Thứ Ba, 19 tháng 4, 2022

 NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI


Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.


Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!


Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá


Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…


Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.


Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.


Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…


Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…


Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.


Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.


Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.


Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!


Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.


Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.


Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam


Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.


Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.


Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...


Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).


Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.


Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.


Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.


Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.


Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.


Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…


Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.


 SỰ RA ĐỜI VÀ Ý NGHĨA NGÀY SÁCH VIỆT NAM 21/4

“Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”

Trong đời sống của mỗi chúng ta, sách là kho tàng tri thức, là sản phẩm văn hóa tinh thần đóng vai trò rất quan trọng. Có thể nói sách là người thầy dạy cho chúng ta cách sống, cách làm người, hướng tới những giá trị nhân văn cao cả; Sách là người bạn gần gũi chia sẻ niềm vui, nỗi buồn của mỗi chúng ta. Vì thế, từ lâu đọc sách đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của mỗi người. Dù ở thời đại nào, con người cũng lấy việc học là một trong những phương cách để hoàn thiện bản thân, để tiến bộ trong cuộc sống cá nhân và để đóng góp vào phát triển xã hội và đọc sách là một trong những cách học hiệu quả. Từ đọc sách, sưu tầm sách đến xây dựng tủ sách, xây dựng thư viện là các bước hình thành văn hóa đọc.


Nhận thức tầm quan trọng của văn hóa đọc, ngày 24/2/2014, Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số 284/QĐ-TTg lấy ngày 21/4 hàng năm là Ngày Sách Việt Nam nhằm khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc phát triển kiến thức, kỹ năng và phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người. Đây thật sự là niềm vui lớn cho những người yêu sách.


Ngày Sách Việt Nam là sự kiện văn hóa quan trọng đối với những người yêu sách và cả cộng đồng xã hội, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc, là dịp để tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội, là dịp tôn vinh người đọc và những người tham gia sáng tác, xuất bản, in, phát hành và sưu tầm, lưu giữ sách. Đồng thời, cũng là dịp đề cao trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam./.

LỪA ƯA NẶNG

Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an phối hợp với Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã tiến hành bắt khẩn cấp Đặng Như Quỳnh vì vi phạm quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân). Vậy Đặng Như Quỳnh là ai? Tại sao lại bị bắt?

LẠI TRÒ GẮP LỬA BỎ TAY NGƯỜI

Bao lâu nay, tổ chức khủng bố “Việt Tân” vẫn luôn nuôi dưỡng ảo vọng lật đổ chính quyền đất nước. Thủ đoạn, chiêu trò được tổ chức này sử dụng thường xuyên nhất đó là lợi dụng các sự kiện nóng diễn ra trong nước để đăng đàn xuyên tạc. Gần đây, “Việt Tân” so sánh châm biếm Thiếu tướng Tô Ân Xô như “chiến thần Lữ Bố” trong việc điều tra, bắt giữ một số ông bà chủ doanh nghiệp vi phạm pháp luật.

BẢN ÁN CHO NHỮNG KẺ GIẾT NGƯỜI

Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM đã hoàn tất kết luận điều tra (KLĐT), chuyển hồ sơ qua Viện KSND cùng cấp vụ bé gái 8 tuổi bị hành hạ đến tử vong tại Q.Bình Thạnh (TP.HCM).

TRUNG QUÂN - MỘT KẺ PHẢN ĐỘNG

Hiện nay, dư luận trong xã hội cũng như cộng đồng mạng vẫn còn đang vô cùng bức xúc, thậm chí nhiều người còn tỏ rõ thái độ phẫn nộ, bất bình, lên án mạnh mẽ về khâu kiểm duyệt xuất bản phẩm đã để lọt một cuốn sách có nội dung cực kỳ phản động, nhưng đã lưu hành trên thị trường và cả trong hệ thống thư viện. Đó là cuốn truyện ngắn về gia đình có tựa đề “Chiếc áo len mẹ đan”, do tác giả Trung Quân biên soạn.

TRÒ HỀ

Trò hề mà các diễn viên quá tuổi là 3 cụ Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Đình Cống và Mạc Văn Trang đã diễn có tên gọi “Lá thư ngỏ”. Mạo danh nghĩa phản đối chiến tranh, yêu chuộng hòa bình, 3 cụ đã chống gậy đến Đại sứ quán Ukraine trao thư ngỏ, bày tỏ sự động viên, sát cánh cùng Chính phủ và nhân dân Ukraine.

CÓ PHẢI NGAY THẲNG NHƯNG DẠI DỘT???

Việc bắt giữ bà Nguyễn Phương Hằng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam do hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” để bảo vệ sự nghiêm minh của luật pháp, giữ ổn định chính trị - xã hội là việc làm bình thường của bất cứ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào. Thế mà, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đã xuyên tạc bản chất vụ việc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

NHỮNG KẺ TRỞ CỜ

Cụm từ “trở cờ’ chỉ những người có lối sống ích kỷ vì lợi ích cá nhân, thiếu bản lĩnh, cơ hội chính trị, nhu nhược, không còn liêm sỉ, sẵn sàng bôi tro, trát trấu, thậm chí tự tát thẳng vào mặt mình nếu thấy có lợi ích trước mắt.

VÌ SAO CÁC NỀN GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN COI TRỌNG MÔN LỊCH SỬ!

         Việc dạy và học môn Lịch sử đã trải qua nhiều biến đổi thông qua các cuộc cải cách trong lịch sử giáo dục Mỹ và Canada. Thực tế cho thấy, không phải ngay từ đầu người ta có nhận thức thật sự đầy đủ và khách quan đối với vị trí của môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục nói chung. 

Ở Mỹ, sau cải cách giáo dục vào đầu thập niên 1960, các nhà giáo dục mới có cách nhìn mới toàn diện, đầy đủ hơn về bộ môn Lịch sử trong nhà trường. Sự thiếu hụt kiến thức lịch sử của học sinh, đặc biệt là kiến thức về lịch sử xã hội và lịch sử văn hóa đã khiến cho các nhà hoạch định chính sách phải xem xét lại công tác dạy và học lịch sử trong các trường phổ thông. 

Những bất ổn xã hội trong thập niên 1960, sự xung đột về các giá trị văn hóa, lịch sử trong xã hội Mỹ thời kỳ này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự thiếu hụt những hiểu biết về lịch sử xã hội và văn hóa dân tộc. 

Trong bối cảnh đó, hàng loạt dự án được thực hiện trong những năm 1960 - 1970 nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở các trường phổ thông. Việc giảng dạy môn lịch sử được tăng cường về nội dung, về số lượng giờ dạy và phương thức giảng dạy. 

Sau cải cách giáo dục vào cuối thập niên 1980, Trung tâm quốc gia về Lịch sử trong các trường phổ thông (National Center for History in the Schools – NCHS) được thành lập năm 1988 nhằm mục tiêu tăng cường năng lực giảng dạy và học tập môn lịch sử cho giáo viên và học sinh các trường phổ thông.
 
Đầu thế kỉ 21, những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới đã đặt ra những thách thức mới cho công tác dạy và học lịch sử ở các trường phổ thông ở Mỹ.

Sau sự kiện nước Mỹ bị tấn công ngày11/9/2001, dư luận cho rằng những hiểu biết của người dân Mỹ về lịch sử thế giới, đặc biệt là khu vực ngoài Bắc Mỹ và Châu Âu còn quá ít ỏi. 

Chuyên gia giáo dục kiêm phóng viên BBC News, Mike Baker cho rằng: “Sự kiện 11/9 bỗng chốc đã buộc chúng ta thấy được sự cần thiết phải tăng cường hiểu biết về lịch sử những khu vực khác nhau trên thế giới cũng như phải hiểu về lịch sử tôn giáo, lịch sử văn hóa và chính trị, những vấn đề mà trước đây chúng ta đã không chú ý đúng mức. 

Đây là lúc chúng ta nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của môn lịch sử trong nhà trường. Lịch sử là môn học cung cấp cho chúng ta kiến thức cơ sở để hiểu thế giới hôm nay”(1).

Cũng trong thời gian này, các kết quả thống kê của các cuộc điều tra xã hội học cũng cho thấy những thách thức đặt ra đối với công tác dạy và học lịch sử ở Mỹ. 

Theo kết quả điều tra của Trung tâm nghiên cứu và phân tích các vấn đề xã hội thuộc Đại học Connecticut, 65% học sinh ở các trường trung học ở Yale, Northwester, Smith, Bowdoin không đạt yêu cầu khi làm bài kiểm tra trắc nghiệm về lịch sử nước Mỹ, khoảng 70% học sinh được hỏi không biết về những cuộc chiến tranh mà nước Mỹ tham gia. 

Sự thiếu hụt kiến thức lịch sử của thế hệ trẻ được các nhà nghiên cứu Mỹ nhìn nhận như là “một hiểm họa dân tộc” (A Nation at Risk). 

Thượng nghị sĩ Joseph D. Conn cho rằng: “Kết quả điều tra cho thấy thế hệ trẻ ngày nay thiếu hụt những hiểu biết về lịch sử dân tộc, về các giá trị dân chủ. 

Chúng ta không đánh giá thấp các trường phổ thông trong công tác dạy và học lịch sử, nhưng chúng ta buộc phải yêu cầu các nhà giáo dục ở các cấp phổ thông phải tăng cường gấp đôi cố gắng của họ để thế hệ trẻ có được những kiến thức về lịch sử và văn hóa dân tộc” (2). 

Tình hình dạy và học môn lịch sử ở các trường phổ thông ở Canada cũng gặp phải những vấn đề tương tự. 

Báo cáo về Tình hình dạy học Lịch sử do Viện điều tra xã hội học Ipsos ở Toronto (Ipsos News Center- Canadian’s Views on History Education) cho biết, 76% số người được hỏi lo ngại về tình trạng thiếu hụt kiến thức lịch sử dân tộc của giới trẻ, 83% số người được hỏi yêu cầu tăng gấp đôi số giờ học lịch sử trong trường phổ thông, đặc biệt là lịch sử Canada, 81% số người được hỏi kêu gọi Chính phủ liên bang cần quan tâm hơn đến việc công tác giáo dục lịch sử trong nhà trường (3). 

Trước tình hình đó, Chính phủ Canada đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường kiến thức lịch sử cho học sinh trong nhà trường nói riêng và cho công dân Canada nói chung, trong đó có việc kiểm tra kiến thức lịch sử bắt buộc đối với những người nhập cư muốn trở thành công dân Canada. 

Theo Luật nhập cư của Canada, những người muốn có quốc tịch Canada phải trải qua bài thi viết và phần hỏi vấn đáp về lịch sử chính trị - xã hội và lịch sử văn hóa Canada từ 1867 đến nay (4). 

Ở Mỹ, Bộ Giáo dục đã hỗ trợ việc thực hiện các dự án nhằm tăng cường việc giảng dạy và giáo dục lịch sử cho học sinh phổ thông. Dự án “Ngày lịch sử dân tộc” (National History Day- NHD) do GS. Cathy Gorn, Đại học Maryland tiến hành là một trong số những dự án nêu trên. Khoảng 700.000 học sinh và 40.000 giáo viên trung học phổ thông đã tham gia dự án NHD. 

Với sự tài trợ của Chính phủ, hàng loạt các hội thảo, các chương trình đào tạo giáo viên được thực hiện, học sinh được khuyến khích lựa chọn và thực hiện các đề tài về lịch sử dân tộc; các trường phổ thông được tăng cường thiết bị dạy học, nguồn tài liệu dạy và học lịch sử, thiết kế các trang web về lịch sử ... 

Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục đã đưa ra các giải thưởng thường niên cho giáo viên môn lịch sử nhằm khuyến khích phát triển năng lực của giáo viên. Năm học 2007- 2008, Chương trình giải thưởng dành cho giáo viên dạy giỏi lịch sử Mỹ được công bố với tổng giá trị lên đến 1 triệu USD (5). 

Thực tế cho thấy, các nhà hoạch định chính sách ở Mỹ và Canada đã có nhiều nỗ lực trong việc nhìn nhận đúng vị trí, vai trò của môn lịch sử cũng như tầm quan trọng của công tác giáo dục lịch sử trong nhà trường nói riêng và trong xã hội nói chung.

Những phân tích nêu trên cho thấy lý do vì sao môn Lịch sử được coi trọng, được nhìn nhận đúng với vị trí của nó trong các nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới. 

Tích hợp Lịch sử là thiếu thực tế, không khả thi

Trong khi đó, ở Việt Nam, cách tích hợp và phân loại trong dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biến Lịch sử thành môn tự chọn (mà chắc chắn sẽ có rất ít học sinh lựa chọn), khiến môn học cơ bản này có khả năng bị “khai tử” trong chương trình trung học phổ thông mới. 

Việc tích hợp môn Lịch sử như một phân môn trong môn học mới Công dân với Tổ quốc (bao gồm ba phân môn Đạo đức- công dân, Lịch sử và Quốc phòng-an ninh), trên thực tế là sự lắp ghép thiếu cơ sở khoa học, không khả thi và chưa từng có tiền lệ. 

Đây không phải là môn học tích hợp mà là sự lắp ghép những kiến thức lịch sử rời rạc, những “mảnh vỡ của lịch sử” vào một môn học “tổng hợp” chưa từng có tiền lệ. 

Sự lắp ghép này chắc chắn sẽ khiến cho hiểu biết của học sinh về Lịch sử thiếu tính hệ thống, thiếu căn bản. Vấn đề đặt ra tiếp theo là: ai sẽ là người dạy môn học Công dân với Tổ quốc, trong khi các trường đại học sư phạm hiện nay ở nước ta không đào tạo giáo viên dạy những môn học lắp ghép “tổng hợp”như thế. 

Cách lắp ghép ba phân môn Đạo đức- công dân, Lịch sử và Quốc phòng-an ninh thành một môn học, có lẽ, chỉ đạt được mục tiêu giảm bớt số lượng môn học mà học sinh phải học để thi, nhưng sẽ không thể đáp ứng mục tiêu giáo dục phổ thông về phát triển toàn diện nhân cách con người.

Giáo dục Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế chung của thế giới. Việc tiếp thu kinh nghiệm thế giới về phát triển chương trình giáo dục phổ thông là hết sức cần thiết, đặc biệt là việc học tập kinh nghiệm của những nước có hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ và Canada. 
Theo đó, Lịch sử cần phải được đặt đúng vị trí của nó là môn học cơ bản, bắt buộc trong hệ thống giáo dục phổ thông./.

Môi Trường ST.

KẾ LY GIÁN - CHIÊU TRÒ ĐỐN MẠT CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI!

     Nhằm hạ bệ tượng đài, đặc biệt là những tượng đài vĩ đại - anh hùng dân tộc, đám lật sử có chiêu thức rất khốn nạn như thế này: Chúng đem so sánh tượng đài đó với một tượng đài khác lừng lẫy không kém, và nói rằng hai người xung đột ý niệm với nhau. Chúng nói rằng chiến công của người này thực sự là của người kia, khuyết điểm của người kia là lỗi người này tác động. Hội fan cuồng của 2 bên sẽ bắt đầu nảy sinh hoài nghi, và nhằm để thần tượng của mình hoàn hảo vô khuyết sẽ quay sang công kích vĩ nhân khác.

Chiêu bài này vô cùng thâm độc, mang tính then chốt trong chiến lược xét lại lịch sử, việc vờ ca ngợi người này để bôi nhọ người kia một cách tinh vi ấy đã dắt mũi và định hướng được rất nhiều người.

Như các bạn biết đấy, nhằm hạ bệ Stalin, chúng đã phao ra âm mưu rằng Stalin là người phá bỏ những thành tựu và ý chí của Lenin, dùng lời kể của nạn nhân và kẻ thù của Stalin để vu cho ông độc tài và khát máu. Và rốt cục, chúng đã thành công tạo ra một mối xung đột, gây chia rẽ giữa Stalin – biểu tượng của kỷ luật sắt đá của Hồng Quân với Lenin – ngọn đuốc sáng soi lối con đường chính trị của Xô Viết.

Nói thêm một chút về sự ra đời của “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi lãnh tụ Stalin mất, vào tháng 9 năm 1953, Nikita Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Mà Khrushchyov là một con người hẹp hòi, nhất là lạicó tư thù với Stalin khi một mực nhận định Stalin đã không dung thứ cho con trai của mình là Leonid. Khrushchyov. Thế là sau khi nắm quyền, tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông ta đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Và thế là Khrushchyov đã đề ra cái gọi là kế hoạch Phi Stalin hoá, cũng như chủ nghĩa xét lại.

Dù ít hay nhiều, đám người theo chủ nghĩa xét lại đã phần nào hạ bệ được Stalin, cũng phải nói thêm rằng chính chính Khrushchyov đã chủ trương chung sống hòa bình với Chủ nghĩa Tư bản, đưa nhiều thanh niên Liên Xô sang Hoa Kỳ du học và trực tiếp đề bạt, từng bước xé nát những thành tựu xã hội dưới thời Stalin. Tuy tháng 10/1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ, nhưng 10 năm cầm quyền Khrushchyov cũng đã thành công gieo những mầm mống bất ổn “Tự do dân chủ” vào Nhà nước Xô Viết.

Sau khi chủ nghĩa xét lại cũng như tư tưởng của Khrushchyov được phổ cập, tại Việt Nam, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Hoa Kỳ), họ không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Đám người này ảo vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ lo sợ Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô, khi đó Khrushchyov đang cầm quyền.

Ở chiều ngược lại, có nhiều người chống đối kịch liệt chủ nghĩa xét lại và theo quan điểm cứng rắn, tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm "chủ hòa" rằng: "Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc". Trong hồi ký "Tử tù tự xử lí" của Trần Thư, ông mô tả không khí lúc bấy giờ là "tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc.

Nhưng, cũng chính vì điều này khiến cho mối quan hệ của Việt Nam và Liên Xô dưới thời Khrushchyov xảy ra mâu thuẫn. Xung khắc giữa Hà Nội và Moskva đưa đến Liên Xô làm áp lực, đe dọa cắt viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và thực sự viện trợ đã từng bước bị cắt giảm.

Phải lưu ý rằng, độc lập dân tộc của người Việt Nam phải do chính người Việt Nam giành lấy, vận mệnh dân tộc phải do chính người Việt quyết định, không thể ảo vọng tin vào lòng tốt của các nước đế quốc.

Và thực tế là đám đế quốc xưa nay luôn tráo trở và lật lọng, tình hình tại Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1960 trở đi đã khiến Hiệp định Genève coi như không thể thi hành được nữa. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963 đã chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng cách mạng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, bất kể có bị Liên Xô cắt viện trợ.

Thật may, năm 1964 Khrushchyov đã bị hạ bệ. Quan hệ Việt-Xô lập tức được cải thiện ngay sau khi Brezhnev lên thay thế Khrushchyov năm 1964. Liên Xô sau đó lại viện trợ cho Việt Nam cực kỳ dồi dào trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.

Kế ly gián, gây chia rẽ dân tộc đó cũng được đám lật sử trong Vietnam War sử dụng nhuần nhuyễn. Nhằm hạ bệ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng bắt đầu phao tin đồn rằng có một sự thù địch và kèn cựa giữa Đại tướng và Cố Tổng bí thư Lê Duẩn, một con người vĩ đại khác. Ngay như trong chiến thắng lịch sử mùa xuân 30/04/1975, chúng bắt đầu mang hết công lao cho TBT Lê Duẩn và phủ nhận hoàn toàn những đóng góp to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chúng cũng đã thành công tạo ra xung đột không cần thiết, mơ hồ tạo ra một suy nghĩ rằng có xung đột, kèn cựa và đấu đá lẫn nhau trong nội bộ lãnh đạo.

Không, chỉ có sự đoàn kết và thống nhất lớn lao mà dân tộc Việt Nam chúng ta mới có thể chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngụy quyền VNCH. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – biểu tượng của tinh thần Quân đội nhân dân Việt Nam, và TBT Lê Duẩn – người đại diện cho ý chí của Đảng Cộng sản sau khi Hồ Chủ tịch mất là hai đồng chí, hai người bạn thân thiết.

Tướng Giáp cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả hai không hoàn hảo, ai cũng có những sai lầm, nhưng họ vĩ đại. Phụng sự một đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Gần đến ngày kỷ niệm chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ, 07/05/1954, nhiều kẻ khốn nạn đang cố gắng nói rằng để có được chiến thắng đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng chiến thuật “nướng quân”, và bắt đầu vờ ca ngợi TBT Lê Duẩn để nhiều bạn hâm mộ ông quay sang nghi kỵ Tướng Giáp.

Một lũ đê hèn và khốn kiếp!

Thực tế thì năm 1952, Tổng Bí thư Lê Duẩn có ra Bắc và lần đầu tiên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã sớm tiên đoán không thể có bầu cử thống nhất hai miền và đã soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam.

Cũng thời điểm ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phụ trách chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15, đáng chú ý là tư tưởng của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cách mạng miền Nam có nhiều điểm trùng hợp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết rằng: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc… Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.

Điều ấy có nghĩa là mặc dù có đôi khi khác biệt nhau về nhận định, song TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn hoà hợp, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần đồng chí cao cả. Trên các cương vị khác nhau họ đã đoàn kết cùng nhau dẫn dắt cả dân tộc đến bến bờ vinh quang, thống nhất nước nhà; hoàn thành thắng lợi di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!
Yêu nước ST

Tẩy chay luận điệu của các “nhà” tự xưng

 

Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc hiện nay, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols” (Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa). Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống, nhận diện rõ bộ mặt, chiêu trò lố bịch của chúng để tẩy chay, loại bỏ.


 

TỔNG CHỦ BIÊN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NÊU LÝ DO MÔN LỊCH SỬ TỰ CHỌN TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

         LTS: Trong bài thơ "Lịch sử nước ta" Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
"Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Tuy nhiên, sau khi dư luận có nhiều ý kiến trái chiều về việc môn lịch sử không phải là môn học bắt buộc trong Nhà trường, Chủ biên chương trình giáo dục mới, Ông Nguyễn Minh Thuyết nêu lý do như sau:
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết chia sẻ lý do Lịch sử trở thành môn học tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng từ năm học tới ở bậc THPT.

Năm học 2022 - 2023, học sinh lớp 10 sẽ học theo chương trình giáo dục phổ thông mới, được tự chọn nhiều môn học thay vì tất cả đều là môn học bắt buộc như hiện nay. Trong đó Lịch sử là môn tự chọn khiến nhiều phụ huynh, giáo viên, chuyên gia lo lắng sẽ ảnh hưởng đến yêu cầu giáo dục lòng yêu nước, học sinh có thể quên đi giá trị truyền thống dân tộc. Họ còn cho rằng, nhiều học sinh sẽ không chọn Lịch sử.

Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, Tổng chủ biên chương trình giáo dục mới, việc thiết kế chương trình giáo dục phổ thông mới nói chung và chương trình học lớp 10 mới nói riêng được thực hiện công phu, nghiêm túc, dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, yêu cầu của thực tế và kinh nghiệm quốc tế.

Với yêu cầu giáo dục lòng yêu nước, chương trình mới xác định 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm. Phẩm chất lòng yêu nước được lồng ghép trong nhiều nội dung, nhiều môn học khác nhau, không cố định trong môn Lịch sử như trước đây.

Bên cạnh đó, lòng yêu nước cũng được bồi dưỡng ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác, như: Tiếng Việt, Ngữ văn, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật), Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, Nội dung giáo dục địa phương,...

Về chương trình nội dung lịch sử ở chương trình mới, GS Nguyễn Minh Thuyết cho biết, lịch sử là nội dung bắt buộc trong toàn bộ giai đoạn giáo dục cơ bản từ lớp 1 đến 9. Ở cấp tiểu học, nội dung lịch sử được thực hiện trong các môn học Tự nhiên và Xã hội, Lịch sử và Địa lý (từ lớp 1 đến lớp 5), giúp các em làm quen với một số nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam và thế giới.

Ở cấp THCS, nội dung lịch sử được thực hiện trong môn Lịch sử và Địa lý (từ lớp 6 đến lớp 9), giúp học sinh có nền tảng kiến thức thông sử của lịch sử Việt Nam, thế giới và khu vực Đông Nam Á, từ khởi nguyên cho tới ngày nay. Đồng thời, nội dung giáo dục lịch sử cũng được lồng ghép vào các môn học khác như: Đạo đức, Giáo dục công dân, Tiếng Việt, Ngữ văn, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, Nội dung giáo dục của địa phương…

Sách Lịch sử lớp 10 mới, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống.

“Kết thúc chương trình THCS, học sinh được học toàn bộ nội dung giáo dục cơ bản, trong đó có lịch sử, đủ điều kiện để phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi”, Tổng chủ biên nói.

Ở cấp THPT, nội dung môn Lịch sử là chương trình chuyên sâu, giúp học sinh định hướng lên đại học, theo học các ngành Khoa học xã hội và Nhân văn tiếp cận nghề nghiệp tương lai. Các chủ đề chuyên sâu được dạy ở bậc THPT như: Lịch sử và Sử học; Cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam… 

“Như vậy, có thể khẳng định, chương trình giáo dục phổ thông mới vẫn dạy các nội dung giáo dục lịch sử, giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân đầy đủ, toàn diện theo đúng yêu cầu của Nghị quyết 29 và các văn bản quy phạm pháp luật mà Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ ban hành”, GS nhấn mạnh.

Ông cho biết thêm, giải pháp dạy học phân hóa các môn cũng đáp ứng yêu cầu giảm tải, giảm số môn học so với chương trình cũ (13 môn so với 17 môn). Tuy chương trình học THPT mới cao so với chương trình các nước trên thế giới (chương trình tú tài quốc tế IB: 6 môn; chương trình của Anh: 6 môn; chương trình của Trung Quốc: 12 môn,…) nhưng ông tin đa số học sinh và phụ huynh học sinh sẽ thấu hiểu, đồng tình với giải pháp phân hóa mềm và giảm tải của chương trình giáo dục mới.
Đó là lý do từ đây môn lịch sử không phải là môn học bắt buộc trong Nhà trường mà là một môn học "tự chọn"./.
Môi Trường ST.

Không thể phủ nhận sự thật và đảo ngược chân lý

 

Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 47 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc.  Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".

Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”. Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”. Đây là những bằng chứng hùng hồn, chúng minh cho sự chính nghĩa và ý nghĩa lịch sử của Đại thắng mùa xuân năm 1975.


 


ĐÒI TRẢ TỰ DO CHO CHÂU VĂN KHẢM VỀ VỚI TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN?

         Theo như thông tin được cộng đồng mạng chia sẽ những ngày gần đây, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Úc, bà Marise Payne đã kêu gọi Chính phủ Việt Nam trả tự do cho Châu Văn Khảm, là một Việt kiều úc, một kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam và đang phải chấp hành án phạt tù 12 năm tù giam về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” được quy định tại Điều 113, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc kêu gọi trả tự do cho Châu Văn Khảm của bà Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Úc là hành động tiếp nối sau khi thời gian qua một số nghị sĩ, chính giới Úc và một số nước phương Tây đã nhiều lần gặp gỡ, thậm chí đưa ra những đề nghị đối với chính quyền Việt Nam về việc kêu gọi trả tự do cho Châu Văn Khảm. 

Trước đó vào đầu tháng 2 vừa qua, trên trang mạng “Việt Tân”, là tổ chức mà Châu Văn Khảm đã tham gia trước khi bị bắt cũng đã chia sẻ hình ảnh về một số kẻ đội lốt dân chủ, những kẻ chống cộng cực đoan đã đưa những băng rôn, khẩu hiệu đòi chính quyền Việt Nam trả tự do cho Châu Văn Khảm trước cổng tòa Quốc Hội Canberra, Úc Châu. Và như lần đề cập ở bài viết trước trên Page Việt Nam Thời báo, việc kêu gọi trả tự do cho một kẻ vi phạm pháp luật, đặc biệt là về các tội xâm phạm an ninh quốc gia như khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân như Châu Văn Khảm là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Pháp luật Việt Nam sẽ trừng trị nghiêm minh với những kẻ coi thường, thách thức pháp luật, kể cả người đó có là Việt Kiều hay được sự hậu thuẫn của cá nhân, tổ chức nào từ bên ngoài như đối với Châu Văn Khảm. 

Bản án 12 năm tù giam (sẽ bị trục xuất sau khi chấp hành xong bản án) về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là cái kết hoàn toàn xứng đáng cho những kẻ chân rết của “Việt Tân” để âm mưu chống phá đất nước của Châu Văn Khảm. Châu Văn Khảm, SN 1949, là người tích cực tham gia hoạt động chống phá Việt Nam, là thành viên của tổ chức khủng bố “Việt tân” từ năm 2010 với bí danh là Hoàng Liêm và trở thành “đại diện cơ sở đảng bộ Sydney” và “Bí thư đảng bộ Úc châu” của tổ chức “Việt tân”. Đến tháng 01/2019, Châu Văn Khảm nhập cảnh Campuchia và sử dụng CMTND lấy tên Chung Chính Phi theo đường bộ từ Campuchia để xâm nhập trái phép vào Việt Nam. Sau đó, Châu Văn Khảm cùng với một số đối tượng như Nguyễn Văn Viễn (48 tuổi, quê Quảng Nam, ngụ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh) và Trần Văn Quyền (20 tuổi, quê Hà Tĩnh, ngụ tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) đã câu kết, móc nối, lôi kéo và cung cấp tiền bạc, đào tạo huấn luyện cách thức chống phá chính quyền cho số đối tượng chống đối ở trong nước. Ngày 12/01/2019 Châu Văn Khảm đã bi bắt. 

Việc các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam “khua chiêng gõ mõ” để đề nghị thả tự do cho Châu Văn Khảm cũng sẽ không làm thay đổi được bản án 12 năm tù giam mà Tòa đã tuyên phạt và y cũng đã chấp hàn bản án được hơn ¼ chặng đường và muốn có những công dân “ưu tú” như Châu Văn Khảm, các nhà ngoại giao Úc sẽ phải chờ đợi thêm 8 năm nữa sau khi Châu Văn Khảm thực hiện xong án phạt tù mà thôi./.
Yêu nước ST.

Tình hữu nghị thủy chung Việt Nam-Cuba: Dấu ấn qua từng trang sách

 

Tình hữu nghị thủy chung Việt Nam-Cuba: Dấu ấn qua từng trang sách

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Phạm Minh Tuấn cho rằng sự kiện trưng bày sách này sẽ góp phần thúc đẩy tình hữu nghị truyền thống đã được nhiều thế hệ hai bên trân trọng và dày công vun đắp trong nhiều năm.

Nhân kỷ niệm 61 năm Ngày chiến thắng Girón của Cuba (19/4/1961-19/4/2022), sáng 19/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Cuba phối hợp Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức sự kiện Trưng bày các tác phẩm sách với chủ đề: "Tình hữu nghị thủy chung Việt Nam-Cuba: Dấu ấn qua từng trang sách."

Tham dự sự kiện, về phía Việt Nam có: Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Vũ Hải Hà, Chủ tịch Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Cuba; Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Nguyễn Phương Nga; Giám đốc-Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật Phạm Minh Tuấn cùng các lãnh đạo và ủy viên Ban Chấp hành Hội Hữu nghị Việt Nam-Cuba; lãnh đạo và cán bộ Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; đại diện các Bộ, Ban, ngành trung ương, các đoàn thể, tổ chức chính trị-xã hội và đại diện sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội.

Về phía nước ngoài có: Đại sứ Cuba tại Việt Nam Orlando Hernández Guillén; Đại sứ Venezuela tại Việt Nam Tatiana Josefina Pugh Moreno và Đại sứ Mexico Alejandro Negrín; các cán bộ, chuyên gia và sinh viên Cuba đang học tập và công tác tại Việt Nam.

Phát biểu chào mừng tại sự kiện, Chủ tịch Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Cuba Vũ Hải Hà nhắc lại ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng Girón của nhân dân Cuba cách đây hơn sáu thập kỷ và nêu rõ: "61 năm đã trôi qua nhưng bản anh hùng ca của một Girón kiên cường, bất khuất vẫn còn vang vọng. Cuộc chiến đấu ngoan cường, quả cảm của lực lượng vũ trang cách mạng non trẻ dưới sự lãnh đạo tài tình của Tổng Tư lệnh Fidel Castro đã giành thắng lợi, là tiền đề cho học thuyết chiến tranh nhân dân của cách mạng Cuba những năm sau này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa."

Chủ tịch Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Cuba Vũ Hải Hà một lần nữa khẳng định tình đoàn kết trước sau như một của Đảng và nhân dân Việt Nam đối với sự nghiệp chính nghĩa của Đảng và nhân dân Cuba anh em; phản đối chính sách bao vây, cấm vận, thù địch chống Cuba. "Việt Nam đã, đang và luôn sẵn sàng đồng hành với Cuba trong tiến trình cập nhật hóa mô hình kinh tế-xã hội chủ nghĩa; luôn sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của quá trình đổi mới hơn 35 năm vừa qua với các đồng chí Cuba anh em," ông Vũ Hải Hà cho biết.

Ông Vũ Hải Hà cũng bày tỏ hy vọng thông qua sự kiện này, người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ sẽ có thêm nhiều hiểu biết về người anh em thân thiết ở bên kia bán cầu, từ đó góp phần vun đắp và phát triển hơn nữa mối quan hệ thủy chung giữa hai nước.

Về phía Cuba, Đại sứ Orlando Hernández Guillén bày tỏ vui mừng, đánh giá cao ý tưởng tổ chức sự kiện và cho biết Chiến thắng Girón là một sự kiện quan trọng trong lịch sử cách mạng Cuba. Đây là dấu mốc ý nghĩa trong việc củng cố cách mạng Cuba, thể hiện tính thống nhất, độc lập và chủ quyền dân tộc của nhân dân Cuba.

Đại sứ Orlando Hernández Guillén cũng nhấn mạnh mối quan hệ Việt Nam-Cuba là một tấm gương sáng cho cộng đồng quốc tế ngày nay về tình đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau trên con đường phát triển kinh tế-xã hội. Đại sứ Orlando Hernández Guillén mong muốn Việt Nam tiếp tục chia sẻ những kinh nghiệm thiết thực trong quá trình Đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước với Cuba.

Tại sự kiện, Giám đốc-Tổng Biên tập, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Minh Tuấn cho biết trong những năm qua, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã tổ chức xuất bản nhiều đầu sách về Chủ tịch Fidel Castro, về tình hữu nghị Việt Nam-Cuba, về xây dựng Đảng và phát triển kinh tế-xã hội tại Việt Nam-Cuba bằng tiếng Việt cùng nhiều đầu sách về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đất nước, con người Việt Nam bằng tiếng Anh, Tây Ban Nha hoặc song ngữ.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Minh Tuấn cho rằng sự kiện trưng bày "Tình hữu nghị thủy chung Việt Nam-Cuba: Dấu ấn qua từng trang sách" sẽ góp phần thúc đẩy tình hữu nghị truyền thống đã được nhiều thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân hai bên trân trọng và dày công vun đắp trong nhiều năm; đồng thời là dịp tuyên truyền, giáo dục và lan tỏa đến thế hệ trẻ Việt Nam ngọn lửa tình cảm nồng ấm giữa Việt Nam-Cuba, tạo cơ sở để mở rộng các quan hệ hợp tác mới và đạt hiệu quả cao với các đối tác, bạn bè tại Cuba nói riêng và tại các nước Mỹ Latinh nói chung trong hoạt động xuất bản, phát hành sách và các hoạt động giao lưu văn hóa trong thời gian tới.

Không gian trưng bày tại sảnh chính trụ sở Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật giới thiệu gần 50 xuất bản phẩm về Cuba, về những người anh hùng Cuba, tình hữu nghị Việt Nam-Cuba, tình hữu nghị giữa Việt Nam và các nước, giới thiệu đất nước, văn hóa, con người Việt Nam, về đường lối đối ngoại của Việt Nam bằng tiếng nước ngoài, trong đó đặc biệt là 2 tập sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công cuộc xây dựng đất nước của Việt Nam đã được xuất bản bằng tiếng Tây Ban Nha./.

 

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2022

Bình Dương tạo được sự khác biệt, là một trong những mô hình phát triển trong công cuộc đổi mới của đất nước.

 

Bình Dương tạo được sự khác biệt, là một trong những mô hình phát triển trong công cuộc đổi mới của đất nước.


Sáng 19-4 tại TP Mới Bình Dương, Hội đồng lý luận Trung ương và tỉnh Bình Dương ký kết Chương trình phối hợp thực hiện Đề án Tổng kết mô hình phát triển của tỉnh Bình Dương trong công cuộc đổi mới của đất nước và tầm nhìn định hướng đến năm 2050.

Tham dự có GS-TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương.

Sau 25 năm kể từ ngày được chia tách từ tỉnh Sông Bé, Bình Dương từ 1 tỉnh khó khăn đã bứt phá thành một trong những trung tâm công nghiệp - đô thị phát triển năng động, hội nhập quốc tế mạnh mẽ, gắn kết với các tỉnh, thành của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Hiện Bình Dương không ngừng đột phá hướng tới Thành phố Thông minh, điểm đến hấp dẫn cho mọi người, các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Sự thành công của Bình Dương đã được Hội đồng Lý luận Trung ương lựa chọn là một trong những mô hình phát triển trong công cuộc đổi mới của đất nước.

Phát biểu tại lễ ký kết, GS-TS Nguyễn Xuân Thắng cho rằng Bình Dương đang bước vào thời kì lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển. Vấn đề quan trọng nhất chính là công tác quy hoạch, kết nối hạ tầng, trong đó là chuyển đổi số. Do đó, tỉnh phải có những con người dám nghĩ dám làm để tạo được niềm tin và sự tham gia thực sự của doanh nghiệp, người dân.

Nhấn mạnh việc Bình Dương luôn tạo được sự khác biệt và sẽ là tỉnh có thu nhập cao, GS-TS Nguyễn Xuân Thắng cho rằng 10 năm tới, nếu tỉnh tiếp tục đạt được điều này thì mới là đích đến.

Theo GS-TS Nguyễn Xuân Thắng, việc ký kết hôm nay đặt ra cho cả Hội đồng lý luận Trung ương và tỉnh Bình Dương vừa là nhiệm vụ vừa là lợi ích hết sức to lớn. Tổng kết này là cơ sở thực tiễn rất quan trọng để cùng với việc tổng kết các mô hình khác, Hội đồng Lý luận Trung ương sớm hoàn thiện văn kiện đại hội nhiệm kỳ tới cũng như hoàn thiện cương lĩnh, đường lối phát triển mới.