Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2022

Chủ nghĩa Mác-Lênin truyền bá vào Việt Nam là kết quả tất yếu khách quan


Ta phải khẳng định ngay rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền vào Việt Nam là kết quả tất yếu khách quan trong quá trình vận động của các yếu tố lịch sử trong và ngoài nước. Cần phải nhớ rằng xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, là một nước nô lệ. Trong hơn 80 năm trường nô lệ đó đã có nhiều hệ tư tưởng, nhiều đảng phái tồn tại, thu hút được một bộ phận nhân dân tham gia, hưởng ứng, thậm chí đã có những hành động cụ thể để giành độc lập nhưng đều bị Thực dân Pháp dìm trong biển máu, lý do là không có một đường lối lãnh đạo đúng đắn. Điều này khẳng định vai trò của Hồ Chí Minh trong một hoạt động có tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam, đó là việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lêninvào nước ta. Dưới sự dẫn lối, soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư ưởng Hồ Chí Minh, trong hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sảnViệt Nam từng bước lớn mạnh và phát triển, không chỉ đủ sức lãnh đạo nhân dân ta làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại mà còn lập nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Nhận diện và kiên quyết loại bỏ quan điểm phiến diện, sai trái


Tuy Hồ Chí Minh không có những công trình mang tính chuyên luận nhưng tư tưởng, lý luận không nhất thiết sinh ra từ những cuốn sách dày cộm, ví dụ như tác phẩm của Không Tử, Lão Tử như Luận ngữĐạo đức kinh chỉ là những lời giảng đạo của hai ông, được người đời sau chép lại nhưng ai dám bảo các ông không phải là nhà tư tưởng, sáng tạo học thuyết. Hơn nữa, một người có trí tuệ lỗi lạc uyên thâm như Hồ Chí Minh, muốn viết lý luận kiểu hàn lâm không phải không làm được nhưng với người dân Việt Nam với đại đa số là nông dân và cần phải nắm những vấn đề chính để vận dụng làm cách mạng nên cách nói, cách viết phải dễ hiểu, dễ nhớ vì lý luận là để áp dụng thực tế. Người phê phán: “Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: là quyết không muốn cho quần chúng xem”. Do đó, nếu nói không có tư tưởng Hồ Chí Minh thì nói như giáo sư Trần Văn Giàu, “nói rằng không có gì là tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng giống như nói rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chỉ là nhanh tay, lẹ chân chìa cái rổ ra hứng quả chín đang rơi; cũng như nói rằng Pháp vốn là người thừa kế truyền thống cách mạng năm 1789 nên vui lòng nhả miếng mồi Đông Dương, cũng như nói rằng Mỹ giàu sụ rồi không thiết nghĩ gì đến Việt Nam nữa, bèn rút nửa triệu quân và 1.000 máy bay về nước cho đỡ mệt và lo… Tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn bộ tư tưởng chỉ đạo trong suốt thời kỳ lịch sử cách mạng và kháng chiến dài nửa thế kỷ”. Tư tưởng đó của Người là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và thu được những thành tựu hết sức quan trọng trong thời kỳ đổi mới hiện nay, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói “nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”


Cứu nước, cứu dân là mục tiêu duy nhất và nhất quán của Hồ Chí Minh trong hành trình bôn ba các châu lục.

 

Nhìn lại lịch sử có thể thấy rõ, nếu chỉ vì “tìm sinh kế” cho cá nhân, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không tham gia cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ và chỉ cần tiếp tục theo học các trường bản xứ ở ngay trong nước và trở thành một công chức có cuộc sống thuận lợi trong bộ máy chính quyền thuộc địa. Con đường này rộng mở và ít hiểm nguy hơn rất nhiều so với con đường đi ra nước ngoài với hai bàn tay trắng.

Mục tiêu ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh không chỉ được thể hiện ở quyết tâm cao độ, dám lựa chọn con đường đầy những chông gai, thử thách, mà còn được khẳng định qua những suy nghĩ, việc làm của Người trong suốt hành trình bôn ba ở nước ngoài.

Làm phụ bếp, công việc rất vất vả, cực nhọc suốt từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, nhưng khi xong việc, Người lại tiếp tục đọc hoặc ghi chép đến nửa đêm mới đi nằm. Mục đích không gì khác hơn là để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, từ đó sẽ giúp ích cho đất nước, dân tộc.

Luôn theo đuổi mục tiêu cứu nước, cứu dân, nên khi các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ I họp Hội nghị Vécxây (Pháp), với những lời hứa hẹn mở ra hy vọng mới cho các dân tộc thuộc địa về quyền dân tộc tự quyết, Hồ Chí Minh đã đề xướng việc gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ. Tuy Bản yêu sách đã không được các nước tham dự hội nghị đếm xỉa đến. Song, nó giúp Hồ Chí Minh “hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”(9).

Cứu nước, cứu dân cũng là lý do để Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Trả lời câu hỏi tại sao gia nhập Đảng, Người nói rõ: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Và cũng trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã gặp được “Luận cương các vấn đề về dân tộc và thuộc địa của Lênin” và từ đó dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin Người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.

 


Chủ nghĩa Mác- LêNin không lỗi thời trong thời đại ngày nay


Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng với việc nắm vững phương pháp luận duy vật biện chứng, với việc khám phá ra những quy luật khách quan, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh mới hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đang trang bị cho chúng ta những phương pháp luận để nhận thức và cải tạo thế giới. Thực tế hiện nay, chính trong các nước tư bản vẫn đang phải thừa nhận tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác trong bối cảnh mới và vẫn đang phải tích cực học tập chủ nghĩa Mác. Theo thăm dò của tờ Tạp chí Spiegel (Đức), với hơn 50% số người dân Đức cho rằng, “sự phê phán của C. Mác đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị”. Chương trình Thời đại chúng ta phát trên sóng phát thành radio 4 của Đài BBC của Anh tổ chức thăm dò với 3 vạn phiếu phát ra: Kết qủa trong số 20 triết gia vĩ đại được đưa ra để lựa chọn, Mác được chọn là triết gia vĩ đại nhất của nhân loại từ trước đến nay bởi những cống hiến khoa học xuất sắc của ông. Còn theo kết quả bình chọn nhà tư tưởng thiên niên kỷ thứ hai của Trường Đại học Campridge (Anh) công bố năm 1999. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra ở phố Wall của nước Mỹ, cả thế giới tư bản phải quay trở lại tìm đọc Bộ Tư bản của Mác để mong tìm ra lời giải đáp thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, nên năm 2008 - 2009, Bộ Tư bản của Mác trở thành cuốn sách bán chạy nhất thế giới. Chính tờ The New Yorker (Mỹ) cho rằng, các nhà kinh tế học hiện đại trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra, đang “bước theo dấu chân của C.Mác mà họ không biết”. Còn các tác phẩm của Lênin vẫn xếp vị trí số 1 và được dịch ra 134 ngôn ngữ ở 63 thứ tiếng. Như vậy, chính thế giới tư bản chủ nghĩa đã khẳng định chủ nghĩa Mác không lỗi thời trong thời đại ngày nay như một số luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động.

 


Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn luôn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội


Đúng là các châu lục khác nhau có những đặc thù khác nhau trong quá trình vận động, phát triển. Nhưng như thế không có nghĩa mỗi châu lục phải có nền toán học, vật lý, hóa học, hay khoa học nói chung riêng biệt. Tại sao các dân tộc khác nhau ở những châu lục khác nhau họ có thể hiểu được các tác phẩm văn học, nghệ thuật, những tác phẩm điện ảnh v.v. của nhau được? Họ hiểu được những điều này là bởi lẽ, mặc dù giữa các dân tộc có sự khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý nhưng họ đều dựa trên những tri thức khách quan, những quy luật khách quan được phản ánh trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, điện ảnh đó. Chính những tri thức khách quan, chính cái quy luật khách quan hay nói khác đi chính cái biện chứng khách quan đã quy định cái biện chứng chủ quan trong đầu óc họ. Các tri thức khách quan, các quy luật khách quan không phụ thuộc vào ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán, chỉ phụ thuộc vào nội dung khách quan mà nó phản ánh. Các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán... chỉ làm cho các tri thức khách quan, các quy luật khách quan được phát hiện, trình bày mang thêm sắc thái chủ quan khác nhau mà thôi chứ nội dung khách quan mà chúng phản ánh vẫn là một, là không đổi. Chủ nghĩa Mác - Lênin mặc dù ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, nhưng luôn được bổ sung, phát triển và dù được trình bày bằng ngôn ngữ nào thì nó vẫn phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử loài người. Vì vậy, cho dù thời đại mà chúng ta đang sống rất khác với thời đại mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin sống, nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin khám phá ra. Với đặc tính “mở”, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa nào có thể thay thế.

 


Cần nhận thức đúng đắn sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu

  

Trước hết, cần phải nói rằng mô hình CNXH hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thể phủ nhận ở Liên xô, Đông Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh to lớn đánh thắng những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước XHCN do Liên Xô dẫn đầu.

Tất nhiên, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn như những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể. Tuyệt nhiên đó không phải là sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu ngay cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý do, khi họ tự gọi mình là mô hình CNXH phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển.


Lên án, loại bỏ quan điểm sai trái, không dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn.

 


Thứ nhất, về lý luận: Vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội là quan trọng, cấp thiết, những đóng góp từ lao động của trí thức giúp cho quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân không ngừng nâng cao về năng xuất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, tạo ra sự phát triển nhanh của đất nước. Nhưng trí thức không thể lãnh đạo xã hội vì trí thức không phải là một giai cấp, không đại diện cho một phương thức sản xuất độc lập nào; trí thức không có hệ tư tưởng riêng, tư tưởng của trí thức phụ thuộc hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị xã hội. 

Thứ hai, về thực tiễn: lịch sử loài người cho thấy, một giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội bao giờ cũng phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển, phương thức sản xuất tiến bộ, có hệ tư tưởng tiên tiến. Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, số lượng người  lao động được  đào tạo ở trình độ, tay nghề cao ngày càng nhiều, không ngừng tham gia vào phương thức sản xuất công nghiệp, bổ sung cho giai cấp công nhân, làm cho giai cấp công nhân không ngừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta không hề suy yếu mà ngyà càng phát triển. Do đó, cho dù sự biến đổi kinh tế, xã hội đến đâu, khoa học, công nghệ có phát triển tới mức nào, thì một thực tế không thể phủ nhận đó là: giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ nguyên sứ mệnh lịch sử lãnh đạo xã hội, lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy, quan điểm cho rằng, trước sự phát triển của kinh tế tri thức và kinh tế số giai cấp công nhân đã bị phân hóa, bị suy giảm về nhiều mặt không còn vai trò lãnh đạo xã hội, vai trò lãnh đạo ấy đã chuyển sang trí thức, là quan điểm sai trái, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, đó là chủ ý thổi phồng vai trò của trí thức, kích động đội ngũ trí thức, khơi dậy tham vọng quyền lực, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo xã hội của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

 


Nhận diện rõ, loại bỏ luận điệu sai trái

 

Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030.


Nhận rõ, loại bỏ những luận điệu phản động

 

Trên một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân tích” về chủ trương, cách thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất quán “mỗi người dân là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả.

Họ thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là lực lượng duy nhất có trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ nên công cuộc chống “giặc dịch” trở nên hiệu quả.

Trên luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí của mình, nên cần phải “dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) cho quần chúng. Với cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua, cổ xúy, tán dương. Một số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...

Từ những phân tích trên, các bài viết còn viện dẫn về chuyện một số quốc gia trên thế giới không cần xây dựng lực lượng quân đội, chỉ thiết lập đội tự vệ quốc gia với quân số ít. Thậm chí, có quốc gia không bận tâm đến việc BVTQ, vì trong xu thế hội nhập, các nước sẽ biết cách tôn trọng độc lập, tự do, chủ quyền của mỗi quốc gia.

Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVTQ, hạ bệ vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán” quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là thủ đoạn nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan hỏng, mục rũa nền quốc phòng toàn dân từ bên trong.

Một mặt, họ quy kết quân đội không đủ mạnh, không thể làm tròn nghĩa vụ với nhân dân, nên cố tình kéo quần chúng vào một cuộc chiến “vô thưởng vô phạt”; cổ vũ người dân lên tuyến đầu để bao biện cho sự hèn nhát, sợ dịch bệnh của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Mặt khác, họ tung hô: Đảng, Nhà nước và quân đội đang tô hồng vai trò của chính mình, “làm màu” để mị dân.

Thực chất, đây là thủ đoạn đánh tráo sự thật, xóa nhòa bản chất hoạt động bảo vệ, phục vụ nhân dân, phủ định vai trò, đóng góp to lớn của QĐND Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid-19 suốt gần hai năm qua. Vậy nên, “những lời có cánh” nêu trên, thoạt qua, có thể nhầm tưởng là hợp lý, vô hại, nhưng xét về thực chất lại chính là khuynh hướng thủ đoạn khá mới, cố tình làm sai lệch nhận thức của quần chúng, mang lại nhiều hệ lụy và hậu quả to lớn; ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội; tác động trực tiếp đến kết quả xây dựng quân đội; chi phối nghiêm trọng công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiềm lực, nguồn lực BVTQ trong tình hình mới.

 


Xây dựng , phát triển KTTT định hướng XHCN là phù hợp với xu hướng và yêu cầu thực tiễn phát triển KTTT trên thế giới

 

Xây dựng mô hình KTTT định hướng XHCN là phù hợp với xu hướng và yêu cầu thực tiễn phát triển KTTT trên thế giới. Thế giới đã thấy rõ ý nghĩa, hiệu quả của việc phải kết hợp cả bàn tay nhà nước và bàn tay thị trường trong một mô hình nhà nước kiểu mới để bảo đảm tính bền vững và hạn chế những khuyết tật của KTTT. Khi áp dụng KTTT để phát triển đất nước là Đảng ta đã sáng suốt áp dụng một thành tựu của nhân loại trong cách thức phát triển kinh tế, nhưng đồng thời gắn thêm định hướng XHCN để bảo đảm xã hội sẽ phát triển bền vững, nhân văn trong nền KTTT ấy. Đó cũng không khác gì mối quan hệ giữa "động cơ" và "bánh lái" của một con tàu. 

Chúng ta không bao giờ được quên mục tiêu phát triển nền kinh tế là để làm gì. Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có...”. Đó cũng chính là những luận giải để chúng ta thấy rõ hơn mục tiêu khi xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, từ đó tạo cơ sở vật chất cho CNXH. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước... Bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng mô hình KTTT định hướng XHCN là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng.

Từ thực tiễn trong nước và quốc tế những năm qua, có thể thấy việc xây dựng nền KTTT định hướng XHCN là phù hợp với thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta. Đây là vấn đề có tính nền tảng mà mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần hiểu đúng, để xây chắc niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 


Nhận thức đúng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

 

Khái niệm nền KTTT định hướng XHCN được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001). Đại hội IX xác định: “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; đó chính là nền KTTT định hướng XHCN”(1).

Nhận thức về mô hình KTTT định hướng XHCN qua Đại hội X của Đảng. Đặc biệt là quan điểm về tính định hướng XHCN trong nền KTTT ở nước ta là: “Thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”; Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn” (2).

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu của nền KTTT định hướng XHCN: “Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”(3).

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tiếp tục làm rõ hơn, Đại hội XIII của Đảng nêu cụ thể: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Trong Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng cũng yêu cầu “ hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển KTTT định hướng XHCN”, nhưng với nội dung và mục đích mới. Nếu ở Đại hội XII, việc hoàn thiện thể chế nhằm “nâng cao hiệu lực” quản lý kinh tế và quản lý Nhà nước về kinh tế, thì Đại hội XIII nhấn mạnh mục đích “tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”. Đây là một cách tiếp cận vấn đề rất thực tế, một phương hướng hợp lý, tích cực nhằm phát triển kinh tế - xã hội đất nước nhanh, bền vững.

 


Quá độ lên CNXH là tất yếu của nhân loại

 

Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết.

Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”. Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người, Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính:

Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội;

Hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.


Lênin nói về kẻ cơ hội và chủ nghĩa cơ hội

“Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách thỏa thuận với cả quan điểm này và quan điểm kia, vì nó quy những sự bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại”.

ĐỪNG QUÊN LỊCH SỬ

Ai có thể quên đi quá khứ?

Quên sao đành lịch sử cha ông!

Khác nào vứt bỏ tổ tông

Làm sao xứng đáng con rồng cháu tiên.

Nhận thức đúng về xây dựng CNXH

 

“Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”[5]. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Với cách nhìn khoa học, biện chứng như vậy, không thể lấy hiện tượng, vấn đề cụ thể là những hạn chế tồn tại, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, quy kết đó là kết quả đi theo con đường CNXH mang lại.

 Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trong hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả của công cuộc đổi mới, của quá trình CNH, HĐH, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Để cuối cùng “với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

 Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới./.

 

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam.

        Lịch sử dân tộc ta nửa cuối thế kỷ 19 và ngót nửa đầu thế kỷ 20, đất nước không được độc lập, nhân dân không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân tộc”…đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, cách mạng vô sản về Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nói như thế để thấy, con đường cách mạng vô sản tiến bộ là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, CNXH là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam một lòng phụng sự Nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của dân tộc, Nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Nhân dân một lòng theo Đảng. Lý tưởng cộng sản là sự lựa chọn của Nhân dân. Kiên định con đường đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta tiếp tục lựa chọn con đường Bác Hồ, Nhân dân đã lựa chọn, kiên định CNXH mà tính đúng đắn, khoa học, cách mạng đã được thực tiễn chứng minh để xây dựng đất nước ta thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài viết của mình: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc[3].

Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật lịch sử chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước XHCN trở thành hệ thống các nước XHCN trên thế giới, trở thành lực lượng cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX làm đau đớn nhân loại tiến bộ, song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Điều đó cho thấy, những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của CNXH với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại phù hợp quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.


Nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động.

 

 Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi nô dịch và bóc lột, hướng tới một xã hội mà chủ thể, nhà nước thuộc về nhân dân. Đồng thời, học thuyết đó còn chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niền tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình. Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện ở chỗ, đây là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến, mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới, phát triển trong dòng chảy phát triển trí tuệ nhân loại. Toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học. Chủ nghĩa Mác - Lênin là vũ khí lý luận sắc bén, ngọn cờ tư tưởng trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân cần lao tiến bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin[1].

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, coi đây là cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì vậy, Đảng luôn có cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược, chỉ thị, nghị quyết đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Lịch sử đã chứng minh, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động. Thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh, trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi lĩnh vực công tác, mỗi địa phương nếu xa rời hay vận dụng một cách giáo điều, máy móc, duy ý chí hoặc xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhất định sẽ phạm phải sai lầm, chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và thực hiện công việc hiệu quả thấp, thất bại. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống[2].


Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

HÃY ĐỂ LỊCH SỬ TRỞ THÀNH MÔN HỌC BẮT BUỘC & NÂNG TẦM QUAN TRỌNG CỦA LỊCH SỬ TRONG NHẬN THỨC XÃ HỘI

     Có thể nhiều bạn chưa biết, năm học 2022 - 2023, Chương trình Giáo dục phổ thông mới sẽ bắt đầu triển khai ở lớp 10. Điều đáng nói nhất, môn Lịch sử lại được xếp vào nhóm lựa chọn thuộc nhóm môn Khoa học và xã hội, tức là các thế hệ học sinh lớp 10 trở về sau sẽ không phải học Lịch sử nếu không muốn. 

Tôi nghe tin mà thấy bàng hoàng. Nói cho các bạn nghe, cùng với Toán và Trung văn, thì Lịch sử là “một trong 3 môn quan trọng nhất” trong hệ thống các môn học ở Trung Quốc đấy. Trong khi đó, Lịch Sử ở Việt Nam lại trở thành môn phụ tùy chọn. Nghĩ mà chua chát thật.

Tại sao Bộ GD&ĐT lại đưa ra quyết định khó hiểu này? Nhiều người cho rằng đó là bởi vì lịch sử rất khó học, khó nhớ, đặc biệt là các sự kiện lịch sử... Cụ thể họ đưa ra dẫn chứng, Lịch sử là môn có kết quả thi thấp nhất trong tất cả các môn thi của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021, khi có 52,03% số thí sinh có điểm thi dưới trung bình.

Ngược dòng thời gian, Kỳ thi THPT Quốc gia 2019 có 70% số bài thi môn Lịch sử dưới 5; 4.3 là điểm trung bình môn, thấp nhất trong 9 môn thi. Điểm trung bình môn Lịch sử luôn thấp nhất trong mấy năm gần đây năm 2017 là 4.6; năm 2018 là 3.79". 

Bàn về chuyện điểm số môn lịch sử, cũng năm 2019, trong chương trình Trường Teen, nhiều em học sinh đưa ra ý kiến rằng: điểm thấp không phải do học sinh lười học lịch sử mà là do nội dung, phương pháp giáo dục của BGD chưa phù hợp. 

Bạn Minh Anh, đến từ THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành (Yên Bái) cho rằng điểm Sử thấp không phải do lỗi của học sinh mà do phương pháp giáo dục của BGD chưa phù hợp. Trong phần tranh biện gần 5p của mình, Minh Anh đã đưa ra 1 số phản biện: "Lỗi từ giáo dục và xã hội sẽ không bao giờ tồn tại song song với lỗi của học sinh mà chính từ giáo dục và xã hội nên mới tồn tại ý thức học sinh. Nếu các bạn có cách giáo dục hấp dẫn và thực sự thu hút tạo cho học sinh tư duy, giúp học sinh có cái nhìn đa chiều áp dụng được vào thực tế giống như xã hội Mỹ thì chắc chắn không bao giờ học sinh để xảy ra chuyện 70% điểm Sử dưới trung bình."

Bạn Minh Anh nói tuy có phần đúng, nhưng nó không đi vào bản chất vấn đề. Thậm chí cá nhân tôi nghĩ, điểm thi môn Lịch sử thấp lỗi lớn nhất do chính học sinh thờ ơ lười học, không phải lỗi do nội dung và phương pháp truyền tải chưa phù hợp!

Nói thêm, đây là phản bác với quan điểm chứ hoàn toàn không có ý công kích con người. 

Đồng ý, điểm môn Lịch sử thấp, một phần có lỗi do nội dung sách giáo khoa và cách dạy của nhiều giáo viên Sử không được tốt. Nhưng đấy không phải nguyên nhân, vấn đề chính nằm ở định vị của xã hội đối với môn Sử là chưa quan trọng, dẫn tới ngay các em học sinh không thực sự có động lực để tìm hiểu về nó. Nhiều khi Bộ giáo dục, Bộ văn hóa … xem nó như đứa con ghẻ, dẫn tới học sinh thờ ơ và xem nhẹ nó trong tiềm thức. Tóm lại, nhiều học sinh sẽ ít dành thời gian học Lịch sử, do các em nghĩ rằng: học cũng chẳng để làm gì, vì Lịch sử có quan trọng đâu, chứ không phải bởi lịch sử khô khan khó nhớ.

Vẫn câu nói cũ: Nếu muốn người ta sẽ có cách, nếu không muốn người ta sẽ có lý do!

Khác với các môn khoa học tự nhiên như Toán học, Vật lý, Hóa học v.v thì Sử học với tư cách là bộ môn khoa học về lịch sử đã không được đưa vào trong chương trình giáo dục của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, thay vào đó là môn học lịch sử như hiện tại. Sở dĩ có hiện tượng như vậy là bởi Việt Nam ta đôi khi đã lơ là lịch sử, có lẽ xã hội không thực sự đưa môn Sử như là sản phẩm của quá trình tư duy, nhận thức về lịch sử dân tộc trọn vẹn. Vậy nên với những thầy cô giáo không đủ chuyên môn và lòng nhiệt thành, đã chưa hề chỉ dẫn cho các em học sinh biết phải làm như thế nào để tự nhận thức về lịch sử, cũng như nhận thức về cuộc sống hiện tại không khơi gợi được sự ham muốn tìm hiểu về lịch sử.

Thật đáng buồn và chua chát, khi phải thừa nhận thẳng thắn rằng Việt Nam chúng ta thua xa Trung Quốc về khoản này, đó là định vị “tầm quan trọng của bộ môn lịch sử” trong nhận thức xã hội, từ đó phát huy tinh thần dân tộc của lớp trẻ.

Viết tới đây, nhiều bạn trẻ lười học Sử lại sẽ ngụy biện, kiểu giống như bạn Minh Anh, rằng: “Học sinh chỉ chán học lịch sử ở trên trường, chứ không học sinh nào chán học lịch sử dân tộc. Và các bạn đừng đánh đồng hai khái niệm này với nhau.”

Nhiều đứa trẻ thiếu hiểu biết, luôn phải kêu gào rằng sách giáo khoa lịch sử Việt cần phải hào hùng như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử … thì học sinh Việt sẽ mê lịch sử như bên Trung Quốc thôi. Và rồi sao Lịch Sử Việt Nam không đưa những câu chuyện giật gân, kịch tính (như Sử Việt – 12 khúc tráng ca của Dũng Phan) vào giảng dạy, mà cứ luôn là những số liệu dẫn chứng vô tri.

Xin thưa, đây đều là những lời lẽ vô tri, thiếu hiểu biết. Nếu để cho các bạn trẻ tiếp xúc với mấy thứ dã sử/huyền sử xuyên tạc ấy và hiểu nhầm nó là lịch sử, thì đó là một mối hiểm họa khôn lường. Nhớ, lịch sử thì cần là lịch sử, dã sử/huyền sử và ấn phẩm xoay quanh không mang cốt lõi lịch sử thì nó sẽ là những thứ giải trí. 

Đừng đánh đồng 2 thứ với nhau. Muốn hiểu đúng lịch sử xin mời đọc lịch sử, muốn thư giãn có thể tìm xem giải trí. Nó là 2 phạm trù khác nhau, phải tách biệt để tránh ngộ độc thông tin.

Việt Nam cần học Trung Quốc, không cần học đâu cả. Học sinh phải biết học lịch sử dân tộc trước khi biết tới giải trí. Mà ngay cả thứ giải trí mà vi phạm nguyên tắc “tính dân tộc”, “trảm” là chuyện hiển nhiên. Hãy xem ngôn tình và cung đấu mà đụng chạm đến “tính dân tộc” đã bị cấm ở Trung Quốc triệt để như nào thì biết.

Ở Trung Quốc, Tam Quốc Diễn Nghĩa - Hán Sở Tùy Đường hay Thủy Hử đơn giản chỉ là truyện phim dã sử, và lớp trẻ Trung Quốc thừa biết điều ấy. Nhưng để đạt được thành tích ấy, chính quyền và truyền thông đại chúng của Trung Quốc cũng đã hoạt động hiệu quả khi định vị xã hội, định vị quan điểm cho lớp trẻ hiểu đúng về lịch sử. Và công rất lớn nằm ở 2 quyết sách cực lớn của Bộ giáo dục Trung Quốc.

- Năm 2006, Trung Quốc có một cuộc đại cải tổ về giáo dục, cùng với Toán và Trung văn, thì Lịch sử được nâng lên tầm “một trong 3 môn quan trọng nhất” trong hệ thống các môn học. Đồng thời, nhà cầm quyền Bắc Kinh đưa bộ sách giáo khoa Sử mới vào giảng dạy, bất chấp trong bộ SGK ấy còn nhiều điểm các học giả thế giới cho là không trung thực, thiếu khách quan. Nhưng kệ, chỉ cần nó dào dạt tinh thần dân tộc, Trung Quốc cứ làm tới. Trong giáo trình lịch sử tân biên, các cuộc chiến tranh, các triều đại và cuộc đại cách mạng vô sản đã nhường chỗ cho các kiến thức kinh tế, công nghệ, tập tục và công cuộc toàn cầu hóa. Nguyên nhân, có thể là để hạn chế nảy sinh mâu thuẫn giữa các dân tộc bởi thực tại Trung Quốc ngày nay là sáp nhập bởi nhiều quốc gia khác nhau trong quá khứ.

Lần cải tổ này, tinh giản giờ học nhưng nhấn mạnh vai trò của lịch sử, có rất nhiều ý kiến trái chiều xung quanh đại cải tổ, nhưng có thể nhận ra một điều đó chính là tinh thần dân tộc của lớp trẻ Trung Quốc đang ngày một lên cao. Và tinh thần dân tộc, nó được xem là một trong những tiền đề để làm nên sự trỗi dậy của con rồng Trung Hoa.

- Và gần đây nhất, mới đây thôi, tháng 09/2019, Trung Quốc đã chính thức đưa vào sử dụng bộ sách giáo khoa lịch sử cấp THPT mới nhất với nhiều nội dung được bổ sung, sửa đổi. Đặc biệt, vấn đề chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông đã thay đổi. Ngoài ta, còn đưa thêm khá nhiều nội dung mới vào SGK lịch sử như: “Triều Hán mở rộng lãnh thổ”, “Vai trò quan trọng của các dân tộc thiểu số phía Bắc trong sự nghiệp thống nhất quốc gia đa dân tộc Trung Quốc trong thời kỳ nhà Liêu, Tây Hạ, Kim và Nguyên”, “Các biện pháp liên quan để thống nhất đất nước và mưu tính biên cương thời kỳ Minh Thanh” … Dưới góc độ người Việt, tôi không thích điều này vì mơ hồ nghĩ đến về một thứ gọi là “Tinh thần Đại Hán”. Và vẫn như cũ, SGK Sử ấy của Trung Quốc dào dạt tính dân tộc. Cũng đúng, cần gì phải tuyệt đối khách quan, người Trung Quốc cần nhìn lịch sử dưới lập trường của chính họ. Như anh bạn tôi từng nói: “Tất cả các môn học đều có thể tự chọn tuỳ theo định hướng của mỗi người.

Chỉ riêng lịch sử phải là môn học bắt buộc. Học dân tộc ta là gì, tổ quốc ta ở đâu, ông cha ta thế nào và chính mình là ai... là những thứ buộc phải biết trước khi lựa chọn ta sẽ làm gì.”

Được biết, việc sửa đổi sách giáo khoa lịch sử lần này có định hướng thực tế cụ thể. Các yêu sách ly khai dân tộc và chủ trương độc lập hiện đang diễn ra trong giới trẻ ở Đài Loan và Hồng Kông đang thách thức tuyên bố thống nhất quốc gia truyền thống của Trung Quốc. Khuynh hướng ly khai này được cho là phần lớn bắt nguồn từ việc thiếu kiến thức và nhận thức sai về lịch sử Trung Quốc của người Đài Loan và Hồng Kông.

Việt Nam ta cần học Trung Quốc, không cần học đâu xa đâu, hãy bắt chước gã láng giềng truyền thông về lịch sử và tinh thần dân tộc. 

Sử, trước hết phải là lịch sử đã. Và người dân tộc nào, trước khi khách quan đa chiều cần phải đứng trên lập trường dân tộc. 

Trong tác phẩm nổi tiếng “Lịch sử nước ta”, Lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh có viết: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”

Đây không đơn thuần chỉ là lời kêu gọi mà còn là chân lý, là khoa học, là mỹ học. Bác nói “cho tường” nôm na nhưng thật sâu sắc: Phải biết lịch sử một cách tường tận, rõ ràng, cụ thể. Không dạy cho thế hệ tương lai biết tường tận về lịch sử là có lỗi với lịch sử. 

Làm ơn, hãy đưa Lịch Sử trở lại thành môn học bắt buộc, thậm chí kể cả trở thành môn học chính thức, cần định vị lại đúng tầm quan trọng của môn học Lịch Sử trong nhận thức xã hội. Nguyên nhân rất đơn giản, lịch sử chính là sợi dây nối liền tiếng vọng ngàn xưa với hơi thở của thời đại, là sự kết nối liền mạch giữa quá khứ và hiện tại, hiểu biết về đúng sai phải trái. Một khi lớp trẻ không hiểu lịch sử dân tộc, sẽ trở thành một kẻ lạc loài, ngơ ngác trong dòng chảy bất tận của thời gian. 
Lúc ấy, tương lai đất nước này sẽ đi đâu, về đâu?
Yêu nước ST.

LỜI NÓI DỐI CỦA NHỮNG VIÊN TƯỚNG NGỤY!

👉 1. Ngày 14/3/1975, trung tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh quân đoàn 2, quân khu 2 tuyên bố: "Tôi sẽ sống chết với cao nguyên. Tôi sẽ lấy máu mình để thu hồi Ban Mê Thuột".
 Đến ngày 15/3/1975, tướng Phú lên máy bay dông một mạch về Nha Trang, bỏ lại hơn 120.000 quân cùng hàng nghìn xe tăng, pháo và thiết giáp tan tác trên đường số 7.

 👉2. Ngày 23/3/1975, trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh quân đoàn 1, quân khu 1 tuyên bố: "Tôi sẽ sống chết với cố đô, Cộng quân muốn vào Huế phải bước qua xác tôi".
 Ngày 26/3/1975, hàng vạn quân VNCH tan rã ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền, Quân Giải phóng tiến vào Huế nhưng không phải bước qua xác tướng Ngô Quang Trưởng vì anh ấy đã cao chạy xa bay vào Đà Nẵng ngày 25/3/1975.
 Ngày 27/3/1975, tại Đà Nẵng, tướng Ngô Quang Trưởng lại hô hào: "Anh em hãy tử thủ tại Đà Nẵng. Tôi sẽ cùng anh em chiến đấu đến viên đạn cuối cùng". Nhưng ngay ngày hôm sau, chưa kịp bắn viên đạn nào thì tướng Trưởng đã cưỡi trực thăng đáp xuống tàu HQ-05, phi thẳng vào Sài Gòn bỏ mặc anh em.

 👉3. Ngày 12/4/1975, chuẩn tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư đoàn 18 mắm môi mắm lợi hùng hổ tuyên bố tại Xuân Lộc: "Chúng tôi sẽ đánh một trận dập đầu cộng quân để thế giới biết sức mạnh của Quân lực VNCH".
 Đến ngày 24/4/1975, "sức mạnh của Quân lực VNCH" luồn rừng chạy vòng qua Bà Rịa về Sài Gòn với chưa đầy 1/10 quân số.

 👉4. "Tôi sẽ biến Sài Gòn trở thành một Leningrad thứ hai" - Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ bỏ lại lời hứa sau lưng, lên trực thăng di tản khỏi Sài Gòn vào sáng 29/4/1975.

👉 5. "Nếu Việt Cộng tiến vào An Lộc tôi sẽ chết tại Thị trấn này" - Chuẩn tướng Lê Văn Hưng - Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh ngụy tuyên bố tử thủ An Lộc 1972 trước sự vây hãm của Quân Giải phóng Miền Nam. 30/4/1975, tướng Hưng tự sát khi Sài Gòn thất thủ.

👉 6. Nguyễn Văn Thiệu hùng hổ tuyên bố "tử thủ Sài Gòn": "Dù mất một Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ...".
 Vậy mà, chỉ 4 ngày sau, Thiệu đã bí mật lên máy bay thoát khỏi Sài Gòn vào đêm ngày 25/4/1975. Một pha tốc biến quá nhanh và gọn.
 Thế mới biết bản lĩnh, trí tuệ của những kẻ làm thuê bao giờ cũng vẫn là hèn nhát. Tất cả trong số đó đều mang lon tướng trên ve áo và luôn có những phát ngôn hùng hồn trước ba quân, nhưng rốt cuộc không bằng một cô gái 19 tuổi như chị Võ Thị Sáu, anh Nguyễn Văn Trỗi.... và những người người cộng sản khác./.
Yêu nước ST.

SAO CÓ THỂ SO SÁNH ĐƯỢC VẬY CHỨ!

         Thầy Vũ Khắc Ngọc phát ngôn gây tranh cãi: "Năm 1945, 90% người Việt Nam mù chữ và đương nhiên không được học môn Lịch Sử nhưng Cách mạng tháng 8 vẫn diễn ra thành công và không ai dám nghi ngờ về "lòng yêu nước" của người Việt Nam khi đó." 

Thầy cho biết thêm, việc dạy lịch sử bắt buộc không cần thiết nữa, vì chưa chắc dạy lịch sử đã khiến con người ta yêu nước. Thầy dẫn chứng rằng không ai có quyền cười chê việc học sinh nói Nguyễn Huệ - Quang Trung là hai anh em, vì bản thân họ cũng chưa chắc đã biết đến những kiến thức lịch sử khác. 

"Xung quanh tôi đầy người không thuộc lịch sử, cũng chẳng yêu môn Lịch sử nhưng họ rất yêu nước. Ngược lại, trên facebook, tôi biết khối anh rất giỏi sử nhưng chưa chắc đã yêu nước theo cách mọi người vẫn hiểu" - thầy Vũ Khắc Ngọc. 

Thầy giáo dạy hóa nổi tiếng MXH này liên tục có những quan điểm ngược dòng trong ít ngày qua, khi thầy đồng ý với chủ trương giảm tải, đưa Lịch sử thành môn học tự chọn./.
Yêu nước ST.