Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM!

     Chống phá cách mạng Việt Nam là âm mưu thâm hiểm, lâu dài của các thế lực thù địch, phản động. Đặc biệt, giai đoạn hiện nay, chúng luôn tìm mọi cách bịa đặt, xuyên tạc, phủ nhận những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam...

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn; kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã giúp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành chính quyền về tay nhân dân, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong đấu tranh giải phóng dân tộc; thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, những thành tựu đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đã không chỉ giúp nâng cao chất lượng mọi mặt đời sống của các tầng lớp nhân dân, mà còn trực tiếp nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, với động cơ chính trị đen tối và góc nhìn phiến diện, chủ quan, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình tìm mọi cách xuyên tạc thành quả cách mạng, xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Hàng loạt luận điệu sai trái đã được họ đưa ra như: "Chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời, lạc hậu”; "Chủ nghĩa xã hội không còn phù hợp với Việt Nam”; "Chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hoàn toàn không có bình đẳng xã hội, không có an sinh, phúc lợi xã hội gì cả, mọi thứ đều phải trả tiền”; "Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”, kiên định với "chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” là "lạc nhịp”, "đi ngược xu thế”... Từ đó, các thế lực thù địch, phản động đòi Đảng ta, nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn và đi theo con đường khác.

Để biện minh cho những luận điệu nói trên, họ thường tạo dựng, xuyên tạc bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng; thông tin sai sự thật, bóp méo tình hình đất nước. Nhiều phần tử cơ hội chính trị cũng xuyên tạc về mô hình phát triển của Việt Nam. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách vin vào tình trạng tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên rồi phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...

Thực chất, cái đích mà các thế lực thù địch, phản động hướng đến là làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng; mất niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Từng bước xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa và đưa Việt Nam đi theo con đường khác - con đường tư bản chủ nghĩa.

Rõ ràng, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua là bằng chứng của sự vươn lên, khẳng định quá trình phát triển đất nước theo con đường xã hôi chủ nghĩa. Đó cũng là minh chứng sinh động để chúng ta bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các phần tử chống đối, thù địch. Vì vậy, dù được che đậy dưới những hình thức, thủ đoạn nào thì các thế lực thù địch, phản động cũng không thể xuyên tạc hay phá hoại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam hiện nay.
Kiên định, kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là định hướng đúng đắn; phù hợp với nguyện vọng của Đảng và dân tộc ta, là điều kiện để nhân dân có cuộc sống thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc./.

Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ BÓP MÉO SỰ THẬT VỀ NGÀY CHIẾN THẮNG 9/5!

         Vào ngày 9-5 hằng năm, nước Nga kỷ niệm chiến thắng của nhân dân Liên Xô trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945). Ngày lễ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi những sự kiện của những năm tháng xa xưa ấy đã để lại dấu ấn sâu đậm không chỉ trong lịch sử nước Nga mà còn trong ký ức của mọi người dân, của mỗi gia đình cụ thể.
Vào ngày này, chúng ta tôn vinh những chiến sĩ-những người chiến thắng đã không tiếc thân mình trên chiến trường, những người lao động ở hậu phương đã tôi rèn chiến thắng trong nhà máy và hầm mỏ, những người lái máy gặt đập. Chúng ta tưởng nhớ những người đã hy sinh và mất tích.

Đối với những người Nga và các dân tộc thuộc Liên Xô, ngày 9-5 vẫn là một trong những ngày kỷ niệm quan trọng, tượng trưng cho sự đóng góp chung vào cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít.

Thật đáng tiếc, trong những năm gần đây, ở một số quốc gia, vì lợi ích của tình hình chính trị mà người ta nghi ngờ về sự đóng góp quyết định của Liên Xô nhằm giải phóng thế giới khỏi “bệnh dịch hạch nâu”. Họ kiên trì theo đuổi luận điểm về trách nhiệm ngang nhau của Liên Xô và Đức Quốc xã vì đã khơi mào cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai và những hậu quả khủng khiếp của nó.

Tất nhiên, những khẳng định như vậy có thể minh chứng cho sự thiếu hiểu biết các sự thật lịch sử, hoặc ý định bóp méo chúng.

Vì vậy, câu hỏi được đặt ra là: Tại sao Đức, một quốc gia châu Âu có quy mô trung bình lại liều lĩnh tấn công Liên Xô-quốc gia vượt xa họ về lãnh thổ và dân số? Đâu là nguyên nhân trong quyết định tương ứng của giới lãnh đạo phát xít Đức?

Điều quan trọng cần hiểu là vào năm 1941, quân đội Đức Quốc xã đã kiểm soát hầu như toàn bộ lục địa châu Âu và trong khuôn khổ khái niệm “mở rộng không gian sống cho quốc gia Đức”, giới lãnh đạo Đệ tam Đế chế đã ấp ủ kế hoạch bành trướng hơn nữa.

Tiềm lực công nghiệp đáng kể của các quốc gia bị chiếm đóng đã được huy động cho nhu cầu của quân đội. Vào thời điểm đó, quân đội Đức Quốc xã (Wehrmacht) có lẽ là đội quân tốt nhất, có kinh nghiệm tác chiến và đội ngũ chỉ huy chuyên nghiệp cao. Trong xã hội Đức, tư tưởng phục thù trỗi dậy rất mạnh mẽ sau thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự ủng hộ những ý định xâm lược của giới lãnh đạo Đức Quốc xã.

Về phần mình, Liên Xô trên thực tế chỉ mới bắt đầu vào con đường phát triển công nghiệp. Đất nước buộc phải khắc phục hậu quả tàn khốc của cuộc nội chiến, kéo theo đó là những thiệt hại về vật chất và con người, thiếu hụt nhân lực có trình độ và năng lực sản xuất. Về mặt công nghệ, các quốc gia thuộc thế giới phương Tây đã đi trước rất xa. Ở một số lĩnh vực, Liên Xô tụt hậu ước tính tới 50 năm và cần rút ngắn khoảng cách này trong thời gian ngắn.

Với mục đích đó, Liên Xô đã triển khai xây dựng quy mô lớn các nhà máy và xí nghiệp, đường sắt và đường bộ, thăm dò và phát triển các mỏ khoáng sản, mua và triển khai các thiết bị hiện đại, đào tạo hàng loạt kỹ sư và chuyên gia kỹ thuật. Nhận thấy nguy cơ xảy ra va chạm với Đức, Ban lãnh đạo Liên Xô đã nhanh chóng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hy vọng có thể tránh được chiến tranh bằng cách thực hiện các bước đi mạnh mẽ trên mặt trận chính sách đối ngoại. Tuy nhiên, những nỗ lực thành lập liên minh chống Adolf Hitler trong giai đoạn trước chiến tranh đã không thành công vì ngoại giao phương Tây đã làm mọi cách để hướng nguyện vọng quân sự của Adolf Hitler sang phương Đông.

Ngày 22-6-1941, quân đội Đức Quốc xã đã xâm lược lãnh thổ Liên Xô. Kế hoạch “Ost” được phát triển ở Berlin, dự tính đánh bại nhanh chóng Hồng quân, hủy hoại vật chất, phần lớn dân cư và biến những người còn lại thành nô lệ để phục vụ nhu cầu của “quốc gia Đức vĩ đại”. Nhân dân Liên Xô không thể lường trước được hậu quả khủng khiếp của cuộc chiến nếu nó được tiến hành. Nhưng vấn đề thực tế khi ấy là sự sống còn. Đó là lý do tại sao tất cả nguồn lực có thể đã được huy động cho cuộc chiến dưới khẩu hiệu nổi tiếng: “Tất cả cho mặt trận, tất cả cho chiến thắng!”.

Trong 3 năm dài, Liên Xô đã đơn độc chống lại cỗ máy chiến tranh khổng lồ của Wehrmacht. Và chỉ khi có triển vọng về thất bại không thể tránh khỏi của Đức Quốc xã mới thúc đẩy các đồng minh phương Tây mở mặt trận thứ hai. Sau đó là chiến thắng năm 1945 và sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa thế giới ở châu Á và châu Phi, dẫn đến sự xuất hiện của các quốc gia độc lập mới trên bản đồ thế giới và mở ra một trang mới trong lịch sử nhân loại.

77 năm đã trôi qua kể từ khi hệ tư tưởng của chủ nghĩa quốc xã bị lật đổ, nhưng nó không biến mất. Các biểu hiện của nó ngày càng trở nên dễ nhận thấy ở một số quốc gia. Điều này được thể hiện qua việc cố ý viết lại lịch sử, bóp méo sự thật về các sự kiện trong những năm trước đây, xúc phạm và phá hủy các tượng đài kỷ niệm những người lính Xô viết đã hy sinh trong các trận chiến giải phóng châu Âu, đồng thời tôn vinh các cựu binh SS (cựu binh của Đức Quốc xã) và những người đã cộng tác với Đức Quốc xã. Đây là những điều tuyệt đối không thể chấp nhận được, cho dù đó là lý lẽ biện minh nào đi chăng nữa.

Nước Nga dự định tiếp tục lưu giữ ký ức về chiến công của nhân dân Liên Xô, về đóng góp quyết định của họ trong cuộc chiến chống “bệnh dịch hạch nâu” và những hy sinh to lớn mà Liên Xô phải gánh chịu trong cuộc chiến này.

Điều quan trọng là không cho phép lặp lại các tình huống dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai và cố gắng tránh những thảm kịch tương tự trong tương lai. Chừng nào ký ức về chiến thắng năm 1945 còn sống, nhân loại còn có hy vọng không lặp lại những sai lầm của quá khứ./.
Yêu nước ST.

XEM NHẸ LỊCH SỬ LÀ CÓ LỖI VỚI TỔ TIÊN, ÔNG BÀ!

         Biết sử ta là biết cội nguồn dân tộc. Biết sử ta là biết các cuộc chống giặc xâm lăng của đất nước. Biết sử ta là biết những thăng trầm, mờ tỏ, nông sâu của vận nước. Biết sử ta là biết chiến công, kỳ tích của các anh hùng dân tộc. Biết sử ta là biết sức mạnh của nhân dân.
Biết sử ta là biết những bài học xương máu được rút ra từ những thắng-thua, được-mất của dân tộc mình. Vì thế, không thể xem nhẹ những bài học lịch sử được.

Viết về đất nước, nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Khoa Điềm có những câu thật hay: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi/ Đất nước có trong những cái ngày xửa, ngày xưa mẹ thường hay kể/ Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ
bà ăn/ Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc...”. Hành trình “Đất nước lớn lên” chính là hành trình dựng nước và giữ nước vô cùng gian khổ, hy sinh của bao thế hệ người Việt Nam. Vó ngựa xâm lăng và dấu giày viễn chinh của những thế lực ngoại quốc to lớn không ít lần in vết trên non sông này và tự hào thay dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu khuất phục. Công cuộc tạo dựng đất nước gắn liền với các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, thế mới có “Nam quốc sơn hà...”, có “Đại cáo Bình Ngô”, có "Tuyên ngôn Độc lập” và bao nhiêu áng thơ văn nồng nàn tình yêu non sông, niềm tự hào dân tộc...

Lịch sử Việt Nam là di sản vô giá của dân tộc này, không phải một thế hệ mà nhiều thế hệ, không chỉ một lần mà phải nhiều lần được học hỏi, tìm hiểu nghiên cứu kỹ càng, sâu sắc để bồi đắp lòng yêu nước cho mọi người. Quá khứ không chỉ là quá khứ mà đó là những bài học quý giá, cần thiết cho hiện tại và cả tương lai. Quá khứ không phải là cái vô dụng dẫu rằng đó là câu chuyện của hôm qua mà nó phải được biến thành năng lượng dồi dào của hiện tại. Truyền thống được coi như “căn cước dân tộc” và đó chính là những giá trị cốt lõi được tạo sinh, nảy nở, vươn tỏa trong lịch sử đất nước. Không có lịch sử dựng nước và giữ nước ấy thì làm sao có được “nền văn hiến từ lâu”, làm sao có được một Tổ quốc Việt Nam đã xác lập vị thế, tâm thế như hiện nay.

Tôi nghĩ, không ngẫu nhiên mà Bác Hồ luôn đề cao việc học hỏi lịch sử nước nhà. Chắc nhiều người đã biết, vào năm 1942 ở Pác Bó (Cao Bằng), Hồ Chí Minh đã để công sức, tâm trí soạn diễn ca “Lịch sử nước ta”. Bác viết tác phẩm này là để “kể chuyện” hàng nghìn năm lịch sử Việt Nam một cách cô đọng, dễ hiểu cho mọi người dân biết. Mong muốn của Người là để “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Biết sử ta là biết cội nguồn dân tộc. Biết sử ta là biết các cuộc chống giặc xâm lăng của đất nước. Biết sử ta là biết những thăng trầm, mờ tỏ, nông sâu của vận nước. Biết sử ta là biết chiến công, kỳ tích của các anh hùng dân tộc. Biết sử ta là biết sức mạnh của nhân dân. Biết sử ta là biết kẻ hèn nhát, phản bội Tổ quốc. Biết sử ta là biết những bài học xương máu được rút ra từ những thắng-thua, được-mất của dân tộc mình. Không thể xem nhẹ những bài học lịch sử được. Tuy nhiên, vận dụng những bài học lịch sử quý giá đó như thế nào vào thực tiễn bây giờ đòi hỏi sự sáng suốt, khôn khéo của người đương thời. Một ví dụ, bài học về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng mãi còn nguyên giá trị.

Từ trước đến nay, lịch sử luôn là môn học quan trọng trong nhà trường phổ thông. Thế hệ chúng tôi, những người thuộc U70 được học lịch sử một cách hệ thống từ cấp 1, cấp 2, cấp 3 (cách gọi các cấp học thời đó). Nhờ thế chúng tôi mới biết được thời Hùng Vương dựng nước; biết Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng giành lại độc lập cho giang sơn Việt; biết nhà Lý lãnh đạo nhân dân chống giặc Tống với bài thơ “Thần” do Lý Thường Kiệt đọc động viên tướng sĩ trên sông Như Nguyệt; biết nhà Trần cùng dân tộc Việt 3 lần đánh tan quân Mông Nguyên; biết Lê Lợi dấy nghĩa đánh tan giặc Minh sau 10 năm chinh chiến... rồi “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” chiến thắng thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ.

Những bài học lịch sử thấm dần vào chúng tôi, lòng tự hào dân tộc, lòng yêu Tổ quốc được bồi tụ và tỏa sáng một cách tự nhiên. Cùng những bài văn, bài thơ về quê hương, đất nước, con người Việt Nam hướng chúng tôi tới những điều cao cả, tốt đẹp, biết sống theo tâm niệm “mình vì mọi người” với niềm tin vững chãi “Có gì đẹp trên đời hơn thế/ Người yêu người, sống để yêu nhau” (thơ Tố Hữu). Không thể nói khác được, chúng tôi biết ơn những bài học lịch sử của thời cắp sách đến trường. Có thể chúng tôi quên những định lý, định luật, hệ quả toán học, vật lý nào đó; hoặc không nhớ nổi nữa cấu trúc phân tử của một chất hóa học... nhưng làm sao chúng tôi quên được Vua Hùng, Ngô Quyền, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp... Đất nước, con người Việt Nam thấp thoáng hay ẩn sâu trong từng trang sử của thời học trò. Hành trang ra trận của người chiến sĩ có những bài học đó. Không như vậy làm sao chúng ta vượt qua được muôn trùng gian khó, chịu nhiều mất mát đau thương để làm nên những chiến thắng oai hùng, giành lại độc lập tự do cho dân tộc, hòa bình thống nhất cho đất nước. Tôi nghĩ, xem nhẹ lịch sử là có tội với tổ tiên cha ông, với lớp người đi trước, những người đã đổ mồ hôi, xương máu cho Tổ quốc này.

Vì thế, tôi thực sự bất ngờ khi biết môn Lịch sử là môn học tự chọn khi vào lớp 10 THPT vào năm học tới. Tôi e ngại các cháu của tôi cùng thế hệ của chúng sẽ lơ mơ hoặc không biết mấy về lịch sử dân tộc Việt Nam. Các cháu sẽ lúng túng khi ta hỏi về một vị anh hùng dân tộc nào đó. Liệu các cháu có biết vì sao có “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972?, và nó có liên quan gì tới “Điện Biên Phủ” năm 1954? Còn biết bao nhiêu câu hỏi nữa về nhân loại, dân tộc, con người chỉ trả lời được, trả lời đúng, trả lời sâu từ lịch sử. Thế mà, lịch sử chỉ là môn học tự chọn của học sinh THPT.

Chúng ta vẫn thường hay nói câu này: Không ai bị lãng quên, không điều gì bị quên lãng cả. Chao ôi, biết đâu cái sự lãng quên sẽ bắt đầu một cách hồn nhiên từ đây. Từ chỗ người ta đặt môn Lịch sử vào nơi không xứng đáng với nó. Coi môn Lịch sử không phải là môn học bắt buộc với học sinh THPT. Thử hỏi, với cách ứng xử có phần “tùy tiện” như thế với môn Lịch sử thì liệu thế hệ công dân Việt Nam sau này sẽ có mấy phần trăm “...biết sử ta”? Theo tôi, việc cho môn Lịch sử là tự chọn với các cháu khi vào lớp 10 THPT có gì đó vội vàng, chưa thấu đáo, chưa cân nhắc kỹ càng, thận trọng.

Bấy lâu nay, người ta kêu ca về kết quả học và thi môn Lịch sử thấp. Tôi nghĩ, lỗi không phải ở môn học mà cái chính là ở cách biên soạn nội dung, cách dạy, cách thi Lịch sử. Khô khan, nặng nề, không phù hợp với tâm lý tiếp cận của lứa tuổi chăng? Tại sao chúng ta không tận dụng triệt để các thành tựu công nghệ kỹ thuật của thời 4.0 nhằm làm cho các buổi học lịch sử nhẹ nhàng, sinh động hơn? Thay dạy lịch sử bằng hình thức “kể chuyện lịch sử”, “xem phim lịch sử”, “diễn lại lịch sử”... thử xem sao. Thi cũng không nên bắt học sinh phải nhớ kỹ diễn biến, số liệu, nhân vật... một cách cứng nhắc. Từ những cái đó nên hướng học sinh tới cảm nghĩ, cảm tưởng, nhận thức về đất nước, quê hương, con người Việt Nam, nhân loại trên nền tảng nhân văn tốt đẹp thử xem sao? Thi cử không phải để trả lời cho những cái đã học mà nên mở ra các cảm nhận mới mẻ với học sinh. Có lẽ nên như thế chắc môn Lịch sử không còn nhàm chán, nặng trĩu với các cháu nữa.

Đây chỉ là ý kiến của riêng tôi, một nhà thơ, một cựu chiến binh. Tôi chỉ muốn trình bày những điều tôi nghĩ một cách thành thực, thẳng thắn. Thế thôi, không hề có ý lên lớp, dạy bảo ai cả. Chỉ mong ý kiến này sẽ được những người có trách nhiệm lắng nghe. Tôi nghĩ, những gì liên quan tới giáo dục phổ thông chúng ta nên làm hết sức cẩn trọng và chu đáo. Nếu không rất dễ “sai một ly, đi một dặm”!
Yêu nước ST.

INTERNET KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG CỤ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ, CHIA RẼ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ!

         Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông, đặc biệt là internet ngày càng trở thành phương tiện hữu ích đối với đời sống con người. Không chỉ góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tự do ngôn luận, các phương tiện truyền thông hiện đại nói chung, internet nói riêng còn giúp các quốc gia trên thế giới thêm hiểu và ngày càng xích lại gần nhau hơn.
Thế nhưng những năm qua, nhất là thời gian gần đây, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, cổ xúy cho tư tưởng phân biệt chủng tộc, kích động hận thù, phá hoại đoàn kết quốc tế.

Trên internet, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, phản động lập ra hàng nghìn website, trang mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến... để sử dụng như một công cụ chủ yếu tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt nhằm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, những sự kiện “nóng” thu hút sự quan tâm của dư luận, như: Dân tộc, tôn giáo; Biển Đông; phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng; ô nhiễm môi trường; phòng, chống tham nhũng v.v.. được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng chống phá.

Còn nhớ, sau khi Hiệp ước về biên giới đất liền được ký kết (ngày 30-12-1999), Việt Nam và Trung Quốc đã cùng nhau phân giới cắm mốc trên thực địa. Đây là việc làm cần thiết và đã được Việt Nam và Trung Quốc thực hiện chặt chẽ, thỏa đáng, thấu tình đạt lý, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Thế nhưng trong quá trình tiến hành, một số tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước qua internet đã tung ra hàng loạt những luận điệu xuyên tạc, thông tin trái chiều gây nhiễu loạn dư luận. Họ cho rằng “Trung Quốc giành được một số vùng lãnh thổ mà trước đó Việt Nam tuyên bố chủ quyền”. Có ý kiến cho rằng, trong phân giới, cắm mốc với Trung Quốc, Việt Nam “chịu nhiều thua thiệt”. Có kẻ còn dựng chuyện, bịa đặt rằng “Chính phủ Việt Nam nhường đất cho Trung Quốc”, “Việt Nam đã mất một phần lãnh thổ trong quá trình phân giới, cắm mốc với Trung Quốc”... Rồi từ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt ấy, qua internet, họ kích động nhân dân Việt Nam “cần đòi lại bằng vũ lực...”. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, những thông tin ấy là thất thiệt, vô căn cứ. Các thế lực thù địch, một số tổ chức, cá nhân phản động muốn lợi dụng sự kiện ấy để tuyên truyền xuyên tạc làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và Nhà nước Việt Nam, kích động bạo lực, gây chia rẽ mối quan hệ đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc.
Tương tự quá trình đàm phán thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 về biên giới, phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia đã và đang được tiến hành hoàn toàn hợp pháp, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế. Thế nhưng lợi dụng một số vấn đề nảy sinh trong công tác phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia, những người có tư tưởng thù địch, một số phần tử chống đối, cực đoan phản động đã qua internet tán phát thông tin, tuyên truyền xuyên tạc, kích động, lôi kéo những người dân thiếu thông tin và kiến thức về quá trình đàm phán, phân giới, cắm mốc giữa hai nước để tiến hành các hoạt động phá hoại. Trên mạng xã hội, chúng cho rằng Campuchia đã “cúi đầu quá nhanh” trước Việt Nam; “Việt Nam tạo áp lực với Campuchia”... Chưa hết, qua mạng xã hội, chúng còn vu cáo Việt Nam sử dụng bản đồ giả, ngụy tạo thông tin về đường biên giới với Campuchia... Từ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt ấy chúng không nhằm mục đích nào khác là gây sự hiểu lầm, tạo hiềm khích dân tộc, gieo rắc những tư tưởng thù địch, hoài nghi về mối quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc, hai Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia.

Hay trong sự cố môi trường biển ở các tỉnh miền Trung, ngay sau khi xảy ra sự việc, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã chỉ đạo quyết liệt, triển khai kịp thời các biện pháp hỗ trợ, ổn định cuộc sống của người dân vùng bị thiệt hại... Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, các cơ quan khoa học khẩn trương vào cuộc với tinh thần thận trọng, khoa học, chính xác, khách quan và đúng pháp luật; xác định rõ nguyên nhân, đối tượng gây ra sự cố và có giải pháp xử lý kịp thời. Thế nhưng thông qua internet, với chiêu trò xuyên tạc, bịa đặt, cắt dán, gán ghép thông tin, các thế lực thù địch đã tạo nên sự nhiễu loạn trên truyền thông xã hội, làm cho thật giả, trắng đen lẫn lộn. Chúng vu cáo rằng, các cấp lãnh đạo “vì lợi ích nhóm mà bỏ quên môi trường”, “biết nguyên nhân gây ô nhiễm nhưng che giấu thông tin”, "bao che cho nhà thầu nước ngoài"... Chúng xuyên tạc chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyên truyền, kích động người dân “tẩy chay” các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà thầu đến từ Trung Quốc và Đài Loan... Chưa dừng ở đó, chúng còn soạn ra cái gọi là "tâm thư”, “khuyến nghị”... gửi ra nước ngoài kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp.

Trên đây chỉ là một vài ví dụ dẫn ra để thấy internet đang bị những đối tượng có tư tưởng thù địch, phản động triệt để sử dụng làm công cụ tuyên truyền kích động hận thù, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế. Những hành động đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế.

"Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 quy định rất rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Khoản 2, Điều 19 của Công ước quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Tuy nhiên, cần nhớ rằng những quyền ấy không phải là quyền tuyệt đối. Khoản 3, Điều 19 "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị" năm 1966 ghi rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc hưởng thụ quyền này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định (những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật) để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội". Năm 1982, Việt Nam tham gia "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị". Từ đó đến nay, Việt Nam luôn quan tâm nội luật hóa các quy định của công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, báo chí của người dân được quy định rất rõ. Tại Điều 25 của Hiến pháp năm 2013 nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 9, Luật Báo chí Việt Nam 2016 nghiêm cấm: “1. Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý. 2. Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế”. Những quy định ấy đều tương thích với "Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị".

Trên thế giới, không một quốc gia nào dung túng, bao che cho những hành động sử dụng internet làm công cụ để xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet trên cơ sở tuân thủ công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn chủ động phối hợp, tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin, phát triển internet và các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng Việt Nam cũng làm hết sức mình để ngăn chặn thông tin xấu độc, thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế. Việt Nam luôn mong muốn chung tay với các nước, các tổ chức quốc tế xây dựng môi trường internet lành mạnh, an toàn, hữu ích ở Việt Nam và toàn cầu. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam lên án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết, không cho phép bất kỳ ai được lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet để tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, những luận điệu thù hận, phỉ báng, kích động có thể gây căng thẳng, gây chia rẽ đoàn kết và đưa đến xung đột. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng internet và phương tiện truyền thông đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật./.
Yêu nước ST.

ĐỪNG PHỦ NHẬN LỊCH SỬ!

Thấy cháu nội đạp xe về nhà với vẻ mặt phấn khởi khác thường, ông Thành ngạc nhiên hỏi:
- Hôm nay trên lớp có gì mà thấy cháu vui thế?
- Chúng cháu vừa nghe được thông tin, bắt đầu từ năm học 2022-2023, học sinh lớp 10 sẽ không phải học môn Lịch sử nữa!
- Ông xem ti vi thì môn Lịch sử vẫn đưa vào chương trình, thành môn tự chọn, chứ không phải bỏ hẳn. 
- Thì cũng khác gì đâu ông! Nếu cho tự chọn thì cả lớp cháu bây giờ sẽ chẳng ai chọn học môn Lịch sử cả. Cái môn vô bổ, khô khan ấy bỏ đi là đúng rồi (?).
Nghe cháu trai nói vậy, ông Thành nghiêm giọng: “Ai nói với cháu môn Lịch sử là vô bổ? Cháu có biết Lịch sử là môn học nền tảng, có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp con người hiểu biết về gốc tích, cội nguồn, từ đó hun đúc lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc không? Nếu không có môn Lịch sử, làm sao cháu có thể hiểu biết được lịch sử vẻ vang của dân tộc mà bao thế hệ cha ông đã đổ xương máu để xây dựng, gìn giữ?”.

Bị ông hỏi khó, Tùng gãi đầu nhưng vẫn cố nói “lý”: “Mỗi thời mỗi khác ông ạ! Giờ chúng
cháu sống ở thế giới phẳng, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tất cả chạy theo xu hướng của Cách mạng công nghiệp 4.0, mấy ai còn ngồi nghiền ngẫm, nhồi nhét kiến thức lịch sử rời rạc vào đầu hả ông? Chưa kể, cháu đọc các trang mạng thấy người ta bảo, những bài học lịch sử chúng cháu học được viết bởi ý chí chủ quan của một số người, không chính xác hoàn toàn đâu!”.

Trước "lý sự" của cháu đích tôn, ông Thành cố giữ bình tĩnh: “Cháu lại lên mạng đọc thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch phải không? Các bài viết đó đều là góc nhìn thiển cận, thiếu khách quan, mục đích để lớp trẻ các cháu hoài nghi rồi dẫn tới thờ ơ, quay lưng với lịch sử dân tộc, sống thiếu hiểu biết, lý tưởng, trách nhiệm với Tổ quốc. Có thể do phương pháp dạy môn Lịch sử trên lớp chưa được hấp dẫn nên tạo cho các cháu cảm giác khô khan, khó tiếp thu. Nhưng không vì thế mà cháu phủ nhận tính chân thật, khách quan, hấp dẫn của các bộ sách lịch sử đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, thẩm định chặt chẽ, khoa học. Lịch sử là kiến thức rất thiết thực, quan trọng, giúp mỗi người sống có hiểu biết, trách nhiệm hơn với dân tộc, đất nước. Học, hiểu biết lịch sử còn giúp thế hệ sau nhìn nhận đúng đắn, sống có trách nhiệm, biết ơn đối với công lao của các thế hệ đi trước. Ai cũng nghĩ như cháu thì bao hy sinh xương máu của cha ông để bảo vệ đất nước đều bị phủ nhận sạch trơn sao?”.

Càng nghe ông nói, Tùng càng vỡ lẽ ra nhiều điều. Cậu cúi đầu, khẽ khàng thưa: “Cháu nhận thức vấn đề không đúng khiến ông buồn. Cháu mong ông thứ lỗi ạ...”./.
Yêu nước ST.

TÍNH NHÂN VĂN CAO CẢ CỦA HỌC THUYẾT CÁC MÁC!

     Một trong những giá trị đặc trưng tạo nên sức sống trường tồn của học thuyết Mác chính là ở tinh thần nhân văn cao cả, tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người thoát khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bảo vệ những quyền cơ bản của con người, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn cho con người.
Từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội không ngớt xuyên tạc, công kích học thuyết Mác. Sở dĩ các loại kẻ thù vào hùa với nhau chống đối rất quyết liệt học thuyết mang tính cách mạng và khoa học do Các Mác cùng với Ph.Ăngghen xây dựng nên bởi học thuyết đã công khai rõ mục đích chính trị cao cả của giai cấp vô sản thế giới là đấu tranh nhằm “xóa bỏ chế độ tư hữu”(1). Học thuyết Mác cũng đã vạch ra con đường, biện pháp đấu tranh cách mạng, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với bộ tham mưu chiến đấu của mình là Đảng Cộng sản lãnh đạo đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ áp bức giai cấp, áp bức dân tộc, áp bức con người, hướng tới mục đích nhân văn cao cả vì một xã hội trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(2).

Nhìn lại lịch sử các học thuyết tư tưởng của nhân loại từ trước tới nay để thấy rằng, chỉ có
học thuyết Mác sử dụng phương pháp tiếp cận vấn đề con người trên quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, phân tích làm rõ bản chất con người được biểu hiện trong cả 3 bộ phận hợp thành học thuyết Mác. Về kinh tế chính trị, học thuyết tập trung nghiên cứu giải phẫu xã hội đã làm tha hóa con người, gây bao thảm cảnh cho con người và vạch rõ quy luật tất yếu diệt vong của xã hội đó. Về chủ nghĩa xã hội, học thuyết đề cập những điều kiện và bản chất của sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức, bất công do chế độ tư bản chủ nghĩa gây ra. Trên lĩnh vực triết học, học thuyết phân tích về quy luật nhận thức thế giới, xã hội và con người; xác định mục đích cải tạo thế giới vì lợi ích của con người. Đó là 3 bộ phận hợp thành học thuyết cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác, hàm chứa tính nhân văn cao cả và tính hiện thực cách mạng.

Trong học thuyết Mác, tiền đề xuất phát không phải là con người trừu tượng, con người sinh học thuần túy, con người “xã hội” trống rỗng; hay chủ nghĩa nhân đạo kiểu tôn giáo, chủ nghĩa nhân bản của Feuerbach, mà là con người hiện thực. Các Mác nêu rõ: “... Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(3).

Có những quan điểm phê phán học thuyết Mác chỉ nhấn mạnh đến “con người-giai cấp”, bỏ qua “con người tộc loại”. Nhưng chính Mác và Ăngghen đã nói rõ quan hệ giai cấp không phải là quan hệ vốn có từ khi hình thành cộng đồng loài người. Quan hệ đó chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định của nền sản xuất vật chất xã hội và sẽ mất đi khi các điều kiện này không còn nữa. Vì thế, học thuyết Mác nghiên cứu về con người và sự nghiệp giải phóng con người không phải ở bất kỳ thời đại nào, mà được quy tụ trong thời đại phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp với chủ thể là những con người-giai cấp. Bản chất giai cấp là một phạm trù lịch sử. Học thuyết Mác thể hiện triệt để tính cách mạng trong mục đích xóa bỏ sự phân chia giai cấp mà nguyên nhân cốt yếu do chế độ tư hữu gây ra. Đây cũng chính là căn nguyên làm tha hóa bản chất tộc loại của con người. Trong thời đại này luôn tồn tại một quy luật xã hội: Có áp bức, bóc lột thì có đấu tranh nhằm xóa bỏ sự áp bức, bóc lột con người. Cho nên, học thuyết Mác đã chứng minh mục đích đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản là vì sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Mác khẳng định: Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo.

Như vậy, học thuyết Mác đã phát triển tư tưởng nhân đạo của con người lên trình độ mới về chất. Đó là một học thuyết hàm chứa chủ nghĩa nhân văn cộng sản vì con người, do con người, là tiếng nói bênh vực quần chúng lao động bị áp bức, bóc lột trong chế độ xã hội cũ, hướng tới giải phóng triệt để con người khỏi mọi sự áp bức, bất công. Vì thế có thể khẳng định, học thuyết Mác là một học thuyết mang tinh thần nhân văn cao cả, có sức sống trường tồn, đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho con người đi đến tự do, hạnh phúc.

Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, để có được quyền tự do cá nhân và để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giai cấp áp bức, bóc lột thì tất yếu phải trải qua một quá trình đấu tranh rất quyết liệt, lâu dài, bền bỉ với nhiều chiến lược, sách lược của các giai cấp, dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay trên thế giới vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go, phức tạp và chứa đựng những yếu tố khó lường. Vì vậy, việc tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và khẳng định tinh thần nhân văn cao cả của học thuyết Mác có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-lý luận của giai cấp vô sản trên toàn thế giới nói chung và của Đảng ta nói riêng trong tình hình hiện nay./.
(1); (2) Mác-Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.616; tr.628.
(3) Mác-Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.11.
Yêu nước ST.

CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI CẦN NHẬN THỨC RÕ VỀ "ĐỐI TÁC, ĐỐI TƯỢNG"!

         Xác định đối tác, đối tượng trong quan hệ quốc tế luôn là vấn đề nhạy cảm, quan trọng đối với các quốc gia - dân tộc. Trong hơn 35 năm đổi mới đất nước, việc nhận diện đối tác, đối tượng, xử lý mối quan hệ giữa đối tác, đối tượng luôn được Đảng ta quan tâm, chú trọng. Đây chính là cơ sở để Việt Nam hoạch định đường lối đối ngoại, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.nhận thức về đối tác, đối tượng là vấn đề cơ bản, lâu dài, thường trực, đòi hỏi phải luôn có sự chuẩn bị, có chiến lược và chính sách tổng thể và cho từng giai đoạn. 
      Để có nhận thức đúng về đối tác, đối tượng, CB,CS trong Quân đội chúng ta cần quán triệt, nhân thức đầy đủ quan điểm của Đảng: Mục tiêu cơ bản, lâu dài trong nhận thức và vận dụng quan điểm về đối tác, đối tượng là nhằm không ngừng tăng cường đoàn kết, mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị với bè bạn quốc tế, khai thác mặt đối tác, ngăn ngừa, hạn chế, thu hẹp mặt đối tượng. Đấu tranh phê phán, bác bỏ quan điểm, tư tưởng nhận thức máy móc, khô cứng, khi xem đối tác chỉ là để hợp tác và coi đối tượng chỉ là để cô lập, đấu tranh. Nhận thức đúng mối quan hệ đối tác, đối tượng là định hướng rất quan trọng để chúng ta xử lý các vấn đề, các tình huống trong quan hệ hợp tác quốc tế một cách đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo. Qua đó, tăng mặt đồng thuận, giảm thiểu bất đồng trong quan hệ quốc tế nhằm mục tiêu vì lợi ích quốc gia, dân tộc, đưa nước ta không ngừng phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới./.



Môi Trường ST.

SỰ KIỆN TRỌNG ĐẠI!

         Nga đã tổ chức buổi tổng duyệt cuối cùng cho sự kiện duyệt binh rầm rộ Kỷ niệm 77 năm Ngày Chiến thắng phát xít Đức trong Thế chiến hai.
Cuộc duyệt binh Kỷ niệm Ngày Chiến thắng năm nay dự kiến quy tụ gần 11.000 người cùng 131 loại khí tài cũng như 77 máy bay và trực thăng tham gia.
Bộ Quốc phòng Nga ra tuyên bố cho biết, trong số các máy bay quân sự sẽ phô diễn phía trên bầu trời Quảng trường Đỏ ở Moscow vào ngày 9/5 sẽ có máy bay ném bom chiến lược Tu-95MS; "Thiên Nga Trắng" Tu-160, loại máy bay ném bom chiến lược lớn nhất, nhanh nhất và mạnh nhất trên thế giới, bắt cặp cùng máy bay tiếp nhiên liệu Il-78; các tiêm kích Su-57, MiG-29, Su-35S và MiG-31; máy bay ném bom tầm xa
Tu-22M3; máy bay chỉ huy và kiểm soát trên không Il-80; các trực thăng quân sự Ka-52, Mi-28N, Mi-24, Mi-8 và trực thăng vận tải lớn nhất thế giới Mi-26./.



Môi Trường ST.

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ kỷ niệm 60 năm Bác Hồ về thăm Tiền Hải

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ kỷ niệm 60 năm Bác Hồ về thăm Tiền Hải

Sáng nay (8/5), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dự Lễ kỷ niệm 60 năm Bác Hồ về thăm Tiền Hải; khánh thành Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh; phát động thực hiện chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2022.

Cùng dự có nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Trần Quốc Vượng; Lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ ngành Trung ương, lãnh đạo Tỉnh Thái Bình và đông đảo quần chúng nhân dân trong tỉnh.

 Trong bầu không khí phấn khởi vui tươi của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Thái Bình, Thủ tướng và lãnh đạo các cơ quan đã cắt băng khánh thành Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, thắp hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chính Minh và trồng cây lưu niệm tại đây.

 Ngày 26/3/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm và động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân Thái Bình. Đây là lần thứ tư Người về thăm quê lúa, thể hiện sự quan tâm và tình cảm to lớn của Người với Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Thái Bình.

 Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng ngay trên mảnh đất, nơi Bác Hồ đứng nói chuyện với cán bộ, đảng viên và nhân dân Nam Cường; đến năm 2015, Khu lưu niệm được công nhận là Di tích cấp quốc gia. Trải qua thời gian, Khu lưu niệm đã xuống cấp, năm 2021, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trung ương và tỉnh, Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được tu bổ, tôn tạo, mở rộng trên khuôn viên diện tích 1,27 ha; được quy hoạch, xây dựng tổng thể với nhiều hạng mục… tạo sự hài hòa, đồng bộ về kiến trúc, cảnh quan; vừa tôn nghiêm, ấm cúng, vừa mộc mạc, gần gũi. Tổng kinh phí tu bổ, tôn tạo hàng chục tỷ đồng từ nguồn ngân sách và nguồn xã hội hóa.

 Khu lưu niệm được khánh thành đúng vào dịp kỷ niệm 132 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mãi mãi là biểu tượng cao đẹp thể hiện lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu./.

 

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2022

Nhận diện 1 số luận điệu Xuyên tạc chiến thắng Điện Biên Phủ

 

Khi cả nước đang tưng bừng tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 68 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954- 7/5/2022) thì trên Internet và một số trang mạng xã hội lại lạc lõng xuất hiện một số bài viết có nội dung phán xét, xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, giá trị lịch sử to lớn này của nhân dân Việt Nam.

          Bên cạnh tập trung xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân ta; chúng còn xuyên tạc, hạ bệ thần tượng lịch sử như phủ nhận tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện; phủ nhận công lao của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đây là những luận điệu, hành động không mới về thủ đoạn nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc sự nghi ngờ, làm phân tâm niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là giới trẻ hiện nay.

Thứ nhất, nói về Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, các thế lực, phản động xuyên tạc rằng, cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta chỉ là cuộc đụng độ giữa hai thế lực hiếu chiến; hay đáng nói hơn, chúng tráo trở cho rằng, thực chất quân đội Pháp dưới sự hậu thuẫn của Mỹ có mặt ở Việt Nam là để ngăn Việt Nam xâm lược một nước khác.

Phải khẳng định rằng, trong thời gian ấy, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng mọi biện pháp giành lấy hòa bình bằng giải pháp đàm phán với Pháp mà cả thế giới đều biết. Nhưng với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, chúng đã đưa hàng chục vạn sĩ quan, binh lính của quân đội nhà nghề, với hàng triệu tấn bom đạn, vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân nhất để giáng lên đầu hàng chục triệu người dân vô tội. Tuy nhiên, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc ta đã nhất tề đứng lên, vượt qua hi sinh, gian khổ để giành chiến thắng cuối cùng tại Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 5-1954), buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời phải công nhận độc lập của Lào, Campuchia, rút quân khỏi 3 nước Đông Dương.
Trong cuộc chiến tranh này, chiến thắng thuộc về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, Nhân dân và Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng, thắng lợi của bạn bè, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới, chứ đâu phải như những ý kiến lạc lõng, phản động trên.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động cho rằng, “Anh hùng LLVTND Tô Vĩnh Diện với hành động anh dũng khi lấy thân mình chèn pháo là không có thực”, đây chỉ là nhân vật hư cấu chứ khẩu pháo nặng hàng tấn, với độ dốc như thế, con voi to cũng bị nó đè cho dập nát, chứ người thường chèn thế nào được mới thấy chúng suy luận chủ quan, vô cảm đến nhường nào. Chúng không chịu thừa nhận, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, khi con người rơi vào hoàn cảnh bất thường cụ thể có hành động xả thân vượt lên trên bình thường, thậm chí là phi thường, nằm ngoài hình dung đâu phải là chuyện hiếm.
Có một thực tế là, hơn nửa thế kỷ nay, liệt sĩ Tô Vĩnh Diện vẫn yên nghỉ trong Nghĩa trang Liệt sĩ A1 (Ðiện Biên Phủ) bên những đồng đội của mình như Phan Ðình Giót, Bế Văn Ðàn, Trần Can cùng hàng nghìn liệt sĩ có tên tuổi, hoặc vô danh. Hàng chục triệu đồng đội người dân khách quốc tế mấy chục năm qua vẫn đến dâng hương vì ghi ơn, nể phục chẳng nhẽ thiếu hiểu biết về lịch sử, phải đợi được “khai sáng”. Sự thực là, các liệt sĩ đều là những người con ưu tú sẵn sàng hy sinh vì dân tộc, lòng yêu nước khát khao chiến thắng, cống hiến sâu thẳm trong tâm hồn là động lực tinh thần giúp họ có quyết tâm, hành động quả cảm như lấy thân mình chèn pháo, lấp lỗ châu mai, làm giá súng...

 Trước hiện tượng xét lại lịch sử theo hướng tiêu cực xuất hiện ngày càng nhiều, ngày 27/12/2018, nhà sử học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang phải lên tiếng trên trang sachhiem: “Nhân dân và chính quyền Việt Nam vì cao thượng, nhân từ mà tha thứ, không xử lý những tên tội đồ phản quốc chống lại dân tộc và đất nước chúng ta. Nhưng không phải vì thế mà không ghi vào lịch sử những việc làm tội ác phản dân hại nước của chúng. Lý do là viết sử thì phải nhớ câu nói “Gươm lịch sử không tha phường gian ác”, nghĩa là phải công bằng, quang minh, phải “hắc bạch phân minh”. Những người có công với đại cuộc đánh đuổi các thế lực xâm lăng cũng như đánh dẹp những quân phản quốc đã tiếp tay cho giặc chống lại đất nước, bọn Việt gian phản quốc đi theo giặc đều phải được ghi lại rõ ràng trong sách sử….”. Ðó là một ý kiến rất cần lưu tâm trong bối cảnh tin giả đang là một vấn nạn toàn cầu.

Đại tá Trần Quốc Chân, nguyên Trung đội trưởng Trung đội 8, trực tiếp chỉ huy Khẩu đội Tô Vĩnh Diện trong Chiến dịch Điện Biên Phủ bên khẩu pháo năm xưa tại Bảo tàng PK-KQ vào ngày công bố khẩu pháo được Nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia, cho rằng: “Lịch sử có giá trị như chân lý, tức là mọi sự việc đều hết sức hiện thực, khách quan và được kiểm nghiệm qua thực tế thì nếu kẻ nào đó càng dã tâm phủ nhận càng làm nó sáng hơn”.

Tìm hiểu thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ của dân tộc Việt Nam, nhà báo Pháp Giuyn Roi đã có một nhận xét đầy hình tượng: Không phải viện trợ bên ngoài đã đánh bại tướng Na-va, mà chính là những chiếc xe đạp Pơ-giô thồ 200, 300 ký hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm ni-lông. Cái đã đánh bại tướng Na-va, không phải là phương tiện, mà là sự thông minh và ý chí của đối phương. Từ cách nhìn khách quan của những học giả, nhà báo nước ngoài, thế hệ hôm nay hiểu được rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, tài tình của Đảng, tài chỉ huy, cầm quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những chiếc xe thồ ấy, những con người bằng da, bằng thịt của dân tộc Việt Nam đã kiên cường bất khuất “nếm mật nằm gai” trong “56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt. Máu trộn bùn non” cùng nhau viết nên trang sử chói lọi “9 năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”.

Khi nói về Chiến thắng Điện Biên Phủ 07/5/1954, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (nay là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương) nhấn mạnh: “Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp”.Với sự kiện và nhân vật lịch sử rõ như ban ngày trong Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 68 năm về trước, thế nhưng các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc, bóp méo sự thật quả là không thể chấp nhận được.

 

Những việc làm Bẽ mặt lũ Việt Tân

 


Bản chất chống phá cách mạng Việt Nam của phản động Việt Tân không bao giờ thay đổi. Chúng thường lợi dụng các sự kiện xảy ra trong cuộc sống, để xuyên tạc, vu khống, kích động; nhắm vào những hạn chế, khuyết điểm của một số người, dùng tiền bạc, vật chất, bả vinh hoa… để xuyên tạc, vu khống, kích động, dụ dỗ, ép buộc, lôi kéo… nhằm mục đích chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta.

Nhưng trên thực tế, Việt Tân đều đã phải nhận thất bại thảm hại. Trong đó chúng nhiều khi phải chịu những cái tát mạnh mẽ thẳng vào mặt từ sự thật. Có rất nhiều ví dụ để minh chứng cho thực tế đó.

Vụ án “ Giết người” và “Chống người thi hành công vụ” xảy ra ngày 9/1/2020 tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội đã bị Việt Tân lợi dụng từ rất sớm, rất sâu. Chúng không chỉ tuyên truyền, kích động, hướng dẫn các đối tượng phạm tội khiếu kiện, gây rối mà còn trực tiếp nhúng tay vào việc cung cấp tiền bạc, hỗ trợ mua sắm vũ khí... Nhưng rồi với sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam, qua hai phiên toà hình sự sơ thẩm và phúc thẩm đúng luật, công khai, khách quan, nghiêm khắc và nhân văn, đã đập thẳng vào âm mưu, thủ đoạn xấu xa của Việt Tân. Trước pháp luật, nhiều bị can, bị cáo đã khai nhận hành vi tiếp tay, xúi giục của Việt Tân, khai rõ Việt Tân cung cấp bao nhiêu tiền, hướng dẫn làm bom xăng, sử dụng lựu đạn ra sao… Qua đó, dư luận trong và ngoài nước càng hiểu rõ bộ mặt thật của Việt Tân. Đây quả là vố đau, là hậu quả tất yếu của dã tâm tàn ác tự mình gây ra mà Việt Tân phải gánh chịu.

Năm 2021, Việt Nam tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Việt Tân tìm mọi cách chống phá. Chúng vận động, kích động một số phần tử có tư tưởng chống đối lợi dụng dân chủ để tự ứng cử; lôi kéo, xúi giục cử tri không đi bầu cử. Nhưng kết quả bầu cử rất thành công với gần 70 triệu cử tri đi bầu cử, đạt tỷ lệ 99,6% số cử tri cả nước. Một số đối tượng ảnh hưởng từ Việt Tân định lợi dụng việc tự ứng cử để âm mưu chống phá đã bị cử tri vạch mặt, loại bỏ theo đúng luật. Nhiều người dân lên mạng xã hội tố cáo Việt Tân phá hoại bầu cử, phá hoại Ngày hội lớn của nhân dân Việt Nam.

Trong lúc Việt Nam tập trung phòng, chống đại dịch Covid-19, Việt Tân cũng điên cuồng chống phá. Khi Quân đội cùng cả nước tăng cường chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam phòng, chống dịch hiệu quả, thì Việt Tân bịa đặt thông tin, cắt ghép hình ảnh để vu khống Quân đội, xuyên tạc Quân đội đe dọa, trấn áp dân. Chúng còn tìm mọi cách chia rẽ quan hệ quân đội với nhân dân, xúi giục, kích động người dân phản đối, gây bất hòa với Quân đội, với lực lượng chức năng và chính quyền địa phương…Nhưng kết quả chúng đã bị dân “bóc phốt” là trơ trẽn cắt ghép hình ảnh, dối trá, bịa đặt, vu cáo sai sự thật. Trên thực tế người dân được chăm sóc chu đáo, bộ đội xung kích, gương mẫu giúp đỡ nhân dân rất tận tình, chu đáo. Tình cảm tin tưởng, yêu quý, đồng thuận, hỗ trợ, giúp sức của dân với Đảng, với Chính quyền và Quân đội thêm bền chặt, tốt đẹp. Người dân cũng càng nhận rõ bộ mặt ác độc, xấu xa của Việt Tân, lên án Việt Tân trên báo chí, mạng xã hội… Cuối tháng 8/2021, chính YouTube Việt Tân cũng phải thừa nhận rằng: “Chưa thấy quân đội bắn hay đánh ai. Trong video của dân chúng ghi lại thấy mấy cậu lính trẻ lếch thếch chạy giao các gói thức ăn cho dân phố nào đó. Dẫu sao đó là chuyện đáng nhớ và vui trong lòng. Họ đến cũng có ý nghĩa rất rõ…”.

Trong quá trình chống phá, Việt Tân luôn tìm mọi thủ đoạn lôi kéo một số người theo chúng để chống phá cách mạng. Một số đối tượng ngoan cố theo Việt Tân tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam, đã bị pháp luật Việt Nam trừng phạt. Khi bị trừng phạt, nhiều đối tượng mới rõ bộ mặt thật của Việt Tân nên đã khai nhận, oán trách những kẻ lôi kéo, dụ dỗ, kích động mình. Có người đã nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của Việt Tân nên hối cải, thành thật khai báo, tố cáo Việt Tân, kêu gọi mọi người đừng có dại dột mà sai phạm như mình. Dư luận nhớ rõ trước đây mấy năm, đối tượng Nguyễn Văn Hóa ở xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã bị các thế lực phản động, trong đó có Việt Tân lôi kéo vào những hành vi chống phá Nhà nước Việt Nam. Khi bị các cơ quan pháp luật Việt Nam xử lý, Nguyễn Văn Hóa đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nói rõ “do bị can còn rất trẻ, do bị lợi dụng, lôi kéo”, xin lỗi Nhà nước và nhân dân, đồng thời kêu gọi: “ Bị can muốn kêu gọi tất cả từ thanh niên đến người già, từ nông dân đến tầng lớp trí thức, lương dân cũng như người công giáo đừng vì đồng tiền, đừng vì cái lợi trước mắt như bị can đã từng trải mà gây xâm phạm, bán rẻ lương tâm, bán rẻ Tổ quốc cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phản động, cực đoan chống phá Nhà nước, đừng theo vết xe đổ của bị can”. Thật đúng là bẽ mặt Việt Tân và các tổ chức phản động!

Việt Tân không thể và không bao giờ có thể làm thay đổi được sự bền chặt của ý Đảng, lòng dân, của lý tưởng, truyền thống, nghĩa vụ, trách nhiệm, tình cảm, truyền thống tốt đẹp  của cách mạng Việt Nam. Chắc chắn còn cố tình chống phá, phản động Việt Tân sẽ còn phải chịu thất bại cay đắng hơn nữa, chịu những cái tát thẳng mạnh mẽ hơn nữa của pháp lý và đạo lý. Vì âm mưu, thủ đoạn, mục đích của chúng chỉ nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta, để đất nước Việt Nam yên bình, yêu quý của chúng ta bị rơi vào thảm cảnh, khổ đau. Ác độc và xấu xa như vậy thì làm sao Việt Tân cũng như các thế lực thù địch, phản động khác có thể làm hại sự nghiệp chính nghĩa, trong sáng, tươi đẹp của dân tộc Việt Nam trên con đường mà Đảng, Bác Hồ, toàn dân, toàn quân ta đã sáng suốt lựa chọn: con đường xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


 

Bắt bệnh và trị bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

 

Có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định... nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng "câu like", "câu view" hoặc “nói cho bõ tức”...

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc... nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo...

Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác... vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề...

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ... cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản... cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.

Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy... khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng...

Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh... rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”...

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".


 

Nguy hại từ những câu chuyện làm quà

 

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.

Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm.

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan "chẳng đẹp đẽ" gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định... nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng "câu like", "câu view" hoặc “nói cho bõ tức”...

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc... nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức... Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.

Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng "nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng"... Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.

Nhận diện những luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng ta

 

Hiện nay, khi Đảng Cộng sản Việt Nam và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ chức vụ cao, các thế lực thù địch lại đăng các bài viết, bài nói xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng. Họ cho rằng thực chất công tác cán bộ của Đảng là sai lầm nên mới sinh ra nhiều cán bộ hư hỏng như vậy (!?)…

Các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ cho rằng thực chất đội ngũ cán bộ hiện nay sai phạm nhiều là do sai lầm của Đảng trong lựa chọn cán bộ. Họ cho rằng việc lựa chọn cán bộ của Đảng chủ yếu là theo “cánh hẩu”, phe nhóm, con ông cháu cha mà đưa lên chứ không phải vì tài năng hay đạo đức. Các quan điểm sai trái, xuyên tạc ấy cho rằng để khắc phục tình trạng sai lầm này thì Đảng Cộng sản Việt Nam hãy để cho mọi người tranh cử công khai và không cần Đảng phải thực hiện công tác cán bộ…

Khi Đảng xử lý hàng loạt các cán bộ sai phạm, các luận điệu xuyên tạc lại rêu rao cho rằng đó chỉ là “phe cánh triệt hạ lẫn nhau”, là “thanh trừng phe phái”, là “loại người của bên thua cuộc” để đưa những người của “bên thắng cuộc” lên... Họ cũng trắng trợn xuyên tạc cho rằng thực chất Đảng dung dưỡng cho cán bộ tham nhũng để chính những người ấy sẽ bảo vệ sự tồn tại cho chế độ. Đặc biệt, trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, khi một bộ phận người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh và chịu nhiều mất mát, vất vả, khó khăn, chúng liền vin vào cớ này để xuyên tạc và cho rằng thực chất cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở vô tài, bất đức, chỉ lo cho bản thân mình, phe nhóm mình mà không quan tâm đến người dân, để “sống chết mặc dân”… Trước những bất cập, nhất là yếu kém của một số cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở trong phòng, chống dịch Covid-19, họ tung ra những bài viết, bài nói để khoét sâu vào những bức xúc của người dân để quy chụp, đánh giá phiến diện một chiều khi cho rằng tất cả những yếu kém, hạn chế ấy là do cán bộ và nguyên nhân của các yếu kém đó là do công tác cán bộ của Đảng sai lầm với mục đích cuối cùng là đổ tất cả các hạn chế, bất cập ấy là do… Đảng (?!).

Một sự thật là công tác cán bộ của Đảng trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả rõ nét, một trong những kết quả rõ nét nhất chính là việc Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Đại dịch Covid-19 lần thứ 4 đã bộc lộ cả những điểm tốt và chưa tốt của đội ngũ cán bộ, trong đó rõ ràng những điểm tốt vẫn là chủ đạo. Chúng ta vẫn thấy báo chí đưa tin về người cán bộ chỗ này hiểu chưa đúng về các quy định phòng chống dịch, chỗ kia hiểu chưa đúng về mặt hàng thiết yếu, cũng có người trục lợi trong dịch bệnh… Thế nhưng, tất cả những câu chuyện buồn ấy chỉ đủ đếm trên bàn tay, cao hơn hết thảy vẫn là tinh thần, trách nhiệm của đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là lực lượng tuyến đầu, các lực lượng cơ sở, dân phòng, quân đội, công an…

Công tác cán bộ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đã có nhiều đổi mới. Đảng đã ban hành rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao, được thực hiện liên tục, xuyên suốt, nhiều chiều, theo những tiêu chí và bằng các sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, công tác kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền lần đầu tiên đã đưa ra được các tiêu chí cụ thể trong Quy định 205-QĐ/TW. Công tác nhân sự được chỉ đạo chặt chẽ, kỹ lưỡng bài bản. Từ Quy định 105-QĐ/TW của Đảng, các cấp ủy đã cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm tình hình từng địa phương, đơn vị song vẫn đảm bảo quy trình chặt chẽ theo 5 bước, đảm bảo khách quan, công tâm, công khai, minh bạch. Công tác tạo nguồn cán bộ đã được thực hiện từ rất sớm và theo những lộ trình bài bản, khả thi.

Ở TP Hồ Chí Minh, ngay từ rất sớm đã có chương trình tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị từ sinh viên các khá giỏi ở các trường đại học, các chương trình đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài… Rất nhiều sinh viên giỏi là con em của các gia đình nghèo từ nông thôn vào Thành phố học tập, nhờ học giỏi, phấn đấu tốt đã được lựa chọn, đào tạo và trưởng thành. Từ các chương trình này đã bổ sung một lực lượng lớn cho đội ngũ cán bộ và hiện nay có nhiều người đang đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị ở Thành phố.

Đánh giá về những thành tựu trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới (…) từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền…”.

Rõ ràng những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai phạm của một số tập thể, cá nhân chỉ là cá biệt và không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.