Thứ Hai, 18 tháng 4, 2022

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo đấu tranh với luận điệu sai trái

 

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam./.

Xuyên tạc việc khởi tố bị can Nguyễn Phương Hằng để bôi nhọ chính quyền Ngày 24/3, Công an TP Hồ Chí Minh đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam. Từ đó đến nay, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng để xuyên tạc, hướng lái bản chất vụ việc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Một số tổ chức, hội nhóm phản động như: Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông hải ngoại như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái. Điển hình trên mạng facebook của Việt Tân vu cáo: “Công an sử dụng Điều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái”, rồi suy diễn thành việc “doanh nhân đối đầu với thế lực chính trị như việc trứng chọi đá”. Bài viết đưa ra luận điệu hết sức lố bịch rằng: “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”... RFA thì tìm cách phỏng vấn một số cá nhân với cái tên nghe rất mĩ miều như “nhà dân chủ”, “nhà phản biện”… nhưng thực chất là đối tượng phản động, sống lưu vong ở nước ngoài. Được “hỏi ý kiến”, họ cho rằng, việc bắt bà Nguyễn Phương Hằng theo Điều 331 là “không hợp lý”, từ đó ra sức miệt thị Đảng, Nhà nước ta. Những hành vi trên của một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động không nằm ngoài các hoạt động chống phá Việt Nam, các đối tượng vin vào việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam; đả phá, phỉ báng chính quyền các cấp, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, tiến tới quy kết, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Nguy hại hơn, các thế lực thù địch, phản động còn cổ xúy, xúi giục, thậm chí ca ngợi, tán dương các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để bôi nhọ, lăng mạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của các tổ chức, cá nhân, gây tổn hại đến truyền thống văn hóa, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; làm giảm vị thế, uy tín cũng như hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Cũng như các quốc gia trên thế giới, đối với Việt Nam, một mặt, pháp luật bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, mặt khác pháp luật xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, không để các hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích cá nhân. Việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam đối với bị can Nguyễn Phương Hằng về hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự để điều tra, làm rõ hành vi phạm pháp là tuân thủ theo quy định của pháp luật, không có chuyện chính quyền các cấp “bóp nghẹt quyền tự do dân chủ” như luận điệu của các thế lực xấu. N.Đ.S

TƯỢNG HƯNG ĐẠO VƯƠNG Ở BÀ RỊA - VŨNG TÀU, CẦN PHẢI TIẾP THU, CẦU THỊ, LẮNG NGHE Ý KIẾN CỦA NHÂN DÂN!

         Theo Báo Người Lao động, ngày 18-4, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã tổ chức họp thẩm định bức tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo đặt trên Khu du lịch Hồ Mây Park (TP Vũng Tàu) sau khi có thông tin bức tượng này "trông giống tượng Quan Công". Ông Đậu Thế Anh, Tổng Giám đốc Công ty CP Du lịch Cáp treo Vũng Tàu, cho biết tại cuộc họp, một số ý kiến cho rằng chưa có quy định về việc tượng Đức Thánh Trần cưỡi ngựa hay không, có cầm đao hay không. Xin có đôi lời gửi về Bà Rịa - Vũng Tàu:

Đã là cái giống người thì ai cũng có thiếu sót, khuyết điểm, chẳng ai hoàn hảo cả! Thế nhưng khi nhưng thiếu sót, khuyết điểm đó đã được mọi người góp ý chân thành, thẳng thắn thì cần phải tiếp thu với tinh thần cầu thị cao nhất, đó mới là con người chân chính. Sau khi hình ảnh về tượng Trần Hưng Đạo được đăng tải, mọi người đã phê phán, góp ý vì bức tượng quá giống Quan Vũ, chỉ khác mỗi bộ râu, khuôn mặt…thế nhưng thay vì sửa chửa, khắc phục thì lại bảo thủ và thiếu tinh thần cầu thị. 

Hưng Đạo Đại Vương là anh hùng dân tộc, là Đức Thánh sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Nên nhớ Hưng Đạo Vương là Quốc Công Tiết Chế, Tổng chỉ huy quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông. Ngài là soái chứ không phải là tướng, là Soái có thể ngồi trong màn trướng để quyết thắng ngoài trăm dặm, là người chỉ huy chiến lược chứ không phải trực tiếp cầm đao, thương hay kiếm để đánh nhau với quân giặc như Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân thời Thục Hán hay Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng thời nhà Trần... Vậy nên hình tượng cưỡi ngựa, cầm đao trong tư thế chiến đấu là sai về mặt bản chất. Hưng Đạo Vương uyên thâm cách đánh dùng đoản binh để chế trường trận, lợi dụng địa hình, địa vật để đánh du kích, lợi dụng sông nước để tập kích quân Nguyên Mông. Quân Nguyên là thiên hạ vô địch về kỵ binh, tượng Hưng Đạo Vương cưỡi ngựa trong tư thế đánh nhau với giặc bằng kỵ binh thì đúng là rất tối trong tư duy.

Đó là chưa kể việc Hưng Đạo Vương là người cưỡi voi đen để chỉ huy, dùng kiếm hoặc gậy một đầu bịt sắt nhọn chứ không dùng đao hay cưỡi ngựa. Đầu tháng 4-1288, Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ huy một đạo quân từ Đại bản doanh A Sào, vượt sông Hóa đi đánh trận Bạch Đằng, không may voi bị sa lầy đã lún sâu xuống vũng sa bùn, chỉ còn lại cái đầu nhô lên mặt nước. Voi nhìn người quản tượng, nhìn mọi người, nước mắt giàn giụa. Trần Hưng Đạo cũng rớm lệ. Người tuốt thanh kiếm sáng loáng chỉ xuống dòng sông Hóa thét lớn: "Ra đi lần này nếu không thắng giặc sẽ không bao giờ trở về bến sông này nữa". Đền thờ voi của Hưng Đạo Vương tại đền A Sào - Bến Tượng, Thái Bình ngày nay vẫn còn đó. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, Trần Hưng Đạo thường theo xa giá đi hầu cận vua. Bấy giờ, ông đã là bậc đại thần, dưới một người trên vạn người, đi đâu cũng mang gậy, một chiếc gậy ở đầu có bịt sắt nhọn, nhiều người không khỏi nghi kị Trần Hưng Đạo. Biết ý, Trần Hưng Đạo vội vứt bỏ đầu sắt nhọn, chỉmang gậy gỗ không mà thôi. Bấy giờ, mọi người mới thực sự an tâm. Đó là tư liệu lịch sử, ngàn đời còn ghi. 

Hưng Đạo Vương là người kiêm tài văn võ, binh thư đầy một bụng, tam giáo cửu lưu rất rành. Vạn Kiếp bí truyền tông thư hay Binh thư yếu lược hay tư tưởng trị quốc an dân của Ngài thì cổ kim hiếm gặp; Tượng của Ngài phải gắn liền với cuộc đời hoạt động, chiến đấu và đóng góp vĩ đại của Ngài với dân tộc ta. Hình tương Hưng Đạo Vương một tay cầm binh thư, một tay chỉ thẳng ra biển hay cưỡi voi, lưng đeo bảo kiếm…đã gắn bó lâu nay với mỗi người Việt Nam. Có nhưng cái cần cách tân, đổi mới nhưng lịch sử thì không thể thay trắng đổi đen. Tôi còn nhớ một lần trên truyền hình, khi Ban Giám khảo phê bình một cô gái trẻ vì tạo hình Vua Quang Trung trông chẳng khác nào mấy anh chàng tập Gym, tóc tai xanh đỏ tím vàng. Cô gái ấy trả lời rằng, các anh các chị đã nhìn thấy Quang Trung ngoài đời bao giờ chưa? Chắc hẳn nhưng người cho rằng “chưa có quy định nào nói Hưng Đạo Vương cưỡi ngựa hay cầm đao” cũng học ý tưởng của cô gái trẻ đó. 

Rất mong cơ quan chức năng Bà Rịa - Vũng Tàu cần yêu cầu Công ty CP Du lịch Cáp treo Vũng Tàu khẩn trương khắc phục, không thể ngụy biện kiểu đó được. Tượng của các anh hùng dân tộc, các nhân vật lịch sử không thể tùy tiện muốn làm sao thì làm. Không tạo tiền lệ xấu cho các tỉnh thành khác và không thể phát biểu kiểu “chưa có quy định về việc tượng Đức Thánh Trần cưỡi ngựa hay không, có cầm đao hay không”. Đó là ngụy biện, là bảo thủ, là không chịu tiếp thu./.

Yêu nước ST.
VỀ SỰ ĐƯỢC MẤT TRÊN BIỂN ĐÔNG Đối với Trung Quốc về mặt dân số và diện tích ta chỉ ngang với một tỉnh của họ, nên không thể dùng một trận mà đòi lại được biển đảo. Còn giả sử ta có phép mầu tiến hành chiến tranh thắng được Trung Quốc thì đất nước cũng nát tan. Dọn nhà tránh hàng xóm đã khó còn dọn nước để tránh láng giềng là điều không thể. Làm một trận đòi lại của đã mất cũng không được. Vấn đề biển đảo chỉ có thể dùng chiến lược ngoại giao mềm dẻo nhưng cương quyết để đối phó với Trung Quốc. Ta đối phó bằng chính sự cao thượng, đúng sai, phải trái để giành lấy sự ủng hộ quốc tế (Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn - Lấy chí nhân để thay cường bạo). Bằng ngược lại, ta đã nhỏ yếu, lại ứng xử theo kiểu trẻ con, xỏ xiên thì ta sẽ được nhận lại thái độ gì, và ta cũng sẽ làm được gì họ? Tham vọng bành trướng bá quyền vốn là “đặc sản” của người Tàu và cũng là bản tính chung của các đế quốc. Nhưng sau bao cuộc chiến đẫm máu đã dẫn tới xu hướng của thời đại: Đối thoại thay cho đối đầu, nước ta cũng đã thực hiện thành công chính sách ngoại giao đa phương. Ai cũng biết ông cha ta vừa thắng giặc phương Bắc xong vẫn sang triều cống và xin phong Vương (Thuần phục giả vờ - Độc lập thực sự). Bây giờ không còn vậy nhưng vẫn phải hiểu, chiến lược ngoại giao phải phụ thuộc vào thế và lực của ta, không phải muốn sao cũng được. Sai lầm trong đối ngoại là sẽ dẫn tới thảm họa, bất kể nước nào. Cuộc đấu tranh ngoại giao phải luôn kiên trì, không ngừng nghỉ, phải kiên quyết hỗ trợ và bảo vệ cho ngư dân bám biển. Còn không, “im lặng nghĩa là đồng ý”, nước ta sẽ vĩnh viễn mất biển! Nhưng cũng phải thực tế, làm sao đừng để lợi bất cập hại. Lực ta có hạn mà lại đòi mọi cái theo ý mình sẽ là ảo tưởng. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là tranh thủ luật pháp quốc tế. Thế giới sẽ ủng hộ ta không chỉ vì ta mà còn vì lợi ích của chính họ. Không ai muốn Trung Quốc bành trướng thành siêu cường, rồi có thể tùy tiện áp đặt mọi sở thích cũng như tham vọng của họ lên toàn thế giới. Nước ta năm 1887, vua thì bị bắt đi đầy, tên nước đã bị xóa, tức đã mất hoàn toàn vào tay Pháp, thành bộ phận của Liên bang Đông Dương. Không ai muốn một tấc đất mà hàng ngàn năm Tổ Tiên ông cha ta đã đổ máu gìn giữ được, nhưng sức ta có hạn, không phải mọi thứ đều như ý. Năm 1956 khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Geneve 1954, trong bối cảnh ta chưa củng cố và quản lý tốt các vùng biển đảo, Trung Quốc đã tranh thủ chiếm cụm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến 1974, được sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc khiêu khích dẫn đến sự manh động nổ súng trước của quân ngụy Sài gòn, rồi lấy cớ mạnh tay đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa kể cả đảo Tri Tôn xa lơ xa lắc. Đối với Trường Sa, chúng ta là nước đầu tiên làm chủ cả một vùng biển đảo rộng lớn, nhưng chúng ta chỉ đóng giữ được ở một số đảo nổi. Không chỉ Trung Quốc, năm 1971, Philippines đã lấn chiếm 5 đảo phía Đông Trường Sa, đến 1973, họ lấn tiếp hai đảo ở phía Bắc. Với Malaysia, cho đến năm 1979, họ đã chiếm 7 đảo phía Nam Trường Sa. Đặc biệt năm 1988, nhân cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, ta đang tập trung vào việc rút quân khỏi Campuchia, Trung Quốc đã đánh chiếm 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa bắt đầu là bãi đá ngầm Chữ Thập mà nay chúng đã cải tạo thành một pháo đài. Như vậy hậu quả của các cuộc xung khắc thật tai hại, nhất là với nước lớn sát vách như Trung Quốc, họ tranh thủ cơ hội xâm lấn đất của ta, rồi dù có bình thường hóa trở lại, đòi những gì ta đã mất là rất khó, nhất là vùng hải đảo xa xôi, họ hoàn toàn có thể bịa ra căn cứ pháp lý chủ quyền như hiện tại mọi người đã thấy về "Cái lưỡi bò". Đến hôm nay, Trung Quốc chưa gây chiến trên Biển Đông là vì phe hiếu chiến chưa nắm quyền. Đến khi đó, từ việc khoét sâu mâu thuẫn đến leo thang xung đột, từ khẩu chiến đến chiến tranh lạnh, từ xung đột tranh chấp tới chiến tranh toàn diện chỉ trong tích tắc như cuộc chiến năm 1979. Nếu chiến tranh trên bộ thì Trung Quốc chắc chắn sẽ có kết quả tương tự như năm 1979, không có cơ hội nào. Nhưng nếu là những trận đánh trên biển, sự thiệt hại của Trung Quốc dù lớn cũng sẽ là nhỏ so với thực lực tổng thể của họ. Trung Quốc sẽ có thể mất thật nhiều lính, mất nhiều tỷ đô la, một phần lớn vũ khí sẽ bị hư hại, nhiều tàu sẽ chìm, song với tiềm lực khổng lồ họ rất sẵn sàng bổ sung nhanh chóng và duy trì cuộc chiến lâu dài. Trong khi phía Việt Nam có thể tiếp nối truyền thống lấy ít địch nhiều, Việt Nam sẽ gây thiệt hại nặng cho địch về vũ khí trang bị, con người, nhưng chắc chắn chúng ta cũng sẽ có thiệt hại và buộc phải kéo dài và xé nhỏ cuộc chiến. Và đáng lo nhất là sau 1 cuộc chiến hao tổn sức người, sức của và hy sinh mất mát ta vẫn chưa thể có chiến thắng triệt để cuối cùng dù kéo dài đến 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa.. Khi nói, phán, chửi, chê thì rất dễ, nhưng khi bắt tay trực tiếp vào làm mới thấy biết bao nhiêu chuyện phức tạp. Lực lượng Hải quân nhân dân và Không quân nhân dân Việt Nam hiện nay đang được hiện đại hóa, có tính răn đe cao, làm cho Trung Quốc chùn bước chứ không làm cho chúng ngừng ý định bành trướng xuống phương Nam. Vì những lẽ đó, mới có xu hướng lấy đại cuộc làm đầu, nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo và giữ gìn hòa bình và sự ổn định trong khu vực. Nhưng khi có chiến tranh, Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ ảnh hưởng tới vấn đề chủ quyền, suy giảm năng lực phòng thủ, tạo ra thêm nguy cơ mất chủ quyền lớn hơn, bao nhiêu người hy sinh, và sẽ còn nhiều mất mát khác, kinh tế bị ảnh hưởng xấu, đời sống người dân nhất là ngư dân sẽ bị ảnh hưởng to lớn hơn nữa. Bây giờ khi xảy ra cái gì, dù là chuyện nhỏ thôi, chúng nó vin vào đó bảo Việt Nam vi phạm lung tung rồi bật đèn xanh thả lỏng cho giới trẻ, blogger Trung Quốc, hoặc chủ động cho truyền thông chính thống tuyên truyền bôi nhọ Việt Nam, xúc phạm những anh hùng liệt sĩ Việt Nam, xuyên tạc công cuộc bảo vệ Tổ quốc của ta... thì ắt sẽ leo thang xung đột, và xung đột kéo theo xung đột không dứt... Bởi vậy hành động của những kẻ xét lại lịch sử rất phù hợp với dã tâm của Trung Quốc chứ không chỉ phù hợp với riêng bọn phản động hải ngoại. Thành phần Trung Quốc theo chủ nghĩa sô-vanh đại dân tộc thì lâu nay luôn có dã tâm, chỉ cần chúng lên cầm quyền là xong. Và còn bao nhiêu thế lực Mỹ - Tây Âu, phản động đang rình rập tìm cách kích động chiến tranh giữa 2 nước từ nhiều động cơ khác nhau. Không nên thấy biển lặng sóng yên rồi mơ mộng tình hình vẫn đang ổn lắm, tốt lắm, thật ra chiến sự có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Từ khi Việt Nam giành lại được độc lập từ năm 1945 tới nay, bất kỳ bọn giặc nào, từ đâu, kéo tới xâm lược là ta đều đánh chúng ra ngoài, hết giặc này đến giặc khác, trong đó có cả Trung Quốc. Còn khi chúng chưa kéo tới đánh thì ta luôn tuyên bố khẳng định chủ quyền và tuyên bố công khai, chính thức phản đối những hành động xâm phạm chủ quyền hoặc hành xử chủ quyền trên những vùng bị tạm chiếm. Chúng ta liên tục và thường xuyên phản đối cấp quốc gia và quốc tế đối với những tuyên bố của Trung Quốc và những hành động hành xử chủ quyền và hợp tác khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp. Chúng ta liên tục, thường xuyên công khai và chính thức khẳng định chủ quyền lãnh thổ mà Trung Quốc tuyên bố. Bác bỏ những tuyên bố chính thức của Trung Quốc… Chúng ta liên tục nâng cấp vũ khí, hiện đại hóa hải quân, không quân, mua sắm mới, tự chủ sản xuất mới, trong khi đang có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Chúng ta nhiều lần tập trận bắn đạn thật, phóng tên lửa thật ở Trường Sa, trên Biển Đông, ngay trên những vùng Trung Quốc coi là của mình và tuyên bố chủ quyền. Việt Nam công khai và chính thức, quang minh chính đại làm những hành động trực tiếp như trên, cả thế giới biết Việt Nam đang có tranh chấp, bất đồng về biển đảo, lãnh hải, lãnh thổ với Trung Quốc. Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết, mỗi hành động đều như tát nước vào các tuyên bố và hành động của Trung Quốc, trái ngược và đối nghịch, đối chọi chan chát với những lập trường, quan điểm, quyền lợi của Trung Quốc, mỗi hành động này đều có thể tạo ra sự leo thang thành xung đột vũ trang và chiến tranh trên biển. Việt Nam ý thức rõ điều đó, nhưng vẫn làm, vì nó là chủ quyền. Tất cả những gì liên quan tới chủ quyền, lãnh thổ thì Việt Nam đều đã làm những gì có thể làm, những gì trong khả năng thực tế mà thế và lực Việt Nam hiện nay có thể làm. Bất kể nó trái ngược với lợi ích kinh tế hay hòa bình ổn định của Việt Nam trong khu vực. Bất kể nó đi ngược lại với những tuyên bố, khẳng định, quan điểm, lập luận, và lợi ích của Trung Quốc. Và bảo vệ hòa bình trong trường hợp này cũng chính là bảo vệ chủ quyền, vì khi có chiến tranh thì Việt Nam có thể yếu hơn so với tương quan lực lượng quân sự giữa các bên liên quan. Năm 1988, trong CQ88 ở Trường Sa, chúng ta không thể để leo thang chiến tranh thành một cuộc chiến quy mô lớn trên biển mà chúng ta rất bất lợi, có nguy cơ mất trắng vì còn đó sự xâu xé của nhiều nước tại Trường sa. Trong tất cả những hành động đó, có thể thấy rõ ràng là: Xưa nay, Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết, vì chủ quyền thì khi cần đánh chúng ta vẫn phải đánh.Ta không hy sinh chủ quyền chỉ vì muốn hòa bình. Ta không dùng chủ quyền để đánh đổi hòa bình phụ thuộc. Những năm tháng chống Trung Quốc trong thời gian 1979-1992 đó đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán trước sau như một, chúng ta vừa đánh để giành chủ quyền vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ thế lực thứ 3 nào lợi dụng, khoét sâu, kích động để leo thang cuộc chiến, cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn. Người làm chính trị luôn lo đến cái lợi lớn của đất nước, cái tổng thể, cái chung nhất, cái lâu dài, cái bền vững, không để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, tự ái nhất thời mà làm hỏng đại cuộc. Vì những lẽ lợi - hại đó, vẫn sẽ có những hạn chế phần nào trong báo chí và dư luận để phục vụ cho sách lược đối ngoại chung đối với Trung Quốc, giữ cho tất cả trong vòng kiểm soát, không leo thang căng thẳng, dần đưa tới mâu thuẫn, từng bước đưa đến xung đột quân sự và chiến tranh quy mô. Đồng thời không để thế lực thứ ba nào lợi dụng tình hình căng thẳng giữa hai bên để trục lợi. Còn đối với những kẻ phản động, từng có "thành tích" bán nước, theo giặc 3 đời vẫn luôn miệng tuyên truyền dối trá nâng quan điểm về những cái gọi là "đại họa mất nước" (?) v.v. thì họ là những kẻ thù hận điên cuồng, u mê mù quáng, không dám chấp nhận sự thật. Chúng ta không quan tâm và không hy vọng gì vào những phần tử này. Khi Việt Nam giữ quan hệ bình thường với Trung Quốc thì họ vẫn sẽ còn tiếp tục bám vào đó, sống ký sinh lên trên đó và tiếp tục chửi bới. Nhưng nếu Việt Nam chuyển sang chống Trung Quốc như trong giai đoạn 1979-1992 thì cũng không có khả năng nào họ theo Việt Nam chống Trung Quốc, mà trái lại họ sẽ càng lợi dụng phá thêm và mong muốn Trung Quốc chiến thắng, như họ đã từng mong muốn "Trung Cộng đánh thẳng vào Hà Nội giết sạch Việt Cộng" năm 1979. Bọn Fulro và bọn khủng bố tiền thân của Việt Tân nhân cơ hội chiến tranh đó, đã "đục nước béo cò", "thừa nước đục thả câu" mà thừa cơ đánh phá vào trong nước, đem tiền giả, ma túy, súng đạn vào khủng bố trong nước. Những kinh nghiệm từ lịch sử vẫn còn rành rành. Đây là bọn phản quốc và trên thực tế đã chống dân tộc, chống đất nước, chống Tổ quốc nhiều đời, nhiều lần trong lịch sử hiện đại, chứ không chỉ có chống Đảng Cộng sản, chống Chủ tịch Hồ Chí Minh, chống CNXH, chống CNCS. Họ trung thành với Vatican, với Pháp, với nước Mỹ chứ không phải trung thành với nước Việt. Họ yêu bản thân chứ không yêu nước. Mục đích tối hậu của họ là lật đổ Nhà nước Việt Nam để phục hận sau khi những lợi ích gắn liền với giặc xâm lược của họ bị mất sạch sau khi Việt Nam thắng Mỹ. Họ muốn trở về rửa hận, lấy lại những gì đã mất, để tranh quyền giành ghế, tranh giành quyền lực để được làm ông nọ bà kia. Mối quan hệ phức tạp Việt - Trung chính là một trong những chiêu bài để họ nắm lấy, khai thác, và lợi dụng để thực hiện mục đích tối hậu đó, vì lợi ích riêng của chính bản thân họ, bất chấp lợi ích chung của đất nước và dân tộc. Người làm chính trị có thực tâm và thực tài là những người biết phân biệt giữa cái lợi của một người, cái lợi của một nhóm, và cái lợi tổng thể của cái chung, của dân tộc, đất nước. Và chủ quyền và sự hòa bình chính là cái lợi lớn đó. Lãnh đạo có tài và có tâm họ đặt nặng và coi trọng vào cái lợi lớn, cái lợi ích chung đó. Họ đặt tình cảm vào cái chung, cái lớn, toàn dân, toàn quốc, nặng hơn cái tình cảm cá nhân với một người hay một nhóm, cái riêng tư, cục bộ. Đặt nặng cái lâu dài hơn cái nhất thời. Họ cũng căm tức nhưng họ có trách nhiệm gánh vác to lớn, họ không có quyền để cảm xúc, cảm tính điều khiển hành động, không được hành động cho đã cái nhất thời bất chấp tất cả, rồi sau đó thế nào mặc kệ, không chịu trách nhiệm. Nếu vậy thì đó mới là một chính phủ vô trách nhiệm. Chiến tranh đổ máu, mất thêm chủ quyền lãnh hải lãnh thổ, thì sao đây?

MÔI TRƯỜNG TỐT ĐỂ PHẤN ĐẤU, TRƯỞNG THÀNH

  

Trước khi vào quân đội, không chỉ riêng tôi mà nhiều đồng chí khác đều nghĩ rằng, môi trường quân ngũ sẽ rất vất vả, khổ cực, thiếu thốn, thậm chí, qua một số thông tin trên mạng xã hội, còn có cả cảm giác lo lắng, thiếu yên tâm. Thế nhưng, ngay từ ngày đầu nhập ngũ về đơn vị, tôi đã có cảm nhận khác hẳn.

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền về ý nghĩa chính trị, văn hóa của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 Ngày 14/4, tại Hà Nội, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức gặp mặt báo chí định hướng các nội dung tuyên truyền trọng tâm năm 2022.

Tại buổi gặp mặt, Đại tá Đinh Quốc Hùng, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài quân đội thời gian qua đã phối hợp tuyên truyền sâu rộng, hiệu quả các về hoạt động Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đồng chí mong muốn, thời gian tới, các cơ quan báo chí trong và ngoài quân đội tiếp tục quan tâm phối hợp nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền về các hoạt động của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhất là tuyên truyền các hoạt động thi đua của cán bộ, chiến sĩ đơn vị phát huy truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”, phấn đấu vươn lên làm chủ vững chắc từng bước, tiến tới làm chủ hoàn toàn nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng, Quảng trường Ba Đình, khu Di tích K9 trong giai đoạn mới. Phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, tiêu biểu mẫu mực theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tập trung xây dựng Đảng bộ Đoàn 969 trong sạch vững mạnh tiêu biểu trong Đảng bộ Quân đội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiêu biểu về mọi mặt, có năng lực toàn diện, sức chiến đấu cao.

Phối hợp tuyên truyền những kết quả của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo”; hoạt động kỷ niệm 30 năm hợp tác trực tiếp về y tế thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1992-2022); các hoạt động kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ đến Đá Chông - K9 (1957-2022), gắn với kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2022).

Cũng tại buổi gặp mặt, đại diện các cơ quan báo chí trong và ngoài quân đội đã đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền, góp phần phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

 Ngày 14/4, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Trung ương Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 16-CT/TW ngày 8/5/2012 của Ban Bí thư khóa XI “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” tổ chức họp phiên thứ nhất. Đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì.

Chỉ thị số 16 của Ban Bí thư có mục tiêu đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả việc đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Sau thời gian triển khai, Chỉ thị đã giúp nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với chính quyền các cấp, tổ chức, doanh nghiệp và người dân về sự cần thiết của công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật; nâng cao chất lượng đào tạo cho người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài được tăng cường. Một số quy định và chính sách chưa phù hợp pháp luật và thông lệ quốc tế được điều chỉnh phù hợp đã góp phần mở rộng thị trường lao động ngoài nước, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, tăng tích lũy, cải thiện đời sống người lao động và gia đình, đóng góp đáng kể vào nguồn ngoại tệ của đất nước. Công tác đàm phán và ký kết nhiều hiệp định, thỏa thuận hợp tác về lao động với các nước tạo hành lang pháp lý cho việc phái cử lao động và bảo hộ công dân trong trường hợp cần thiết được thuận lợi và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, trong điều kiện tình hình trong nước và thế giới có nhiều thay đổi, để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030, trong đó đối với những vấn đề liên quan đến lao động ngoài nước; xét vai trò và tầm quan trọng, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đưa nội dung tổng kết Chỉ thị 16 vào Chương trình làm việc năm 2022.

Tại buổi họp, các đại biểu tập trung thảo luận, tham gia ý kiến vào Dự thảo Kế hoạch tổng kết Chỉ thị; dự thảo Quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ Ban Chỉ đạo, Tổ Biên tập; dự thảo Đề cương báo cáo tổng kết, Đề cương yêu cầu báo cáo gửi các cơ quan Trung ương và Địa phương; tập trung các nhiệm vụ, giải pháp theo Chỉ thị gắn với trách nhiệm các cấp ủy Đảng, hệ thống chính trị, đoàn thể chính trị-xã hội trong tổ chức thực hiện Chỉ thị.

Phát biểu kết luận cuộc họp, đồng chí Trần Tuấn Anh đánh giá cao tinh thần thảo luận tích cực cũng như những ý kiến đóng góp sâu sắc của các đại biểu. Đồng chí nhấn mạnh, thời gian hoàn thành nhiệm vụ tổng kết Chỉ thị là rất gấp, trong điều kiện Ban Kinh tế Trung ương cũng như các bộ, ngành, địa phương đang tập trung thực hiện nhiều nhiệm vụ chính trị quan trọng, do đó tất cả các đồng chí trong Ban Chỉ đạo, Tổ Biên tập và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cần phát huy tinh thần sáng tạo, vào cuộc quyết liệt, khẩn trương, nghiêm túc thực hiện sự phân công của Ban Chỉ đạo, bảo đảm chất lượng công tác tổng kết Chỉ thị trình Ban Bí thư theo đúng kế hoạch đã đề ra.


Tăng cường phối hợp, phục vụ hiệu quả hoạt động của Chủ tịch nước.

 Chiều 14/4, tại Phủ Chủ tịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương Nguyễn Xuân Phúc đã chứng kiến Lễ ký kết Quy chế phối hợp giữa Văn phòng Chủ tịch nước và Tòa án nhân dân tối cao, Văn phòng Chủ tịch nước và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Cùng dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình; Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Lê Minh Trí, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải cùng các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương.

Quy chế phối hợp công tác giữa Văn phòng Chủ tịch nước với Tòa án nhân dân tối cao, giữa Văn phòng Chủ tịch nước và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng được ban hành ngày 11/1/2012. Qua 10 năm triển khai thực hiện, 2 quy chế trên đã tạo cơ sở quan trọng để 3 cơ quan phối hợp, góp phần nâng cao hiệu quả tham mưu, phục vụ hoạt động của Chủ tịch nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và nhiệm vụ được Bộ Chính trị phân công phụ trách công tác tư pháp; góp phần quan trọng vào những thành tựu chung của Đảng, Nhà nước. Công tác phối hợp luôn được tăng cường, ngày càng đi vào thực chất và đã đạt được kết quả tích cực, toàn diện trên các mặt công tác.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, vẫn còn một số vướng mắc, bất cập. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch nước đã chủ động phối hợp Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành rà soát toàn bộ các nội dung của 2 quy chế phối hợp công tác năm 2012 và thống nhất nghiên cứu, xây dựng, ban hành quy chế mới nhằm bảo đảm phù hợp Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, đồng thời đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi trong tình hình mới.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đánh giá, các nhiệm kỳ qua, công tác phối hợp giữa Văn phòng Chủ tịch nước với Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan khối nội chính về tư pháp luôn chặt chẽ, đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Từ đó, góp phần bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan cũng như nâng cao hiệu quả tham mưu, phục vụ hoạt động của Chủ tịch nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và nhiệm vụ được Bộ Chính trị phân công.

Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch nước đã phối hợp các cơ quan nghiên cứu, sửa đổi quy chế phối hợp công tác. Việc ký Quy chế phối hợp lần này thật sự cần thiết; là cơ sở quan trọng để các cơ quan thực hiện công việc theo chức năng, nhiệm vụ một cách hiệu quả hơn.

Để thực hiện tốt công tác tham mưu, phục vụ Chủ tịch nước trong thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật và nhiệm vụ được Bộ Chính trị phân công phụ trách công tác tư pháp, Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Ban Nội Chính Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Văn phòng Chủ tịch nước phối hợp chặt chẽ, liên tục và hiệu quả hơn.

Chủ tịch nước yêu cầu các bản Quy chế được ký kết lần này phải được triển khai sâu, rộng và thực hiện một cách nghiêm túc từ lãnh đạo đến các bộ phận nghiệp vụ, đặc biệt là các cán bộ, chuyên viên trực tiếp thực hiện công việc; đi đôi với làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Quy chế. Quá trình thực hiện phải  bảo đảm đúng nguyên tắc, tuân thủ chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật; bảo đảm tính chủ động, thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời, tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau. Định kỳ hằng năm, 3 cơ quan cần tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm và báo cáo Chủ tịch nước.

Chủ tịch nước cũng đề nghị các cơ quan tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong việc triển khai thực hiện các Đề án của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương và Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.


Khuyến khích xã hội hóa công tác phòng, chống bạo lực gia đình.

 Tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 10, chiều 16/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi).

Trình bày Tờ trình về dự án Luật, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng cho biết, sau gần 15 năm thực hiện, Luật đã tạo chuyển biến tích cực về nhận thức, góp phần bảo vệ người bị bạo lực gia đình, xử lý các hành vi bạo lực gia đình, vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình. Cấp ủy, tổ chức Đảng và lãnh đạo chính quyền các cấp đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình.

Khuyến khích xã hội hóa công tác phòng, chống bạo lực gia đình -0
 Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng trình bày tờ trình tại phiên họp.

Nhiều địa phương tổ chức triển khai các mô hình phòng, chống bạo lực gia đình sáng tạo, năng động, phát huy hiệu quả, đã huy động nguồn lực xã hội tham gia vào công tác phòng, chống bạo lực gia đình.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, bạo lực gia đình vẫn còn là một vấn đề nhức nhối, nan giải ở Việt Nam. Nhiều vụ việc có mức độ gây hại nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, tinh vi, khó lường và khó xử lý bằng các quy định pháp luật hiện hành. Tình trạng bạo lực gia đình còn khá phổ biến.

Theo kết quả điều tra quốc gia công bố năm 2020, cứ 3 phụ nữ thì có gần 1 người (32%) bị chồng bạo lực thể xác/hoặc bạo lực tình dục. Đáng chú ý, có 90,4% phụ nữ bị chồng bạo lực thể xác/hoặc tình dục không tìm kiếm sự giúp đỡ, chỉ có 4,8% tìm kiếm sự giúp đỡ của công an.

Kết quả điều tra này còn cho thấy, năm 2019, bạo lực gia đình với phụ nữ gây thiệt hại 1,8% GDP (tăng 0,2% so với năm 2012). Không chỉ bạo lực gia đình với phụ nữ mà bạo lực gia đình với trẻ em, người già cũng diễn ra phổ biến và có nhiều vụ việc nghiêm trọng trong thời gian qua…

Dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) tập trung vào cụ thể hóa ba chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 178/NQ-CP ngày 12/12/2020, gồm: Các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình, tăng cường bảo vệ và hỗ trợ người bị bạo lực gia đình; Cơ chế phối hợp và các điều kiện bảo đảm để thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình; Khuyến khích xã hội hóa công tác phòng, chống bạo lực gia đình.

Cho ý kiến tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh nhấn mạnh, Thường trực Ủy ban Xã hội đề nghị cơ quan soạn thảo, trong quá trình sửa đổi luật, tiếp tục bám sát phương pháp tiếp cận quyền con người, bảo đảm quyền con người, nhất là đối tượng đặc thù như phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, ưu tiên nguyện vọng chính đáng của người bị bạo lực gia đình, tôn trọng các quyền của công dân khi xử lý các hành vi vi phạm về bạo lực gia đình và quan tâm các vấn đề về văn hóa, gia đình, đặc điểm tâm lý của các nhóm đối tượng cũng như đặc thù vùng miền, dân tộc.

Khuyến khích xã hội hóa công tác phòng, chống bạo lực gia đình -0
 Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu ý kiến tại phiên họp.

Tham gia thảo luận tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, việc sửa đổi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình khẳng định sự quan tâm rất lớn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đối với những vấn đề phát sinh từ thực tiễn.

Do đó, Chủ tịch Quốc hội cho rằng cần đánh giá tác động, tính khả thi, nhận diện đầy đủ hơn các hành vi, đối tượng, bạo lực gia đình, rà soát, làm đậm nét hơn ba nhóm chính sách trong đó có chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác phòng, chống bạo lực gia đình; làm sâu sắc hơn việc bảo đảm nguyên tắc quyền con người, quyền công dân, quy định về vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội.

Đồng thời, lãnh đạo Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra tiếp tục rà soát để không chỉ bảo đảm tính khả thi mà còn đồng bộ với các dự án luật khác như: Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Trẻ em…

Phát biểu ý kiến kết luận, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí về sự cần thiết xây dựng dự án Luật; đề nghị Chính phủ tiếp tục đánh giá đầy đủ từng vấn đề, nội dung nào thuộc về quy định của Luật hay do tổ chức thực hiện để có định hướng sửa đổi cho trúng, đầy đủ.

Khuyến khích xã hội hóa công tác phòng, chống bạo lực gia đình -0
 Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn điều hành nội dung thảo luận tại phiên họp.

Về phạm vi sửa đổi của dự thảo Luật, phải bao quát được vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình trong tình hình mới; khắc phục những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi luật lần này góp phần tốt hơn việc gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình, dân tộc; thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Dự thảo luật cần bảo đảm tính khả thi của các quy định, kịp thời bảo vệ người bị bạo lực gia đình và người tham gia phòng, chống bạo lực gia đình; thúc đẩy xã hội hóa, tăng cường sự đóng góp và tham gia của toàn xã hội, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình. 

Đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Ủy ban Xã hội tiếp tục thẩm tra dự án luật này và Thường trực Ủy ban Xã hội chủ động phối hợp các cơ quan có liên quan để tiếp thu đầy đủ, thấu đáo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tiếp tục tổ chức tọa đàm, hội thảo lấy ý kiến rộng rãi, góp ý vào dự án luật.

Bên cạnh đó, đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Tư vấn văn hóa-xã hội tổ chức phản biện dự án luật này để có thêm nhiều ý kiến của các tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể.

Thời gian tới, Chính phủ cần tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến của cơ quan thẩm tra, cơ quan của Quốc hội, các ban của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm chất lượng khi trình ra Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3, cho ý kiến vào tháng 5 năm 2022.

Tạo nguồn lực phát triển văn học, nghệ thuật.

 Văn học, nghệ thuật có vai trò quan trọng, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta luôn thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực có tính đặc thù này. Trong giai đoạn hiện nay với nhiều cơ hội và thách thức mới, việc huy động các nguồn lực góp phần giúp văn học, nghệ thuật phát triển và phát huy vai trò trong xã hội đang đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi mới, cần sự định hướng, giải pháp phù hợp.

Bài 1: Đổi mới đầu tư cho sáng tác

Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã được ban hành tạo hành lang pháp lý quan trọng giúp văn học, nghệ thuật có điều kiện, môi trường thuận lợi để phát triển. Từ đó, Chính phủ đã phê duyệt nhiều đề án về chế độ, chính sách đối với hoạt động văn học, nghệ thuật, văn nghệ sĩ; đặt hàng, hỗ trợ, khuyến khích sáng tác và công bố các tác phẩm có giá trị…, được các văn nghệ sĩ hết sức hoan nghênh, ủng hộ, đánh giá cao. Yêu cầu đặt ra là làm thế nào để việc đầu tư, hỗ trợ này hợp lý, xứng đáng, phát huy hiệu quả tốt hơn trong giai đoạn hiện nay.

Phát biểu tại  hội nghị lấy ý kiến và đưa ra các giải pháp quản lý nhà nước, phát triển văn học do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tháng 12/2021, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng cho biết: Để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, Bộ phối hợp các hội, cơ quan liên quan xây dựng đề án phát triển văn học, nghệ thuật giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030 trình Chính phủ đưa vào Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa.

Với những cơ chế, chính sách, nguồn lực đầu tư, giải pháp quản lý văn học, nghệ thuật hiệu quả, đề án sẽ tạo cú huých, góp phần thúc đẩy sự phát triển văn học, nghệ thuật nước nhà. Vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của đông đảo văn nghệ sĩ. Đặc biệt, việc sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư của Nhà nước dành cho hoạt động văn học, nghệ thuật trong bối cảnh hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới cần có sự điều chỉnh.

Thực tế cho thấy, những năm qua, mô hình trại sáng tác được các hội văn học, nghệ thuật Trung ương và địa phương tổ chức hằng năm, quy tụ tác giả theo từng chuyên ngành, tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ dành thời gian tập trung sáng tác những tác phẩm chất lượng.

Hình thức hỗ trợ hằng năm cũng giúp các tác giả thêm một phần kinh phí để thâm nhập thực tế, chi phí cho nguyên vật liệu, chất liệu sáng tác, hoặc ấn bản hóa, ghi âm tác phẩm… Ngoài kênh đầu tư của Nhà nước cho hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật thông qua các hội chuyên ngành, lực lượng quân đội, công an cũng có những chương trình đầu tư theo mô hình trại sáng tác hoặc đặt hàng, xét duyệt tác phẩm theo chủ đề, tiêu biểu có thể kể đến là: chiến tranh cách mạng, bảo vệ chủ quyền biển đảo, vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống…

Những việc làm hiệu quả nêu trên giúp động viên, cổ vũ và góp phần thiết thực vào “lao động nghề” của văn nghệ sĩ. Đó là điểm ưu việt đáng trân trọng trong chính sách đầu tư, hỗ trợ sáng tác. Tuy nhiên, để chính sách này phát huy hiệu quả tốt hơn, cần thẳng thắn nhận diện những hạn chế nhằm điều chỉnh, bổ sung cách làm mới, phù hợp hoàn cảnh xã hội cũng như hoạt động sáng tác nói chung hiện nay; kịp thời nắm bắt, đón đầu những biến đổi của thời cuộc để có biện pháp thích ứng.

Việc đầu tư, hỗ trợ cho các hoạt động văn học, nghệ thuật dù thời gian qua được chú trọng nhưng khó lòng bao quát, rộng khắp được đến mọi lĩnh vực, đối tượng. Ngoài ra, chính vì ngân sách đầu tư có hạn và lượng tác giả rất đông đảo nên mức hỗ trợ phải chia nhỏ. Đó cũng là lý do sự hỗ trợ, tài trợ đôi khi chỉ mang ý nghĩa tinh thần, nhất là trong bối cảnh giá cả đời sống xã hội không ngừng tăng cao, trong đó bao gồm cả những chi phí thiết yếu dành cho việc hoàn thành, “trình làng” tác phẩm như in sách, mua sắm họa phẩm, ghi âm ca khúc, dàn dựng tác phẩm trình diễn…

Bên cạnh đó, mô hình trại sáng tác được duy trì, cũng mới bước đầu hỗ trợ các tác giả làm việc trong một khoảng thời gian ngắn, thường là từ 7 đến 10 ngày. Song để hoàn thành, đưa tác phẩm đến công chúng lại là cả một quãng đường dài phía trước và trong nhiều trường hợp, tác giả phải tự thân vận động, khiến không ít người thấy nản.

Những hạn chế, thiếu hụt trong đầu tư, hỗ trợ cho các hoạt động văn học, nghệ thuật thời gian qua cho thấy cần có một sự đổi mới từ cách nhìn nhận, đánh giá hoạt động sáng tạo, cho đến việc huy động những nguồn lực về mọi mặt ngay từ hệ thống chính trị, các bộ, ngành, địa phương,…

Trong bối cảnh hiện nay, văn hóa ngày càng được đề cao, các giá trị văn hóa đang được bổ sung, bồi đắp, nhằm phát huy hết sức mạnh, vai trò là nguồn lực xây dựng nền tảng xã hội, tâm hồn, đạo đức con người.

Do đó, sức mạnh, giá trị của văn học, nghệ thuật càng cần được nhận thức, đánh giá đầy đủ và thấu đáo hơn. Văn học, nghệ thuật với khả năng tác động vào suy nghĩ, tình cảm, tâm hồn, nhận thức công chúng, sẽ tạo nên nguồn năng lượng dồi dào bồi đắp xã hội văn hóa, tư cách và phẩm chất văn hóa của con người, đề cao bản chất và mục tiêu nhân văn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Văn học, nghệ thuật, do vậy, xứng đáng được đề cao, trân trọng hơn cũng như cần được lan tỏa rộng rãi hơn vào cuộc sống. Dĩ nhiên, đó phải là những tác phẩm có giá trị đặc sắc, được tôn vinh thông qua sự thẩm định về chuyên môn. Và để góp phần vào hành trình tạo nên các tác phẩm mới đặc sắc, độc đáo, thì sự hỗ trợ thiết thực hơn, xứng đáng hơn từ chính sách đầu tư của Nhà nước, ngành văn hóa, hội nghề nghiệp là rất cần thiết. 

Cụ thể, cần nâng cao các mức kinh phí hỗ trợ, tài trợ cho công việc thâm nhập thực tế, tham gia trại sáng tác, sáng tạo tác phẩm của các văn nghệ sĩ để người làm nghề yên tâm, tập trung cho các dự án sáng tạo lớn, cũng như các hoạt động sáng tác của mình.

Việc phân chia mức kinh phí hỗ trợ cho sáng tác không thể dàn đều giữa các lĩnh vực văn học, nghệ thuật khác nhau mà cần căn cứ vào đặc thù nghề nghiệp và những chi phí liên quan các hình thức sáng tác, trường hợp sáng tác cụ thể. Hình thức hỗ trợ, tài trợ nên được thay đổi theo hướng lựa chọn đầu tư tập trung, đầu tư có chiều sâu, đầu tư tương xứng với tài năng, tâm huyết, giá trị sáng tạo mà văn nghệ sĩ gửi gắm vào tác phẩm. 

Ở đây, sẽ nảy sinh một vấn đề liên quan sự thẩm định, đánh giá tác phẩm văn học, nghệ thuật sau khi hoàn thành để có sự ghi nhận xứng đáng bằng kinh phí, vật chất. Sẽ khó lòng thực hiện được công việc này từ trước và ngay cả trong quá trình sáng tạo của văn nghệ sĩ.

Như vậy, hình thức tài trợ, hỗ trợ bằng cách chi một khoản tiền nhất định từ trước khi tác giả sáng tác, xây dựng tác phẩm cần được chuyển sang giai đoạn “hậu tác phẩm”. Vì vậy nên có hình thức xét tài trợ cho tác phẩm căn cứ trên chất lượng sau khi hoàn thành. Xét duyệt trên cơ sở chất lượng thuyết phục của tác phẩm sẽ chuẩn xác, đúng đắn hơn cả. Và kinh phí của Nhà nước, ngành văn hóa, hội nghề sẽ được tập trung cho các tác phẩm xứng đáng chứ không chi theo kiểu “cào bằng”, “vui cả làng”. 

Ngoài cách làm căn cứ vào chất lượng “hậu tác phẩm”, hình thức đặt hàng, đầu tư sâu cho hoạt động văn học, nghệ thuật cần thúc đẩy mạnh hơn nữa theo cách “chọn mặt gửi vàng”: chọn lựa và mời hợp tác những văn nghệ sĩ đã có uy tín trong giới nghề qua những thành tựu được ghi nhận; tìm kiếm những gương mặt mới tài năng, sung sức.

Mặt khác, có thể chia ra các giai đoạn để đầu tư từng phần, từ khâu ý tưởng, đề cương cho đến việc hoàn thành mỗi phần, đoạn, bộ phận của tác phẩm. Song song đó, hội nghề nghiệp, đơn vị đặt hàng cần căn cứ vào quá trình lao động, hiệu quả hoàn thành từng phần tác phẩm để đầu tư. Và cũng căn cứ vào chất lượng của tác phẩm để quyết định việc đặt hàng, đầu tư cho các dự án, tác phẩm tiếp theo.

Việc khai thác, hợp tác với các văn nghệ sĩ có uy tín-như một sự “bảo hành” trong giới nghề và công chúng-là giải pháp đầu tư có trọng điểm, trân trọng tài năng và xây dựng một tương lai khả quan cho sự ra đời các tác phẩm tốt.

Đa dạng hóa cách đầu tư thông qua việc thẩm định tác phẩm và “thẩm định tác giả” như trên sẽ góp phần tạo ra những giải pháp linh hoạt trong việc triển khai chính sách đầu tư, hỗ trợ sáng tác với mục tiêu cao nhất là có được tác phẩm tốt và đánh giá xứng đáng tâm huyết văn nghệ sĩ.

Ngoài ra, trong thực tế đời sống hôm nay, việc lan tỏa các tác phẩm văn học, nghệ thuật ra công chúng, cộng đồng là điều cần thiết. Do đó, bên cạnh việc đầu tư cho sáng tạo, cần chú trọng đầu tư cho việc công bố, quảng bá, phát hành tác phẩm. Đây là một tập hợp những công đoạn, thao tác mới mẻ, gắn với các phương pháp, thành tựu truyền thông hiện đại vốn không thuộc chuyên môn, không phải sở trường của nhiều văn nghệ sĩ, đặc biệt là lớp người trung, cao tuổi.

Hơn nữa các văn nghệ sĩ tài năng, nhiệt thành sáng tác thường tập trung cho sáng tạo, ít có điều kiện dành thời gian, công sức giới thiệu, quảng bá, truyền thông tác phẩm của mình. Đầu tư cho hoạt động này chính là con đường góp phần đưa tác phẩm, tên tuổi văn nghệ sĩ đến với khán, thính giả sâu rộng hơn, cũng như giúp công chúng, xã hội được thưởng thức văn học, nghệ thuật thường xuyên hơn.

Tâm tư, nguyện vọng của nhiều người làm văn học, nghệ thuật cho thấy họ rất mong muốn có sự nghiên cứu điều chỉnh, xây dựng các giải pháp, chính sách phù hợp hơn đặc thù của lĩnh vực này nhằm phát huy hiệu quả chủ trương, đường lối cũng như sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, tổ chức, hội nghề nghiệp với văn nghệ sĩ một cách chu đáo hơn, hợp lý, xứng đáng hơn.

Dù rằng sáng tạo là công việc mang tính cá nhân của mỗi nghệ sĩ, song họ cũng rất cần những điều kiện và một môi trường thuận lợi để hoạt động sáng tạo phát huy hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển văn học, nghệ thuật của nước nhà.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền đô thị.

 Mô hình chính quyền đô thị sau hơn 9 tháng thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh (bắt đầu từ ngày 1/7/2021 theo Nghị quyết số 131 ngày 16/11/2020 của Quốc hội), đã đem lại hiệu quả, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bộ máy chính quyền đô thị, tạo ra nhiều động lực và cơ hội phát triển mới cho thành phố.

Một trong những nội dung trọng tâm của chính quyền đô thị thành phố Hồ Chí Minh là không tổ chức Hội đồng nhân dân tại 16 quận và 249 phường. Các Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận, phường đổi tên thành Văn phòng Ủy ban nhân dân.

Sau khi sắp xếp, thành phố đã giảm được 64 biên chế cấp quận và 249 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp phường. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đã ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện; Giám đốc các sở, ngành thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố.

Thành phố Hồ Chí Minh cũng không ngừng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác điều hành quản lý, xây dựng chính quyền số. Bước đầu, bộ máy của mô hình chính quyền đô thị đã nhanh chóng đi vào hoạt động và vận hành hiệu quả, bảo đảm giải quyết liên tục các hồ sơ, thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp...

Tuy nhiên, thành phố Hồ Chí Minh cũng thừa nhận, triển khai mô hình chính quyền đô thị còn chậm, chưa tác động nhiều đến đời sống, kinh tế-xã hội của thành phố. Khi tổ chức, thành phố đã gặp khó khăn lớn về số lượng biên chế cán bộ, công chức phường. Theo quy định thì tổng số cán bộ, công chức mỗi phường tối đa không quá 23 người đối với đơn vị hành chính loại 1; trên thực tế chỉ bố trí được bình quân 21 người mỗi phường vì đã giảm hai cán bộ do không còn chức danh Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân chuyên trách cho nên khó đáp ứng được nhu cầu của công việc và công tác quản lý nhà nước hiện nay.

Tại thành phố Thủ Đức, theo quy định, chỉ có tối đa ba cấp phó tại các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp cho nên khó đáp ứng nhu cầu về nhân sự, nhu cầu giải quyết công việc của địa phương khi Thủ Đức hiện hữu được sáp nhập từ ba quận lớn của thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, số lượng công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập phải giảm lớn cho nên các cơ quan, đơn vị gặp khó khăn trong công tác sắp xếp công chức, viên chức dôi dư.

Để giải quyết những khó khăn nêu trên, thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị Trung ương cho phép bố trí số lượng cán bộ, công chức phù hợp; cho phép thành phố căn cứ vào đặc điểm tình hình, yêu cầu của thực tiễn và ngân sách thành phố để quyết định thêm số lượng, chức danh và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Trong việc phân cấp, ủy quyền, cho phép thành phố mở rộng phạm vi ủy quyền đối với các lĩnh vực then chốt như quản lý đầu tư công; quản lý đất đai, quản lý đô thị, quản lý ngân sách; công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất...

Theo các chuyên gia, nhà quản lý, dù thực hiện mô hình nào thì cơ quan hành chính quận, phường phải mạnh, là nơi lo cho dân, kể cả giải quyết việc làm và an toàn cho người dân; là một bộ máy hướng về người dân, nhanh chóng hơn, kịp thời hơn, thuận lợi hơn. Khi không còn Hội đồng nhân dân cấp quận, phường, mặt nào đó sẽ tăng cường vai trò của Hội đồng nhân dân thành phố, cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cũng như phát huy vai trò giám sát của người dân... Nhưng nếu chỉ thực hiện hình thức, qua loa thì mô hình này sẽ khó phát huy được hiệu quả. 

Ngoài ra, khi triển khai mô hình chính quyền đô thị, lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh phải thật quyết tâm, cán bộ phải làm thực chất. Với người dân, điều quan trọng, là việc triển khai thực hiện mô hình ấy có hiệu quả hay không, có giúp mọi nguời dân thuận lợi hơn trong công việc hay không, tin vào cán bộ, tin vào chính quyền hay không.

Để làm được điều này, thành phố phải thật sự quyết tâm, năng động sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mỗi cán bộ trong bộ máy công quyền phải là những công chức chuyên nghiệp, tinh thông nghiệp vụ, mẫn cán và thân thiện. Họ không chỉ giỏi các kỹ năng quản trị mà còn là người bạn của dân. Mô hình mới phải hơn mô hình cũ, đây là đòi hỏi tất yếu. Nhân dân sẽ sẵn lòng ủng hộ các chính sách, chủ trương, hy sinh lợi ích cá nhân vì tập thể, vì thành phố khi mô hình mới hoạt động thật sự hiệu quả, hợp lòng dân...


Công tác bảo vệ chính trị nội bộ hướng đến xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

 Sau hơn 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành vượt bậc về nhiều mặt, đóng góp quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Quán triệt và thực hiện các quy định, hướng dẫn của Trung ương, nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới đã được nâng lên. Công tác rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ cấp chiến lược được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chặt chẽ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa XII đánh giá: “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên… Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có tư duy đổi mới, có khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.

Tuy vậy, công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ một số hạn chế, thực sự chưa theo kịp với tình hình, chưa kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng Đảng; còn lúng túng, chủ quan trong nắm bắt tình hình, nhất là việc xem xét, giải quyết vấn đề chính trị hiện nay. Vẫn xảy ra tình trạng sai phạm của cán bộ, đảng viên, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước bị xử lý, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, các cấp có thẩm quyền đã thi hành kỷ luật hơn 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 1 Ủy viên Bộ Chính trị và 4 Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, 14 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 1 nguyên Phó Thủ tướng, 5 bộ trưởng và nguyên bộ trưởng, 2 bí thư tỉnh ủy, 5 nguyên bí thư tỉnh ủy và 17 tướng lĩnh; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự(*) do có hành vi  tham nhũng, cố ý làm trái… ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng.

Để tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa XII về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, các cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục, rèn luyện phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25-10-2018 của BCH Trung ương quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp. Bám sát 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, 2 trọng tâm, 5 đột phá theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa XII, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ. Thực hiện nghiêm cơ chế đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ; cơ chế bồi dưỡng, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số gắn với việc chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền. Kiên quyết không để lọt người kém năng lực, phẩm chất vào bộ máy hệ thống chính trị, nhưng đồng thời không bỏ sót người có đức, có tài để tham gia, bố trí vào cấp ủy và các chức vụ tương xứng.

Hai là, tăng cường chỉ đạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tập trung chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp bảo đảm các tiêu chuẩn theo Quy định của Bộ Chính trị (Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Quy định số 214-QĐ/TW ngày 2-1-2020 về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ  thuộc diện BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý), có khả năng chống lại sự tác động, chống phá của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội: lập trường tư tưởng và bản lĩnh chính trị vững vàng, quan điểm tư duy độc lập, có khả năng lập luận, phản biện, phản bác lại những quan điểm sai trái, xuyên tạc, khả năng tập hợp, huy động lực lượng để đấu tranh trực diện với các thế lực thù địch, khả năng xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhằm vô hiệu hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”…

Ba là, chuẩn bị kỹ lưỡng, thận trọng nhân sự đại hội. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 35-CT/TW và Hướng dẫn số 26-HD/BTCTW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Tiếp tục nghiên cứu, tham mưu xây dựng phương án công tác nhân sự cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, BCH Trung ương Đảng khóa XIII; rà soát, thẩm tra, thẩm định kỹ về tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, năng lực, uy tín cán bộ theo quy định và tiêu chuẩn chính trị theo Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”, Hướng dẫn số 19-HD/BTCTW ngày 12-9-2019 của Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn thực hiện một số Điều trong Quy định số 126-QĐ/TW. Những trường hợp có vấn đề về chính trị nội bộ phải được xác minh, kết luận và xử lý kịp thời. Bảo đảm chặt chẽ, khách quan và có quan điểm lịch sử cụ thể.

Bốn là, chuyển mạnh trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ sang nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay phù hợp với tình hình thực tiễn và đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị,  lý tưởng, đạo đức cách mạng trong sáng, có khát vọng cháy bỏng đưa đất nước phát triển; có tư duy, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt xu hướng của thời đại; có tri thức lý luận, kinh nghiệm, năng lực, am hiểu sâu rộng, được tôi luyện trong thực tiễn và có thành tựu trong công tác, vận dụng sáng tạo và xử lý tốt các nhiệm vụ chính trị của Đảng và đất nước; có tố chất “thủ lĩnh”, khả năng “truyền lửa”, truyền cảm hứng, lôi cuốn, tập hợp lực lượng, biết cách dùng người, có uy tín, được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng.

Năm là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, quy định của Trung ương về công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác tổ chức xây dựng Đảng. Phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội về xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả, từng bước làm cho “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” suy thoái ngày càng giảm bằng những giải pháp mạnh mẽ, kịp thời, phù hợp.

Sáu là, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về bảo vệ chính trị nội bộ. Xây dựng hành lang pháp lý, chế tài thực hiện các quy định, quy chế về kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật nhà nước, trao đổi, cung cấp thông tin, quan hệ, tiếp xúc với người nước ngoài… Chú trọng tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Kịp thời khen thưởng, biểu dương những tấm gương tiêu biểu, nhắc nhở những người thực hiện chưa tốt và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.

Các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trước yêu cầu nhiệm vụ mới.

 Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018, Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, Ban Tổ chức Trung ương xác định nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng là công việc gốc của Đảng, một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên.

Những kết quả khả quan

Đào tạo cao cấp lý luận chính trị, bồi dưỡng trong nước được thực hiện theo đúng chương trình, kế hoạch. Năm 2019, kế hoạch đào tạo cao cấp lý luận chính trị được phân bổ chỉ tiêu cho 3 cơ sở đào tạo là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an. Cả 3 cơ sở đều thực hiện đạt trên 90% kế hoạch. Để thực hiện bồi dưỡng theo các đề án của Bộ Chính trị phê duyệt, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức 4 lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho 181 cán bộ quy hoạch cấp chiến lược, khóa XIII. Thời gian học tập trung 2,5 tháng với 46 chuyên đề. Lớp thứ nhất và lớp thứ hai đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng. Lớp thứ ba và lớp thứ tư sẽ hoàn thành vào cuối tháng 2-2020.

Chương trình bồi dưỡng chức danh được cập nhật, bổ sung, bảo đảm tính khoa học, thực tiễn và hiện đại. Đội ngũ giảng viên, báo cáo viên đa dạng, phong phú, bao gồm những giảng viên về lý luận của Học viện, các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các đồng chí chuyên gia giàu kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn.

Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối tượng 1, theo kế hoạch, đã tổ chức 5 khóa cho 276 đồng chí. Các địa phương, đơn vị cử đi học đúng đối tượng theo Hướng dẫn của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài đã huy động được các nguồn lực, hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế, phù hợp với chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chúng ta đã tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng với các nước Nhật Bản, Trung Quốc (bao gồm cả việc hợp tác riêng với Đài Loan), Xin-ga-po. Các đoàn đi đều an toàn, theo chương trình, kế hoạch, phù hợp với nội dung, chuyên đề nghiên cứu, học tập, mang lại hiệu quả thiết thực.

Thực hiện các chương trình bồi dưỡng theo Đề án 165, đã tổ chức bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài cho khoảng 1.300 cán bộ. Các đoàn đều đánh giá nội dung tốt, phong phú, phù hợp với đối tượng. Đã cử 115 cán bộ đi bồi dưỡng trung hạn ở nước ngoài. Hiện nay, số cán bộ cấp vụ, cấp sở và quy hoạch cấp vụ, cấp sở nhiều người có khả năng sử dụng tiếng Anh tốt, số lượng đăng ký các chương trình bồi dưỡng trung hạn tăng. Đã hoàn thành việc bồi dưỡng tiếng Anh trong nước cho 156 cán bộ. Việc cử cán bộ tiếp tục đi bồi dưỡng tiếng Anh ở nước ngoài đang triển khai đúng kế hoạch. Đối với các lớp bồi dưỡng nâng cao tiếng Trung Quốc, Lào và Căm-pu-chia được thực hiện tốt theo yêu cầu. Thực hiện dự án hợp tác với Nhật Bản, từ năm 2018 đến 2022, hằng năm Chính phủ Nhật Bản tặng 60 học bổng đào tạo thạc sĩ và 5 học bổng đào tạo tiến sĩ cho Việt Nam.

Nhìn chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng luôn được quan tâm trên các mặt. Công tác chiêu sinh, tổ chức lớp học được thực hiện nền nếp, chặt chẽ. Đối tượng đi học đúng tiêu chuẩn, điều kiện, quy định hiện hành. Các đơn vị có sự phối hợp nhịp nhàng, trao đổi thường xuyên, góp phần quan trọng để thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra. Nội dung nghiên cứu bám sát nhu cầu đào tạo cán bộ, chú trọng các lĩnh vực, các vấn đề mà Việt Nam đang quan tâm, cần học hỏi kinh nghiệm của các nước bạn. Công tác tổ chức đoàn chủ động, bảo đảm an toàn, hiệu quả.

Những nhiệm vụ sắp tới

Năm 2020 là năm có ý nghĩa rất quan trọng với nhiều ngày lễ lớn của đất nước: kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 75 năm thành lập nước, 45 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước... Đó cũng là năm toàn Đảng tập trung tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Để tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng, nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chúng ta phải hoàn thành 6 nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là, tiếp tục triển khai Đề án trình Bộ Chính trị: “Xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống chính trị”. Thống nhất quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả trong và ngoài nước.

Hai là, phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh triển khai Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở trong nước năm 2020. Kiểm tra việc thực hiện của các bộ, ngành, địa phương về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo kế hoạch được phê duyệt. Thẩm định danh sách học viên các lớp đào tạo cao cấp lý luận chính trị do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức (gồm cả các học viện khu vực). Tổng kết 3 năm thí điểm giao quyền đào tạo và xác nhận cao cấp lý luận chính trị cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để báo cáo Ban Bí thư.

Ba là, phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức 2-3 lớp bồi dưỡng bí thư, phó bí thư cấp ủy cấp huyện và tương đương. Tổ chức 2 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tổ chức xây dựng Đảng.

Bốn là, phối hợp với Học viện Quốc phòng tổ chức 2 lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối tượng 1.

Năm là, tiếp tục thực hiện kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thực hiện Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cao cấp dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 2017-2019 của Chính phủ Xin-ga-po. Phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Ủy ban Công tác Đài Loan) thực hiện Thỏa thuận Hợp tác đào tạo cán bộ với Đài Loan giai đoạn 2019-2020. Tiếp tục thực hiện dự án hợp tác với Nhật Bản đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, bồi dưỡng trung hạn, ngắn hạn. Triển khai dự án đào tạo 120 cán bộ lãnh đạo các thành phố, thị xã trong cả nước.

Sáu là, đào tạo, bồi dưỡng theo Đề án 165, tập trung bồi dưỡng cho lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả các chương trình đào tạo, bồi dưỡng. Quản lý chặt chẽ các đoàn phân cấp. Nâng cao chất lượng các đoàn trung hạn. Mở rộng bồi dưỡng tiếng Anh cho cán bộ về đối tượng, về chương trình, thời gian.


KẾ LY GIÁN – CHIÊU TRÒ ĐỐN MẠT CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI

 Nhằm hạ bệ tượng đài, đặc biệt là những tượng đài vĩ đại – anh hùng dân tộc, đám lật sử có chiêu thức rất khốn nạn như thế này: đó là đem so sánh tượng đài đó với một tượng đài khác lừng lẫy không kém, và nói rằng hai người xung đột lý niệm với nhau. Chúng nói rằng chiến công của người này thực sự là của người kia, khuyết điểm của người kia là lỗi người này tác động. Hội fan cuồng của 2 bên sẽ bắt đầu nảy sinh hoài nghi, và nhằm để thần tượng của mình hoàn hảo vô khuyết sẽ quay sang công kích vĩ nhân khác. 

Chiêu bài này vô cùng thâm độc, mang tính then chốt trong chiến lược xét lại lịch sử, việc vờ ca ngợi người này để bôi nhọ người kia một cách tinh vi ấy đã dắt mũi và định hướng được rất nhiều người.

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, chúng đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết. 

Nói thêm một chút về sự ra đời của “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi lãnh tụ Stalin mất, vào tháng 9 năm 1953, Nikita Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Mà Khrushchyov là một con người hẹp hòi, nhất là lạicó tư thù với Stalin khi một mực nhận định Stalin đã không dung thứ cho con trai của mình là Leonid.  Khrushchyov. Thế là sau khi nắm quyền, tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông ta đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Và thế là Khrushchyov đã đề ra cái gọi là kế hoạch Phi Stalin hoá, cũng như chủ nghĩa xét lại.  

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, đám chủ nghĩa xét lại được sự cổ vũ của Khrushchyov đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết. 

(Dù ít hay nhiều, đám người theo chủ nghĩa xét lại đã phần nào hạ bệ được Stalin, cũng phải nói thêm rằng chính chính Khrushchyov đã chủ trương chung sống hòa bình với Chủ nghĩa Tư bản, đưa nhiều thanh niên Liên Xô sang Hoa Kỳ du học và trực tiếp đề bạt, từng bước xé nát những thành tựu xã hội dưới thời Stalin. Tuy tháng 10/1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ, nhưng 10 năm cầm quyền Khrushchyov cũng đã thành công gieo những mầm mống bât ổn “Tự do dân chủ” vào Nhà nước Xô Viết) 

Sau khi chủ nghĩa xét lại cũng như tư tưởng của Khrushchyov được phổ cập, tại Việt Nam, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Hoa Kỳ), họ không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Đám người này ảo vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ lo sợ Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô, khi đó Khrushchyov đang cầm quyền. 

Ở chiều ngược lại, có nhiều người chống đối kịch liệt chủ nghĩa xét lại và theo quan điểm cứng rắn, tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm "chủ hòa" rằng: "Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc". Trong hồi ký "Tử tù tự xử lí" của Trần Thư, ông mô tả không khí lúc bấy giờ là "tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc. 

Nhưng, cũng chính vì điều này khiến cho mối quan hệ của Việt Nam và Liên Xô dưới thời Khrushchyov xảy ra mâu thuẫn. Xung khắc giữa Hà Nội và Moskva đưa đến Liên Xô làm áp lực, đe dọa cắt viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và thực sự viện trợ đã từng bước bị cắt giảm. 

Phải lưu ý rằng, độc lập dân tộc của người Việt Nam phải do chính người Việt Nam giành lấy, vận mệnh dân tộc phải do chính người Việt quyết định, không thể ảo vọng tin vào lòng tốt của các nước đế quốc.  

Và thực tế là đám đế quốc xưa nay luôn tráo trở và lật lọng, tình hình tại Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1960 trở đi đã khiến Hiệp định Genève coi như không thể thi hành được nữa. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963 đã chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng cách mạng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, bất kể có bị Liên Xô cắt viện trợ.

Thật may, năm 1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ. Quan hệ Việt-Xô lập tức được cải thiện ngay sau khi Brezhnev lên thay thế Khrushchyov năm 1964. Liên Xô sau đó lại viện trợ cho Việt Nam cực kỳ dồi dào trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước. 

Kế ly gián, gây chia rẽ dân tộc đó cũng được đám lật sử trong Vietnam War sử dụng nhuần nhuyễn. Nhằm hạ bệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng bắt đầu phao tin đồn rằng có một sự thù địch và kèn cựa giữa Đại tướng và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn, một con người vĩ đại khác. Ngay như trong chiến thắng lịch sử mùa xuân 30/04/1975, chúng bắt đầu mang hết công lao cho Lê Duẩn và phủ nhận hoàn toàn những đóng góp to lớn của Võ Nguyên Giáp. Chúng cũng đã thành công tạo ra xung đột không cần thiết, mơ hồ tạo ra một suy nghĩ rằng có xung đột, kèn cựa và đấu đá lẫn nhau trong nội bộ lãnh đạo. 

Không, chỉ có sự đoàn kết và thống nhất lớn lao mà dân tộc Việt Nam chúng ta mới có thể chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngụy quyền VNCH. Võ Nguyên Giáp – biểu tượng của tinh thần Quân đội nhân dân Việt Nam, và Lê Duẩn – người đại diện cho ý chí của Đảng Cộng Sản sau khi Hồ Chủ Tịch mất là hai đồng chí, hai người bạn thân thiết.

Tướng Giáp cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả hai không hoàn hảo, ai cũng có những sai lầm, nhưng họ vĩ đại. Phụng sự một đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. 

Gần đến ngày kỷ niệm chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ, 07/05/1954, nhiều kẻ khốn nạn đang cố gắng nói rằng để có được chiến thắng đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng chiến thuật “nướng quân”, và bắt đầu vờ ca ngợi Lê Duẩn để nhiều bạn hâm mộ ông quay sang nghi kỵ Tướng Giáp.

Một lũ đê hèn và khốn kiếp!

Thực tế thì năm 1952, Tổng Bí thư Lê Duẩn có ra Bắc và lần đầu tiên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã sớm tiên đoán không thể có bầu cử thống nhất hai miền và đã soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam. 

Cũng thời điểm ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh giao phụ trách chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15, đáng chú ý là tư tưởng của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cách mạng miền Nam có nhiều điểm trùng hợp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết rằng: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc… Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.

Điều ấy có nghĩa là mặc dù có đôi khi khác biệt nhau về nhận định, song TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn hoà hợp, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần đồng chí cao cả. Trên các cương vị khác nhau họ đã đoàn kết cùng nhau dẫn dắt cả dân tộc đến bến bờ vinh quang, thống nhất nước nhà; hoàn thành thắng lợi di chúc thiêng liêng của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!
--------
PV-TG. St

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC TÍNH CHÍNH NGHĨA CHIẾN THẮNG 30/4/1975 -----------------------

 Chiến thắng 30/4/1975 là sự kiện trọng đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra thời kỳ độc lập, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Đồng thời có ý nghĩa thời đại sâu sắc, thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội. Đã được nhân loại tiến bộ thừa nhận, đánh giá cao.

Tuy nhiên, một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức ngụy biện để phủ nhận giá trị lịch sử mang tính thời đại to lớn của sự kiện 30/4/1975. Chúng cho rằng đó là ngày “quốc hận”, “tháng 4 đen” “do Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh gây ra” trong cuộc “nội chiến” “tương tàn” không đáng tự hào để “chiếm miền Nam”. Đồng thời đưa ra yêu cầu Việt Nam không được kỷ niệm ngày này thì mới thực hiện được “hòa hợp dân tộc”.... 

Rõ ràng, những luận điệu ngụy biện đó chỉ nhằm mục đích phủ nhận giá trị lịch sử to lớn của sự kiện 30/4/1975 với dân tộc và thế giới; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.... Tất cả âm mưu đó chính là phủ nhận tính chất chính nghĩa của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Trên thực tế, lịch sử và sự kiểm nghiệm lịch sử là thước đa chân lý chuẩn xác nhất, bác bỏ mọi sự xuyên tạc. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 thắng lợi bằng sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975 mang tính chất chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vì:

- Mỹ - ngụy đã chà đạp lên nguyện vọng hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam để thực hiện tham vọng của mình. Mỹ coi Việt Nam là địa bàn chiến lược để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Vì vậy Mỹ đã vi phạm trắng trợn Hiệp đinh Giơ ne vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương. Nuôi dưỡng chính quyền bù nhìn tay sai Việt Nam cộng hòa, từ chối hiệp thương, tổng tuyển cử trong cả nước của nhân dân Việt Nam nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đã từng trải qua sự thống trị của ngoại bang, nhân dân ta nhận thức sâu sắc giá trị của hòa bình, độc lập và thống nhất. Trước tình thế đó, buộc nhân dân Việt Nam không còn lựa chọn nào khác phải tiếp tục chiến đấu để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

- Bản chất phụ thuộc, bù nhìn, tay sai của Ngụy quyền Việt Nam cộng hòa bộc lộ, phơi bày. Ngô Đình Diệp từng nói:” Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”. Nguyễn Văn Thiệu khi đương nhiệm tuyên bố: “Mỹ còn viện trợ thì ta còn chống cộng” và “nếu Mỹ không viện trợ nữa thì không chỉ 1 ngày, 1 tháng, 1 năm mà chỉ sai 3 giờ chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập”... Với bản chất này, không thể nói cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “nội chiến”.

- Dã tâm của Mỹ còn được thể hiện ở chi tiêu ngân sách trong chiến tranh ở Việt Nam với con số 686 tỉ USD, chỉ sau chi tiêu cho Chiến tranh TG2. Lôi kéo quân đội trực tiếp của 5 nước đồng minh, 29 nước khác gián tiếp với khoảng 6 triệu lượt quân tham chiến.

- Mỹ - ngụy đã thực hiện hàng loạt chính sách tàn bạo, vô nhân tính với người dân Việt Nam. Tiến hành lê máy chém khắp miền Nam, lùng sục, bắt bớ, càn quét và thảm sát vô tội vạ người từng tham gia kháng chiến, đảng viên, người có tư tưởng kháng chiến. Tiến hành những chiến lược chiến tranh quy mô lớn: Chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh để đạt mục đích của mình. Mặt khác, tiến hành 2 cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc để “đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”. Mỹ đã ném xuống Việt Nam khoảng 7,85 triệu tấn bom (gấp 3 lần số bom sử dụng trong CTTG2). Áp dụng các biện pháp tàn bạo mà các cuộc chiến tranh thông thường không cho phép: Dải 75 triệu lít chất độc hóa học gây hậu quả nghiêm trọng với con người và môi trường sống; dùng B52 ném bom dải thảm khu vực đông dân cư... Tội ác của Mỹ là không thể chấp nhận được.

- Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta được nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ ủng hộ. Đồng thời lên án, phản đối cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra. Tại Mỹ có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ tiến hành.

Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 dành thắng lợi bằng sự kiện ngày 30/4/1975 mang tính chính nghĩa sâu sắc, phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của nhân dân Việt Nam, được nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới thừa nhận, ủng hộ. Mọi lời lẽ ngụy biện để xuyên tạc tính chất cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là có tội với lịch sử, với các thế hệ cha ông đã hy sinh cho sự bình yên, hạnh phúc của đất nước này./.
-------'x
PV-TG. St