Thứ Năm, 5 tháng 5, 2022

Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận.

 - Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta sử dụng phổ biến cụm từ phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cùng với khái niệm phương thức lãnh đạo của Đảng, lần đầu tiên Đảng sử dụng khái niệm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Bài viết góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức cầm quyền của Đảng; quan hệ giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng; phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận

Ảnh minh họa - dangcongsan.vn

1. Về phương thức lãnh đạo của Đảng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng các khái niệm: cách lãnh đạo, lối làm việc... của Đảng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng cho đến trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta dùng đồng thời các khái niệm: phương pháp lãnh đạo, phương pháp công tác, phong cách lãnh đạo, phong cách công tác, lề lối làm việc, quy chế công tác, quy trình làm việc... nhưng chủ yếu áp dụng đối với cá nhân cán bộ lãnh đạo, chưa đề cập đối với các tổ chức đảng. Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989) Đảng ta chính thức dùng khái niệm “phương thức lãnh đạo của Đảng” với cách đặt vấn đề “phương thức lãnh đạo” là khái niệm ở tầm tổng quát và cao hơn. Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết và các nội dung lãnh đạo của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng. 

Nội dung của phương thức lãnh đạo của Đảng (hay các phương thức lãnh đạo của Đảng), lần đầu tiên được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) kế thừa và bổ sung những nội dung cơ bản của phương thức lãnh đạo của Đảng được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Điều 41 Điều lệ Đảng do Đại hội XI của Đảng thông qua đã quy định rõ các phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần nữa xác định phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát;... Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(1)

Qua các văn kiện của Đảng, có thể khái quát phương thức lãnh đạo của Đảng gồm: một là, Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; hai là, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; ba là, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị và bằng công tác tổ chức, cán bộ; bốn là, Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát; năm là, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đó là những cách thức chủ yếu trong phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trên thực tế, trong hoạt động lãnh đạo, Đảng còn sử dụng nhiều hình thức, biện pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc cụ thể, như: tổ chức hội nghị phổ biến nghị quyết (trong cấp ủy, tổ chức đảng và đối với cán bộ chủ chốt các tổ chức trong hệ thống chính trị); hình thức giao ban giữa các cơ quan lãnh đạo đảng với lãnh đạo cơ quan nhà nước, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; các cuộc làm việc giữa đại diện lãnh đạo cấp ủy đảng với lãnh đạo cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội; cấp ủy viên cấp ủy cấp trên trực tiếp dự sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới; đối thoại giữa đại diện cấp ủy, tổ chức đảng với một số cá nhân; chỉ đạo làm thí điểm; xây dựng, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy, trong đó xác định đúng và rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân và các chế độ công tác chủ yếu, nhất là chế độ hội họp, chế độ thông tin, chế độ báo cáo; xây dựng các quy chế phối hợp công tác giữa các tổ chức, cơ quan có liên quan; việc phân công cấp ủy viên phụ trách một số tổ chức, một số lĩnh vực; phân công đảng viên theo dõi, phụ trách lĩnh vực công tác, đơn vị, hộ gia đình; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của Đảng; sử dụng văn bản và các hình thức thông tin khác; v.v.. Trong đánh giá thực trạng thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng, văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhắc đến các hình thức, phương pháp, quy trình cụ thể này. Có thể xem đây là nội hàm của khái niệm “chỉ đạo” vẫn thường được dùng sau từ “lãnh đạo”.

2. Về phương thức cầm quyền của Đảng

Trên bình diện chung nhất có thể định nghĩa: Phương thức cầm quyền của Đảng là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng cầm quyền sử dụng để tác động vào các tổ chức, trước hết là Nhà nước, nhằm thực hiện đúng đắn, đầy đủ ý chí chính trị, quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền, quyền làm chủ của nhân dân, nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng và phát triển đất nước trong từng thời kỳ xây dựng CNXH.

Về nội dung của phương thức cầm quyền của Đảng, hiện nay đang có các cách trình bày khác nhau ít nhiều. 

Các trình bày thứ nhất - gắn phương thức cầm quyền của Đảng với phương thức lãnh đạo của Đảng. 

Khái niệm “phương thức cầm quyền của Đảng” gắn liền với khái niệm Đảng cầm quyền, chỉ phương diện hoạt động của Đảng cầm quyền. Ở nước ta chỉ có một Đảng duy nhất, đồng thời là Đảng cầm quyền, nên hiện nay trên tổng thể, phương thức cầm quyền của Đảng cơ bản cũng là phương thức lãnh đạo của Đảng, chỉ có sự khác biệt là - xét từ vị thế, trách nhiệm của Đảng cầm quyền và đối tượng tác động chủ yếu của Đảng - cần nhấn mạnh một số nội dung trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Theo đó, có thể xác định các phương thức cầm quyền của Đảng gồm:

Một là, Đảng cầm quyền bằng sử dụng Cương lĩnh, chiến lược, các nghị quyết, kết luận của Đảng làm căn cứ và chỉ đạo để Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình và tổ chức thực hiện; MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác và tổ chức thực hiện.

Hai là, Đảng cầm quyền bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động (nhất là đối với các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp không là đảng viên) để các cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tán thành, hăng hái thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng.

Ba là, Đảng cầm quyền bằng phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng và bố trí đúng, đề cao trách nhiệm của đảng viên giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội; Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác tổ chức và công tác cán bộ của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Bốn là, Đảng cầm quyền bằng công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng và đảng viên công tác trong các tổ chức của hệ thống chính trị, qua đó kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Năm là, Đảng cầm quyền bằng phát huy vai trò, trách nhiệm, nhất là trách nhiệm nêu gương, của đảng viên công tác trong các tổ chức của hệ thống chính trị. 

Cách trình bày thứ hai - nhấn mạnh phương thức cầm quyền đối với Nhà nước. 

Một là, Đảng cầm quyền bằng pháp luật và tuân theo pháp luật

Trong phương thức này nhấn mạnh việc Đảng lãnh đạo Quốc hội thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật; khi đường lối, chủ trương của Đảng đã trở thành Hiến pháp, pháp luật, thì tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành; chấp hành Hiến pháp, pháp luật cũng tức là đã chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng. Nếu đường lối, chủ trương của Đảng chỉ có hiệu lực tuyệt đối đối với các tổ chức đảng và đảng viên, còn đối với xã hội thì chỉ là sự định hướng, nhưng khi đường lối, chủ trương của Đảng đã được Quốc hội luật hóa thành Hiến pháp, pháp luật thì đường lối, chủ trương của Đảng trở thành bắt buộc, có hiệu lực cao nhất đối với cả xã hội; bản thân các tổ chức đảng và mọi đảng viên đều có trách nhiệm chấp hành, không được đứng ngoài, đứng trên pháp luật, hơn nữa phải gương mẫu trong chấp hành pháp luật; nếu có vi phạm, thì ngoài kỷ luật đảng, đảng viên còn bị xử lý theo pháp luật với tư cách là công dân. Phương thức này cũng bao hàm cả nghĩa Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình: quyết định về đường lối và quyết định việc lãnh đạo Quốc hội thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật, Quốc hội và Chính phủ cụ thể hóa đường lối của Đảng thành chính sách, quy định.

Hai là, Đảng cầm quyền bằng công tác tư tưởng

Thông qua các tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng tuyên truyền, phổ biến để thành viên của các cơ quan, tổ chức này không là đảng viên nắm được đường lối, chủ trương của Đảng; thuyết phục họ tán thành, nhất trí với đường lối, chủ trương của Đảng, đề ra chương trình, kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình; vận động họ hăng hái, sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan, tổ chức đã đề ra. Đảng sử dụng các cơ quan truyền thông của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước tới tất cả các tầng lớp nhân dân, tạo lập sự đồng thuận xã hội, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, qua đó củng cố uy tín của Đảng.

Ba là, Đảng cầm quyền bằng nắm công tác tổ chức, cán bộ của Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội  

Sau khi giành được chính quyền, Đảng lãnh đạo nhân dân thiết lập bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị để thực hiện đường lối của Đảng và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đảng thống nhất nắm, chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức không chỉ của Đảng, mà của cả các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt chú trọng tổ chức bộ máy nhà nước. Đảng định hướng chính trị hoạt động của Nhà nước; thông qua các tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước để sắp xếp, kiện toàn tổ chức và nắm chặt bộ máy nhà nước theo đúng đường lối chính trị và đường lối tổ chức của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với toàn bộ hệ thống tổ chức của cả hệ thống chính trị. Đảng dùng đa số đảng viên trong Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp để bầu các đại biểu là đảng viên do cấp ủy đảng giới thiệu nắm giữ các vị trí then chốt của bộ máy nhà nước, nhất là ở cấp trung ương; để nắm quyền điều khiển, định hướng hoạt động của cơ quan nhà nước theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng. Đồng thời, Đảng cũng bố trí đảng viên tham gia, nắm giữ những vị trí then chốt của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, một số tổ chức xã hội quan trọng.

Bốn là, Đảng cầm quyền bằng việc kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên trong việc thực thi quyền lực nhà nước

Đảng thực hiện việc kiểm soát quyền lực nhà nước bằng việc trực tiếp kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước kiểm soát quyền lực nhà nước. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không chỉ phải nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, mà còn phải thực hiện nghiêm pháp luật, chính sách của Nhà nước. Đảng giám sát hoạt động của đội ngũ đảng viên làm việc trong bộ máy nhà nước; giám sát việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước; giám sát, kiểm soát việc thực thi Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan, công chức nhà nước, nhằm bảo đảm Nhà nước thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định. Các đảng viên nắm giữ những chức vụ trong bộ máy nhà nước có trách nhiệm báo cáo công tác trước tổ chức đảng (đảng đoàn, ban cán sự đảng), cấp ủy đảng, chi bộ nơi sinh hoạt đảng về mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Qua kiểm tra, Đảng xử lý nghiêm minh, kịp thời những đảng viên vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật.

Như vậy, trong thực chất, hai cách trình bày nêu trên về các nội dung phương thức cầm quyền của Đảng cơ bản là giống nhau, cách trình bày thứ hai nhấn mạnh một số khía cạnh trong cách trình bày thứ nhất về các phương thức cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước. 

3. Quan hệ giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng

Các phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và được Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định lại. Phương thức lãnh đạo gắn liền với hoạt động lãnh đạo của Đảng, nên được hình thành từ khi Đảng ra đời lãnh đạo cách mạng; là vấn đề cơ bản, xuyên suốt, có tính chất bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Do Đảng cầm quyền chỉ là Đảng lãnh đạo trong thời kỳ có chính quyền, nên phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền có sự giống nhau trên những nội dung cơ bản, chỉ có sự khác biệt nhất định về phạm vi, mức độ; trong đó, phương thức cầm quyền chỉ hình thành trong thời kỳ Đảng có chính quyền và nhấn mạnh hai nội dung của phương thức lãnh đạo: một là, Đảng sử dụng quyền lực của mình để tác động, chi phối việc xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước; hai là, Đảng bố trí nhân sự chủ chốt của các cơ quan nhà nước, nhất là ở cấp trung ương.

Giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng có quan hệ mật thiết với nhau, vừa tương đồng, vừa có sự khác biệt nhất định. Tương đồng ở chỗ: cả phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền đều là của cùng một chủ thể là Đảng; trong điều kiện có chính quyền, đều tác động tới các đối tượng là Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập và nhân dân; cùng nhằm mục tiêu cao nhất là thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh, chiến lược, đường lối, mục tiêu chính trị của Đảng; đều phải sử dụng các phương pháp tư tưởng, hành chính, tổ chức, kiểm tra, giám sát, nêu gương... Khác biệt ở chỗ: phương thức cầm quyền chú trọng việc chỉ đạo các cơ quan nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và định hướng hoạt động của Nhà nước; nắm công tác tổ chức, cán bộ của Nhà nước bằng việc định hướng kiện toàn tổ chức và đưa cán bộ, đảng viên vào nắm giữ quyền lực và trực tiếp điều hành, thực thi quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước; cùng với các phương pháp dân chủ, tuyên truyền, thuyết phục, vận động, Đảng sử dụng quyền lực của Đảng cầm quyền và các nguyên tắc của Đảng để tác động, chi phối hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. 

Tuy nhiên, phương thức cầm quyền thực chất là phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng trong điều kiện có chính quyền, kể cả khi là lực lượng duy nhất cầm quyền, nên sự phân biệt giữa phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo chỉ là tương đối. Ví dụ, Đảng cầm quyền cũng phải sử dụng các biện pháp công tác tư tưởng để tuyên truyền, thuyết phục, vận động và bảo vệ đường lối của Đảng. Đó cũng là phương thức lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động để đưa đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đội ngũ đảng viên và nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Khi nói Đảng cầm quyền bằng tổ chức, bằng công tác cán bộ, bằng công tác tư tưởng... thì khó có thể phân biệt rạch ròi với Đảng lãnh đạo bằng tổ chức, bằng cán bộ, bằng sự tác động tư tưởng.

4. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên chính thức dùng “khái niệm kép” “phương thức lãnh đạo, cầm quyền” của Đảng mà không phải là “phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền” hay “phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền” của Đảng. Việc sử dụng “khái niệm kép” này chứng tỏ, giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng hiện nay cơ bản là giống nhau (nên không tách bạch riêng phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền), nhưng có sự khác biệt nhất định (nên phải bổ sung từ “cầm quyền” sau từ “lãnh đạo”). Việc bổ sung từ “cầm quyền” là để: một là, nhấn mạnh phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng là Đảng cầm quyền, Đảng vừa có quyền lãnh đạo, vừa phải chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình; hai là, nhấn mạnh trọng tâm cầm quyền của Đảng là đối với Nhà nước.

Từ quan niệm về phương thức lãnh đạo của Đảng và phương thức cầm quyền của Đảng, bước đầu có thể quan niệm: Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng là toàn bộ các cách thức, hình thức, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng quyền lực của Đảng cầm quyền để tác động, chi phối Nhà nước và xã hội nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, đường lối của Đảng, xứng đáng với vai trò, vị thế và trách nhiệm của Đảng duy nhất cầm quyền. 

Có thể quan niệm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng gồm các nội dung chính sau: 

Một là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết và định hướng chủ trương, chính sách lớn; bằng đa số đảng viên để lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách, chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện; lãnh đạo MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của tổ chức mình và tổ chức thực hiện.

Bằng đa số đảng viên trong Quốc hội, Đảng tác động vào công tác xây dựng pháp luật; bằng đa số đảng viên trong Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp, ủy ban nhân dân các cấp, Đảng tác động vào việc ban hành các chính sách, chương trình, kế hoạch công tác của các cơ quan nhà nước và tổ chức thực hiện tốt pháp luật, các chính sách, chương trình, kế hoạch công tác đã đề ra; thông qua đảng viên là cán bộ chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng tác động vào việc xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của các tổ chức này để bảo đảm theo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chức năng, vai trò của mỗi tổ chức. Nghị quyết của Đảng cũng là căn cứ để đánh giá, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của tổ chức đảng, đảng viên trong các tổ chức của hệ thống chính trị.

Hai là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động các tổ chức trong hệ thống chính trị và cả xã hội tán thành, ủng hộ và tích cực thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bằng hệ thống các cơ quan tuyên giáo, hệ thống cơ quan truyền thông của Đảng và Nhà nước, Đảng tuyên truyền, phổ biến để các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là thành viên trong cơ quan lãnh đạo của tổ chức này không là đảng viên, nắm được đầy đủ, đúng đắn, kịp thời các đường lối, chủ trương của Đảng; thuyết phục các tổ chức và cá nhân tán thành, nhất trí với đường lối, chủ trương của Đảng, từ đó đề ra chương trình, kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình; vận động các tổ chức và cá nhân tích cực, sáng tạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chương trình, kế hoạch của tổ chức đã đề ra; tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước tới tất cả các tầng lớp nhân dân, tạo lập và củng cố sự đồng thuận xã hội; phê phán các tư tưởng sai trái, đấu tranh chống các luận điệu thù địch.

Ba là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng việc giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ứng cử các chức danh chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị; thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức và công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị.

Bằng việc đa số đảng viên là đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp phải chấp hành nghị quyết, chủ trương của cấp ủy trong việc bầu các đảng viên do cấp ủy đảng cùng cấp giới thiệu, Đảng nắm giữ các vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước, trước hết là cấp trung ương, để những cán bộ này nắm quyền theo quy định của pháp luật trực tiếp điều hành, định hướng cơ quan nhà nước thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng và kịp thời phản ánh với Đảng những vấn đề cần lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Đồng thời, Đảng cũng giới thiệu và thông qua đảng viên trong MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội để hiệp thương, bầu đảng viên tham gia, nắm giữ những vị trí chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo của từng tổ chức. 

Bằng công tác tuyên truyền, Đảng động viên, lãnh đạo nhân dân tích cực tham gia xây dựng Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện công tác tổ chức của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt chú trong tổ chức bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo, định hướng chính trị hoạt động của Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; thông qua các tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội để sắp xếp, kiện toàn tổ chức theo đúng đường lối chính trị và đường lối tổ chức của Đảng. 

Bốn là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền thông qua các tổ chức đảng, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nhất là cấp ủy viên, đảng viên ở cương vị người đứng đầu trong các tổ chức của hệ thống chính trị.

Đảng lập các tổ chức đảng (Đảng đoàn, ban cán sự đảng, cấp ủy đảng) trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; chỉ định cấp ủy viên là người đứng đầu Đảng đoàn, ban cán sự đảng để các tổ chức này trực tiếp lãnh đạo cơ quan nhà nước, cơ quan lãnh đạo của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước cấp ủy về chất lượng nội bộ và toàn bộ hoạt động của cơ quan, tổ chức; đề xuất với cấp ủy các chủ trương, thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Phương thức này vừa bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vừa thực hiện đúng nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật: Đảng không chỉ thị, giao nhiệm vụ cho cơ quan nhà nước, chỉ chỉ thị, giao nhiệm vụ cho tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước. Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng hành động gương mẫu của đảng viên, nhất là người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. 

Năm là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đều có tổ chức đảng và đa số thành viên cơ quan lãnh đạo của các tổ chức này là đảng viên, người đứng đầu các cơ quan nhà nước là cấp ủy viên, nên Đảng dùng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng để kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng, đảng viên ở đó. Tuy chỉ là kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, nhưng thực chất cũng là việc kiểm tra, giám sát của Đảng đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội mà không vi phạm Hiến pháp, pháp luật.


Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

 Có thể nói, nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao. 

 
    Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, kêu gọi dùng “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác  - Lê-nin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của C.  Mác, Ph.  Ăng-ghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội. 
 
    Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.
 
    Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai,... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội. 
 
    Thứ tư, lợi dụng thông tin về những mặt hạn chế, bất cập của đất nước, các thế lực thù địch, phản động khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên. 
 
    Thứ năm, các thế lực thù địch, phản động tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. Chúng không ngừng tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước. Để tăng thêm sức lan tỏa, độ tin cậy của thông tin, chúng chú ý tập hợp, dẫn dụ những ý kiến, phát biểu gây “sốc” trái với đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước từ những đối tượng “dân túy”, tạo dựng ra cái gọi là chân dung “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “những cán bộ của nhân dân”,... nhằm trực tiếp tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái. 
 
    Thứ sáu, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xúy chủ nghĩa ly khai. Đáng chú ý, các đối tượng này triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo, kích động đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền.
 

Một số giải pháp Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ an ninh tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay

 Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và các cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về công tác bảo vệ an ninh tư tưởng

Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận thức đúng về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; nhiệm vụ, nội dung của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng, nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Trọng tâm của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng hiện nay là phải đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; làm rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy giao lưu và hợp tác trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao đời sống của nhân dân lao động. 

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến việc định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, đúng với bản chất sự việc, tránh bị lợi dụng, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải chủ động, tiến công. Do đó, các cơ quan thông tấn, báo chí phải bảo đảm việc cung cấp thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời, chính xác đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, cần quán triệt phương châm cơ bản trong bảo vệ an ninh tư tưởng là phải coi trọng công tác chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính. Mặt khác, phải tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, các hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm một cách quyết liệt.

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan các cấp đối với công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch. 

Các cấp ủy cần tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xác định mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng đúng đắn, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, các quy chế quản lý thông tin, báo chí, xuất bản, cơ chế cung cấp thông tin, phát ngôn phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đồng thời, có chính sách động viên, khích lệ phù hợp, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phù hợp để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh. 

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác tổ chức, cán bộ; phòng, chống nội gián, bảo vệ an ninh quốc gia. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc phát tán những đơn, thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong phát hiện, xử lý những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cơ hội chính trị; giải quyết triệt để các vấn đề nảy sinh; phòng ngừa, ngăn chặn sự can thiệp, móc nối của các thế lực thù địch. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội theo Luật An ninh mạng, trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội; rà soát, sửa đổi, ban hành mới các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong các hoạt động sử dụng internet và mạng xã hội; tổ chức tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và các quy định của Nhà nước về sử dụng internet và mạng xã hội, nhất là Luật An ninh mạng.                                           Thứ ba, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.

Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục - đào tạo.  

Nhận thức rõ đối tượng, đối tác trong điều kiện nước ta hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Chủ động cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo về hưu, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên…, từ đó định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.

Tiếp tục nghiên cứu, khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; làm rõ các vấn đề cần bổ sung, phát triển; nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và sự bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, cần nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ; đồng thời, chủ động nghiên cứu, phê phán bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch bằng các luận cứ khoa học và minh chứng bằng thực tiễn một cách thuyết phục. Quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… , để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả.

Thứ tư, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để tạo cớ xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; vừa “xây”, vừa “chống”, trong đó lấy “xây” làm chính. Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh; giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo; kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo các hoạt động báo chí, xuất bản, nhất là trong việc định hướng chính trị - tư tưởng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Chú trọng làm tốt công tác nhân sự tại các cơ quan văn hóa, báo chí ở Trung ương và địa phương để củng cố nội bộ thật trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài có chất lượng, có chiều sâu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông./.


 

CẢNH GIÁC VỚI HÀNH VI LỪA ĐẢO VỀ VỐN

Do nắm bắt được nhu cầu vốn của một số doanh nghiệp, hoặc sự thiếu hiểu biết và lòng tham của một bộ phận cá nhân, doanh nghiệp cùng với sơ hở trong phát hành các văn bản tiếp nhận, trả lời của các cơ quan chức năng. Một số đối tượng xấu đã thành lập các doanh nghiệp với vốn điều lệ rất lớn lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng nhưng lại không có hoạt động sản xuất kinh doanh, không có khả năng tài chính,  không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh; hoặc thành lập nhiều công ty, với mục đích sử dụng pháp nhân tạo vỏ bọc khi tiếp xúc, đàm phán hợp tác với đối tác để hoạt động lừa đảo. Để che đậy hành vi gian dối, chúng sử dụng các giấy tờ giả như hối phiếu (Bankdraft), giấy chứng nhận sở hữu tài sản, di sản thừa kế có giá trị từ hàng triệu đến hàng tỷ USD, các hình ảnh số lượng lớn tiền USD; đồng thời thông tin gian dối rằng có mối quan hệ với các cán bộ cấp cao trong cơ quan Nhà nước. Bằng các thủ đoạn đó, nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã bị mắc bẫy của chúng, bị thiệt hại lớn về tài sản, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, các doanh nghiệp, cá nhân cần tỉnh táo nhận diện rõ hành vi lừa đảo của các đối tượng tránh bị thiệt hại.

Những khó khăn, thách thức trong công cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch

Trong những năm qua, việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị..., hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trận địa tư tưởng chính trị được giữ vững, khẳng định địa vị chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị - tinh thần ở Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là thiếu đa dạng hóa các hình thức thông tin; chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của nhân dân; tính tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch còn hạn chế; chưa phát huy được hết vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí trong đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội… Các cơ quan chức năng có lúc còn thiếu chủ động trong việc định hướng, cung cấp thông tin; thông tin tích cực, chính thống có lúc, có nơi chưa chiếm được thế thượng phong so với các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, mạng xã hội còn hạn chế…

Công tác thông tin đối ngoại, nhất là tuyên truyền, quảng bá nhằm nâng cao uy tín, vị thế và hình ảnh của Việt Nam ổn định và phát triển ở khu vực và trên trường quốc tế có lúc, có nơi còn hạn chế, nên ở nhiều khu vực, nhân dân thế giới chưa hiểu rõ về tình hình Việt Nam, bị tác động tiêu cực bởi những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

Dự báo trong thời gian tới, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự phát triển bùng nổ của internet, mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, các thế lực thù địch, phản động ngày càng có những chiêu thức, thủ đoạn mới tinh vi hơn để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của đất nước. Ví dụ, trên lĩnh vực kinh tế, âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống và cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” theo kiểu phương Tây. 

Trên lĩnh vực đối ngoại, thông qua hoạt động “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nhất là về dân chủ, dân tộc, tôn giáo, từ đó lợi dụng quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận, móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, tạo dựng lực lượng “nòng cốt” cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trong. Trong hợp tác, giao lưu về giáo dục, đào tạo, các thế lực thù địch truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Giải pháp góp phần tăng cường công tác đấu tranh có hiệu quả phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:

 

Một là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, không gian mạng phát triển như vũ bão, thông qua “thế giới ảo”, các thế lực thù địch không đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống, chúng triệt để lợi dụng không gian mạng xã hội để chống phá với các hình thức, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Do vậy, đòi hỏi nội dung, phương thức đấu tranh của chúng ta cũng phải đổi mới, bổ sung, từng bước hoàn thiện cho phù hợp. Nội dung, phương thức đóng vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Nội dung đấu tranh phong phú, phương thức đa dạng, biện pháp phù hợp, cụ thể, sáng tạo thì công tác đấu tranh mới có hiệu quả cao.

 

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng.

Cùng với các giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ như: Bảo vệ tốt thông tin cá nhân, kỹ thuật phát tán thông tin trên không gian mạng, kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ khóa tài khoản của đối phương,… có vị trí rất quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay.

 

Ba là, cần xác định công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, tránh tư tưởng xem nhẹ, buông lỏng, mất cảnh giác.

Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần xác định là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài, khó khăn và quyết liệt, do vậy cần tuyệt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng làm phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng để chống phá ta của các thể lực thù địch theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng những ưu thế của phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch.

 

Bốn là, giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận

Giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng; mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng. Có cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng, tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội, tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn.

Coi trọng công tác dự báo khoa học về những xu hướng truyền thông mới tác động trực tiếp tới sự thay đổi về thủ đoạn, cách thức, phương tiện chống phá kiểu mới của các thế lực thù địch, phục vụ trực tiếp cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sát, đúng, trúng, có tầm nhìn chiến lược, chủ động trong mọi tình huống. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài, gỡ bỏ thông tin xấu độc, răn đe, xử lý hình sự để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực.

 

Năm là, xây dựng hệ thống bài viết chuyên luận chuyên sâu phản bác những quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận và thực tiễn khoa học với hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, có sức thuyết phục.

Chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu phê phán, phản bác, bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận và thực tiễn khoa học với hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, có tính thuyết phục cao giúp độc giả hiểu sâu sắc, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

Sáu là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội theo định hướng, chỉ đạo thống nhất; đồng thời, giao mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền. Thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, trong các tổ chức đoàn thể, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị trong cán bộ, đảng viên và trong quần chúng nhân dân.

Thường xuyên gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền giáo dục chính trị với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ “tính hai mặt” của mạng xã hội, hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch, mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh là vấn đề hết sức quan trọng. Thường xuyên nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội trong quần chúng nhân dân, định hướng thông tin chính xác, kịp thời nhằm tạo khả năng “miễn dịch”, “tự đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phản bác, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, kích động, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

 

Bảy là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng hình thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội.

Đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh,… trên mạng xã hội; trong đó chú trọng tuyên truyền, giáo dục truyền thống, định hướng giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ một cách khoa học, thiết thực, sâu rộng, có tính thuyết phục cao, qua đó nâng cao khả năng đề kháng và phản bác của cán bộ, đảng viên và người dân trước những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch.

Đẩy mạnh và đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, lựa chọn đúng nội dung và luôn có những thông tin mới trong tuyên truyền, tăng cường thông tin đối ngoại. Tiến hành điều tra dư luận xã hội để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên mạng xã hội.

 

Tám là, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ thị của Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tiếp tục triển khai thực thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới, Thông báo số 17/TB-VPTW, ngày 23-8-2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục thực hiện Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-6-2018. Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật an ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

 

Sự chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng xã hội

Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch, các thể lực phản động, thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thâm độc và nguy hiểm hơn, có tác động đến mọi tầng lớp xã hội. Nội dung, bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch là tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giả danh mác xít, “giả khoa học” để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn đã đạt được của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng xã hội mới. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế, sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thể lực thù địch viết bài phát tán trên không gian mạng xã hội nhằm thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để thông qua các đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào mục tiêu, con đường tiến liên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

 

Về hình thức tuyên truyền chống phá, các thế lực thù địch, phản động sử dụng các phương tiện truyền thông, Internet, blog, mạng xã hội, sự dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn Website, blog,… để phát tán những thông tin xấu độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng lập ra nhiều trang web mạo danh các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, một số nhân vật được xã hội chú ý hoặc nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “bảo vệ môi trường”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”,… để bình luận, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Các thế lực thù địch, phản động đưa lên mạng xã hội và Internet những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, sai trái để hướng lái, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó, chuyển dần sang tư tưởng sai trái, thù địch, phản động. Chúng xuất bản các ấn phẩm có nội dụng xấu độc; biên soạn nhiều tài liệu, video lồng ghép nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật. Các thế lực thù địch tổ chức viết nhiều tài liệu, “tác phẩm” dưới dạng văn học nhằm vu cáo, bôi nhọ, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, từ đó nhằm xóa bỏ học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa.

 

Nội dụng thông tin tuyên truyền xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng,… trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các thế lực thù địch đòi hỏi Đảng ta từ bỏ chú nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài xích, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tấn công vào những vấn đề nguyên tắc, then chốt, những luận điểm cơ bản nhất, như phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận về hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để gián tiếp phủ nhận tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuyên tạc, phủ nhận quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Các thế lực thù địch đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu trong quá trình đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu những tiêu cực, khuyết tật, khiếm khuyết tạo cái nhìn bi quan, đen tối về tình hình đất nước. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, phủ nhận và xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, đòi lực lượng vũ trang phải trung lập về chính trị; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân với công an nhân dân, chia rẽ quân đội và công an với nhân dân. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự trá hình”, từ đó cho ra đời các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… để chống phá cách mạng Việt Nam.

 

Đại hội XIII của Đảng đã đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta, do vậy, công tác đầu tranh phản bác, ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần bảo vệ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết.

Vận động người dân không theo tà đạo

 Việc thay đổi nhận thức không thể trong ngày một, ngày hai nhưng bằng sự kiên trì, các trinh sát an ninh nội địa cùng các cán bộ phong trào đã giúp nhiều người và các hộ gia đình nhẹ dạ, cả tin, hiểu ra được bản chất của tà đạo. Đến nay, nhiều gia đình đã tự nguyện ký cam kết từ bỏ tà đạo, quay lại sinh hoạt theo tôn giáo được pháp luật cho phép...

Rít điếu thuốc lào, Sùng Seo T (trú tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai) ngửa mặt lên trời cười khà khà, gương mặt lộ rõ niềm hứng khởi…, ngoài kia mùa xuân đang về, xuân của đất trời và xuân của lòng người. Cuộc sống vẫn còn không ít khó khăn nhưng anh cảm thấy thảnh thơi và bình yên hơn khi được cùng người thân sinh sống trên mảnh đất quê hương. Với sự tuyên truyền, giải thích của các cán bộ Phòng An ninh đối nội - Công an tỉnh Lào Cai, anh đã hiểu ra bản chất sai trái của tà đạo; không nghe, không tin, không làm theo lời của kẻ xấu. Anh T là một trong nhiều trường hợp trên địa bàn Lào Cai đã cam kết từ bỏ tà đạo “Bà Cô Dợ” để làm lại cuộc đời.

1. Chia sẻ với chúng tôi, Thượng tá Lê Quốc Huy, Trưởng phòng An ninh nội địa - Công an tỉnh Lào Cai cho biết: Với “tham vọng” đẩy nhanh hoạt động phá hoại, đối tượng cầm đầu các tổ chức phản động người Mông trên địa bàn Lào Cai đã lợi dụng tà đạo, trong đó có “Bà Cô Dợ”, hứa hẹn về một cuộc sống sung sướng nơi xứ người để tập hợp lực lượng. Tà Đạo “Bà Cô Dợ” coi tôn giáo khác là tà giáo, còn bản thân tự nhận là tôn giáo chính thống của người Mông, gây ra xáo trộn trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của đồng bào dân tộc Mông; tạo sự hoang tưởng khiến bà con không nghĩ đến việc lao động, sản xuất; tập trung phát triển kinh tế gia đình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.  

Những ngày bám bản, bám làng, thực hiện “4 cùng” với bà con vùng cao, các trinh sát Phòng An ninh nội địa phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ và Công an các huyện phát hiện một số người dân vì nhẹ dạ, cả tin nghe theo tà đạo “Bà Cô Dợ”… Một trong số đó là trường hợp của Sùng Seo T. Khi tìm hiểu về hoàn cảnh của T, họ biết trước đây T  từng theo đạo Tin lành Việt Nam, là trưởng điểm nhóm từ năm 2013 đến năm 2016. Thời gian sau đó, trong những lần lang thang trên mạng Internet, anh ta biết đến Tà đạo “Bà Cô Dợ” nên đã tìm hiểu và tin theo. Qua đó, T được các đối tượng tuyên truyền rằng Tà đạo “Bà Cô Dợ” còn gọi là Hội thánh Đức chúa trời yêu thương chúng ta” có nguồn gốc từ Mỹ do Vừ Thị Dợ, khoảng 50 tuổi, người Mông sáng lập.

Vừ Thị Dợ tuyên truyền mình là người được Chúa chọn để sinh ra chúa lần thứ 2 và đứa con thứ 6, sinh ngày 23/11/2000 của Dợ chính là Chúa tái lâm lần thứ 2 và sẽ cứu chuộc người Mông. Khi đủ 18 tuổi sẽ là vua người Mông. Từ đây, những người theo “Bà Cô Dợ” tuyên truyền Chúa tái lâm lần thứ hai và đó là người Mông tên Nu – Long sẽ cứu rỗi người Mông và cai trị thế giới 1000 năm tiếp theo… Từ đó, anh T đã mù quáng tin theo. 

Sau khi tìm hiểu, Công an huyện Văn Bàn phối hợp với chính quyền địa phương và cán bộ Phòng An ninh nội địa đã nhiều lần gặp gỡ, phân tích để T hiểu rằng nội dung các đối tượng tuyên truyền là mê tín dị đoan, xuyên tạc kinh thánh, đả kích các tôn giáo chính thống. Ngoài ra, còn chê bai các phong tục, tập quán của người dân tộc Mông; tuyên truyền về ngày tận thế… Sau đó, kích động “Ly khai, tự trị”, lôi kéo thành lập “Nhà nước Mông”. Gia đình anh T cũng là một trong 10 gia đình sau khi được phân tích đã viết bản cam kết tự nguyện từ bỏ tà đạo này. 

2. Cũng như một số tỉnh miền núi phía Bắc, lợi dụng địa hình hiểm trở, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, tâm lý nhẹ dạ, cả tin của người dân; hứa hẹn về tài chính, các đối tượng cầm đầu tà đạo “Bà Cô Dợ” đã lôi kéo người dân tham gia sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật,  trong đó có tà đạo “Bà Cô Dợ”.

Với sự xuất hiện của Tà đạo “Bà Cô Dợ” gắn liền với vấn đề “Nhà nước Mông” cho thấy âm mưu, phương thức, thủ đoạn của đối tượng lợi dụng tôn giáo trong hoạt động “Nhà nước Mông”. Các đối tượng có xu hướng sử dụng “Bà Cô Dợ” như một dạng Tin lành của người Mông. Hoạt động này cùng với sự hậu thuẫn, tiếp sức từ vật chất đến tinh thần của các thế lực phản động người Mông lưu vong ở Mỹ và một số đối tượng phản động trong vùng dân tộc Mông từ nước ngoài, tiềm ẩn yếu tố, nguy cơ phức tạp về an ninh chính trị ở địa bàn…

Từ tình hình thực trên, để chủ động trong công tác phòng ngừa, đấu tranh và ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng tà đạo “Bà Cô Dợ” để tuyên truyền hoạt động lập "Nhà nước Mông” trên địa bàn tỉnh Lào Cai, Phòng An ninh nội địa đã tăng cường công tác nắm tình hình. Cán bộ của đơn vị không quản vất vả, bám địa bàn, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng; tuyên truyền cho bà con thấy được âm mưu và phương thức thủ đoạn tinh vi của các đối tượng lợi dụng Internet để thực hiện hành vi vi phạm. Từ đó, không tham gia các tà đạo, giữ gìn truyền thống; phong tục tập quán và bản sắc tốt đẹp của dân tộc.

“Ngoài việc cùng với cán bộ cơ sở xuống địa bàn, chúng tôi đã tranh thủ vai trò của các gìa làng, trưởng bản, trưởng nhóm, người đứng đầu các dòng họ đồng hành cùng chính quyền và lực lượng Công an tuyên truyền, vận động để bà con không nghe theo lời dụ dỗ, xúi giục của kẻ xấu. Với sự đồng lòng của cấp uỷ, chính quyền địa phương, nhận thức của bà con đã dần được nâng cao. Đến nay, người dân đã không tin, không nghe theo sự xúi giục của kẻ xấu, không tham gia tà đạo “Bà Cô Dợ”- Thượng tá Huy cho biết. 

Rồi anh kể lại cho chúng tôi việc vận động 3 hộ tại xã Xuân Thượng, huyện Bảo Yên, đứng dầu là Ly Seo C (SN 1988) từ bỏ tà đạo “Bà Cô Dợ”. Đầu tháng 12/2020, qua công tác nắm tình hình, các đơn vị nghiệp vụ của Công an tỉnh Lào Cai đã phát hiện anh C và một số người xung quanh tham gia Tà đạo “Bà Cô Dợ”. Trước đó, khoảng năm 2011, Lý Seo C cùng gia đình theo đạo tin lành Việt Nam miền Bắc sinh hoạt tại điểm nhóm thuộc bản 4 (do Lý Seo V làm trưởng điểm nhóm). Đến khoảng tháng 12/2020, qua mạng xã hội và được một số đối tượng người Mông ở tỉnh Lai Châu, Điện Biên tuyên truyền, lôi kéo, anh đã cùng khoảng 18 người tham gia sinh hoạt, trong đó có những người thân trong gia đình. Sau đó, anh C và một số người đã sử dụng phần mềm zoom lập phòng họp trực tuyến từ 19 đến 24h hằng ngày để tuyên truyền, chỉ đạo hoạt động (nhóm chát là “Hội thánh Đức chúa trời yêu thương chúng ta trên núi Xi Oos” ) do Vừ Thị Dợ lập. Nhóm này thường xuyên chia sẻ một số đường link Yotube có quan điểm, luận điệu sai trái với đường lối chính sách của Đảng, Pháp luật, Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc.

Sau khi phát hiện tình trạng trên, lãnh đạo Phòng An ninh nội địa đã báo cáo Ban Giám đốc Công an tỉnh, xây dựng kế hoạch đấu tranh. Đồng thời, đề xuất lãnh đạo Công an tỉnh tham mưu với thường trực Tỉnh uỷ xây dựng kế hoạch tuyên truyền. Trên cơ sở đó, đơn vị phối hợp với Phòng xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc phát động phong trào thi đua… Sau đó là những ngày, các trinh sát an ninh nội địa cùng các cán bộ phong trào ngày đêm thực hiện 3 cùng với bà con. Việc thay đổi nhận thức không thể trong ngày một, ngày hai nhưng bằng sự kiên trì, họ đã giúp nhiều người và các hộ gia đình nhẹ dạ, cả tin, hiểu ra được bản chất của tà đạo. Đến nay, nhiều gia đình đã tự nguyện ký cam kết từ bỏ tà đạo, quay lại sinh hoạt theo tôn giáo được pháp luật cho phép; chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo.

Đến Lào Cai những ngày này, chúng tôi cảm nhận được sự đổi thay của vùng đất biên cương đang từng ngày “thay da, đổi thịt”. Đời sống vật chất, tinh thần của bà con các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai đang dần được cải thiện; người dân an tâm làm giàu trên mảnh đất quê hương. Trong những kết quả đạt được có sự đóng góp thầm lặng của những cán bộ an ninh đang ngày đêm bám bản, bám làng phối hợp với các lực lượng giữ bình yên mảnh đất quê hương.