Từ khi Bác Hồ bị bệnh, theo lời khuyên của các
thầy thuốc, Bác có kế hoạch quyết tâm bỏ thuốc lá. Bác nói: “Bác hút thuốc từ
lúc còn trẻ nay đã thành thói quen, bây giờ bỏ thì tốt nhưng không dễ, các chú
phải giúp Bác bỏ tính xấu này”. Rồi Bác tự đề ra chương trình bỏ thuốc dần. Lúc
đầu là giảm số lượng điếu hút trong ngày. Khi thèm hút thuốc Bác làm một việc
gì đó để thu hút sự chú ý, tập trung… Bác bảo đồng chí giúp việc để cho Bác một
vỏ lọ Penicillin ở nơi làm việc và phòng nghỉ. Hút chừng nửa điếu Bác dụi đi để
vào lọ đó. Sau hút lại nửa điếu để dành, anh em can bảo thuốc lá hút dở không
có lợi, Bác bảo: "Nhưng hút thế để có cữ". Với cách làm đó, Bác đã giảm
từ cả bao xuống ba bốn điếu một ngày. Cứ như vậy, Bác hút thưa dần.
Đầu tháng 3/1968, nhân khi bị cảm ho nhẹ, Bác tự
quyết định bỏ hẳn. Mấy ngày sau, trong một tuần lễ anh em vẫn để gói thuốc chỗ
bàn làm việc của Bác, nhưng Bác không dùng. Sau một tuần thấy Bác quyết tâm như
vậy, mọi người cất hẳn thuốc lá. Một tháng sau, khi tiếp Bí thư Trung ương Đoàn
Thanh niên Lao động Việt Nam Vũ Quang, Bác nói: “Bác đã bỏ thuốc lá rồi, chú về
vận động thanh niên đừng hút thuốc lá”.
Mới đây trên báo chí cả nước đưa tin Nguyễn Minh Thuyết lên tiến lý giải về việc đưa môn Lịch sử vào nhóm "tự chọn" là : lịch sử vẫn được lồng ghép vào các môn học khác ???
Thực chất đây chỉ là những lời lẽ ngụy biện cho âm mưu phá hoại lịch sử của nhóm này.
1/ Đầu tiên phải khẳng định chắc chắn rằng : Lịch sử là một bộ môn có kiến thức riêng biệt và phải được truyền đạt thuần khiết, không thể đem nó pha tạp với loại hình kiến thức khác.
Càng không thể LAI TẠO với loại hình kiến thức khác để nặn ra 1 bộ môn mới theo kiểu vịt lai ngan.
Đây chính là chiêu trò PHA LOÃNG LỊCH SỬ của những kẻ phá hoại giáo dục. Từ sự pha loãng này sẽ dẫn đến mờ nhạt lẫn lộn, mơ hồ, ấu trĩ trong tư duy học trò, tiếp theo là dẫn đến hiểu biết lệch lạc và bóp méo lịch sử là khó lòng tránh khỏi.
Xin lưu ý rằng : kiến thức phổ thông của các môn học khác chỉ là hữu hạn. Bởi cả trăm năm cũng chưa có thêm một định lý mới và cả ngàn năm cũng chưa có thêm một vùng địa lý mới. Nếu nhét thêm vài dữ liệu lịch sử vào những môn này càng làm tăng sự rối rắm của môn học chứ không thể tăng thêm kiến thức lịch sử cho học trò.
Ngược lại, dữ liệu lịch sử qua tháng năm lại càng ngày càng dày lên. Do vậy việc truyền đạt lịch sử là phải cần chuyên biệt chứ không thể bớt xén rồi lồng ghép vào bộ môn khác. Đây chính là một ÂM MƯU xóa bớt các dữ liệu lịch sử mà nhóm này đang tiến hành.
Tuy nhiên, Nguyễn Minh Thuyết lại ngang nhiên làm cái việc hết sức đáng ngờ nêu trên. Biến các môn học khác thành một nồi lẩu thập cẩm pha thêm lịch sử, còn phần chính của lịch sử nước nhà bị gạt ra bên ngoài.
Việc hắn ngụy biện : đưa lịch sử thành môn tự chọn nhưng học sinh vẫn được bồi dưỡng kiến thức lịch sử ở các môn khác, là hết sức thô thiển. Bởi ngay trong câu nói này đã chứa đựng sự mâu thuẫn giữa tăng và giảm kiến thức của các bộ môn khác như yêu cầu cải cách đề ra.
2/ sự lý giải của Nguyễn Minh Thuyết về chiêu trò "lồng ghép lịch sử vào hoạt động trải nghiệm và truyền thống địa phương" cũng hết sức ngụy biện.
Bởi hoạt động trải nghiệm chỉ là bồi dưỡng năng lực phụ cho học sinh.
Giáo viên phụ trách môn này hoàn toàn không có năng lực chuyên sâu về lịch sử đất nước và chống ngoại xâm đúng đắn thì sự truyền đạt trọng tâm chính vẫn chỉ là trải nghiệm vui chơi quan sát vô bổ. Còn kiến thức lịch sử chắc chắn sẽ bị bỏ qua trong hoạt động này.
Mặt khác, việc chia nhỏ lịch sử ra rồi LAI TẠP với các môn khác càng tăng thêm nhiều đầu mối hổ lốn trong truyền đạt. Càng nhiều đầu mối thì càng khó quản lý về chất lượng, càng dễ dàng thực hiện sai phạm trong giảng dạy. Đây chính là lỗ hổng rất lớn của những kẻ phá hoại Lịch sử muốn tạo ra. Cần phải ngăn chặn âm mưu này.
Việc lợi dụng nghị quyết của Ban Bí thư TW Đảng để loại môn Lịch Sử ra khỏi nhóm môn học bắt buộc là một hành động PHÁ HOẠI có chủc đích. Cần phải được xử lý nghiêm minh.
3/ Lịch Sử không phải thứ để kiếm ra tiền, Lịch sử cũng không phải là công cụ để làm kinh tế. Nhưng Lịch Sử chính là thành trì để bảo vệ thành quả của kinh tế.
Vì lẽ đó, không thể cho phép đưa Lịch sử thành môn tự chọn.
Chúng ta không thể đào tạo ra những công dân chỉ biết kiếm tiền nhưng lại là kẻ vô ơn với quá khứ.
Lúc đó những đứa trẻ này sẵn sàng kiếm tiền vì đế quốc chứ không phải vì dân tộc mình.
Liên Xô bị xuyên tạc Lịch sử nên mọi thành quả đã bị tiêu tan. Bài học này đã rõ.
Sự tồn vong của chính nghĩa dân tộc phụ thuộc vào sức sống lành mạnh của Lịch sử nước nhà. Tôi khẩn thiết kêu gọi tất cả những người có lương tri vì Cách mạng Việt Nam hãy hành động ngay và không hề run sợ trước các thế lực đen tối đang rắp tâm phá hoại lịch sử của Tổ quốc.
Không thể để những kẻ Việt gian đang thao túng giáo dục phá hủy xương máu của cha ông.
Hãy đồng lòng đấu tranh để bảo vệ chính nghĩa dân tộc không bị pha loãng, không bị giặc làm lu mờ.
Chúng tôi kịch liệt PHẢN ĐỐI việc lợi dụng nghị quyết của Ban Bí thư để loại môn Lịch Sử ra khỏi nhóm môn học bắt buộc.
4/ Những nghi vấn rất lớn dành cho ngành Giáo dục :
Bao nhiêu năm qua, bộ này đã luôn làm đảo lộn mọi thứ ở ngành Giáo dục. Càng cải cách thì càng hỗn loạn. Càng cải cách thì càng gây khốn khó cho thầy và trò. Càng tạo ra chuẩn này chuẩn nọ thì càng gây đảo lộn sắp xếp lại và đào tạo lại, nhưng chất lượng giáo dục không có tiến bộ gì.
Có hay không sự phá hoại có hệ thống đối với nền văn hiến nước nhà ? Cần phải làm rõ.
Cuối cùng là những sai phạm hết sức nghiêm trọng của nhóm biên soạn sách giáo khoa gần đây đã được phanh phui. Nhưng bộ sậu này vẫn tồn tại để tiếp tục phá hủy lịch sử trong đào tạo thế hệ trẻ ?
Tại sao nhà nước vẫn sử dụng một kẻ có dấu hiệu "TỰ DIỄN BIẾN" và có dấu hiệu "PHẢN BỘI LÝ TƯỞNG" đứng trong hàng ngũ thiết kế chương trình học cho bộ Giáo Dục.
Chúng tôi khẩn thiết đề nghị loại bỏ ngay những kẻ THIẾU PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC ra khỏi nhóm biên soạn chương trình giáo dục phổ thông.
Những kẻ đòi xóa bỏ điều 4 của hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đều là phản quốc, cần phải nghiêm trị./.
Yêu nước ST.
Niềm tin vào đấu tranh phòng, chống tham nhũng
Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã đạt được những kết quả đáng trân trọng và tự hào, tạo ra niềm tin trong Nhân dân và dần trở thành phong trào cách mạng trong quần chúng. Niềm tin ấy rất mãnh liệt và được nhân lên gấp bội, cùng với sự kỳ vọng cùa cả dân tộc ta sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đứng đầu, sẽ đoàn kết nhất trí cao, toàn tâm toàn ý phục vụ Nhân dân, phụng sự Tổ quốc, lãnh đạo công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng giành thắng lợi, góp phần làm cho đất nước ngày càng phát triển thăng hoa
TRỊ AN.
VAI TRÒ QUÂN ĐỘI TRONG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ]
Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán nhiều loại thông tin sai trái, thù địch, độc hại nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là hết sức cần thiết...
TRỊ AN.
Nhận diện những kẻ xuyên tạc, bôi nhọ cuộc chiến chống tham nhũng của toand đảng, toàn quân, toàn dân ta, chúng rất xảo quyệt: Thông qua tham nhũng để chĩa mũi nhọn chống phá Đảng. Họ cho rằng, tham nhũng là căn bệnh kinh niên của “chế độ độc đảng cầm quyền”, “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng tất yếu xảy ra...”; và rồi vòng vo thế nào, họ cũng sẽ kết luận kiểu như “căn nguyên tạo ra tham nhũng là do đảng đứng trên pháp luật. Vì thế, phải thực hiện đa đảng để không còn hoặc là hạn chế tham nhũng”. Họ phủ định kết quả to lớn và quyết tâm chống tham nhũng của Đảng ta khi lớn tiếng “phán” rằng: “cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công”. Tất cả những lời lẽ xuyên tạc đó mục đích chính vẫn là để phủ định, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong phòng, chống tham nhũng.
Chiến thắng 30/4/1975 là sự kiện trọng đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra thời kỳ độc lập, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Đồng thời có ý nghĩa thời đại sâu sắc, thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội. Đã được nhân loại tiến bộ thừa nhận, đánh giá cao.
Tuy nhiên, một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức ngụy biện để phủ nhận giá trị lịch sử mang tính thời đại to lớn của sự kiện 30/4/1975. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta được nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ ủng hộ. Đồng thời lên án, phản đối cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 dành thắng lợi bằng sự kiện ngày 30/4/1975 mang tính chính nghĩa sâu sắc, phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của nhân dân Việt Nam, được nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới thừa nhận, ủng hộ. Mọi lời lẽ ngụy biện để xuyên tạc tính chất cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là có tội với lịch sử, với các thế hệ cha ông đã hy sinh cho sự bình yên, hạnh phúc của đất nước Việt Nam ta./.
Yêu nước ST.
❗LÀM SÂU SẮC HƠN NỮA MỐI QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - ẤN ĐỘ
____________
Chiều 20-4, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla và đoàn đại biểu Nghị viện Ấn Độ nhân dịp sang thăm chính thức Việt Nam.
Tại buổi tiếp, Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla bày tỏ vui mừng lần đầu tiên sang thăm Việt Nam; chuyển lời chào, chúc mừng trân trọng của Tổng thống và Thủ tướng Ấn Độ tới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Chủ tịch Hạ viện Om Birla đánh giá cao cuộc điện đàm thành công và thực chất giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Ấn Độ Narenda Modi vừa qua, trong đó hai bên đã trao đổi các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế.
Chủ tịch Hạ viện Om Birla chúc mừng những thành công của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, bày tỏ sự trân trọng về những đóng góp to lớn của Tổng Bí thư đối với việc phát triển mạnh mẽ mối quan hệ giữa Quốc hội hai nước. Chủ tịch Hạ viện Om Birla khẳng định, Ấn Độ coi Việt Nam là một trụ cột trong chính sách “Hành động hướng Đông” và Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Hai nước chia sẻ lợi ích và tầm nhìn về các vấn đề khu vực và quốc tế, có mối quan hệ gắn bó về lịch sử và văn hóa, vì vậy có nhiều tiềm năng để tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Chủ tịch Hạ viện Om Birla nhấn mạnh về sự phối hợp giữa hai nước trên các vấn đề quốc tế; đề nghị thúc đẩy hơn nữa hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, thương mại, năng lượng, du lịch, trao đổi văn hóa, giao lưu nhân dân.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla và đoàn đại biểu Nghị viện Ấn Độ sang thăm chính thức Việt Nam. Tổng Bí thư cho rằng, chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong bối cảnh hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao trong năm nay, góp phần củng cố và tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chia sẻ về mối quan hệ truyền thống với nhiều điểm tương đồng, luôn giúp đỡ ủng hộ lẫn nhau giữa hai nước; cảm ơn sự hỗ trợ của Ấn Độ dành cho Việt Nam trong ứng phó với đại dịch Covid-19. Nhất trí với những đề nghị thúc đẩy hợp tác của Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị hai bên thời gian tới tiếp tục phối hợp và chia sẻ kinh nghiệm nhằm làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Hai bên tiếp tục trao đổi, tham vấn, phối hợp chặt chẽ trong các diễn đàn nghị viện quốc tế, chia sẻ quan điểm trong các vấn đề khu vực và quốc tế, đóng góp vào việc củng cố môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam, sáng 20-4, Chủ tịch Hạ viện Ấn Độ Om Birla dẫn đầu đoàn đại biểu Nghị viện Ấn Độ đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cùng ngày, Chủ tịch Hạ viện Om Birla và đoàn đại biểu Nghị viện Ấn Độ đã có chuyến tham quan vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
KỶ NIỆM 152 NĂM NGÀY SINH V. I. LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2022)
Vơlađimia Ilich Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.
Vơlađimia Ilich Lênin(Vladimir Ilyich Lenin) sinh ngày 22 tháng 4 năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Vơlađimia Ilich Lênin tên thật là Vơlađimia Ilich Ulianôp (Vladimir Ilyich Ulianov), các bí danh đã dùng là V. Ilin, K. Tulin, Karpov và những bí danh khác.
Năm 1887, V. I. Lênin tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học được nhận Huy chương vàng nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga. Ông xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, V. I. Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko-Simbirskoe. Do tham gia tuyên truyền cách mạng trong sinh viên, tháng Chạp 1887, V. I. Lênin bị đuổi học và bị phát lưu đến làng Kokushino Kazan. Tháng 10 năm 1888, trở về Kazan gia nhập nhóm Mácxít. V. I. Lênin có nghị lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách, năm 1891, V. I. Lênin đã thi đỗ tất cả các môn học của chương trình 4 năm khoa Luật trường ĐH Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt nghiệp khoa luật V. I. Lênin làm trợ lý luật sư ở Samara. Tháng 8/1893, chuyển về Peterburg.
Năm 1894, trong cuốn Thế nào là những người bạn dân và học chiến đấu chống lại những người xã hội dân chủ như thế nào? Và năm 1899, trong cuốn Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga, V. I. Lênin được thừa nhận là người lãnh đạo của nhóm Mácxít ở Nga.
Mùa thu 1895, V. I. Lênin thành lập ở Pêtecbua (Peterburg) Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Pêtecbua. Ở Mátxcơva, Kiep, Iarôxlap và những thành phố khác cũng thành lập các hội liên hiệp tương tự. V. I. Lênin đã gặp Nadơgiơđa Conxtantinôva Cơrupxcaia (Nadegiơda Konstantinovna Krupskaia). Hai người yêu nhau và trở thành bạn đời chung thuỷ. Đêm mồng 9 tháng Chạp năm 1895, do bị tố giác, nhiều hội viên của Hội liên hiệp, trong đó có V. I. Lênin bị cảnh sát bắt. Sau 14 tháng bị cầm tù, tháng Hai năm 1897, V. I. Lênin bị đi đày 3 năm ở làng Shushenkoe (miền Đông Sibir). Trong thời gian lưu đày, V. I. Lênin đã viết xong hơn ba mươi tác phẩm, trong đó có cuốn khá đồ sộ: Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga (1899).
Năm 1900, thời hạn lưu đày của V. I. Lênin kết thúc. Người lại tập hợp những người Mácxít cách mạng thành lập đảng. Chính quyền Nga hoàng cấm V. I. Lênin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. V. I. Lênin phải ra nước ngoài (1900), cùng với Pơlêkhanôp (Plekhanov) lập ra tờ báo Tia lửa. Năm 1903, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga. V. I. Lênin phát biểu phải xây dựng một đảng Mácxít kiểu mới có kỷ luật nghiêm mình, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng. Nhóm số đông ủng hộ V. I. Lênin gọi là những người Bônxêvich (Bolshevik), nhóm số ít chủ trương thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị viện gọi là những người Menxêvich (Menshevik). Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảng kiểu mới này V. I. Lênin đã trình bày trong cuốn Làm gì (1902) và cuốn Một bước tiến hai bước lùi (1904). Trong thời kỳ cách mạng 1905 - 1907, V. I. Lênin đã phát triển tư tưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ năm 1905.
Tháng Tư năm 1905, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ III Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Đại hội. Tại Đại hội này, Uỷ ban Trung ương đã được bầu ra do V. I. Lênin đứng đầu. Tháng Mười Một năm 1905, V. I. Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng Chạp 1907, V. I. Lênin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908) V. I. Lênin phê phán sự xét lại về mặt triết học chủ nghĩa Mác và phát triển những cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác. Tháng Giêng năm 1912 lãnh đạo Hội nghị lần thứ VI (Praha) toàn Nga Đảng Công nhân xã hội dân chủ. Tháng Sáu năm 1912 từ Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này, V. I. Lênin soạn thảo xong Đề cương Mácxít về vấn đề dân tộc. Cuối Tháng Bảy năm 1914, bị cảnh sát áo bắt nhưng sau đó ít lâu được trả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ. Trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ I, V. I. Lênin đưa ra khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng.
Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916) và những tác phẩm khác, V. I. Lênin đã phát triển chính trị kinh tế học Mácxít và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiện toàn những vấn đề cơ bản của triết học Mácxít (Bút ký triết học). Tại Hội nghị quốc tế những người theo chủ nghĩa quốc tế tại Thuỵ Sĩ (1915), V. I. Lênin đã tập hợp những người xã hội dân chủ cánh tả đoàn kết lại. Sau cách mạng Tháng Hai năm 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là chính phủ lâm thời tư sản (chuyên chế của giai cấp tư sản) và một bên là Xôviết các đại biểu công nhân và binh sĩ (chuyên chính vô sản). Những mâu thuẫn kinh tế và chính trị sâu sắc ở nước Nga lúc bấy giờ đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc đời sống chính trị nước Nga. Ngày 16 tháng Tư V. I. Lênin đến Petrograd để trình bày Luận cương Tháng Tư thực chất là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần thứ VII toàn Nga (Tháng TƯ 1917) của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga đã nhất trí thông qua đường lối do V. I. Lênin đề ra.
Sau cuộc khủng hoảng chính trị ở nước Nga (Tháng Bảy năm 1917), V. I. Lênin buộc phải về vùng Pazzliv cách Pêtrôgrat (Petrograd), nay là Pêtecbua, 34km để tránh sự truy lùng của Chính phủ lâm thời. Từ nơi hoạt động bí mật, V. I. Lênin thường xuyên chỉ đạo phong trào cách mạng nước Nga. Đầu tháng Tám năm 1917, Đại hội lần thứ VI Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga họp bán công khai ở Pêtrôgrat, V. I. Lênin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Trong thời gian này, V. I. Lênin viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền bằng con đường đấu tranh vũ trang. Đầu tháng Mười năm 1917, V. I. Lênin từ Phần Lan bí mật trở về Pêtrôgrat. Ngày 23 tháng Mười năm 1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của V. I. Lênin đề ra được Hội nghị Uỷ ban trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga thông qua.
Tối ngày 6 tháng 11 năm 1917, V. I. Lênin đến Cung điện Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7 tháng Mười một năm 1917, toàn thành phố Pêtecbua nằm trong tay những người khởi nghĩa, và đến đêm ngày 7 tháng Mười Một 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Chính quyền đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời. Tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên nhân dân (Hội đồng Dân uỷ). Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, theo đề nghị của V. I. Lênin, Hoà ước Brest với nước Đức đã được ký kết (ngày 3 tháng Ba năm 1918). Ngày 11 tháng Ba năm 1918, V. I. Lênin cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ Xô Viết trở về Mátxcơva, V. I. Lênin đã có công lao to lớn trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước; trong việc lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. V. I. Lênin thi hành chính sách đối ngoại Xô Viết, đề ra những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau.
Ngày 30 tháng 8 năm 1918, V. I. Lênin bị ám sát và bị thương nặng, nhưng sau đó ít lâu sức khoẻ hồi phục, V. I. Lênin là người sáng lập Quốc tế Cộng sản (1919). Tháng Ba năm năm 1919, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Nga đã thông qua Cương lĩnh mới của Đảng, V. I. Lênin được bầu là chủ tịch Uỷ ban soạn thảo Cương lĩnh Mùa xuân năm 1920, V. I. Lênin viết cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh của chủ nghĩa cộng sản trình bày những vấn đề chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản. Thời gian này, V. I. Lênin soạn thảo xong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa đất nước, hợp tác hóa gia cấp nông dân, cách mạng văn hóa) là người sáng lập ra Kế hoạch điện khí hóa toàn Nga (GOELRO), người đề ra chính sách kinh tế (NEP). Năm 1921, chính sách NEP của V. I. Lênin được thông qua tại Đại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Nga.
Năm 1922, V. I. Lênin ốm nặng. Trong diễn văn cuối cùng đọc tại hội nghị toàn thể Xô Viết đại biểu thành phố Mátxcơva (ngày 20 tháng 11 năm 1922), V. I. Lênin tin tưởng rằng thi hành chính sách NEP nước Nga sẽ trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Tháng Chạp năm 1922 đến tháng Ba năm 1922, V. I. Lênin đọc ghi âm lại một số bài báo quan trọng như: Những trang nhật ký, Bàn về hợp tác hóa, Bàn về cách mạng của chúng ta, Thà ít mà tốt, Thư gửi Đại hội.
Ngày 21 tháng Tư năm 1924, V. I. Lênin qua đời ở làng Gorki, gần thủ đô Mátxcơva. Thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng trường Đỏ, Mátxcơva cho tới nay. Tại nước Nga hiện nay, tên của ông được đặt cho 1 tỉnh của Nga (tỉnh Lêningrat (Leningrad), nằm sát cố đô Xanh Pêtecbua (Saint Petersburg), nơi Lênin lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười; thành phố quê hương của Lênin thì được đặt tên là Ulianôp (Ulyanovsk) để tưởng nhớ ông (Lênin có họ là Ulianôp)./.
Ngắn gọn vài câu về việc Sử chính thức trở thành một môn học tự chọn.
Đầu tiên, việc này có thể không ảnh hưởng gì, nhưng cũng có thể trở thành viên gạch vỡ làm sập cả toà thành. Điều này chắc tương lai mới trả lời được chính xác.
Thứ hai, chẳng có một quốc gia nào mà dạy Lịch sử một cách khách quan, trung thực cả. Một là môn Lịch sử được dạy trong trường là để bồi đắp, xây dựng lòng tự hào dân tộc bằng quá khứ vẻ vang, thứ hai là lịch sử còn bao gồm nhiều yếu tố chính trị phức tạp, không phù hợp đưa vào hệ thống giáo dục dưới Đại Học. Nên trước khi đòi Việt Nam phải dạy lịch sử khách quan, thì bảo Mỹ bớt tô hồng cuộc diệt chủng dân da đỏ đi đã…
Thứ ba, một dân tộc sẽ biến mất, bị đồng hoá khi mất đi VĂN HOÁ và LỊCH SỬ. Văn hoá thì các bạn cũng biết hiện giờ nó tệ cỡ nào rồi, nhất là văn hoá truyền thống, Lịch Sử thì ôi thôi, nhiều người vẫn còn ngỡ Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em… Về hậu quả của nó thì cứ ngó sang Ukraine là gần nhất cho dễ hiểu.
Thứ tư, đây là một nước đi thực sự khó hiểu, thay vì đổi mới cách thi, cách học, thì BGD lại quyết định chọn cách dễ nhất là bỏ luôn cho nhẹ đầu =)). Đứng trước làn sóng lật sử đang ngày càng mạnh mẽ, việc buông xuôi cho kẻ địch mặc sức hoành hành thì có lẽ là….
1000 năm Bắc thuộc Trung Quốc chưa thể đồng hoá được dân tộc Việt, 100 năm đô hộ phương Tây cũng chỉ tạo ra được một lũ me Tây thiểu số. Đúng là chả có gì phá hoại nhanh hơn tự huỷ./.
Trong bối cảnh khu vực và thế giới có những biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, với các thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen như hiện nay, vấn đề bảo vệ lợi ích chiến lược của các quốc gia - dân tộc càng được đặt ra cấp thiết. Để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước, Việt Nam luôn tích cực, chủ động phát huy, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Khái niệm lợi ích chiến lược
Lợi ích là sự phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội (cá nhân, tập đoàn, giai cấp, tầng lớp, quốc gia, dân tộc...) trong những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định. Lợi ích của đất nước bao giờ cũng được phản ánh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao...; có các hình thức lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; lợi ích trong nước và các lợi ích hợp pháp khác ở nước ngoài. Đối với Việt Nam, lợi ích quốc gia - dân tộc là lợi ích của nhân dân; bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước là nội dung cốt lõi, nền tảng, nguyên tắc bất biến để giải quyết mọi vấn đề.
Chiến lược là tổng thể các phương châm, chính sách và mưu lược được hoạch định để xác định mục tiêu, sắp xếp, quy tụ lực lượng và đề ra giải pháp nhằm đạt một mục đích nhất định bằng con đường có lợi nhất, tạo ra trạng thái phát triển mới của một lĩnh vực (chiến lược chuyên ngành), toàn xã hội (chiến lược quốc gia) hoặc toàn thế giới (chiến lược toàn cầu) trong một thời kỳ nhất định. Chiến lược được áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, quân sự, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... Việc lựa chọn các mục tiêu chiến lược hiện thực (mục tiêu cơ bản, mục tiêu trung gian, mục tiêu trước mắt), sắp xếp lực lượng chiến lược hợp lý (lực lượng chủ lực, lực lượng hậu bị) và tìm các giải pháp chiến lược khả thi (giải pháp cơ bản, giải pháp tình thế, các chính sách liên quan) là các yếu tố đặc trưng của chiến lược.
Căn cứ vào tầm quan trọng của lợi ích, có thể thấy lợi ích cơ bản của Việt Nam là Tổ quốc độc lập, thống nhất, giàu mạnh, lãnh thổ toàn vẹn (cả vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo), nhân dân làm chủ để thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc. Lợi ích chiến lược là nội dung cốt lõi trong lợi ích cơ bản của đất nước, nó có hàm nghĩa sâu hơn. Lợi ích chiến lược của đất nước là tổng thể các mục tiêu cơ bản, trước mắt, lâu dài và mang tầm vĩ mô cần đạt được trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - công nghệ, quân sự, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ chính trị, bảo đảm quốc gia - dân tộc ngày càng phát triển lớn mạnh, có vị thế quốc tế ngày càng cao. Lợi ích chiến lược của đất nước không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia - dân tộc, mà còn là những lợi ích chính đáng nằm bên ngoài biên giới, lãnh thổ; là những quyền liên quan đến khả năng sinh tồn và phát triển của đất nước như hòa bình, hợp tác và phát triển; là quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển, trên không, đất liền, trên không gian mạng, dưới lòng đất... được luật pháp quốc tế công nhận. Nội dung tối thượng trong lợi ích chiến lược của đất nước là “giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm các điều kiện cho sự phát triển của quốc gia - dân tộc”; mục tiêu lớn nhất là sự trường tồn và hưng thịnh của đất nước.
Lợi ích chiến lược của đất nước là căn cứ quan trọng để xác định hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện, tiến hành bằng cả sức mạnh vật chất và tinh thần trong quá trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược. Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước là bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị - xã hội, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột...; bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển, đất liền, dưới lòng đất, trên không, trên không gian mạng...; bảo vệ cục diện đã được thiết lập, đan cài với các nước, có lợi cho Việt Nam; không đẩy Việt Nam vào trạng thái bị động, bất ngờ, trong thế bị bao vây, cô lập trên trường quốc tế; lấy sự ràng buộc lợi ích giữa Việt Nam với các nước để tạo thế cân bằng chiến lược trong mọi tình huống... Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước phải dựa vào đấu tranh kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa - xã hội... trong đó, lấy đấu tranh ngoại giao, pháp lý là chủ yếu. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(1).
Bảo vệ lợi ích chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Cạnh tranh chiến lược, xung đột cục bộ diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và gay gắt hơn. Xu hướng đề cao sự tương đồng lợi ích đóng vai trò chi phối; tính đối tác, đối tượng trong quan hệ quốc tế đan xen, chuyển hóa linh hoạt, trên từng lĩnh vực cụ thể: “Tình hình tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh lợi ích giữa các nước diễn ra phức tạp, vừa mang lại cơ hội, vừa đặt các nước khác, nhất là các nước vừa và nhỏ trước nhiều khó khăn, thách thức. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế”(2). Các nước ngày càng có xu hướng thực dụng trong chính sách đối ngoại vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Lịch sử quan hệ giữa các quốc gia đã chứng minh, lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu cơ bản và nhân tố quyết định trong việc hoạch định chính sách đối ngoại. Vì lợi ích của quốc gia - dân tộc mình, các nước lớn có thể thương lượng, điều hòa lợi ích với nhau bằng cách “bật đèn xanh” hay làm ngơ cho những hành động xâm lấn bằng các hình thức, thậm chí dùng sức mạnh kinh tế, quân sự... bất chấp luật pháp quốc tế tiến hành xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các nước... khiến luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn.
Trong một số trường hợp, vì lợi ích trước mắt hoặc lâu dài của mình, nhiều nước không chỉ im lặng không lên án, phản đối hành động sai trái, mà còn lên tiếng ủng hộ những hành động sai trái, vi phạm luật pháp quốc tế... Trong giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị của thế giới, khu vực, một số nước đã thay đổi lập trường, quan điểm từ đồng thuận, ủng hộ sang quan điểm trung dung, im lặng và thậm chí là đối lập, từ đó làm thay đổi cục diện trong tương quan so sánh lực lượng, đẩy nước khác vào thế bị động, bất ngờ và bị cô lập. Đặc biệt nguy hiểm hơn là các nước lớn có thể biến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước nhỏ trở thành “vật trao đổi” lợi ích của họ trong bàn cờ chính trị thế giới... hoặc sử dụng tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự vượt trội, tiến hành các hoạt động chèn ép về kinh tế, chính trị, ngoại giao, răn đe về quân sự, thậm chí là ngang nhiên, trắng trợn xâm lấn biên giới, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước khác, bất chấp luật pháp quốc tế.
Ở trong nước, các thế lực thù địch tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đặc biệt nguy hiểm là, các thế lực phản động ở trong nước móc nối với lực lượng phản động, thù địch ở ngoài nước lựa chọn các phần tử cực đoan để xây dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng, tiến hành các hoạt động chống phá, mưu toan gây mất đoàn kết giữa các dân tộc; tạo ra các “điểm nóng”, gây ra các vụ bạo loạn, để lực lượng phản động, thù địch ở nước ngoài can thiệp, hòng lật đổ chế độ; đòi ly khai, tự trị, đòi thành lập các thực thể riêng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước, như cái gọi là: “Nhà nước Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc...; gia tăng lợi dụng quá trình cải cách thể chế, pháp luật, thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam để từng bước tác động chuyển hóa, can thiệp công việc nội bộ của nước ta, thông qua việc câu kết với các đối tượng trong nước chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, nhằm từng bước thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam. Các vấn đề này trực tiếp đe dọa đến an ninh quốc gia và lợi ích quốc gia - dân tộc
Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước, cần tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:
Một là, đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước phải gắn chặt với bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ các giá trị chuẩn mực của luật pháp quốc tế.
Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước phải được thực hiện trên tinh thần độc lập, tự chủ. Việt Nam luôn nhất quán quan điểm không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể, “Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”(3). Việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng được thực hiện theo phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình (đàm phán, trọng tài, tòa án quốc tế...) trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích chiến lược của đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ các chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Kêu gọi sự ủng hộ, đồng thuận của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên tinh thần luật pháp quốc tế.
Trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước không chỉ sử dụng thuần túy sức mạnh nội sinh của quốc gia - dân tộc, mà cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong đó, sức mạnh quốc tế chỉ được phát huy cao độ khi Việt Nam đứng vững trên lập trường chính nghĩa, dựa trên luật pháp quốc tế, phù hợp với giá trị chung mà nhân loại cùng quan tâm, như: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp với luật pháp quốc tế; phát huy vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới; mở rộng hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực, quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “đẩy mạnh đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, tăng cường đan xen lợi ích; xử lý linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn”(4).
Sử dụng hiệu quả các biện pháp chính trị ngoại giao tại khoản 1, Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc: “Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”. Đồng thuận, nhất quán với quan điểm đó, nhân kỷ niệm 53 năm Ngày thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2020), Bộ trưởng Ngoại giao của 10 nước ASEAN đã ra Tuyên bố về việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á: “Kêu gọi tất cả các nước kiềm chế, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực và giải quyết các khác biệt và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Tôn trọng luật pháp quốc tế là cách thức hữu hiệu nhằm ngăn ngừa xung đột cũng như tìm kiếm những giải pháp lâu bền cho tranh chấp, xung đột. Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục ủng hộ mọi nỗ lực thực hiện các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, từ thương lượng, hòa giải tới việc sử dụng các cơ chế pháp lý quốc tế. Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, mềm dẻo, linh hoạt, kiên trì, kiên quyết trong giải quyết mối quan hệ với các nước, tổ chức quốc tế vì lợi ích chiến lược của đất nước.
Tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực đang có sự thay đổi dẫn đến sự điều chỉnh chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, tập hợp lực lượng xung quanh các nước lớn và trật tự khu vực đang diễn ra quyết liệt, khó lường. Việt Nam, với vị thế địa - chính trị của mình cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy của thay đổi tương quan lực lượng và điều chỉnh chính sách của các nước lớn trong khu vực, đòi hỏi cũng phải có sự điều chỉnh chính sách, nhất là chính sách đối ngoại để thực hiện được mục tiêu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước theo phương châm: Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế: “Thúc đẩy việc tôn trọng, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản và phổ quát của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế trong quan hệ quốc tế, nhất là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị - xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước... bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, bác bỏ hành vi cường quyền, áp đặt, gây căng thẳng và thù địch trong quan hệ quốc tế”(5).
Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam cần chủ động tranh thủ, khai thác có hiệu quả những điểm tương đồng, tạo dựng mặt đồng thuận, hạn chế, khắc chế mặt bất đồng với những tác hại đến lợi ích chiến lược của đất nước. Coi trọng và xử lý đúng đắn, linh hoạt, hài hòa quan hệ giữa các nước, nhất là các nước lớn, các nước có chung đường biên giới, các nước láng giềng, các tổ chức khu vực và quốc tế dựa trên vị trí địa chiến lược, lợi ích chiến lược của đất nước. Thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh và phát triển bền vững. Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, các đảng cầm quyền ở các nước và những tổ chức, phong trào tiến bộ khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương trong khu vực và trên thế giới. Chủ động đẩy mạnh hợp tác theo hướng thiện chí, minh bạch, tăng cường xây dựng lòng tin với các đối tác. Trong đó, cần khéo léo, không để hiểu lầm Việt Nam “bắt tay” với nước này chống nước kia, gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc.
Bối cảnh quốc tế, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó đoán định. Do đó, cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo toàn diện tình hình và xu thế phát triển trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, đối ngoại, khoa học - công nghệ, quân sự... của quốc tế, khu vực, các nước lớn, các nước ở Đông Nam Á; thực trạng và xu hướng phát triển mối quan hệ giữa các nước lớn, các nước Đông Nam Á, các nước có nhiều lợi ích liên quan đối với Việt Nam. Nhận diện kịp thời, đúng đắn, thực chất mối quan hệ, sự thỏa thuận hoặc mâu thuẫn, thống nhất giữa các nước lớn với các nước ở khu vực trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực liên quan đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc lớn (chủ nghĩa sô-vanh mới), chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân tộc ly khai và chủ nghĩa dân tộc biệt lập.
Đấu tranh, phê phán các quan điểm sai lầm, phản động trong việc tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình, xem nhẹ lợi ích của quốc gia - dân tộc khác, lảng tránh những vấn đề toàn cầu, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhân loại, như dịch bệnh, đói nghèo, ô nhiễm môi trường và chiến tranh... Kiên quyết, kiên trì trong việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biên giới trên bộ, trên biển, đảo bằng giải pháp hòa bình, trên cơ sở hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích giữa các nước, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong đó, hợp tác giải quyết tốt các vấn đề về xung đột lợi ích giữa các quốc gia trên biển, nhất là việc giải quyết thỏa đáng vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia ở Biển Đông; kiên trì, kiên quyết bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế.
Xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, kiên quyết thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), kiên trì thông qua đối thoại giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, hạn chế, loại trừ xung đột vũ trang, tạo môi trường và điều kiện tốt nhất để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước. Kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, lợi ích địa phương, lợi ích riêng của doanh nghiệp mình mà làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chiến lược của đất nước trong quá trình hợp tác, quan hệ với nước ngoài. Thường xuyên nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Ba là, tích cực, chủ động nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại,tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đi vào chiều sâu, thực chất trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; vì lợi ích quốc gia - dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; không ngừng nâng cao uy tín và vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Điều này thể hiện Việt Nam không chỉ “là bạn, đối tác tin cậy” của các quốc gia, mà còn phải là “một thành viên có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế.
Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong hợp tác quốc tế về pháp luật. Gia tăng sự đan xen gắn kết lợi ích, mức độ tùy thuộc lẫn nhau về mọi mặt, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh giữa Việt Nam với các đối tác. Muốn vậy, Việt Nam cần nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia, phải có thực lực mạnh thì lợi ích chiến lược của đất nước mới được giữ vững, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”(6). Thực lực của Việt Nam là sức mạnh tổng hợp mọi mặt cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...; cả “thực lực vật chất” và “thực lực phi vật chất”, “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”; kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Thực tiễn cho thấy, các nước lớn luôn giữ vai trò dẫn dắt, định hình cục diện; tuy nhiên, những quốc gia tầm trung, có thực lực đủ mạnh luôn giữ được một vị thế, vai trò nhất định, ở vào một vị thế tốt hơn để bảo vệ độc lập, tự chủ, lợi ích chiến lược của đất nước.
Tích cực và chủ động sử dụng các diễn đàn, cơ chế khu vực do ASEAN giữ vai trò chủ đạo để tạo thuận lợi cho các đối tác tham gia và đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không trên Biển Đông. Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam. Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Tích cực tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh của nhân dân và các tổ chức, các lực lượng tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nâng cao khả năng thích ứng năng động và linh hoạt xử lý hài hòa lợi ích quốc gia với quan tâm chung, tùy theo từng đối tượng, vấn đề, thời điểm cụ thể, phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử tại khu vực, trên tinh thần lợi ích quốc gia - dân tộc là tối cao.
Giải quyết tốt những vấn đề do lịch sử để lại với các nước láng giềng, làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Chủ động hóa giải những vấn đề mới nảy sinh một cách có hiệu quả; tuyệt đối không để các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại nhằm kích động hận thù dân tộc, chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa các nước, làm cho tình hình quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng trở nên phức tạp, khó lường, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. Thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, nâng cao năng lực hội nhập và mức độ hưởng lợi từ hội nhập, tiếp tục có những đóng góp xứng đáng vào việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường khu vực và quốc tế. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, không lệ thuộc trong quan hệ với các nước, trong đó có các nước lớn. Ngoài ra, yêu cầu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước đòi hỏi rất cao ý thức trách nhiệm công dân của mọi người dân Việt Nam, ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc của các chủ thể, các lực lượng, đặc biệt là những lực lượng trực tiếp tham gia các hoạt động đối ngoại, hợp tác với nước ngoài, trong đó tập trung nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chú trọng đào tạo, sắp xếp, bố trí hợp lý đội ngũ các chuyên gia tư vấn, xây dựng chiến lược, đường lối, chính sách, pháp luật./.
Ở nước ta hiện nay, bên cạnh lối sống vì con người, vì cộng đồng xã hội được ví như những đóa hoa tỏa ngát hương thơm làm đẹp cho đời thì vẫn còn một bộ phận người có lối sống tiêu cực, gây hại cho cách mạng và xã hội, đó là lối sống thực dụng.
Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cảnh báo có một bộ phận cán bộ, đảng viên mang biểu hiện: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể”.
Một loại “vi trùng độc hại” phá hủy nhân cách từ bên trong
Trong hơn 9 thập niên lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã giáo dục, rèn luyện một lớp thế hệ cán bộ, đảng viên kiên trung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Có rất nhiều câu chuyện về lối sống cao đẹp của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Điển hình như câu chuyện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kể về Bí thư Đảng ủy xã Tiến Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) nảy ra sáng kiến cho vật liệu lót đường trước, rồi mới cho đất đá vào thì đường mới chịu được sức nặng của đoàn xe. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đã triệu tập đảng viên họp và yêu cầu dỡ nhà, chặt tre lót đường cho xe qua. Được Đảng bộ xã hưởng ứng, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã về dỡ nhà mình trước. Khi dỡ nhà, có người đến hỏi: “Sao ông dỡ nhà?”. Đồng chí trả lời: “Vì miền Nam ruột thịt, vì chiến trường đang thiếu vũ khí chiến đấu, tôi không thể đứng nhìn đoàn xe không qua được. Xe chưa qua, nhà không tiếc!”. Sau đó, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã cho người nhà cùng với bộ đội, thanh niên xung phong, vác gỗ, tre ra để làm nền đường.
Những tình cảm, trách nhiệm vì dân, vì nước vẫn được phần đông cán bộ, đảng viên giữ gìn, phát huy trong thời đại mới. Tuy nhiên, những năm qua, cũng đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng. Một trong những biểu hiện dễ thấy của người cán bộ, đảng viên có lối sống này là sống vị kỷ, xem lợi ích của mình là tối thượng, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Những người này thường “vui trước thiên hạ, lo sau thiên hạ”, họ luôn tìm mọi cách thu vén, thậm chí tranh đoạt lợi ích cho riêng mình, bất chấp việc đó có ảnh hưởng đến người khác và tập thể hay không.
Cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng thường có tham vọng rất lớn, hám công danh, địa vị; họ tìm mọi cách để đạt được mục tiêu chính trị, leo lên các vị trí chức vụ cao, sẵn sàng “chạy” dưới mọi hình thức để dễ bề kiếm chác. Trong công việc, ngoài mặt thì họ tỏ ra tích cực, trách nhiệm, nhưng đằng sau đó, họ lại làm cho xong việc, làm cho có, cốt “đánh trống ghi tên”; khi gặp khó khăn, người có lối sống thực dụng thường dễ thoái chí, bàn lui, không dám làm, tìm cách đùn đẩy, co cụm sống trong “khoảng an toàn”; khi có thành tích thì tranh công, khi có khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi, không dám nhận trách nhiệm về mình. Thậm chí, người có chức vụ, quyền hạn đã dung dưỡng, bao che cho sai trái, tiêu cực, từ đó tạo ra những nhóm lợi ích để trục lợi. Trong ứng xử, người có lối sống thực dụng chỉ chú tâm vào mối quan hệ đem lại giá trị cho họ, các mối quan hệ có giá trị lợi dụng càng lớn thì càng tỏ vẻ chặt chẽ, thân thiết, nhưng khi mối quan hệ đó không còn mang lại lợi ích cho họ thì nhanh chóng nhạt phai.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao”. Yếu tố tác động, gây ra tính chất nguy hiểm trên đều có sự “góp mặt” của lối sống thực dụng đã và đang hiện hữu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.Trong những dịp được gặp gỡ, trò chuyện với các thế hệ đảng viên đi trước, khi được hỏi về lối sống thực dụng hiện nay, các bậc tiền bối đều cảm thấy lo lắng về tác hại của lối sống này đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ. Nhiều đảng viên lão thành từng cảnh báo rằng, nếu cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng sẽ rất nguy hại với tổ chức, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm giảm uy tín, hình ảnh của cán bộ, đảng viên trong lòng nhân dân.
Nêu gương thực hành đạo đức cách mạng-"ngọn lửa" thiêu rụi lối sống ích kỷ, thực dụng
Lối sống thực dụng bắt đầu hình thành từ trong tư tưởng, nhận thức, đến một giai đoạn nhất định, nó sẽ được thể hiện thông qua hành động của chủ thể. Từ chỗ cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, khi bị tác động bởi lối sống thực dụng nếu không có sự trui rèn đạo đức, lối sống, con người bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đắn đo giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ, từng bước tạo ra sự chuyển hóa từ bên trong, khiến cho người mang lối sống này không còn là chính họ của ngày hôm qua.
Chúng ta rất quen thuộc với câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây là lời nói dân gian nhưng trong đó chứa đựng tình cảm, sự tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên và thể hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Muốn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình và góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, cán bộ, đảng viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là về đạo đức, lối sống.
Cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng thì lối sống thực dụng sẽ không có cơ hội phát sinh, phát triển. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng, là thước đo phẩm chất của người cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Đạo đức cách mạng là bài thuốc hữu hiệu, đặc trị “vi trùng độc hại”-lối sống thực dụng. Để diệt tận gốc “vi trùng độc hại” này, phương thức tối ưu nhất đó là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng: Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp.
Điều quan trọng nhất là cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức. Đây là hành động cơ bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tế trong Đảng ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí trái ngược nhau. Không ít quan chức tự cho mình cái quyền được nói “làm những điều tôi nói, không được nói điều tôi làm”, thậm chí có người rất hay "lên mặt" rao giảng, dạy dỗ người khác bằng những từ đại ngôn, hoa mỹ, nhưng hành động, việc làm lại trái những nguyên tắc của Đảng, thậm chí còn làm ô danh Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn liền với việc làm, hành động cụ thể, mang lại ích nước, lợi dân.
Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay.
⁃ Thưa các vị chuyên gia đã và đang tham mưu cho Bộ về Chương trình giáo dục phổ thông các cấp!
Cách đây hơn ba tuần trên Chương trình thời sự buổi sáng của VTV1 đã đưa tin: Vào năm học 2022-2023 trở đi trong bảy môn học bắt buộc cho lớp 10 và PTTH không có môn lịch sử. Nghe xong thông tin này tôi bán tín, bán nghi phải chăng VTV đưa tin nhầm, hay tôi nghe không rõ. Bởi vì tôi cảm nhận không thể Ngành giáo dục Việt Nam, với quan điểm giáo dục Mác xít và lấy Tư tưởng của Bác Hồ làm nền tảng lại có chuyện lạ đời như vậy, đặc biệt là sau sự kiện 2012, khi mà cũng quý Bộ đã đề xuất bỏ môn sử mà tích hợp nội dung lịch sử vào các môn học khác như giáo dục công dân, giáo dục QPAN... đã bị dư luận xã hội phản đối mạnh mẽ, thậm chí có người mạnh miệng cho rằng trong Bộ GDĐT có người đã tự diễn biến, tự chuyển hoá, phá hoại nền giáo dục XHCN của chúng ta. Trước dư luận đó Quốc hội phải đưa ra thảo luận và nếu tôi nhớ không nhầm thì QH buộc phải ra một Nghị quyết chuyên đề yêu cầu không được bỏ môn lịch sử... và lúc đó khi nói chuyện thời sự, với tinh thần thẳng thắng tôi đã nói “nếu tôi được làm Thủ tướng, tôi sẽ cách chức ngay Bộ trưởng Bộ GDĐT và người tham mưu bỏ môn sử“. Thế nên, nay nghe Thông tin các vị gián tiếp bỏ môn sử, tôi thực sự thấy lạ lùng và nghĩ rằng không thế có điều này. Chính vì vậy tôi đề nghị với các đồng chí có trách nhiệm nắm lại xem có điều đó hay không và câu trả lời là đúng đã có quyết định như vậy của Bộ nhà. (Một anh bạn của tôi đã nhắn tin hỏi một lãnh đạo của Bộ và đã được trả lời chính xác như vậy đồng thời cũng đã được nghe lý giải vì sao không đưa môn lịch sử thành môn học bắt buộc ở cấp PTTH- nội dung giải thích đúng như nội dung ông Nguyễn Minh Thuyết với tư cách là Tổng chủ biên Chương trình giáo dục mới trả lời phỏng vấn trên VTC News đã bị cộng đồng mạng tuyệt đại phản đối).
Như vậy là đã rõ, lại một lần nữa Bộ lại tìm cách “bỏ“ môn lịch sử, lần này là ở cấp PTTH. Tôi xin quý đồng chí đừng vội giải thích rằng chúng tôi không bỏ hoặc quy cho tôi vu khống Bộ vì không bỏ mà nói “bỏ“. Thực ra các vị đã muốn bỏ từ lâu, song sức ép của xã hội và của người dân yêu nước các vị không dám công khai bỏ mà tìm cách gián tiếp bỏ ở cấp cao nhất của giáo dục phổ thông, đó là đưa môn sử trở thành môn tự chọn, và tất nhiên học sinh sẽ rất ít và rất rất ít em chọn môn sử (tôi còn nhớ tại thành phố Đà Nẵng đã có năm Hội đồng thi PTTH chỉ có một thí sinh dự thi môn lịch sử).
Một câu hỏi đặt ra: Tại sao Bộ Giáo dục Đào tạo lại tìm mọi cách để hạ thấp vai trò, vị trí của môn Lịch sử trong suốt 10 năm qua? Một môn mà bất cứ quốc gia nào cũng quan tâm (Trung Quốc xác định Lịch sử là một trong ba môn học quan trọng nhất, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ cũng xác định là môn bắt buộc học trong tất cả các cấp học...) và đặc biệt nền giáo dục XHCN với quan điểm dạy chữ là dạy người, giáo dục là nền tảng để đào tạo ra những con người mới XHCN, những con người yêu nước, yêu CNXH, có phẩm chất đạo đức và có năng lực hoạt động, vừa hồng, vừa chuyên góp phần xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì càng phải quan tâm đặc biệt đến môn Lịch sử.
Để trả lời câu hỏi này, tôi hoàn toàn không thể có câu trả lời nào khác là các đồng chí lãnh đạo Bộ đã xa rời Tư tưởng về giáo dục của Bác Hồ “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam“, xa rời quan điểm về Văn hoá của Đảng ta mà mới nhất ngay đầu năm tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc đã nhắc lại “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội: Văn hoá còn dân tộc còn; phải giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc...” và đặc biệt với cách làm đó đã vô tình hay cố ý tiếp tay cho những kẻ xét lại lịch sử (bởi vì khi đã làm cho xã hội mù sử thì đó là mãnh đất tốt để gieo mầm đổi trắng thay đen trong lịch sử, mà cuộc xung đột vũ trang ở Ukraine là tấm gương nhãn tiền trong việc nã đại bác vào lịch sử để rồi đưa cả dân tộc vào thảm họa), đồng thời cũng nằm trong âm mưu Diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch mà Mỹ là ông trùm xét lại lịch sử thế giới.
Thưa các đồng chí lãnh đạo của Bộ, mong các vị hãy vào mạng xã hội để nghe ai bảo vệ quan điểm loại môn sử ra khỏi môn học bắt buộc và ai phản đối mạnh mẽ sự việc này, để từ đó mà tự bạch lòng mình đã có trách nhiệm với lịch sử dân tộc hay chưa? Tôi xin khẳng định bất cứ ai hạ thấp xem thường và cố tình làm mù lịch sử đều là những người vô trách nhiệm với tiền nhân, vô cảm với thực tại và gây hậu quả tai hại với tương lại.
Với tấm lòng yêu nước của một người cháu của Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, là con của hai Liệt sĩ, là chiến sĩ Biệt động giải phóng hoạt động trong lòng thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi chân thành đề nghị các đồng chí hãy nhìn lại mình, nhận ra sai lầm khuyết điểm để tự sửa khi còn chưa muộn, đừng cho đây là việc nhỏ chỉ là một môn học mà hãy nhớ rằng lịch sử là cội nguồn dân tộc, lịch sử còn văn hoá còn, lịch sử mất văn hoá mất, văn hoá mất dân tộc mất, do vậy vấn đề học sử là vấn đề đại sự quốc gia xin chớ có xem thường.
Cuối thư xin gởi đến các đồng chí lãnh đạo của Bộ lời chào trách nhiệm!
Ảnh: Chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam, Trung tướng QĐNDVN Nguyễn Thanh Tuấn- Nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn/ TCCT QĐND Việt Nam.
Ngày 20/4/2022, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper nhấn mạnh việc nâng cấp quan hệ với Việt Nam không chỉ là ưu tiên của cá nhân ông mà là ưu tiên của chính quyền Mỹ. Ông cho biết ưu tiên của Mỹ hiện nay là nâng cấp quan hệ với Việt Nam từ Đối tác toàn diện lên Đối tác chiến lược. "Đây là một trách nhiệm mà tôi đang đảm nhận" - ông nói. Ông cho biết việc nâng cấp quan hệ hai nước chắc chắn không chỉ ưu tiên cá nhân Đại sứ mà là ưu tiên của chính quyền Mỹ.
Đây không phải là lần đầu Hoa Kỳ muốn nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên tầm cao mới, cách đây vài tháng, chính Phó Tổng thống Hoa Kỳ đã nhắc đến việc này. Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là mãi mãi trường tồn! Việt Nam - Hoa Kỳ đã xích lại gần nhau hơn, hợp tác trong nhiều lĩnh vực...tuy nhiên, muốn được trở thành Đối tác chiến lược thì các bạn phải lắng nghe, cầu thị. Chúng tôi quan ngại hết sức sâu sắc về tình hình nhân quyền của nước Mỹ. Sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử với người da đen và người vô gia cư hay việc xả súng bừa bãi, coi thường tính mạng nhân dân Mỹ. Các bạn cần cải thiện nhân quyền, không mang súng đạn đi xâm lược các quốc gia có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Không can thiệp chuyện nội bộ của Việt Nam chúng tôi. Dân Việt Nam hoan nghênh thiện chí của Mỹ, lãnh đạo đất nước tươi đẹp này sẽ xem xét, quyết định. Đúng là: Phất lên một cái chín nghìn anh em./.
Sau những thất bại liên tiếp trên các mặt trận Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và miền Đông Nam bộ, buộc ngụy quyền Sài Gòn phải “tử thủ Sài Gòn”. Vì vậy, địch tổ chức tuyến phòng thủ kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó Xuân Lộc là “một mắt xích quan trọng quyết phải giữ”, là “cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn.
Thị xã Xuân Lộc cách Sài Gòn khoảng 80km về phía Đông, án ngữ các trục giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A vào Sài Gòn, Quốc lộ 20 nối Sài Gòn với Đà Lạt và Quốc lộ 15 nối Sài Gòn với Bà Rịa-Vũng Tàu. Để quyết giữ Xuân Lộc bằng mọi giá, địch tập trung lực lượng, trang thiết bị, vũ khí quân sự tại tuyến phòng thủ Xuân Lộc, gồm: Sư đoàn 18 bộ binh, 1 Trung đoàn thiết giáp (100 xe), 1 Liên đoàn biệt động quân, 9 Tiểu đoàn bảo an, 2 Tiểu đoàn pháo binh (42 khẩu), 3 Đại đội biệt lập, 4 Trung đội pháo và các lực lượng cảnh sát, dân vệ, nghĩa quân tại chỗ (tương đương 2 Sư đoàn bộ binh)... Trong quá trình chiến dịch, địch tăng cường Lữ đoàn Dù 1, Trung đoàn Bộ binh 8 (Sư đoàn 5), 1 Liên đoàn biệt động quân và 1 Trung đoàn thiết giáp.
Đánh giá đúng tầm quan trọng của cửa ngõ Xuân Lộc, trên cơ sở nhận định tình hình chiến trường, ngày 2/4/1975, quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Miền đã quyết địch mở cuộc tiến công giải phóng Xuân Lộc.
Theo kế hoạch của Ban chỉ huy, 5 giờ 40 phút ngày 9/4/1975, Quân đoàn 4 đã nổ súng tiến công Xuân Lộc, tiến hành một chiến dịch gồm nhiều trận chiến đấu liên tiếp, liên kết chặt chẽ với nhau trong một không gian nhất định. Ngay từ ngày đầu, chiến dịch đã diễn ra vô cùng gay go, ác liệt. Trong ngày chiến đấu đầu tiên, quân ta đã chiếm được một phần hai thị xã, toàn bộ khu hành chính tiểu khu.
Trước thế mạnh của quân ta, địch đã điên cuồng chống trả, tăng cường lực lượng quyết giữ Xuân Lộc bằng mọi giá. Ngày 12/4/1975, Bộ Tổng tham mưu của ngụy quân Sài Gòn quyết định tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho Xuân Lộc: Đổ Lữ đoàn 1 dù xuống chốt tại ngã ba Tân Phong; đồng thời, nhanh chóng bố trí lại thế trận phòng thủ ở thị xã; đưa Lữ đoàn 3 thủy quân lục chiến, Chiến đoàn 318 biệt động quân đến chốt giữ Trảng Bom, Chiến đoàn 322 biệt động quân đến chốt ở Bàu Cá và điểm cao 122; đưa Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 từ Lai Khê sang tăng cường cho Bàu Cá; lệnh cho các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất tập trung 80 lần chiếc máy bay chiến đấu mỗi ngày trực tiếp chi viện cho các mũi phản kích. Như vậy, để cố thủ Xuân Lộc, địch đã tập trung trên 30% lực lượng bộ binh, 40% pháo binh và gần hết lực lượng xe tăng thiết giáp của Quân đoàn 3 - Quân khu 3 và lực lượng tổng dự bị chiến lược của ngụy quân Sài Gòn.
Khi chiến sự ở Xuân Lộc còn đang diễn ra trong thế giằng co, thì cánh quân duyên hải, nòng cốt là Binh đoàn Hương Giang, sau khi đập tan “lá chắn Phan Rang”, giải phóng Phan Thiết, Hàm Tân đã tiến vào khu vực Rừng Lá. Sức mạnh của một binh đoàn chiến lược thọc sâu vừa đánh tan những tập đoàn cứ điểm phòng thủ mạnh nhất của địch ở Huế, Đà Nẵng, Phan Rang không chỉ góp phần cô lập trực tiếp đối với quân địch ở Xuân Lộc, mà còn tạo sức ép mạnh đối với toàn bộ quân địch còn lại ở miền Nam.
Nhận thấy không thể đủ sức giành lại Dầu Giây, chiếc “then” của “cánh cửa thép” không còn, Bộ Tổng tham mưu ngụy quân Sài Gòn xuống lệnh rút khỏi Xuân Lộc để bảo toàn lực lượng. Theo đó, vào lúc 22h ngày 20/4/1975, lợi dụng lúc trời mưa lớn, theo tỉnh lộ 2, toàn bộ quân địch ở Xuân Lộc đã tháo chạy về hướng Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ngày 21/4/1975, Chiến dịch tiến công Xuân Lộc kết thúc thắng lợi, thị xã Long Khánh được hoàn toàn giải phóng. “Cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn - Gia Định đã mở toang. Thừa thắng, quân và dân các địa phương đã tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Long Khánh. Chiến thắng Xuân Lộc, làm suy sụp tinh thần kháng cự của binh lính ngụy quân Sài Gòn; tạo ra thế và lực mới để quân và dân ta bước vào trận quyết chiến trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975./.
Còn nhớ, cố Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã từng trả lời đanh thép
với Clinton rằng: "Thưa ngài, cái mà ngài gọi là "chiến tranh Việt
Nam" thì nhân dân Việt Nam chúng tôi gọi đó là "Cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước..."
Cuộc chiến xâm lăng văn hóa rất khác so với cuộc chiến thông
thường. Đây là một cuộc chiến tranh tâm lý, ngấm dần dần vào bộ đội, bắt đầu từ
sự lung lay, lệch lạc trong nhận