Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

Lời Bác Hồ dạy

 


 “…Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp những ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần…”.

Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời ông Hoàng Phan Kính và ông Trần Lê Hữu ngày 2 tháng 4 năm 1949. Bản chất câu nói đó của Bác, chính là sự đổi mới. Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ đã lỗi thời, lạc hậu, bằng cách nghĩ, cách làm mới khoa học hơn, hiệu quả hơn, hợp với quy luật của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm, nghệ thuật trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha, ông; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, Bác đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, với bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, không phủ định sạch trơn… với mục tiêu: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã và đang đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng.

Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi, Đảng ta đã đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; đó là: Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cùng với đổi mới và phát triển, phải kiên quyết đấu tranh xoá bỏ những tàn dư của xã hội cũ, nhất là những tập tục, nếp nghĩa, cách làm đã lạc hậu; đổi mới, phát triển, đồng thời phải biết kế thừa những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp..

Thấm nhuần lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân đã luôn đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong lộ trình tiến lên hiện đại đã lựa chọn, ưu tiên, đầu tư cho một số quân, binh chủng, vừa bảo đảm việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, vừa không ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội. Trên mọi lĩnh vực công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, huấn luyện, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật hiện có và mới, hiện đại được biên chế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.st/3447

Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với kiểm tra, giám sát phòng, chống tham nhũng.

 

Nghiên cứu nhằm đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn là công việc cần thiết trong xây dựng Đảng. Trong bài, tác giả đã đề cập một số nội dung của Đề tài độc lập cấp quốc gia với chủ đề trên do TS. Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm Chủ nhiệm đề tài.

 1. Quan niệm về đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng

Nội dung lãnh đạo của Đảng rất rộng, bao quát tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội - văn hoá, đối nội, đối ngoại, an ninh - quốc phòng... Có thể khái quát các nội dung lãnh đạo của Đảng trên các mặt sau: một là, nội dung lãnh đạo về chính trị; hai là, nội dung lãnh đạo về tư tưởng; ba là, nội dung lãnh đạo về tổ chức và thực hiện. Nội dung lãnh đạo của Đảng thể hiện ở chiến lược, sách lược - Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị… do Đảng đề ra và lãnh đạo, tổ chức thực hiện trong từng giai đoạn cách mạng được cụ thể hoá trong các văn bản (nghị quyết, chỉ thị, kết luận...) của Đảng. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị có khác nhau phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của tổ chức đó.

Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) ngày 21-8-2006 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã thẳng thắn thừa nhận: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Nguyên nhân là do cơ chế, chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng, còn nhiều khuyết điểm, chất lượng và hiệu quả chưa cao. Chưa thực sự dựa vào dân và chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp, còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Cần phải đẩy mạnh toàn diện và kiên quyết cuộc đấu tranh này. Đồng thời, đề ra mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, trong đó có chủ trương, giải pháp về công tác kiểm tra, giám sát là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng, tăng cường giám sát của nhân dân và các cơ quan dân cử.

Sau 6 năm thực hiện Nghị quyết Trung 3, Hội nghị Trung ương 5 (khoá XI) ban hành Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-5-2012, trong đó đánh giá những nội dung đã làm được, những hạn chế, yếu kém, tiếp tục khẳng định những mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp cần phải tăng cường thực hiện.Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) và hơn 4 năm thực hiện Kết luận 21-KL/TW, Bộ Chính trị (khoá XII) ban hành Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26-12-2016 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X), trong đó nhấn mạnh phải kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ. Quy định rõ chế tài xử lý đối với người kê khai tài sản không trung thực. Xây dựng đề án tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực; thiết lập cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực thật sự có hiệu lực, hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng, lãng phí. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí nói chung, nhất là đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng nói riêng còn thể hiện rõ trong nhiều văn bản của Đảng đối với  công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng. Gần đây, Quy định số 01-QĐ/TW ngày 10-5-2018 của Bộ Chính trị (khoá XII) về trách nhiệm và thẩm quyền của uỷ ban kiểm tra trong công tác phòng, chống tham nhũng đã quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện và tương đương trở lên, trong đó quy định rõ nội dung về trách nhiệm, thẩm quyền của uỷ ban kiểm tra trong phòng ngừa và phát hiện tham nhũng; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo và xử lý hành vi tham nhũng.

Nội dung các văn bản trên đã thể hiện sự đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng.

2. Quan niệm về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng

Mỗi bước trưởng thành của Đảng, của hệ thống chính trị đòi hỏi phải có sự cải tiến, đổi mới phương thức lãnh đạo. Phương thức lãnh đạo của Đảng vừa tuỳ thuộc, vừa phản ánh sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lý luận và thực tiễn cho thấy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng được thể hiện qua 5 phương thức lãnh đạo của Đảng. Một là, Đảng lãnh đạo bằng các chủ trương, nghị quyết, quy định, quy chế, kết luận về công tác kiểm tra, giám sát nói chung, kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng nói riêng. Hai là, lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên thể hiện qua việc kiện toàn uỷ ban kiểm tra các cấp và củng cố, kiện toàn cơ quan uỷ ban kiểm tra (lãnh đạo bằng công tác tổ chức - những nhiệm kỳ vừa qua, uỷ ban kiểm tra các cấp được tăng cường, củng cố, quy định số lượng thành viên uỷ ban, quy chế làm việc của uỷ ban kiểm tra...). Ba là, lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát thể hiện ở công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng vừa qua, nhất là từ đầu Đại hội XII đến nay được đổi mới, tăng cường cả về nguyên tắc, nội dung, nhiệm vụ, quyền hạn và phương pháp, quy trình. Bốn là, lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động về công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng. Năm là, lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên trong công tác kiểm tra, giám sát việc phòng, chống tham nhũng...

3. Sự cần thiết phải đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát phòng, chống tham nhũng

Xuất phát từ lý luận

Để thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả mục tiêu, nội dung đã đề ra, Đại hội XII của Đảng đã yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Nâng cao hiệu quả thực hiện và tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hoá các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu lực và hiệu quả.

Tiếp tục cụ thể hoá phương thức lãnh đạo của Đảng được xác định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Đảng ta yêu cầu: “Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế khuyến khích và bảo vệ tổ chức, cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng, lãng phí.

Công tác kiểm tra, giám sát là bộ phận cấu thành quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng ta đã nhận thức rõ: Công tác kiểm tra, giám sát có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật là nhiệm vụ của toàn Đảng. Không kiểm tra, giám sát coi như không lãnh đạo. Ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã rất quan tâm, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát và việc giữ gìn kỷ luật đảng. Trong các văn kiện, Điều lệ Đảng, các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng… đều đề cập và nhấn mạnh đến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Đảng ta luôn yêu cầu, phải tăng cường công tác kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, đồng thời chỉ rõ: Hiệu lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện đòi hỏi phải hết sức coi trọng và tăng cường công tác giám sát và kiểm tra việc thực hiện. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, việc đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng là tất yếu và rất quan trọng.

Xuất phát từ thực tiễn

Đại hội X của Đảng chỉ rõ: Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng. Chậm nghiên cứu và ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, thực hiện nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi. Do đó, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết và quan trọng.

Trong hơn 30 năm đổi mới, công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đường lối, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng; thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; góp phần tăng cường, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất và nâng cao, hoàn thiện nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng… Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng. Nhiều khuyết điểm, sai lầm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện, kiểm tra, xử lý hoặc xử lý kéo dài, nên kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi chưa nghiêm; chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát. Chính vì vậy, nhiều vụ việc xảy ra mới đi kiểm tra, làm rõ sai phạm hoặc chủ yếu do nhân dân phát giác, tố cáo và công luận phản ánh dẫn đến một số tổ chức đảng và đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, chủ nghĩa cá nhân phát triển, thoái hoá về phẩm chất, đạo đức, lối sống.

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình hình trên là nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng chậm được đổi mới. Cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong phòng, chống tham nhũng còn bất cập; chưa có cơ chế hữu hiệu ngăn chặn sự tác động vào quá trình phát hiện, điều tra, xử lý tham nhũng. Thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng còn chưa nghiêm... Những người có chức vụ, quyền hạn có thể lợi dụng để tham nhũng hầu hết là đảng viên, chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng và giám sát của Nhân dân. Song, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng. Tham nhũng với biểu hiện ngày càng tinh vi. phức tạp, xảy ra trên diện rộng, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, đang là vấn đề thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Điều này chứng tỏ nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng còn bất cập, hạn chế, phải tiếp tục đổi mới. Cần nhận thức rõ đổi mới nội dung, phương thức kiểm tra, giám sát nói chung, trong công tác phòng, chống tham nhũng nói riêng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trong lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, các cấp uỷ cần quan tâm và coi trọng việc nghiên cứu lý luận và tổng kết phương thức lãnh đạo đối với công tác kiểm tra, giám sát nói chung, trong đổi mới công tác kiểm tra, giám sát phòng, chống tham nhũng nói riêng để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục tổ chức tốt việc quán triệt, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Đảng và trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và trong phòng, chống tham nhũng nói riêng.  Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng từ khâu xây dựng, ban hành đến việc lãnh đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng và thực hiện tốt dân chủ trong nội bộ Đảng. Đổi mới và hoàn thiện phong cách kiểm tra, giám sát, tập trung vào xây dựng phong cách người đứng đầu và phong cách kiểm tra, giám sát theo phong cách Hồ Chí Minh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, đặc biệt là giám sát của nhân dân đối với tổ chức đảng, đảng viên; kết hợp chặt chẽ giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân; coi trọng việc xây dựng hệ thống phản biện xã hội đối với hoạt động lãnh đạo và kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng. 

Một số giải pháp xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng.

 Những năm qua, công tác xây dựng, củng cố TCCSĐ được các tỉnh ủy, thành ủy quan tâm thường xuyên; chỉ đạo thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, củng cố TCCSĐ yếu kém và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Hoàn thiện mô hình TCCSĐ

Giải pháp củng cố TCCSĐ được các tỉnh, thành ủy thực hiện có hiệu quả là hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình TCCSĐ theo hướng gắn TCCSĐ với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội; chăm lo kết nạp đảng viên, nhất là ở những địa bàn, đơn vị chưa có tổ chức đảng. Ban Thường vụ (BTV) Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu đã sắp xếp, chuyển giao một số tổ chức đảng thuộc ngành dọc, theo Kết luận 31-KL/TW ngày 6-11-2008 của Ban Bí thư. Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22 -NQ/TW ngày 30-1-2008 về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, các cấp ủy trực thuộc Tỉnh ủy đã thành lập mới 78 TCCSĐ, 563 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Hầu hết các TCCSĐ đều rà soát, bổ sung xây dựng quy chế hoạt động kịp thời sau khi tổ chức đại hội hoặc khi thành lập mới, kể cả những nơi thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn; bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Quy chế làm việc quy định rõ thẩm quyền trách nhiệm của tập thể cấp ủy, cá nhân và có chế tài xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm.

Từ năm 2008 đến năm 2018, Tỉnh ủy Tây Ninh đã thành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể 146 TCCSĐ (thành lập, chia tách 75; sáp nhập 48; giải thể 10); thành lập mới 7 đảng bộ bộ phận ấp và 374 chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo ban thường vụ các huyện ủy và Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh chuyển giao 18 TCCSĐ loại hình doanh nghiệp về Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp tỉnh; chuyển giao 2 chi bộ trong doanh nghiệp tư nhân ra ngoài tỉnh; giữ ổn định mô hình tổ chức đối với các TCCSĐ thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước có mối quan hệ gắn bó về quyền lợi, chính sách xã hội và ảnh hưởng lớn với nông dân tại địa phương như: Công ty Cao su Tân Biên, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xí nghiệp Thủy lợi tỉnh...

Thực hiện Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW ngày 9-3-2010 của Ban Tổ chức Trung ương về xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức trong các loại hình TCCSĐ, BTV Tỉnh uỷ Tây Ninh xây dựng kế hoạch và triển khai thí điểm sáp nhập 50 chi bộ cơ sở cơ quan đảng, đoàn thể, chính quyền để thành lập 4 đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ TP. Tây Ninh và Đảng bộ huyện Châu Thành. Đến nay, các tổ chức đảng bước đầu ổn định về mặt tổ chức, đi vào hoạt động theo mô hình mới. Trong thời gian thí điểm, tỉnh đã thực hiện chi phụ cấp trách nhiệm (bằng 0,2 mức lương tối thiểu) cho cấp ủy viên các chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở này. Nhìn chung, việc thành lập, sắp xếp lại các mô hình tổ chức đảng cơ bản đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở cơ sở, tạo thuận lợi trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, mô hình này cũng đang có những khó khăn do chưa có quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, các cấp ủy còn lúng túng trong xây dựng quy chế, nghị quyết, kế hoạch hoạt động.

Chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ

Chất lượng sinh hoạt chi bộ là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Các tỉnh ủy, thành ủy luôn chú trọng chỉ đạo các TCCSĐ không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhằm tăng cường tính giáo dục, tính chiến đấu của mỗi tổ chức đảng. Ở Bà Rịa - Vũng Tàu, việc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ được các tổ chức đảng thực hiện thường xuyên, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII). Các cấp ủy đảng đã quán triệt các chi, đảng bộ khi  kiểm điểm tự phê bình và phê bình phải chú trọng nhận diện 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để từng cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa”. Tại nhiều cơ sở, đảng viên mạnh dạn, thẳng thắn thảo luận, bàn bạc tham góp ý kiến xây dựng chi bộ. Thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, BTV Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 36-KH/TU ngày 23-11-2007 và nhiều văn bản để chỉ đạo triển khai, đồng thời tiến hành khảo sát, đánh giá tình hình triển khai và tổ chức sinh hoạt ở một số chi bộ cơ sở, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Bên cạnh đó, đã thành lập 9 Tổ công tác của Tỉnh ủy theo dõi, giám sát, dự sinh hoạt chi bộ ở các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, phân công các đồng chí Ủy viên BTV Tỉnh ủy làm tổ trưởng. Đối với các cấp ủy trực thuộc cũng thành lập 119 tổ công tác theo dõi, giám sát thực hiện nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.

BTV Tỉnh uỷ Tây Ninh đã quan tâm chỉ đạo nhiều chủ trương, giải pháp nhằm xây dựng, củng cố TCCSĐ, trong đó chú trọng xây dựng TCCSĐ tại 5 huyện biên giới; thực hiện mục tiêu xây dựng các TCCSĐ ở 20 đảng bộ xã biên giới trong sạch, vững mạnh, không có TCCSĐ yếu kém theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra. BTV tỉnh chỉ đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy triển khai ứng dụng Đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”; chỉ đạo Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp các huyện ủy biên giới lãnh đạo thực hiện tốt việc giới thiệu đảng viên đồn biên phòng tham gia sinh hoạt tại chi bộ ấp, nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ, xây dựng địa bàn biên giới vững mạnh.

BTV Tỉnh ủy Bình Định chỉ đạo thực hiện chủ trương tăng cường cán bộ chỉ huy đồn biên phòng tham gia đảng ủy các xã khu vực biên giới biển từ năm 2011, đến năm 2015 đã có 17 cán bộ chỉ huy đồn biên phòng có quyết định tham gia đảng ủy xã. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quy định số 04-QĐ/TU ngày 22-3-2013 về “Trách nhiệm, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng viên đồn biên phòng tham gia sinh hoạt tại chi bộ thôn, khu vực thuộc đảng bộ các xã, phường”, đến nay đã có 36 lượt đảng viên là bộ đội biên phòng sinh hoạt tại 28 chi bộ thôn, khu vực thuộc 21 đảng bộ xã, phường trong tỉnh.

Chủ trương trên đã giúp cho các đảng ủy xã và đồn biên phòng kịp thời nắm bắt tình hình, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị; chủ động, kịp thời trao đổi thông tin, tham mưu cho đảng ủy các xã có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác quốc phòng, an ninh; đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho đồn biên phòng tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở các xã vùng biển, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc ở khu vực biên giới biển, nâng cao hiệu quả công tác biên phòng, xây dựng địa bàn vững mạnh về mọi mặt, nhất là xây dựng nông thôn mới.

Tập trung củng cố TCCSĐ yếu kém

Tỉnh ủy Bình Định xác định, trong củng cố TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ cần phải thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, giám sát gắn với trách nhiệm cụ thể. Việc này phải được thực hiện thường xuyên, không chỉ “khắc phục” mà còn để phòng ngừa các tổ chức đảng lơ là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo. Bởi, nguyên nhân của việc TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ là do tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên chưa cao. Một số cán bộ, đảng viên chưa ý thức với trách nhiệm được giao. Bên cạnh đó, công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của một số cấp ủy, tổ chức đảng thiếu chặt chẽ, dẫn đến chất lượng hoạt động và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ còn hạn chế.

Năm 2018, tỉnh Bình Định có 636 TCCSĐ được đánh giá, xếp loại chất lượng, trong đó có 5 TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ, gồm đảng bộ các xã Mỹ An (Phù Mỹ), Hoài Thanh Tây (Hoài Nhơn), An Quang, Canh Thuận (Vân Canh) và Đảng bộ Khối chính quyền huyện An Lão. Đối với chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, có 3.403/3.443 chi bộ được đánh giá, trong đó có 12 chi bộ không hoàn thành nhiệm vụ. Các TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ do để xảy ra sai phạm trong quản lý tài chính ngân sách, quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy...., gây dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của đảng bộ.

Xác định được nguyên nhân chính, từ đó  ngăn ngừa sai phạm, Huyện ủy Hoài Nhơn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng kiểm tra, giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề đối với các ngành thuộc UBND trong thực hiện nhiệm vụ được giao, đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chính quyền trong thực hiện quy chế làm việc. Qua đó, kịp thời phát hiện, góp ý, nhắc nhở, chấn chỉnh, không để xảy ra vi phạm.

Quá trình củng cố TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ, các cấp ủy ở Bình Định luôn nhấn mạnh đến vai trò của người đứng đầu, người được phân công phụ trách. BTV Huyện ủy Vân Canh phân công đồng chí Ủy viên BTV, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy là tổ trưởng tổ công tác theo dõi, chỉ đạo, giám sát Đảng bộ xã Canh Thuận. Cùng với việc phân công nhiệm vụ, gắn trách nhiệm cụ thể, Huyện ủy cũng xác định, việc củng cố, kiện toàn nhân sự cấp ủy, nhất là nhân sự người đứng đầu, ổn định tình hình địa phương là giải pháp tiên quyết. Đồng thời, quá trình khắc phục phải gắn với trách nhiệm của ủy viên BTV, đảng viên đương chức ở cấp huyện được phân công phụ trách; khi TCCSĐ, chi bộ hoàn thành hoặc không hoàn thành nhiệm vụ thì người phụ trách địa bàn không thể xếp loại cao hơn.

Hằng năm, BTV Tỉnh ủy Vĩnh Long xây dựng kế hoạch kiểm tra đối với cấp ủy cấp dưới về việc chỉ đạo thực hiện nghị quyết năm, các kế hoạch, chương trình, mục tiêu, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Qua kiểm tra, giám sát đã kịp thời xử lý tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, phát hiện những hạn chế, yếu kém và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của cơ sở, cho ý kiến chỉ đạo trực tiếp giúp cơ sở điều chỉnh, bổ sung các giải pháp tổ chức thực hiện, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết 22, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long đã xử lý kỷ luật 7 TCCSĐ và 1 chi bộ trực thuộc; xử lý kỷ luật 1.574 đảng viên (trong đó, khiển trách 692, cảnh cáo 560, cách chức 115, khai trừ 207). Việc chú trọng công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm theo Điều lệ Đảng đã giúp các cấp ủy phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và đảng viên vi phạm khuyết điểm để đấu tranh, ngăn chặn.

Trong thời gian qua, các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh và TP. Cần Thơ duy trì tốt việc phân công các đồng chí Ủy viên BTV Tỉnh ủy trực tiếp phụ trách địa bàn các huyện, thành phố; các huyện, thành phố phân công các đồng chí ủy viên BTV huyện ủy, thành ủy phụ trách địa bàn các xã, phường, thị trấn. Việc phân công ủy viên BTV đã giúp cấp ủy cấp trên nắm tình hình cơ sở và chỉ đạo giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc trong nhân dân, uốn nắn, chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện lệch lạc, sai trái, qua đó nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đề xuất với cấp ủy, chính quyền giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc ở cơ sở. 

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ BÔI NHỌ, KÍCH ĐỘNG!

         Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.
Lợi dụng tính đại chúng của mạng xã hội, thành phần bất mãn mượn cớ khoa học hay tự xưng là “người cầm bút chân chính” đăng đàn các nội dung cho rằng, có những sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử trong dịp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cần phải xem xét lại (!). Một số kẻ giở trò “nước mắt cá sấu” để kêu thay, vái đỡ cho nhóm người bất mãn, “bên kia chiến tuyến” với luận điệu "thống nhất đất nước là sai lầm" (!); nhiều người đang tha hương, lưu lạc, vì sợ mà không dám trở về quê hương... Dù xảo quyệt đến đâu, ngôn từ có hùng hồn hay tỏ ra bi lụy thì tựu trung lại, chúng đều tỏ rõ bộ mặt thật của những kẻ có mưu đồ bất chính, hòng phủ nhận các giá trị lịch sử dân tộc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất Bắc-Nam một nhà.

Lật tẩy chiêu trò bôi nhọ, kích động
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 
Thực tế là, bao thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, không tiếc máu xương để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Những chiến sĩ cách mạng bước ra từ cuộc chiến ấy mỗi người một công việc, tiếp tục cống hiến, chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải như luận điệu của các thế lực thù địch, bất mãn đang rêu rao rằng có nhiều người đang “tranh công, đổ lỗi...”.

Bên cạnh đó, với chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn sẵn sàng chào đón tất cả kiều bào trở về đóng góp cho quê hương, đất nước... Nhiều năm qua, các hoạt động chăm lo cho kiều bào ta ở nước ngoài đã được tổ chức thiết thực. Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện để kiều bào trở về quê hương, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dĩ nhiên, chẳng ai lại chào đón những thành phần bất mãn, thù địch, có âm mưu chống phá.

Và sự thật không ai có thể phủ nhận là, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả người dân đất Việt đều tự hào với hai tiếng Việt Nam, đều xúc động rưng rưng khi giai điệu hùng hồn của bản Quốc ca vang lên dưới cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, bởi đất nước thống nhất giúp toàn dân tộc không phải chịu cảnh ly tán, khổ đau do cùng dòng tộc, thân thiết với nhau mà phải chia ly, cách biệt. Chắc chắn cũng chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"./.
Yêu nước ST.

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN,

 

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

TĂNG CƯỜNG SỨC ĐỀ KHÁNG VĂN HOÁ ĐỂ CHỐNG XÂM LĂNG VĂN HOÁ!

         Triết học văn hóa lấy con người là nội dung cơ bản của văn hóa, con người vừa là chủ thể sáng tạo vừa là đối tượng thụ hưởng văn hóa. Con người trong xã hội hiện đại chủ yếu thể hiện năng lực của mình qua tư cách văn hóa, đồng thời con người cũng là thước đo văn hóa của đất nước, dân tộc, thời đại. Do vậy, nhiều người đã rất đúng khi cho rằng, nói đến văn hóa là nói đến con người, phát triển văn hóa là phát triển con người, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người!
     Vấn đề không mới nhưng chúng tôi xin nói lại như vậy để làm điểm tựa cho bài viết của mình: Tăng cường sức đề kháng văn hóa để chống xâm lăng văn hóa. Rõ hơn là xem xét các giải pháp tăng cường sức đề kháng văn hóa cho con người.

1. Trong hoàn cảnh toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là sự phát triển vũ bão của internet, của các phương tiện truyền thông, thì cả thế giới như trở thành một... cái làng. Chỉ ngồi một chỗ và qua một cú nhấp “chuột”, người ta cũng có thể biết được tin tức mới mẻ nhất ở mọi nơi trên hành tinh. Chưa bao giờ cầu nối giữa con người với con người, quốc gia với quốc gia, và dĩ nhiên cả cầu nối giữa các nền văn hóa bị rút ngắn đến mức thấp nhất như vậy. Điều ấy cũng là sự minh chứng cho môi sinh văn hóa của con người đang ngày càng bị thu hẹp. Một môi sinh chật chội cả về nghĩa đen và nghĩa bóng. Chỉ vài chục năm về trước muốn giao tiếp với ai, muốn đi đến một nơi nào đó, với phương tiện nhanh nhất cũng phải đi cả ngày, có khi cả tuần. Ngày nay, chỉ cần cầm lấy điện thoại di động, muốn biết gì chỉ cần vào mạng… Con người ngày một đông lên, xu hướng đô thị hóa ngày một tăng cao, rồi bị hít thở khói bụi công nghiệp, phải nghe bao tiếng ồn, phải chứng kiến bao tai họa của nhân tai và thiên tai… Cả thế giới này như dồn lại, co lại, chồng lấn, chèn ép nhau. Thế là cả không gian vật lý và không gian tâm lý đều tạo ra cảm giác chật chội. Mà chật chội thì thường gây khó chịu, căng thẳng. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến con người dễ bị bức xúc trước một vấn đề có khi chỉ là nhỏ nhặt. Từ bức xúc dẫn đến manh động là khoảng cách không xa. Tình hình sẽ ngày càng phức tạp hơn nếu con người không có cách giải quyết phù hợp.

2. Tiếp biến văn hóa là một khuynh hướng không thể cưỡng lại. Tiếp biến bao giờ cũng có hai mặt. Con người luôn được tiếp nhận cả mặt tích cực lẫn tiêu cực từ khắp nơi trên thế giới. Điều quan trọng nhất là phải bồi dưỡng một bản lĩnh văn hóa cần thiết để chế ngự cái xấu mà tiếp thu cái tốt. Ví dụ, rất khó để ngăn cấm trẻ em vào các trang mạng xấu trên internet, do vậy chỉ có cách giáo dục cho các em phân biệt ở tuổi ấy thì nên đọc, nên xem những khu vực kiến thức này, ở các địa chỉ kia… Vì thế giải pháp cơ bản, quan trọng nhất là giáo dục nhân cách văn hóa. Nhất là ở độ tuổi mẫu giáo, tiểu học thì điều trước tiên là quan tâm đến việc dạy người trước rồi mới dạy chữ. Cách dạy nhồi nhét kiến thức ở cấp tiểu học (và cả trung học cơ sở) hiện nay vừa phản khoa học vừa phản văn hóa, vì nó bắt các em làm người lớn quá sớm, vất vả quá sớm, khôn quá sớm so với độ tuổi cần được chơi nhiều hơn học. Trong việc dạy người thì phải coi trọng hàng đầu cách ứng xử văn hóa. Câu chuyện thầy đánh trò rồi trò đánh lại thầy vừa qua chính là sự minh chứng cho người thầy đã không coi trò như một nhân cách văn hóa mà đối xử với trò quá thô bạo. Còn trò đánh lại thầy thì quả là sự không thể chấp nhận vì nó vi phạm nghiêm trọng một mẫu mực trong ứng xử văn hóa truyền thống giữa người với người. Lại có những người trẻ muốn thể hiện cái tôi lớn thì viết tên mình (có khi còn làm thơ) lên di sản thiên nhiên hay di sản văn hóa. Đó là lối ứng xử rất đáng chê, vì họ không hiểu giá trị nhân văn của thiên nhiên, của quá khứ lịch sử. Điều này cho thấy chúng ta chưa quan tâm đúng mức tới việc giáo dục tư cách văn hóa cho trẻ em. Có một thực tế dễ thấy: Trong nhà trường phổ thông hôm nay môn giáo dục công dân chưa được đánh giá đúng, bị coi là môn phụ, thậm chí giáo viên nào dạy cũng được. 

3. Hiện nay trẻ em mê chơi game trên mạng (mà là những trò độc hại xa lạ với văn hóa Việt) hơn mê học bài; biết tên các danh thủ bóng đá, các tài tử nghệ thuật thế giới hơn là biết các danh nhân văn hóa Việt Nam… Cũng dễ hiểu, vì chúng không có chỗ chơi, không có trò chơi hấp dẫn. Các trò chơi có trong truyền thống hàng ngàn năm như đi kheo, đánh khăng, nhảy dây, chơi đu… phù hợp với thể chất, tính cách người Việt thì hầu như bị quên lãng. Do vậy, cần một giải pháp quan trọng là phục hưng văn hóa, tức là làm sống lại những giá trị văn hóa cổ truyền. Nhưng lại xảy ra tình trạng có nơi quá chú ý tới hình thức hơn là chú ý tới nội dung của văn hóa. Ví dụ việc tổ chức lễ hội tràn lan, thiếu chọn lọc nên hội đông mà không vui, tiền thu được thì có thể nhiều nhưng lợi ích văn hóa thì ít thấy. Nhiều người đi hội chỉ chăm chăm cúng lễ, khấn vái…, thậm chí cướp lộc “thánh” chứ không mấy quan tâm tới lịch sử lễ hội, ý nghĩa ngày tưởng nhớ tôn vinh các vị thánh thần có công với hậu thế, như thế thì tấm lòng không thanh tịnh (vì không nhận được bài học giáo dục), không thư thái vui vẻ (vì không được tiếp nhận ý thức thẩm mỹ) vốn là những yêu cầu đặc trưng về mặt tinh thần của lễ hội truyền thống.

4. Những hiện trạng trên dẫn tới phải có những giải pháp quản lý văn hóa một cách chặt chẽ về mặt nhà nước. Tại sao có quy định hẳn hoi mà vẫn có nhiều sinh viên (là trí thức) khi đến Văn Miếu vẫn sờ, thậm chí còn ngồi cả lên đầu rùa? Tại sao tình trạng “chặt chém” khách du lịch diễn ra thường xuyên? Tại sao lại có thịt thú rừng bày bán la liệt ở khu vực lễ hội lẽ ra phải là một không gian trong lành, chay tịnh, hòa hợp với thiên nhiên…? Vì ý thức kém của con người, và rõ ràng có nguyên nhân từ phía cơ quan chủ quản chưa có một điểm tựa pháp luật để răn đe, xử phạt. Nghĩa là chúng ta phải sớm luật hóa lễ hội, phải có những văn bản pháp quy dưới luật làm căn cứ để quản lý. Không chỉ lễ hội mà còn bao phương diện khác của văn hóa đời sống cần được luật hóa, như chuyện đánh cãi nhau, chuyện đổ rác sai quy định… Những điều này trong Bộ luật Hồng Đức cách nay trên dưới sáu trăm năm lại được ghi rất cụ thể. Ở nông thôn nên phục hồi các hương ước, tất nhiên chỉ giữ lại những điều gì tiến bộ và phù hợp với thời đại mới. Bởi hương ước chính là văn hóa, là pháp luật thành văn đã tồn tại, được thử thách, được chấp nhận trong lịch sử. Hương ước cùng với pháp luật hiện đại sẽ cùng nhau quy định những ứng xử văn hóa, giữ cho con người hài hòa giữa văn hóa truyền thống và nếp sống văn minh công nghiệp.

5. Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin, thời mà ai cũng có thể phát ngôn, ai cũng có quyền bày tỏ chính kiến qua các phương tiện truyền thông, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội. Ai cũng có thể nghe, tìm hiểu bất kỳ một quan điểm nào đó có thể là cực đoan, có thể là sai trái. Đây chính là con đường xâm lăng văn hóa cần phải cảnh giác nhất và cũng khó ngăn chặn nhất. Có một quy luật tiếp nhận thông tin là người đọc hay quan tâm đến những phát ngôn ngược với quan điểm chính thống, vì nó lạ, gây tò mò. Lợi dụng điều này, nhiều blog cá nhân, nhiều trang mạng nước ngoài, để thu hút lượng người đọc bèn cố tình đưa ra những thông tin sai lạc, thậm chí phản động. Chống lại những ý đồ này thì giải pháp lâu dài và cơ bản vẫn là sự tuyên truyền giáo dục phân biệt đúng sai cho mọi người dân, mọi lứa tuổi. Trước hết là tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào bản chất tốt đẹp nhân văn, vì con người của chế độ. Nhưng niềm tin của người dân chỉ có thể được củng cố khi họ tin tưởng vào sự liêm khiết, trong sạch, bản lĩnh của những người lãnh đạo họ. “Con sâu làm rầu nồi canh”, từ một số hiện tượng cán bộ suy thoái đạo đức, lối sống, sống xa cách dân, quan liêu, tham nhũng... người dân sẽ nghi ngờ tính trong sạch của cả một bộ máy. Kẻ thù sẽ lợi dụng khoét sâu, tung hỏa mù, đánh lạc hướng… Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ phải “Cần, kiệm, liêm, chính”, cũng là bốn nội dung chủ yếu của đạo đức cách mạng, với người cán bộ thời nay càng phải lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, tu dưỡng. Bác Hồ từng mượn lời các bậc đại Nho, cũng là những nhà văn hóa lớn của phương Đông và nhân loại để nhắc nhở về tư cách văn hóa người lãnh đạo: “Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996, tập 5, tr 641). “Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ” (Sđd, tập 5, tr 644).

Cơ thể con người càng khỏe mạnh thì càng có sức đề kháng trước các yếu tố bất lợi của thiên nhiên, thời tiết. Chống xâm lăng văn hóa thì điều trước tiên là tăng cường cho cơ thể con người những phẩm chất cao về văn hóa, nhất là đối với những người là cán bộ, đảng viên./.

Yêu nước ST.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm đổi mới hệ thống chính trị.

 Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm đổi mới hệ thống chính trị là tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Giai đoạn này là thời cơ thuận lợi, với những điều kiện chín muồi để Việt Nam đổi mới hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.


Quang cảnh Hội thảo quốc gia lần thứ ba về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Ảnh: TTXVN.

Là nhiệm vụ rất quan trọng nên từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Đề án chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng năm 2045, gồm 21 thành viên, trong đó có 9 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Trung ương Đảng. Đề án xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, tư pháp theo nguyên tắc pháp quyền song hành với kiểm soát quyền lực, đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thúc đẩy đổi mới sáng tạo với tinh thần quyết liệt, hiệu quả. Ba hội thảo quốc gia đã được tổ chức tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh để khơi dây trí tuệ, trước hết của các nhà khoa học, các chuyên gia, nhưng đồng thời là của toàn xã hội, khởi động và kích hoạt tư duy của xã hội để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

Nghiên cứu lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật cho thấy, nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung của nhân loại tiến bộ, đề cao pháp luật, thể hiện ước muốn, khát vọng của con người về một xã hội dân chủ và bình đẳng. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm và thể hiện ngày càng rõ hơn trong Hiến pháp năm 1946, Cương lĩnh 1991. Sau đó, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Đại hội VII đã chính thức xác định: "Xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân". Cương lĩnh 2011 khẳng định: "Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo" là một trong 8 đặc trưng của xã hội XHCN Việt Nam. Đến Đại hội XIII, Đảng ta lần đầu tiên đề ra nhiệm vụ "Nghiên cứu ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam...".

Theo đó, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là quá trình Nhà nước ta thiết lập và vận hành những nguyên lý, đặc trưng phổ quát, tiến bộ của nhà nước pháp quyền hiện đại, mang định hướng XHCN, bảo đảm bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, do Đảng lãnh đạo, nhằm mục tiêu phát triển đất nước, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam mà Đại hội XIII của Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và nguyện vọng của Nhân dân.

Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, với nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân càng được đặt ra rất cấp bách. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Đảng, thể hiện bản chất của chế độ XHCN, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một quá trình rất lâu dài, cần nhiều sự nỗ lực đóng góp của cả hệ thống chính trị về lý luận và thực tiễn. Kết quả đạt được sẽ tạo nền tảng vững chắc cho tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tương lai.


Hội thảo khoa học “Cơ sở đề xuất bổ sung, sửa đổi Quy định thi hành Điều lệ Đảng gắn với đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng”

 Sáng ngày 20-4-2022, Vụ Tổ chức - Điều lệ phối hợp với Viện Khoa học tổ chức, cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương và Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lào Cai đồng tổ chức Hội thảo khoa học trực tuyến với chủ đề “Cơ sở đề xuất bổ sung, sửa đổi Quy định thi hành Điều lệ Đảng gắn với đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng” với mục tiêu trao đổi, thảo luận, làm rõ hơn các nội dung, căn cứ khoa học và thực tiễn về sửa đổi, bổ sung Quy định thi hành Điều lệ Đảng, góp phần phục vụ việc tham mưu tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng, gắn với những với nội dung dự kiến đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.

GS, TS. Phùng Hữu Phú, Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan đảng Trung ương phát biểu tại Hội thảo.


Tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương, GS, TS. Phùng Hữu Phú, Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan đảng Trung ương và TS. Nguyễn Thanh Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Điều lệ, Ban Tổ chức Trung ương chủ trì Hội thảo. Tại điểm cầu Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lào Cai, đồng chí Lê Quang Minh, tỉnh ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Đồng chí Ngô Hữu Quý, Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì.

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Nguyễn Thanh Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Điều lệ, Chủ nhiệm Đề án đã khẳng định: Quy định thi hành Điều lệ Đảng là văn bản quan trọng cụ thể hóa quy định của Điều lệ Đảng để tạo ra sự thống nhất trong nhận thức, tổ chức và hoạt động của Đảng. Để sửa đổi, bổ sung Quy định thi hành Điều lệ Đảng một cách toàn diện, lâu dài, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác xây dựng Đảng cần phải gắn với sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng trên cơ sở thực tiễn và xuất phát từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng. Đây là vấn đề khó, lớn và hệ trọng, gắn liền với những phát sinh trong bối cảnh mới, điều kiện mới. Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến, nghiêm túc đầu tư, chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo cả về lý luận và thực tiễn để xây dựng, hoàn thiện báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu Đề án.

Hội thảo đã nhận được 18 tham luận của các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ, đảng viên có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác tham mưu về công tác tổ chức xây dựng Đảng tại Trung ương và địa phương. Tại Hội thảo, các đại biểu thống nhất tầm quan trọng của việc cần phải nghiên cứu đề xuất, sửa đổi Điều lệ Đảng, Quy định thi hành Điều lệ Đảng và hoan nghênh những chuẩn bị sớm trong công tác nghiên cứu của Ban Chủ nhiệm Đề án.

Phát biểu kết luận tại Hội thảo, GS, TS. Phùng Hữu Phú, Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan đảng Trung ương đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Hội thảo, đánh giá cao các tham luận cũng như ý kiến phát biểu đến từ những chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ có thời gian công tác qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, từng trực tiếp tham mưu xây dựng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng và các văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể việc thi hành Điều lệ Đảng. Các ý kiến phát biểu rất phong phú, cụ thể, thiết thực, bám sát mục tiêu, yêu cầu đặt ra đã làm cho chủ đề Hội thảo thêm sâu sắc.

QUYẾT TÂM MẠNH MẼ CỦA VIỆT NAM TRONG THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI


Với nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sau 10 năm triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, Việt Nam đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong các lĩnh vực, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN “KHÔNG CÓ THỜI ĐẠI QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”

 Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại.

Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay

Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.

V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học. Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được. Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán, vì những lý do cơ bản sau:

Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng

Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”.

Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi

Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.

Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

 Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo về quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, chủ trương - chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động. Qua khó khăn, hình ảnh, vai trò, vị thế của tổ chức Công đoàn tiếp tục được khẳng định và thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Vai trò của tổ chức Công đoàn, tinh thần chủ động, sự dấn thân của đội ngũ cán bộ công đoàn đã đóng góp và vào kết quả chung của cả nước, được người lao động, doanh nghiệp, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đánh giá, ghi nhận.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã và đang sử dụng một số luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò của tổ chức công đoàn. Cụ thể:

Các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc trắng trợn rằng: (1) Công đoàn hiện nay không còn phát huy vai trò là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động. (2) Hoạt động của tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mang tính hình thức, không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông chủ. (3) Họ cũng chỉ là người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và thậm chí, có thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp…

Nhưng thực tế là: Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật Công đoàn Việt Nam: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động… tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp thực sự hiệu quả; các tổ chức này luôn đóng vai trò là điểm tựa, động viên, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp, khuyến khích người lao động hăng say lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và là lực lượng nòng cốt trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thông qua nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, tổ chức công đoàn giúp cho công nhân hiểu biết về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất và công tác; thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng tạo; đồng thời, tuyên truyền trong công nhân, viên chức, người lao động về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, người lao động để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết; đồng thời, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức công đoàn trong công nhân, viên chức, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài. Những luận điệu phủ nhận vai trò, của Công đoàn Việt Nam phải cần được mọi người nhận diện và lên án. 

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Thời gian gần đây trên trang mạng phản động của Việt Tân có bài viết “Cộng sản Việt Nam lại nhắc đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”; với cách lập luận thiếu căn cứ, tự biện, không có cơ sở khoa học và đầy tính mâu thuẫn họ cho rằng: “xây dựng nhà nước pháp quyền là mục tiêu của hầu hết các quốc gia kém phát triển”, “xây dựng nhà nước pháp quyền còn được gắn cái đuôi xã hội chủ nghĩa cho khác với mọi người”“nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa một hình thức không hề tồn tại trên thực tế mà chỉ là ảo tưởng”, hay như: “đẩy mạnh nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không khác nào đem pháp luật vùi xuống bùn nhơ”  “Việt Nam đang cai trị bằng luật rừng hay luật Đảng”… Phải khẳng định rằng, đây là những luận điểm hết sức sai trái, phản động, xuyên tạc sự thật, phản ánh không đúng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; sâu xa hơn là chúng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước.

Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền với tính cách là những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. Do vậy nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước. Trong ý nghĩa này nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Ý tưởng về một chế độ pháp quyền đã xuất hiện từ xa xưa, thậm chí từ thời cổ đại bởi các nhà tư tưởng phương Tây, hay tư tưởng pháp trị tại Trung Hoa cổ đại, nhưng đến khi nhà nước tư sản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, nhà nước pháp quyền mới từ nhà nước ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiện thực. Vì vậy, nhà nước pháp quyền không những có thể xây dựng tại các quốc gia tư bản mà vẫn có thể xây dựng tại các quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền với tính chất là một cách thức tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã hội không những xây dựng trong điều kiện chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Như vậy trong nhận thức lý luận và trong thực tiễn tồn tại nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này thể hiện tính phổ biến trong xây dựng nhà nước pháp quyền.

Nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù. Nhà nước pháp quyền vừa là một giá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốc gia. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi hàng loạt yếu tố, các điều kiện như về lịch sử, truyền thống - văn hoá, tâm lý xã hội của mỗi một dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá và môi trường địa lý. Các yếu tố này không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi một dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của mình mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền. Vì vậy, không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi một quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - phương tiện quan trọng trong quản lý nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân; tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp; quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội. Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước; là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Như vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện có đầy đủ cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn, là sự vận dụng sáng tạo, hợp lý tri thức về nhà nước pháp quyền của thế giới vào thực tiễn Việt Nam, vừa mang đầy đủ những giá trị phổ quát, chuẩn mực của một nhà nước pháp quyền, vừa mang những nét đặc thù chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam. Do đó, mỗi người dân cần nhận rõ bản chất sự việc, tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin, nêu cao tinh thần cảnh giác tránh bị kích động bởi những thông tin không đúng của các thế lực thù định./.

NHẬN DIỆN NHỮNG ÂM MƯU ĐÒI “CHUYỂN ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM”

 Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”.

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. 

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. 

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

 Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều có những luận chứng hết sức thuyết phục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đó là xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công, nghèo nàn, lạc hậu trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, giai cấp công nhân Việt Nam vẫn là lực lượng lãnh đạo cách mạng, là một lực lượng xã hội to lớn, ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành, nghề, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và gắn với nền công nghiệp hiện đại. Giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Họ có khả năng phát minh, cải tiến và áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất, trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã và đang sử dụng một số luận điệu xuyên tạc bản chất, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, với những giọng điệu xuyên tạc, mị dân, phản động của “chủ nghĩa chống cộng” và các thế lực thù địch về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Cụ thể:

Các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, bóp méo, ngụy biện rằng: (1) Chủ nghĩa Mác - Lê nin là đúng đắn nhưng chỉ trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (thời kỳ hưng thịnh của động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên của kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)…, nên chủ nghĩa Mác - Lê nin không còn phù hợp nữa. (2) Trong nền sản xuất hiện đại, việc đưa rô-bốt (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự động hóa, việc tuyển dụng và sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa. (3) Trong điều kiện hiện đại, nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, mà đó là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại. (4) Giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển hiện nay. (5) Nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “Người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình? (6) Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến,… nên giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. (7) Giai cấp công nhân đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc tế, thời kỳ của các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, vai trò đó phải thuộc về đội ngũ trí thức, những nhà khoa học, nhà tư tưởng. Chỉ có những nhà khoa học, trí thức mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh được. (8) Hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung” và theo tự nhiên, nhà nước tư bản sẽ dần “tiệm tiến” lên nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa…

Nhưng thực tế là: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do điều kiện khách quan quy định, chứ không phải bởi bất kỳ lý do nào khác. Giai cấp công nhân chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

Mưu đồ của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội là ra sức tấn công vào nền móng tư tưởng của các đảng cộng sản, nhằm thay thế bằng tư tưởng của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Những luận điệu trên là hết sức phản động, phục vụ cho ý đồ đen tối đó và chúng cố tình không nhận ra rằng, dưới tác động của hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu thành phần và ngành, nghề, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, hình thành tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại, vì thế, họ có nhiều cơ hội việc làm và đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện. Sự điều chỉnh, thích nghi đã làm cho chủ nghĩa tư bản tạm thời chiếm ưu thế; giai cấp công nhân ở các nước tư bản đã có mức sống tốt hơn do năng suất lao động ngày càng cao và bởi sự đấu tranh của tổ chức công đoàn những nơi này đã mang lại lợi ích cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới, hoàn toàn không phải là sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản và càng không làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân.