quét sạch khỏi nước Nga cái hiện tượng dã man, cái ô nhục ấy, cái đã hết sức kìm hãm mọi văn hóa, mọi tiến bộ trong đất nước ta”(2). Đó là “chúng ta đã tiến hành triệt để cuộc cách mạng tư sản. Chúng ta tiến bước một cách hoàn toàn tự giác, kiên định và vững vàng tới cách mạng XHCN”(3) dẫn đến sự ra đời một Liên Xô hùng mạnh để sau đó không lâu tham chiến, góp phần cùng các nước dân chủ trên thế giới cứu loài người khỏi chế độ phát-xít trong đại chiến thế giới lần thứ 2. Đó là ảnh hưởng trực tiếp của nó dẫn đến sự ra đời một loạt các nước dân chủ ở Đông Âu và một số nước ở châu Á (Mông Cổ, Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên…), hình thành một hệ thống XHCN đối trọng với hệ thống TBCN. Nhưng rồi năm 1990 bức tường Béc-lin sụp đổ, một năm sau (1991) Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu tan rã. Sự thật hiển nhiên là CNXH hiện thực, mô hình Xô-viết không còn tồn tại. Nhưng cũng có một sự thật hiển nhiên khác mà người ta đã cố tảng lờ, quên đi. “Nhưng sự thật vẫn là sự thật: Từ hàng trăm, hàng ngàn năm nay, đây là lần đầu tiên lời hứa đáp lại cuộc chiến tranh giữa bọn chủ nô bằng một cuộc cách mạng của những người nô lệ chống bọn chủ nô đủ các loại, lời hứa ấy đã được thực hiện một cách triệt để… và đang tiếp tục được thực hiện bất chấp mọi khó khăn”(4). Với nhãn quan ấy chúng ta hoàn toàn có thể nói rằng: Hậu Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại - Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô-viết không còn. Nhưng giá trị, sự ảnh hưởng và tầm vóc ảnh hưởng cũng như bài học của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn mãi. Cuộc cách mạng ấy muôn năm!

Sau cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917), nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới vừa mới ra đời đã phải đương đầu ngay với cuộc chiến tranh không cân sức với thù trong giặc ngoài để giữ vững chính quyền non trẻ. Một thể chế chính trị theo mô hình chủ nghĩa cộng sản thời chiến nhằm khai thác triệt để sức mạnh của nền kinh tế đã vắt kiệt sức dân, phục vụ đắc lực cho cuộc chiến tranh giành thắng lợi. Nhưng sau đó, chính quyền cách mạng đã chủ trương tiến ngay lên chủ nghĩa cộng sản mà quên những điều kiện cần thiết, không lấy sự quan tâm thiết thân của người nông dân làm cơ sở, chưa biết cách vượt qua cái khó là làm sao tạo ra được sự quan tâm thiết thân của người nông dân, làm cho mỗi chuyên gia có hứng thú khiến họ thiết tha với việc phát triển sản xuất; đã lấy sức mạnh của nhà nước chuyên chính vô sản để ra các mệnh lệnh, bất chấp quy luật của quan hệ sản xuất công hữu chỉ có thể phù hợp với sự phát triển thật cao của sức sản xuất. Đảng Cộng sản chưa làm cho giai cấp vô sản hiểu và làm bằng được rằng “phải đoàn kết chung quanh mình toàn thể công nhân và toàn thể nông dân, làm cho họ nhận thức sâu sắc rằng trận chiến đấu chưa kết thúc… chưa phải là trận chiến đấu cuối cùng của chúng ta”(5). Trong công tác xây dựng đảng chỉ chú trọng về hình thức là tập hợp cho được thật nhiều những người kê khai là giai cấp công nhân nhưng thực chất chỉ là những phần tử cơ hội, họ khôn khéo “thích ứng với trào lưu thịnh hành trong công nhân, họ thay màu đổi sắc để ẩn nấp được dễ dàng hơn như con thỏ rừng về mùa đông thay lông thành màu trắng”(6). Do đó, trong Đảng có không ít những kẻ gian giảo, những kẻ “chui” vào Đảng, bọn “làm quan”, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược…

  Để cứu vãn tình hình, để cuộc cách mạng XHCN có thể tiến lên một cách vững chắc, năm 1921, tức là chỉ 4 năm sau Cách mạng Tháng Mười thành công, V.I.Lê-nin đã chỉ ra rằng: “Đối với những người cách mạng chân chính thì mối nguy hiểm lớn nhất, thậm chí có thể là mối nguy hiểm duy nhất, là phóng đại tinh thần cách mạng, là quên mất những giới hạn và những điều kiện của một sự vận dụng có kết quả và thỏa đáng những phương pháp cách mạng. Chính đấy là chỗ mà những người cách mạng chân chính dễ bị thất bại nhất...”(7). Phát hiện ra những sai lầm dẫn tới nguy cơ thất bại, có thể làm tiêu vong thành quả mới giành được của cuộc Cách mạng Tháng Mười, chính V.I.Lê-nin đã dũng cảm thừa nhận một chân lý hiển nhiên mà Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng: “Về mặt lý luận: Trong thời kỳ cách mạng cũng như bất cứ lúc nào, người ta đều mắc những điều ngu xuẩn - Ăng-ghen đã nói như thế - và đã nói đúng. Cần cố gắng làm sao để mắc thật ít những điều ngu xuẩn, và sửa chữa hết sức nhanh chóng những điều ngu xuẩn đã mắc phải…”(8).

Chính sách kinh tế mới (NEP), thanh đảng, chấn chỉnh, củng cố bộ máy nhà nước, phát triển sản xuất, công nghiệp hóa, xây dựng nền quốc phòng hiện đại, phát huy tinh thần yêu nước và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, chống quan liêu, tham nhũng và thói cơ hội… mà Đảng Cộng sản (b) Nga dưới sự dẫn dắt của V.I.Lê-nin đã chủ trương không những đã cứu nguy cho cách mạng mà còn làm cho Liên Xô trở nên hùng mạnh. Nhờ vậy Liên Xô đã trở thành một đất nước hùng hậu không những bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN của mình mà còn cùng các nước đồng minh kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ 2, cứu loài người khỏi họa phát-xít. Nhờ chiến thắng của Hồng quân Liên Xô mà một loạt các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu được giải phóng, gia nhập vào khối các nước XHCN do Liên Xô đứng đầu. Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo khi phe phát-xít đầu hàng đồng minh đã chớp thời cơ làm cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám (năm 1945) thành công và tuyên bố độc lập, khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á. Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng nhờ có sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô mà chiến thắng thù trong giặc ngoài, thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào ngày 1-10-1949. Không thể phủ nhận một sự thật lịch sử là nhờ có sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô mà nhiều nước ở Đông Âu, ở châu Á (Mông Cổ, Việt Nam, Trung Hoa…) có sự phát triển như ngày nay.

Sau chiến thắng phát-xít, công cuộc xây dựng đất nước với một thể chế chính trị tập trung, nền kinh tế theo hướng khai thác triệt để tài lực và tiềm năng đất nước đã làm cho Liên Xô trở thành một siêu cường, có những mặt như công nghiệp quốc phòng, chinh phục vũ trụ, văn hóa, giáo dục, chính sách phúc lợi và an sinh xã hội… từng ở vị trí dẫn đầu thế giới; nền kinh tế nói chung đã từng gần sánh ngang với Mỹ - nước đứng đầu thế giới.

Nhưng những bài học sai lầm được phát hiện từ khi V.I.Lê-nin lãnh đạo thực hiện chính sách kinh tế mới thì nay lại có nguy cơ xuất hiện trở lại. Đúng như C.Mác với tư duy biện chứng nhìn thấu triệt những vấn đề của cách mạng, ông đã chỉ ra rất sớm rằng giai cấp nào vừa giành được thắng lợi “cũng đều dựng lên những chướng ngại của chính mình trước khi vượt qua những chướng ngại trước mặt mình, cũng đều biểu lộ cái bản chất nhẫn tâm của mình trước khi biểu lộ cái bản chất độ lượng của mình”(9). Một vấn đề nan giải nhất của bất cứ giai cấp nào khi đã giành được thắng lợi là vấn đề xây dựng nhà nước dân chủ. C.Mác cũng đã chỉ ra rất rõ rằng: “Nhà nước càng hùng mạnh, và do đó đất nước càng có tính chất chính trị hơn, thì nó càng ít muốn hiểu biết cái căn nguyên của chúng trong nguyên tắc của nhà nước, nghĩa là trong cơ cấu xã hội hiện nay mà nhà nước biểu hiện hoạt động, có ý thức và chính thức của nó. Lý tính chính trị là lý tính chính trị chính bởi vì nó tư duy trong khuôn khổ của chính trị. Nó càng sắc sảo sinh động thì nó càng không thể hiểu được những tệ nạn xã hội. Thời kỳ cổ điển của lý tính chính trị là cuộc cách mạng Pháp. Những anh hùng của cuộc cách mạng Pháp không hề đi tìm nguồn gốc của những thiếu sót của xã hội trong nguyên tắc của nhà nước - trái lại, họ coi những thiếu sót của xã hội là nguồn gốc của những hiện tượng thiếu tổ chức về chính trị...”(10). Ở đây có thể hiểu là nhà nước khi đã được xây dựng hùng mạnh theo ý chí chính trị của giai cấp cầm quyền thì lại dễ dàng xa rời nguyên tắc tồn tại và hoạt động của nhà nước là phải có pháp quyền, phải dân chủ, thực hiện quyền làm chủ nhà nước của Nhân dân như sau này Hồ Chí Minh đã nói cách mạng đã giành được chính quyền rồi thì phải giao lại cho Nhân dân quản lý.

Bệnh kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, tệ quan liêu, tham nhũng và ăn hối lộ, chủ nghĩa cơ hội, thói dối trá và lối sống xa hoa… mà V.I.Lê-nin đã cảnh báo ở Đại hội XI Đảng Cộng sản Nga năm 1921 chính là nguy cơ làm tiêu tan sự nghiệp của những người cộng sản. Nhưng tiếc rằng: “Chúng ta đã không muốn thú nhận điều này: Nhà nước đã không hoạt động được như chúng ta mong muốn”(11). Đó cũng chính là những căn bệnh cũ tái sinh trong Nhà nước Liên Xô hùng mạnh ngay sau những năm phát triển rực rỡ nhất. Người ta đã tự ru ngủ trên chiến thắng mà không biết rằng khi ấy: “Hiện không ai trực tiếp tấn công chúng ta cả, người ta không đến bóp họng chúng ta. Chúng ta còn chờ xem mai đây sẽ ra sao, nhưng hiện nay người ta không cầm vũ khí để tấn công chúng ta; tuy nhiên cuộc đấu tranh… đã trở nên ác liệt và nguy hiểm hơn gấp trăm lần, vì không phải ai trong chúng ta cũng thấy được rõ đâu là kẻ thù đang đánh lại chúng ta”(12). Tiếc thay, chỉ dẫn thiên tài của người thầy vĩ đại này đã không được thế hệ lãnh đạo tiếp nối của Đảng Cộng sản Liên Xô chú ý, để đến nỗi một Liên Xô hùng mạnh bất khả chiến bại đã tự sụp đổ. Từ một lời dạy thiên tài bị bỏ qua đã trở thành một dự báo đúng 50 năm sau đó!

Sự sụp đổ của Liên Xô không có nghĩa là cách mạng đã bị tiêu diệt. Chúng ta có thể theo phương pháp của C.Mác mà nói rằng: Bị tiêu diệt chính là những con người, những tệ nạn, những bệnh ấu trĩ, những khái niệm, những ảo tưởng, những dự án, những thói xấu mà đảng cách mạng chưa trút bỏ được trước khi xã hội đã chuyển mình.

Nhân dân Việt Nam biết ơn Liên Xô về những gì mà cuộc Cách mạng Tháng Mười đã mang lại cho chúng ta, về sự giúp đỡ chí tình mà Đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô đã hỗ trợ để chúng ta có được thành quả vĩ đại như ngày nay.

Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không quên rút ra những bài học kinh nghiệm từ sự sụp đổ của Liên Xô và cả sự nghiêm túc trong học tập những chỉ dẫn quan trọng của V.I.Lê-nin, trong đó có lời dặn vô cùng quan trọng của Người rằng chính quan liêu, xa dân, mất dân chủ, tham nhũng và nạn hối lộ là nguyên nhân làm tiêu vong sự nghiệp của những người cách mạng.

Chống tham nhũng từ gốc.

 Ngày 16-9-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 32-QĐ/TW quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thay thế Quy định số 211-QĐ/TW ngày 25-12-2019 của Bộ Chính trị khóa XII. Tên gọi của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được bổ sung từ tiêu cực. Từ nay, Ban Chỉ đạo không chỉ trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm mà còn trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tiêu cực khác ngoài tham nhũng. Vì sao có sự bổ sung mới này?

Đó là bởi không chỉ cần đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn là phải chống tiêu cực trong cả tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là những biểu hiện tiêu cực. Nếu không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, liệu có dẫn đến tham nhũng? Hai lĩnh vực này có liên quan đến nhau, là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống.

Đó là bởi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang đe dọa sự sống còn của Đảng, của chế độ. Tham nhũng nói riêng và tiêu cực nói chung đều làm mất đi sự trong sạch của bộ máy Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp mà nguyên nhân cơ bản là do công tác phòng, chống tiêu cực tuy đã được quan tâm chỉ đạo nhưng còn phân tán, chưa tập trung; chưa gắn kết chặt chẽ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

 Đó là bởi với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mới của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các cơ quan nội chính được mở rộng phạm vi hoạt động, tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm, nghiệp vụ và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng như các nguyên tắc, quy chế, quy định. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cán bộ các cơ quan nội chính được tiếp thêm động lực để phát huy bản lĩnh, có dũng khí bảo vệ cái đúng, gương mẫu giữ mình, trọng liêm sỉ, không chịu bất cứ sức ép nào hay bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào; công tâm, khách quan “phụng công thủ pháp”, “chí công vô tư”; là những “bao công” trong thời đại mới, góp phần hiện thực hóa và khẳng định quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi và sự tin tưởng của Nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

“Xuống ngựa xem hoa”

 

Câu chuyện “Giám mà không sát, sát mà không dám” đã “tổng kết” cho những cuộc giám sát chuyên đề hình thức, tốn kém, không hiệu lực, hiệu quả. Những cuộc giám sát như vậy tuy lựa chọn được vấn đề cử tri quan tâm nhưng việc chuẩn bị sơ sài, lực lượng mỏng, thời gian ngắn, địa bàn rộng, kết luận chung chung dẫn đến tính hình thức… đang lùi vào “dĩ vãng”. Trong những nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, đặc biệt là nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XV, giám sát chuyên đề đã trở thành hình thức giám sát quan trọng, thường xuyên, kịp thời giữa các kỳ họp, trên các lĩnh vực nóng bỏng của đời sống xã hội và mang lại chuyển biến “ngay và luôn” trong thực tiễn thi hành chính sách pháp luật. 

Giám sát chuyên đề - “Thanh bảo kiếm”

Đổi mới hoạt động giám chuyên đề là một lựa chọn đúng đắn nhằm khắc phục tính hình thức của hoạt động này. Từ đó tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát, nâng cao vị thế, vai trò thực sự của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, đồng hành cùng bộ máy chính quyền.

Nghiên cứu đổi mới hoạt động giám sát chuyên đề cần thấy rõ sự khác biệt giám sát với thanh tra, kiểm tra hay điều tra. Mục đích của giám sát là bảo đảm việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết, pháp lệnh của UBTVQH; bảo đảm thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước. Từ đó làm rõ trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và những giải pháp khắc phục tồn tại. Mục đích công tác kiểm tra, thanh tra là hướng tới xử lý, khắc phục sai phạm hành chính hay thi hành kỷ luật hành chính, kỷ luật đảng theo thẩm quyền và chuyển cơ quan điều tra khi có dấu hiệu phạm pháp luật. Điều này lại càng khác xa với công tác điều tra, truy tố, xét xử. Mục đích của hoạt động giám sát có thể xem là điểm “cốt lõi” khi đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát nói chung và giám sát chuyên đề nói riêng.

Sự lúng túng lâu nay trong đánh giá hiệu quả, hiệu lực giám sát của cơ quan dân cử còn ở nhận thức “thiên lệch” mà chưa làm rõ khác biệt về mục đích, yêu cầu mỗi loại hình giám sát như: chất vấn, xem xét báo cáo hoạt động của cơ quan nhà nước, bỏ phiếu tín nhiệm và giám sát chuyên đề. Điều này gây khó khăn ít nhiều trong lựa chọn hướng đi tập trung đổi mới hoạt động giám sát trong một thời gian dài. Đánh giá hiệu quả giám sát chuyên đề đúng, sát là cơ sở cho những bước đổi mới. Hiệu quả giám sát chuyên đề “cô đọng” ở kết luận giám sát và việc đưa kết luận đó vào cuộc sống. Kết luận của đoàn giám sát như "khuyến nghị" mang tính ràng buộc pháp lý thấp. Kết luận giám sát chuyên đề cần xây dựng thành nghị quyết nhằm “luật hóa” kết quả giám sát; nâng tầm giá trị pháp lý, buộc đối tượng bị điều chỉnh phải tuân thủ. Và khi nghị quyết giám sát được đổi mới chứa đựng quy phạm pháp luật, lượng hóa nhiều mục tiêu, chỉ rõ sai phạm, trách nhiệm cá nhân, thời hạn khắc phục... thì đấy là bước đột phá bảo đảm hiệu lực thi hành pháp luật. Và giám sát chuyên đề như “thanh bảo kiếm” sắc bén vào lĩnh vực nào sáng tỏ lĩnh vực đó; làm rõ những ưu, khuyết, những lỗ hổng pháp luật, lỗ hổng trong vận hành bộ máy và chuyển biến kịp thời.

Không cần thiết không thành lập Ủy ban lâm thời

Hình thức giám sát chuyên đề hoạt động giữa 2 kỳ họp, phiên họp và đưa ra xem xét tại các kỳ họp, phiên họp được tổ chức công phu có khảo sát, nghe báo cáo, giải trình, chất vấn chuyên ngành, có kiểm tra số liệu, đi thực địa, điều tra dư luận xã hội… để đánh giá hoạt động thực thi pháp luật trên những lĩnh vực cụ thể được hoạch định trước như: đất đai, quy hoạch, văn hóa giáo dục, an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi công dân… Hình thức này đang tìm tòi hướng đi mới, giải pháp mới, cách tiếp cận mới, tránh cách làm hình thức, “cưỡi ngựa xem hoa”. Điều này đặt ra nhiệm vụ mới cho các cơ quan của Quốc hội, HĐND các cấp và đại biểu Quốc hội, HĐND trong công tác chuẩn bị.

“Xuống ngựa xem hoa” là cách nói ví von, là yêu cầu khi bắt tay vào đổi mới hoạt động giám sát chuyên đề không hình thức bao biện, không chung chung. Điều đó thể hiện từ việc lựa chọn vấn đề đúng và trúng; chuẩn bị kỹ lưỡng, xác định mục tiêu, mục đích rõ ràng với kế hoạch triển khai cụ thể, sát thực tế… Và quan trọng nhất là kết quả giám sát sẽ là gì? Từ kết quả giám sát có ra được nghị quyết không? Kết luận giám sát bằng một nghị quyết có giá trị như  đạo luật “sửa đổi, bổ sung một số điều” điều chỉnh lĩnh vực được giám sát, buộc đối tượng bị giám sát thực thi nghiêm.

Ngay trong cuộc làm việc mới đây với đoàn giám sát tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng đã nhấn mạnh “Việc triển khai 4 chuyên đề giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội lần này có nhiều đổi mới so với trước đây, trong đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến nhiều lần, nhiều vòng mới thống nhất được bản kế hoạch chi tiết và Đề cương giám sát của từng chuyên đề để triển khai thực hiện. Do đó trong quá trình triển khai, Đoàn giám sát phải bám sát các mốc thời gian, tiến độ, mục đích và yêu cầu đặt ra tại Kế hoạch chi tiết và Đề cương giám sát, rà soát đánh giá từng loại phần việc, ai chịu trách nhiệm, sản phẩm đến nay là gì, phải cá thể hóa trách nhiệm đến từng thành viên Đoàn giám sát và từng thành viên tổ giúp việc, chuẩn bị kỹ lưỡng, làm đến đâu chắc đến đấy để bảo đảm hiệu quả giám sát”.

Khi nghị quyết giám sát chuyên đề được đổi mới chứa đựng quy phạm pháp luật thì đấy là bước đột phá bảo đảm hiệu quả, hiệu lực thực thi của hoạt động này.

Chuẩn bị từ sớm, từ xa, kỹ lưỡng và đầy đủ cùng với việc huy động đội ngũ chuyên gia chuyên sâu tham gia hỗ trợ nhưng kết quả giám sát, kết luận giám sát có nói thẳng, nói thật, nói hết không? Điều quan trọng chính là dũng khí, bản lĩnh của mỗi thành viên giám sát dù vấn đề kết luận đụng chạm đến các tầng nấc, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong bộ máy nhà nước, thậm chí là cả hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương. “Giám sát phải đi đến cùng, giám sát đến nơi, đến chốn với mục tiêu cao nhất là vì sự phát triển của đất nước, vì quyền lợi của người dân và doanh nghiệp”. Từ đó thúc đẩy các giải pháp khắc phục nhanh chóng, hiệu quả trong vận hành bộ máy; bảo đảm thực thi phám luật nghiêm minh; hoàn thiện hệ thống pháp luật và xử lý kịp thời những vi phạm; lấy lại niềm tin trong nhân dân.

Giám sát chuyên đề được tổ chức tốt có năng lực mạnh mẽ như một “Ủy ban đặc biệt” xem xét chuyên sâu những vấn đề lớn, có tính hệ thống và mang lại kết quả thiết thực, khả thi cao, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật; nâng cao vai trò, vị trí của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc thành lập Ủy ban lâm thời (theo Khoản 5, Điều 11 và Điều 17 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2015) để thực hiện giám sát chuyên đề thường xuyên như một số ý kiến khơi gợi chỉ thực sự cần thiết ở những vấn đề cơ quan của Quốc hội cần vào cuộc điều tra./.

QUÂN ĐỘI TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP TUYÊN TRUYỀN ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC

 


                Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, đồng thời bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vĩ đại đó, Đảng ta chủ trương thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, coi đó là động lực, là sức mạnh cơ bản của dân tộc ta. Sức mạnh Việt Nam là sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Toàn thể mọi người dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo đều có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quân đội có trách nhiệm tiến hành công tác vận động quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Đây là nội dung  quan trọng, góp phần xây dựng, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa đồng bào thuộc dân tộc, tôn giáo này với đồng bào dân tộc, tôn giáo khác, giữa đồng bào có đạo với đồng bào không theo đạo, giữa đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

Quân đội tiến hành công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền chính sách đại đoàn kết của Đảng về đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc, đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, xây dựng, củng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc.

khuctran

QUÂN ĐỘI PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG

 


          Phát huy sức mạnh tổng hợp trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá. Hiệu quả Quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phải phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương để phát huy sức mạnh tổng hợp để phòng chống đạt hiệu quả cao.

          Các đơn vị quân đội hoạt động trên địa bàn phải bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương; tích cực tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng nông thôn mới, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phòng tránh khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

Quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá được tiến hành trên nhiều nội dung, có cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội Biên phòng tham gia. Mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, hoạt động phòng chống được tiến hành trên nhiều nhiệm vụ, địa bàn khác nhau, tính chất lại rất phức tạp, bao gồm cả yếu tố trong nước và quốc tế. Vì vậy, tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, điều hành tập trung, thống nhất là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho các lực lượng quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá thống nhất về ý chí, hành động, có đủ sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ phòng chống.

khuctran