Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

CẦU XIN THA THỨ


          Đan Nguyên tên thật là Nguyễn Đặng Đan, là một ca sĩ Việt Nam ở Hải ngoại chuyên dòng nhạc vàng nhưng lại hát nhiều bài có nội dung phản động như: Anh là ai?; Việt Nam tôi đâu?; Trả lại cho dân lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền phản ánh sai hoàn toàn thực trạng tại Việt Nam; các bài nhạc lính VNCH khắc sâu vào những việc làm sai trái của chế độ tay sai của thực dân Mỹ- Nguỵ quyền Sài Gòn và bị cấm lưu hành tại Việt Nam, chuyên cầm, vẫy cờ ba sọc phản động và biểu diễn nhiều chương trình chống phá cho hai trung tâm phá hoại tư tưởng về văn hoá là ASIA và Thuý Nga. Đặc biệt, Đan Nguyên từng tuyên bố chừng nào Cộng sản còn thì sẽ không quay trở về Việt Nam.

          Tuy nhiên, cũng như những kẻ chống phá khác là Chế Linh, Khánh Ly, Ngọc Huyền, Bằng Kiều, Phương Dung đều “làm trái lời thề” của bản thân mình. Tìm cách quay trở về Việt Nam. Đằng sau lý do quay trở về đó là gì thì chúng ta cũng tiếp tục theo dõi nhưng rõ ràng một điều rằng việc quay trở về như một lời “CẦU XIN THA THỨ” của chính những kẻ đã từng làm tay sai nhiều năm cho giặc này.

          Về tài năng thì chúng ta thừa nhận Đan Nguyên là một giọng hát hiếm có trong làng nhạc vàng, điều đó không ai chối cãi mà cũng chẳng chối cãi làm gì vì nó vốn sờ sờ trước mắt chúng ta. Tuy nhiên, đạo đức và chính trị thì thực sự tỷ lệ nghịch với tài năng đó. Bất cứ ai dù ở mức độ, có tài đến mấy mà chống lại quê hương, Tổ quốc thì những kẻ đó không bao giờ xứng đáng với dòng dõi Tổ tiên. Việc này thì không cần nói, ai cũng sẽ cảm nhận và khắc ghi. Dẫu biết rằng tình hình dịch bệnh, thiên tai, c.hi.ến tr.anh thời gian qua đã tác động không nhỏ đến đời sống của người dân trong đó có cả số chống đối, phản động ở nước ngoài. Khi khó khăn, họ tìm về “đất mẹ”, muốn quy đầu để mong tha thứ và còn “kiếm cơm” cho cuộc sống. Nhưng Đan Nguyên hay những kẻ khác hãy nhớ rằng, mặc dù đất nước này nhân đạo, sẵn sàng thứ tha cho những đứa con lầm lỗi nhưng không có nghĩa là dễ dãi, quên hoặc bỏ qua những gì mà các người đã làm. Một hạt cát “từ thiện” cho có không đủ xoá mờ đi những tội lỗi chồng chất đã gây ra đâu. Thế nên, hãy nhớ, hãy thật tâm “quay đầu là bờ”, hối cải làm người cho tốt.

Thực hiện pháp luật về đạo đức công vụ ở Việt Nam hiện nay.

  - Đạo đức công vụ là phạm trù chính trị - pháp lý, cần được luật hóa trên cơ sở quan điểm của Đảng về một nền công vụ liêm chính, vì nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định sự cần thiết và đề ra yêu cầu xây dựng đội ngũ những người thực thi công vụ có đức, có tài; rèn đức, luyện tài luôn phải song hành với nhau. Trên cơ sở phân tích các quan điểm của Đảng và quy định của pháp luật về đạo đức công vụ, bài viết hệ thống việc thực hiện đạo đức công vụ ở nước ta thời gian qua, từ đó đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện nghiêm đạo đức công vụ, góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam. 

Thực hiện pháp luật về đạo đức công vụ ở Việt Nam hiện nay

Ảnh minh họa - Nguồn: chinhphu.vn

1. Quan niệm về đạo đức công vụ

Đạo đức công vụ là một dạng cụ thể của đạo đức xã hội, bao gồm những tiêu chuẩn, nguyên tắc quy định hành vi của người thực thi công vụ và quan hệ của họ với công dân, đồng nghiệp và các chủ thể khác trong hoạt động công vụ. Hoạt động công vụ là những hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện theo quy định của pháp luật, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội. Từ quan niệm trên có thể thấy, mọi chủ thể thực thi công vụ đều là chủ thể thực hiện đạo đức công vụ. Đó là những người được Nhà nước trao cho quyền lực công để thực hiện nhiệm vụ chung, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong lực lượng vũ trang và người dân thường trong một số trường hợp khẩn cấp, đặc biệt được Nhà nước trao quyền lực công để thực thi nhiệm vụ, vì lợi ích chung của Nhà nước, nhân dân và xã hội.

Đạo đức công vụ là một bộ phận không tách rời của đạo đức cá nhân; theo đó, cùng với việc thực hiện đạo đức công vụ, người thực thi công vụ còn phải nghiêm chỉnh tuân theo các chuẩn mực đạo đức chung của xã hội, gia đình và cộng đồng. Vì vậy, người thực thi công vụ không những phải tuân thủ yêu cầu chuẩn mực trong công việc, mà còn phải là những tấm gương về đạo đức trong đời thường để tạo nên hình ảnh đẹp về đội ngũ những người được trao quyền lực thực hiện công vụ, qua đó tạo niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, chế độ chính trị và nền công vụ quốc gia. Nếu người thực thi công vụ chỉ chú ý làm đúng những nguyên tắc, chuẩn mực trong hoạt động công vụ mà không thực hành tốt các chuẩn mực đạo đức xã hội nói chung, thì đó chưa phải là người toàn diện trong ứng xử và lối sống. Những người như vậy không thể được coi là thực hiện tốt đạo đức công vụ. 

Đạo đức công vụ còn là một dạng của đạo đức nghề nghiệp, nghĩa là bên cạnh những chuẩn mực đạo đức chung quy định cho tất cả những người thực thi công vụ thì trong mỗi ngành nghề, người thực thi công vụ còn phải tuân theo các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp riêng. Chẳng hạn, những người làm việc trong ngành tư pháp phải tuân theo chuẩn mực “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”; những người làm việc trong ngành hải quan, thuế vụ, tài nguyên môi trường, y tế… đều phải tuân theo chuẩn mực riêng, gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của họ. 

Đạo đức công vụ vừa là một phạm trù pháp lý, vừa là một phạm trù đạo đức, vì vậy, thực hiện tốt đạo đức công vụ chính là việc kết hợp nhuần nhuyễn và có hiệu quả mối quan hệ giữa pháp trị và đức trị. Theo quan điểm này, bản thân mỗi người được trao quyền lực công để thực hiện nhiệm vụ chung phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người có đạo đức tốt, đồng thời pháp luật cũng cần quy định chế tài nghiêm khắc đối với những người vi phạm chuẩn mực đạo đức công vụ nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng. 

Ở nước ta, mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong lực lượng vũ trang thực hiện tốt đạo đức công vụ, luôn đặt yếu tố vì nhân dân lên hàng đầu trong hoạt động nghề nghiệp của mình sẽ góp phần tạo dựng hình ảnh đẹp của nền công vụ đối với nhân dân, qua đó sẽ đóng góp tích cực vào việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. 

2. Quan điểm của Đảng và quy định của pháp luật về đạo đức công vụ

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ yêu cầu tu dưỡng đạo đức, thực hành đạo đức công vụ đối với cán bộ: “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(1). Như vậy, Đảng ta tiếp tục đặt ra yêu cầu đối với những người thực thi công vụ cần có “đức” và “tài”, theo đó “đức” thể hiện ở việc rèn luyện đạo đức xã hội nói chung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng; “tài” thể hiện ở kỹ năng nghề nghiệp, chuyên môn, tính sáng tạo trong công việc, năng lực phục vụ nhân dân…

Hiện nay nước ta chưa có luật riêng về đạo đức công vụ, tuy nhiên các quy phạm pháp luật về đạo đức công vụ đã được Nhà nước ban hành lồng ghép trong nhiều văn bản khác nhau như Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi năm 2019), Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi năm 2019), Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018… và các văn bản dưới luật như Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18-9-2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25-9-2020 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01-7-2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng… Tổng hợp các văn bản pháp luật nói trên có thể thấy, hiện nay pháp luật về đạo đức công vụ ở nước ta quy định hai nội dung chính: những chuẩn mực đạo đức chung; các hành vi bị cấm trong hoạt động công vụ.

Về các chuẩn mực chung, pháp luật quy định người thực thi công vụ phải: một là, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; hai là, đối xử khách quan, công bằng với mọi người dân; ba là, bảo vệ danh dự và lợi ích quốc gia, giữ bí mật trong hoạt động công vụ; bốn là, không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Quy định những điều đảng viên không được làm và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền. 

Về các hành vi bị cấm trong hoạt động công vụ, người thực thi công vụ không được thực hiện các hành vi sau: một là, trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công; hai là, sử dụng tài sản của Nhà nước và nhân dân trái pháp luật; ba là, lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi; bốn là, nhận quà tặng tùy tiện.

Riêng đối với vấn đề nhận quà và tặng quà, hiện nay trên thế giới có hai trường phái pháp luật: một là, cấm tuyệt đối như Xingapo, theo đó cấm người thực thi công vụ nhận quà tặng dưới bất cứ hình thức nào: hai là, cấm tương đối, theo đó người thực thi công vụ được nhận quà đến một giá trị nhất định, nếu quá mức quy định thì phải từ chối, trong trường hợp vì lý do lịch sự hoặc tế nhị không thể từ chối thì người nhận quà được quyền nhận, nhưng sau đó phải nộp lại cho cơ quan, đơn vị nơi công tác để xử lý quà tặng theo quy định. Hiện nay, đa số các nước trên thế giới quy định theo hướng này, trong đó có các quốc gia điển hình như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc… Pháp luật Việt Nam trước đây quy định tặng quà và nhận quà theo trường phái cấm tương đối, cụ thể là theo Quy định tại Khoản 4 Điều 12 của Quy chế về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức ban hành kèm theo Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg ngày 10-5-2007 của Thủ tướng Chính phủ, người thực thi công vụ được nhận quà đến 500.000 đồng, nếu quá mức trên phải từ chối nhận(2). Tuy nhiên, kể từ ngày 01-7-2019, khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực thì quy định về quà tặng của nước ta theo trường phái cấm tuyệt đối, cụ thể là Điều 22 của Luật này quy định như sau:

1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được sử dụng tài chính công, tài sản công làm quà tặng, trừ trường hợp tặng quà vì mục đích từ thiện, đối ngoại và trong trường hợp cần thiết khác theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình”.

Quy định này được nhắc lại tại Điều 25 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01-7-2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng. Như vậy, có thể thấy, pháp luật hiện hành của nước ta quy định nghiêm cấm tặng quà và nhận quà tặng dưới mọi hình thức, không có ngoại lệ. Trong trường hợp vì lý do tế nhị, lịch sự không thể từ chối hoặc trường hợp người nhận quà nhận thấy đã nhận quà trái quy định thì người đó phải nộp lại quà tặng cho thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi công tác hoặc thủ trưởng cơ quan, đơn vị cấp trên trực tiếp trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận quà. Việc giao nộp quà tặng phải được lập thành văn bản ghi rõ thông tin về loại và giá trị quà tặng; thời gian, địa điểm và hoàn cảnh cụ thể khi nhận quà; thông tin cá nhân người tặng quà, mục đích của việc tặng quà (nếu biết). Nếu quà tặng bằng tiền, sổ tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu, séc và các giấy tờ có giá thì làm thủ tục nộp ngay vào ngân sách nhà nước; quà tặng bằng hiện vật sẽ tiến hành định giá và bán công khai, số tiền thu được nộp ngân sách nhà nước. Người tặng quà và nhận quà trái quy định của pháp luật sẽ phải chịu các hình thức kỷ luật liên quan theo quy định pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và các hình thức xử phạt có liên quan theo quy định pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản nhà nước. Ngoài ra, nếu hành vi nhận và tặng quà có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thì có thể bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội đưa hoặc nhận hối lộ hoặc tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Ví dụ, Điều 354 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người nào lạm dụng quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian, nhận hối lộ cho bản thân hoặc cho người/tổ chức khác, như một điều kiện để làm hoặc không làm một số nhiệm vụ vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, sẽ bị kết án tù có thời hạn với mức từ 2 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, tùy thuộc vào giá trị của hối lộ nhận được. Như vậy, có thể thấy pháp luật nước ta hiện nay quy định rất chặt chẽ về vấn đề tặng quà và nhận quà tặng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hành đạo đức công vụ, góp phần xây dựng và hoàn thiện một nền công vụ minh bạch, liêm chính và vì dân.

3. Tình hình thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật về đạo đức công vụ ở nước ta 

Những ưu điểm trong thực hiện pháp luật về đạo đức công vụ

Trong thực tế, nền công vụ nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực, qua hai lần thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và 2011-2020, chỉ số cải cách hành chính công của các địa phương ngày càng được cải thiện, xếp hạng Chính phủ điện tử của Việt Nam không ngừng tiến bộ trên bảng xếp hạng của thế giới do Liên hợp quốc công bố hai năm một lần. Cụ thể, vị trí của Việt Nam trên bảng xếp hạng thế giới các năm 2014, 2016, 2018, 2020 lần lượt là 99, 89, 88, 86(3). Điều này có được nhờ sự đóng góp không nhỏ của việc nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

Đánh giá về những kết quả này, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc triển khai Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện đồng bộ với các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(4).

Với quan điểm xử lý nghiêm khắc, không có vùng cấm, trong 5 năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, với quyết tâm cao, sự lãnh đạo chỉ đạo quyết liệt, đến nay, tình hình tham nhũng đã bước đầu được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Trong nhiệm kỳ khóa XII, đã có 126 vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng thuộc diện Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo được đưa ra xử lý. Trong đó, 18 cán bộ diện Trung ương quản lý, bao gồm cả những người đã từng là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương, tướng lĩnh công an và quân đội đã bị xử lý hình sự, hơn 2.550 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng và cố ý làm trái; xét xử sơ thẩm hơn 1.000 vụ với hơn 2.400 bị cáo về tội tham nhũng(5)

Các quy định pháp luật về đạo đức công vụ và thực tế việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đạo đức công vụ ở nước ta thời gian qua đã tạo sự răn đe lớn đối với những người thực thi công vụ, đồng thời góp phần kiềm chế và ngăn chặn các hành vi tham nhũng. Nếu như đầu nhiệm kỳ khóa XII, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” xếp đầu tiên trong 10 vấn nạn khiến xã hội bức xúc nhất, thì sau 5 năm, thực trạng này đã thay đổi nhiều. Kết quả khảo sát do Viện Điều tra dư luận xã hội công bố cho thấy, 75% số người được hỏi ghi nhận và đánh giá cao sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng, 93% số người được hỏi tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng(6)

Có thể thấy, việc thực hiện nghiêm đạo đức công vụ là một trong những yếu tố góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam. Đây là công việc cần tiếp tục thực hiện, kiên quyết, không khoan nhượng, có như vậy mới bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, qua đó giữ vững sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở nước ta. 

Một số hạn chế trong thực hiện pháp luật về đạo đức công vụ

Bên cạnh những ưu điểm đã được khẳng định, vẫn còn một bộ phận những người thực thi công vụ yếu kém về phẩm chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc, thậm chí một số cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp cũng thực hiện hành vi vi phạm đạo đức công vụ. Chẳng hạn, có trường hợp lãnh đạo cùng người thân thành lập doanh nghiệp, kinh doanh ngành nghề thuộc phạm vi quản lý của mình; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giao nhiều dự án, công trình trên địa bàn tỉnh cho doanh nghiệp của gia đình nhằm trục lợi; bổ nhiệm người thân vào các vị trí lãnh đạo, quản lý khi chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định v.v.. Các hành vi vi phạm pháp luật về tặng quà và nhận quà dưới dạng nhận hối lộ của một số lãnh đạo cấp cao như trường hợp vụ án AVG, với giá trị quà tặng lên đến hàng triệu USD; hoặc dưới dạng hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản như vụ án một số cán bộ thanh tra Bộ Xây dựng vòi tiền doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc… Bên cạnh những trường hợp nêu trên, còn có trường hợp cán bộ, công chức, viên chức hoặc người làm việc trong lực lượng vũ trang chưa thực sự gương mẫu trong ứng xử đời thường, còn ỷ lại, cậy quyền, cậy thế trong các hành vi xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, làm ảnh hưởng đến hình ảnh của người làm việc cho Nhà nước và làm méo mó bản chất tốt đẹp của nền công vụ quốc gia cũng như chế độ xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhiều thế hệ đã dày công xây dựng.

Nguyên nhân của việc vi phạm pháp luật về đạo đức công vụ bao gồm:

Một số cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong lực lượng vũ trang thiếu ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nói chung và đạo đức công vụ nói riêng.

Một số lãnh đạo chưa thật sự gương mẫu về đạo đức, lối sống và trách nhiệm trong công việc, lãnh đạo thiếu nêu gương đã tác động tiêu cực đến sự rèn luyện của cấp dưới và sự nghiêm minh trong thực thi công vụ. 

Cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát trong hoạt động thực thi công vụ đối với cán bộ, công chức nhà nước còn hạn chế, chưa thường xuyên, thiếu đồng bộ, đặc biệt cơ chế giám sát của nhân dân đối với cơ quan nhà nước và cán bộ nhà nước còn khó thực hiện.

Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao cho rằng có vùng cấm, pháp luật khó có thể xử lý đến họ, vì thế họ tự tung tự tác mà không sợ bị xử lý. 

4. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về đạo đức công vụ 

Quán triệt quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về đạo đức công vụ là yêu cầu và nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng và xây dựng nền công vụ liêm chính, minh bạch, hiệu quả, bởi đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội. Để loại trừ các nguyên nhân dẫn đến tác động tiêu cực đối với việc thực hiện đạo đức công vụ, thời gian tới cần thực hiện tốt các giải pháp sau đây:

Thứ nhất, triển khai nghiêm túc việc học tập các nghị quyết của Đảng, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục và yêu cầu các cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong lực lượng vũ trang tự rèn luyện, nghiêm túc tu dưỡng bản thân, tuân thủ pháp luật, tránh lộng quyền và lạm quyền khi thực thi công vụ, đồng thời luôn thực hành nguyên tắc “dân là gốc”, luôn “vì dân” trong các hoạt động sử dụng quyền lực nhà nước. Đây là yêu cầu cần được ghi thành quy định và quán triệt thường xuyên trong hoạt động của các cơ quan đảng, nhà nước và toàn hệ thống chính trị.

Thứ hai, yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức nghiêm túc thực hiện tinh thần “7 dám” - dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; có hình thức khen thưởng và tuyên dương kịp thời để động viên, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực thực hiện.

Thứ ba, mở rộng quan niệm về đạo đức công vụ, không chỉ bó hẹp trong hoạt động công vụ, mà đòi hỏi người thực thi công vụ phải là hình mẫu chuẩn mực cả trong và ngoài công vụ. Nghiên cứu bổ sung quy định nếu cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật thì bị coi là tình tiết tăng nặng trong xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Thứ tư, nghiên cứu sửa đổi quy định về tặng quà và nhận quà. Hiện nay pháp luật nước ta theo trường phái cấm triệt để, tức là không được nhận quà và tặng quà dưới mọi hình thức, bất kể giá trị quà tặng là bao nhiêu. Thực tế cho thấy, không phải mọi trường hợp tặng và nhận quà đều có mục đích tiêu cực, ngược lại việc tặng quà còn là thể hiện quan hệ tình cảm giữa con người với con người, vì vậy cần xem xét hài hòa hai trường hợp này. Pháp luật của nhiều nước hiện nay quy định theo hướng cho phép tặng và nhận quà đến một giá trị nhất định (thông thường khoảng 1 triệu đồng tiền Việt Nam), quá mức đó thì bị coi là vi phạm pháp luật. Thiết nghĩ, pháp luật nước ta cũng nên quy định theo hướng này thì sẽ phù hợp hơn.

Du khách Mỹ viết thư cảm ơn Công an xã khi nhận lại số tài sản có giá trị

 Chiều 1/5, trong lúc di chuyển từ đoạn đường Lang Xá Bàu đến cầu ngói Thanh Toàn thuộc địa phận xã Thủy Thanh, nữ du khách Collins Whitney đánh rơi 2 ba lô. Bên trong ba lô chứa số tài sản gồm 1 laptop, 1 máy tính bảng, 1 đồng hồ hiệu ROLEX, hộ chiếu và một số vật dụng cá nhân với tổng trị giá gần 400 triệu đồng.

Tiếp nhận thông tin, Công an xã Thủy Thanh đã vào cuộc xác minh và truy tìm số tài sản đánh rơi nói trên. Đến khoảng 7h30 sáng 2/5, lực lượng Công an đã tìm thấy số tài sản và thực hiện thủ tục bàn giao cho nữ du khách Collins Whitney.

Sáng 3/5, Công an xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy (Thừa Thiên-Huế) cho biết, đơn vị vừa hoàn tất thủ tục trao trả toàn bộ số tài sản cho nữ du khách Collins Whitney (SN 1987, quốc tịch Mỹ).

Nữ du khách người Mỹ viết thư cảm ơn Công an xã khi nhận lại số tài sản có giá trị.

Xã hội số và vấn đề quản lý xã hội.

 - Xã hội nước ta đã và đang biến đổi phức hợp từ truyền thống sang một trạng thái mới - xã hội số, với nền tảng là công nghệ và kỹ thuật số, giúp kết nối vạn vật trong đời sống xã hội. Bài viết bàn luận những vấn đề của xã hội số: khái niệm, bản chất, đề xuất mô hình, đặc biệt là những vấn đề xã hội số đặt ra đối với quản lý xã hội.

Xã hội số và vấn đề quản lý xã hội

Bản chất và diễn trình của xã hội số song hành cùng lịch sử phát triển của khoa học và công nghệ thế giới - Ảnh: dangcongsan.vn

Xã hội số vừa là hiện thực đời sống xã hội, vừa là một khái niệm khoa học mới mẻ với quốc tế và Việt Nam. Ở nước ta, hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu quy mô lớn lấy xã hội số làm đối tượng và chủ đề trung tâm. Các chủ đề có liên quan hoặc là một hợp phần trong xã hội số như cách mạng số, chuyển đổi số, kinh tế số, chính phủ số, công dân số, văn hóa số, môi trường số, nguồn nhân lực số(1), thế hệ công dân số dù có được nhắc đến, thảo luận trong giới nghiên cứu, các nhà quản lý, lãnh đạo, giới doanh nghiệp,… nhưng còn những nhận thức khác nhau, chưa tiệm cận với nghiên cứu của thế giới. Ở góc độ quản lý, nghiên cứu chủ trương, quyết sách và chính sách quốc gia gần đây về phát triển khoa học - công nghệ, về chủ động thích ứng với Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như Chương trình chuyển đổi số quốc gia của Việt Nam đến năm 2025, định hướng năm 2030 ghi nhận sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng các chính sách thích ứng với việc chuyển đổi này. Tuy nhiên, đang có độ “trễ” trong quan niệm, cập nhật mô hình, giải pháp về xây dựng một xã hội số, xã hội siêu thông minh cũng như kịch bản có tính hệ thống nhằm thích ứng với những yêu cầu cấp bách, thách thức đặt ra từ quá trình biến đổi xã hội(2).

1. Quan niệm và bản chất của xã hội số

Bản chất và diễn trình của xã hội số song hành cùng lịch sử phát triển của khoa học và công nghệ thế giới, đặc biệt trong các thế kỷ XX và XXI. Thuật ngữ “xã hội số” chính thức được sử dụng rộng rãi trong diễn trình phát triển của Internet ở mức độ Web 2.0 (tương đương ở làn sóng thứ hai của khoa học công nghệ thế giới)(3), tức những năm đầu thế kỷ XXI. Trong giai đoạn này, số hóa được sử dụng trong cả phương tiện truyền thông và tài liệu học thuật; đồng thời, hình thành, mở rộng ngoại diên biểu hiện “xã hội số” ở góc độ biểu đạt với nhiều thuật ngữ khác có liên quan như “con người số”, văn hóa số, “nhân học số”, “địa lý kỹ thuật số”. Theo WSIS (2003), thời gian này đã diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Xã hội thông tin được tổ chức tại Giơnevơ (tháng 12-2003), thu hút nhiều nhà lãnh đạo cao cấp trên thế giới tham dự, bàn về tương lai xây dựng xã hội số hóa(4). Như vậy, từ những năm đầu thế kỷ XXI, xã hội số đã được nghiên cứu và xuất hiện trên thực tế.

Đến nay, trong các quan điểm nghiên cứu quốc tế và Việt Nam về chủ đề này còn nhiều điểm chưa thống nhất. Dưới góc nhìn về công nghệ, trong Báo cáo đặc biệt “Xã hội số ở châu Á”, Global System for Mobile Communications (GSMA) đã đưa ra định nghĩa: “Xã hội số” đề cập đến một xã hội nơi công dân tương tác liền mạch với các khía cạnh khác nhau của cuộc sống, bao gồm công việc, giải trí và giao tiếp, qua các kênh kỹ thuật số thông qua mạng lưới các thiết bị được kết nối thông minh và các dịch vụ tương thích. Trên thực tế, mọi người trong xã hội kỹ thuật số có thể truy cập và tương tác với một loạt các dịch vụ công và tư, bao gồm cả dịch vụ tài chính, tiện ích, giáo dục, y tế và giao thông, mọi lúc và mọi nơi bằng cách sử dụng công nghệ kỹ thuật số”(5)

Dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu xã hội “Xã hội số” là sự kết nối vạn vật (mọi thứ) trong xã hội thông qua phương thức số hóa chúng. Trong cuốn Digital Media & Society, Simon Lindgren tiếp cận xã hội số như một phương trình mà xã hội số = truyền thông số (digital media) + xã hội (societies); trong đó, xã hội chịu ảnh hưởng của hệ thống công cụ giao tiếp và hạ tầng căn bản như internet và truyền thông xã hội được số hóa và kết nối với nhau(6). Trong cuốn What is Digital Sociology?, Neil Selwyn cho rằng, xã hội số là giai đoạn phát triển của xã hội, dựa theo sự phát triển của công nghệ, hệ thống số (Trí tuệ nhân tạo - AI và Dữ liệu lớn - Bigdata), dịch vụ và hệ thống thiết bị tiện ích (điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng, thiết bị điện tử khác,…) trên nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, y tế, luật pháp, hệ thống an sinh xã hội(7).

Ở Việt Nam, hầu như chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập chuyên sâu đến chủ đề xã hội số ngoài.

Trong cuốn sách Hỏi đáp về chuyển đổi số (năm 2020), các nhà khoa học nhấn mạnh, xã hội số là xã hội của con người trong môi trường số. Ở đó, nhiều dịch vụ và nền tảng số giúp cuộc sống con người thuận tiện, dễ dàng, việc làm nhiều hơn, năng suất cao hơn, xã hội an toàn và nhân văn hơn, giúp cân bằng kinh tế với cuộc sống. Theo đó, xã hội số là trạng thái biến đổi và phát triển mới về chất của xã hội dựa trên nền tảng căn bản và quan trọng nhất là công nghệ - kỹ thuật số, truyền thông số như internet, AI, Bigdata, Mobile Techonology,… giúp kết nối sự tương tác mọi thành viên trong xã hội với nhau, với mọi vật (kết nối vạn vật - IoT) trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa,... trên thế giới số, tạo ra cuộc sống thay đổi tích cực về chất, thúc đẩy phát triển xã hội bền vững, nhân văn và hiện đại.

Như vậy, bản chất của xã hội số chính là sự thay đổi về chất cách thức tương tác và kết nối xã hội từ kiểu truyền thống sang phương thức kết nối số hóa (IoT) ở các lĩnh vực và đối tượng có nhu cầu được số hóa trong đời sống xã hội thông qua hệ thống hạ tầng công nghệ - kỹ thuật số và truyền thông số phát triển mạnh, hiện đại, phù hợp với xu thế công nghệ của thế giới.

2. Những vấn đề đặt ra đối với lãnh đạo, quản lý trong xã hội số 

Những vấn đề cấp bách của xã hội do ảnh hưởng của xã hội số 

Một là, xã hội số, xã hội siêu thông minh mang đến những tiện nghi mới mẻ và hiện đại cho cuộc sống, nhưng cũng tạo ra những thách thức đe doạ đến những quyền căn bản nhất và sự an toàn của chính bản thân con người trong thế giới thực và thế giới số, như an ninh mạng, lừa đảo, tội phạm công nghệ cao, bảo mật đời tư… Do vậy, các cơ quan quản lý cần nhanh chóng xây dựng khung thể chế và hạ tầng bảo đảm an toàn mạng, bảo mật thông tin và quyền tiếp cận, khai thác dữ liệu lớn. Trong đó, cần nhanh chóng nghiên cứu, thông qua Luật Giao dịch điện tử năm 2005 sửa đổi, sớm ban hành Chiến lược phát triển chính phủ số quốc gia đến năm 2025, định hướng năm 2030, hướng dẫn triển khai chi tiết Luật An ninh mạng năm 2018.

Hai là, xã hội số đã và đang tạo ra những chuyển biến nhanh chóng, sâu sắc về thang bậc hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa - xã hội; nhiều phương thức tương tác, giao tiếp xã hội chưa có tiền lệ xuất hiện như tương tác ảo... Điều này khiến tương tác và đoàn kết xã hội ở nhiều thiết chế trở nên “lỏng lẻo” hơn, thậm chí có nguy cơ bị phá vỡ. Con người cảm thấy “cô đơn”, mệt mỏi và căng thẳng nhiều hơn dù không gian sống số và giao lưu, kết nối thuận tiện, rộng mở hơn. Mặc khác, một bộ phận xã hội, nhất là nhóm trẻ, có xu hướng “ảo tưởng” về nhiều điều xảy ra trong không gian ảo; có xu hướng xa rời, lãng quên hoặc “tầm thường hóa” các giá trị cao quý của truyền thống, văn hóa gia đình và dân tộc… Do vậy, việc nghiên cứu, dẫn dắt và định hướng xã hội thông qua bộ tiêu chí văn hóa số, đạo đức số và lối sống số bên cạnh các hệ giá trị cốt lõi của dân tộc mà Đảng ta khẳng định trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế(8) là việc làm cần quan tâm chú trọng.

Ba là, xã hội số khiến phải xác định, thậm chí nhận thức lại các yếu tố trung tâm cấu thành nội hàm khái niệm quản lý phát triển xã hội được Đảng ta chính thức, lần đầu tiên đưa vào Văn kiện Đại hội XII (2016) và tiếp tục khẳng định trong nhiệm kỳ Đại hội XIII trong viễn cảnh mới, như: không gian quản lý phát triển mở rộng ra là thực - số; công cụ, phương thức quản lý phát triển xã hội có sự can thiệp, hỗ trợ mạnh mẽ bằng công nghệ và kỹ thuật số, thay thế dần phương tiện truyền thống; khách thể quản lý còn là nhóm “người - máy”, với “xã hội AI”, “xã hội người máy”,… bên cạnh “xã hội người” như cách hiểu lâu nay. Do đó, việc xây dựng mô hình tổng thể phát triển xã hội số và thực thi các giải pháp thích ứng với quá trình chuyển đổi này là việc làm cần thiết. 

Nguồn lực con người - vấn đề cốt lõi trong xã hội số

Trong 8 chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nêu trong Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 của Bộ Chính trị, chủ trương đầu tiên là “đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức”; Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 30-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ về chuyển đổi số quốc gia cũng nhấn mạnh “nhận thức đóng vai trò quyết định… Chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức”. Theo đó, để nhanh chóng thích ứng với xã hội số, cần:

Một là, có chính sách nhanh chóng xây dựng lớp công dân số có tri thức, hiểu biết và am tường nhất định về chuyển đổi số, về xã hội số; ủng hộ, đồng thuận, thích ứng với xã hội số; có kỹ năng sử dụng, khai thác đa tiện ích từ xã hội số và thực hành chuẩn mực, văn hóa và nguyên tắc ứng xử mới trong môi trường số, không gian thực - số (physical cyber connection). Do đó, việc lồng ghép giáo dục, tuyên truyền bài bản về xã hội số trong chương trình giảng dạy ở các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu cần được quan tâm. Đồng thời, chú trọng dùng không gian số, công nghệ số để tuyên truyền về quá trình chuyển đổi này bên cạnh phương pháp giáo dục, tuyên truyền kiểu truyền thống.

Hai là, xã hội số đem đến nhiều công việc mới mẻ với sự tối ưu hóa sức lao động, gia tăng năng suất làm việc và sự thuận tiện bậc nhất, nhưng cũng đồng nghĩa một lực lượng lớn lao động truyền thống sẽ bị thay thế bởi công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI)(9). Do vậy, trong ngắn và dài hạn, các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách từ trung ương đến địa phương cần tính đến việc chuyển đổi mô hình phát triển, quản lý phát triển xã hội số sao cho giải quyết hài hòa giữa bài toán tăng trưởng kinh tế, giải quyết nguồn lao động dồi dào, dư thừa thời kỳ dân số vàng, chính sách an sinh xã hội và với các thách thức của quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Ba là, chuyển đổi số hình thành loại hình kinh tế mới - kinh tế số. Do đó, cùng với không gian giao thương của Việt Nam với thế giới ngày càng mở rộng qua các hiệp định tự do thế hệ mới, bản thân doanh nhân, giới chủ và nhà quản trị doanh nghiệp cần ý thức sớm và có hành động thích đáng để thích ứng với xã hội số và mô hình kinh doanh với yêu cầu số hóa cao, tránh sai lầm trong chiến lược chuyển đổi số ở doanh nghiệp, nhất là sai lầm trong tư duy.

Bốn là, tư duy và năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức - những người cần am tường, hiểu thấu đáo và tạo động lực, chủ xướng dẫn dắt cho doanh nghiệp, xã hội - phải được đặc biệt chú trọng, có tính quyết định sự thành bại không chỉ trong xây dựng thành công Chính phủ số, chính quyền số, mà còn có tác động đến hai trụ cột còn lại (kinh tế số và xã hội số). Do đó, cần nhanh chóng triển khai các nội dung, giải pháp về đội ngũ nhân sự công trong Chiến lược chuyển đổi số quốc gia tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành; đồng thời, đưa nội dung này trở thành một trong những nội dung quan trọng về “cải cách nguồn nhân lực trong khu vực công” trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính quốc gia giai đoạn 2021-2030 mà Bộ Nội vụ đang chủ trì xây dựng dự thảo thời gian qua.

Xây dựng không gian chính sách và pháp lý (sandbox) nhằm hiện thực hóa xã hội số

Theo tác giả Chu Thị Hoa(10), ở góc độ pháp lý, sandbox là hình thức nhằm tạo ra một không gian thuận lợi với khung chính sách, pháp lý riêng (nằm ngoài hoặc vượt khung pháp lý hiện tại) để tiến hành thử nghiệm những mô hình mới. Chúng ta đã có sandbox, nhưng để thích ứng và xây dựng thành công xã hội số, cần chú ý:

Một là, xây dựng sandbox dẫn dắt, dung dưỡng và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và hình thành xã hội số cũng như khắc phục khuyết tật của quá trình này ở Việt Nam, trong đó, chú ý các sandbox về dữ liệu (chính sách dữ liệu, luật về dữ liệu lớn), sandbox về AI (sản xuất, vận hành và vấn đề đạo đức AI…), sandbox về bảo mật và an toàn người dùng trong không gian số, nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm như tài chính - ngân hàng, tư pháp, bảo hiểm, y tế, thanh tra, kiểm tra trong môi trường số…

Hai là, xây dựng sandbox về mô hình tổng thể xây dựng xã hội số, xã hội siêu thông minh. Đây là nội dung còn chưa được quan tâm nghiên cứu, nhưng đã được đề cập trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia, ở trụ cột về xã hội số. 

Qua nghiên cứu một số công trình của nước ngoài và thực tiễn Việt Nam, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như: Nghị quyết số 52-NQ/TW; Quyết định số 749/QĐ-TTg; tham khảo mô hình xây dựng xã hội số tổng thể đang được thực hiện trên thế giới được khái quát trong bản Báo cáo đặc biệt của GSMA Intelligence vào các năm 2016 và 2020(11).

Việc triển khai nghiên cứu đồng bộ các nội dung theo mô hình tổng thể về “xã hội số” như trên sẽ góp phần hình thành các hành lang pháp lý cũng như tạo ra các điều kiện, nguồn lực thích ứng và phát huy tối đa các tác động tích cực của quá trình chuyển đổi xã hội tới số tới phát triển xã hội Việt Nam bền vững hiện nay.

Nhận diện hoạt động của một số tà đạo hiện nay

 Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa và tình hình an ninh, trật tự ở một số địa phương. Một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân; thuyết giảng “kinh sách” có nội dung phê phán, đi ngược lại với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Tính đến tháng 11/2021, Việt Nam có hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Nhà nước ta còn quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động bình thường trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo;... thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc...”. Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24). Đồng thời, “nghiêm cấm xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Tuy nhiên, thời gian qua, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam, một số người đã đứng ra thành lập và tuyên truyền một số hình thức của tà đạo như “Long Hoa Di Lặc”, “Chân không”, “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Hà Mòn”, “Dương Văn Mình”, “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ”…

Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó, đáng chú ý hoạt động của tà đạo “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Pháp môn diệu âm”, “Dương Văn Mình”, “tà đạo Hà Mòn”, tà đạo “Hoàng Thiên Long”… trái với phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc; tuyên truyền mê tín dị đoan; xâm hại đến tính mạng, sức khỏe; khống chế, lừa gạt người dân để trục lợi; gây mất đoàn kết trong cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo, gia đình ly tán (khi bị gia đình, người thân can ngăn, đối tượng đã bỏ người thân theo tà đạo).

Các tà đạo này ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội (kích động trốn vào rừng, trốn đi nước ngoài); một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân (“tà đạo Hà Mòn”)…

 

Phần lớn các tà đạo ở nước ta có những cách hành đạo trái với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, nhằm mục đích gây thanh thế cá nhân, thu lợi bất chính về kinh tế. Mặt khác, gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của đất nước.

Từ thực tiễn hoạt động của các tà đạo trong thời gian vừa qua, có thể nhận diện các tà đạo dựa vào một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Về người đứng đầu: Luôn tự đề cao, đánh bóng bản thân mình cho rằng bản thân họ là “phật”, “thánh”, “thần”…, nhiều người trước khi tạo dựng tà đạo hay “đạo lạ” còn mắc bệnh tâm thần hoặc từ nước ngoài tuyên truyền phát triển vào trong nước trước để tạo thanh thế. Các tà đạo thường sùng bái và thần thánh hóa người cầm đầu, khác với tôn giáo truyền thống: đối tượng sùng bái là những bậc thánh hiền, thần thánh hóa lãnh tụ, siêu trần, thoát thế…, tôn giáo truyền thống phát huy được tác dụng hướng thiện, nâng đỡ cuộc sống con người; “tà đạo” thường có tư tưởng cực đoan, chống lại hiện thực xã hội, thực hành lối sống phi pháp, quyên góp, bóp nặn tiền của người dân.

- Về lý thuyết, “giáo lý”, “giáo luật”: Chủ yếu được chắp vá, pha tạp, cải biên, xuyên tạc từ một số điều trong lý thuyết, giáo lý, giáo luật của các tôn giáo truyền thống, đã hình thành từ lâu, nên có những lời khuyên, điều răn dạy hướng thiện, giúp xoa dịu, an ủi con người về mặt tinh thần trước những bất hạnh, khó khăn gặp phải trong cuộc sống (đây là yếu tố làm cho tà đạo có thể tồn tại). Tuy nhiên, có một số tà đạo có nội dung giáo lý trái thuần phong, mỹ tục của dân tộc, phản văn hóa, phản khoa học như khuyên người ốm không dùng thuốc, chỉ cần cúng, dâng hoa, cầu nguyện, dùng “nước thánh”, “thuốc phật”…, trái với quy luật tự nhiên; lợi dụng các tà thuyết về “ngày tận thế” hoặc gắn với các nhu cầu về sức khỏe để lôi kéo, mê hoặc, khống chế quần chúng.

Điển hình như đối với tà đạo “Giê Sùa” đã và đang tác động vào vùng dân tộc Mông nước ta từ năm 2015 và tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia với những nội dung khác với giáo lý, giáo luật của đạo Tin Lành. Tà đạo “Giê Sùa” gọi tên Chúa là “Giê Sùa” chứ không phải là Giêsu; coi “đạo Giê Sùa” là tôn giáo chính thống, không thừa nhận các tôn giáo khác; thay nhân vật Adam và Eva trong Kinh thánh bằng “chàng Ong” và “cô Ía”; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh; kiêng ăn thịt lợn và loài cá không vảy. Trong các tài liệu tuyên truyền về tà đạo “Giê Sùa” ngoài nội dung bóp méo Kinh Thánh của đạo Tin Lành, những đối tượng cầm đầu, cốt cán còn tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông”.

- Về mục đích hoạt động: Hầu hết các tà đạo đều có chung mục đích là phục vụ lợi ích của người cầm đầu “giáo chủ” (người sáng lập) và một số đối tượng cốt cán, tay chân của họ nhằm thu về kinh tế thông qua thu lệ phí “quy y”, bán “sắc phong”, “bùa”, bán sách, bài giảng, “thuốc chữa bệnh”... Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động tạo dựng hoặc lợi dụng “tà đạo” như là công cụ để tuyên truyền, tập hợp, thu hút người vào các hoạt động chống chính quyền.

- Về nghi lễ hành đạo: Mang nặng yếu tố mê muội, mê tín dị đoan, lừa bịp, phản khoa học trái với những nghi lễ truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc hay thần thánh hóa lãnh tụ, các bậc thánh hiền, danh nhân, anh hùng dân tộc như: ép quan hệ tình dục tập thể hoặc với giáo chủ để “đắc đạo” (“tà đạo Chân không” của Lưu Văn Ty ở Hà Tĩnh khuyên tín đồ quan hệ tình dục với “người trời” là Lưu Văn Ty); hủy hoại tài sản, của cải, hủy hoại một phần cơ thể hoặc cả thân xác con người để sớm “siêu thoát” (“tà đạo Chân không” khuyên đốt bỏ một phần tài sản, đầy đọa thân xác mới “đắc đạo”; tà đạo “chặt ngón tay” do Phạm Thị Hải ở TP Hồ Chí Minh khởi xướng năm 1993 quy định người tu theo muốn thành “chính quả” phải chặt một ngón tay để bỏ đi một phần thể xác giúp siêu thoát phần hồn...); kích động tự sát để sớm về “nước trời” (như vụ hơn 50 người ở bản Pahé, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo tà đạo “Phạ tốc” đã tuân lệnh “giáo chủ” Cà Văn Liêng tiến hành tự sát tập thể).

- Về cách hoạt động: Thường thiên về hoạt động thực tiễn, nhưng lén lút, thường xuyên thay đổi địa điểm nhằm tránh sự phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng; lợi dụng sơ hở của pháp luật, trong công tác quản lý của chính quyền cơ sở để tuyên truyền phát triển “đạo”; tán phát tài liệu tuyên truyền ở trên mạng Internet hay ở những nơi công cộng, nơi tập trung đông dân cư; tập luyện “dưỡng sinh” ở công viên, quảng trường, vườn hoa; lợi dụng những vùng đồng bào trình độ nhận thức còn thấp, điều kiện sống, chăm sóc sức khỏe còn khó khăn để dụ dỗ, lừa bịp, khống chế, lôi kéo theo “đạo”. Điển hình như đối với tà đạo “Bà Cô Dợ” thường sử dụng các đoạn video clip quay các buổi sinh hoạt của điểm nhóm ở Mỹ và phát trực tiếp trên mạng xã hội Facebook, kênh Youtube để giới thiệu, hướng dẫn mọi người sử dụng điện thoại, máy tính bảng... kết nối Internet vào xem trực tuyến và làm theo hướng dẫn.

- Về đối tượng tin theo: Phần lớn người tin theo các tà đạo là những người gặp rủi ro, bế tắc trong cuộc sống, do ốm đau, bệnh tật, nghèo khó; những người có trình độ văn hóa thấp, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cũng có những tà đạo do biết khai thác, lợi dụng, tạo vỏ bọc xuyên tạc các sự kiện thực tế (dịch bệnh, thiên tai, hiểm họa môi trường...) để “khoác áo” cho các “tín điều” nên đã thu hút được những người trẻ tuổi ưa cái mới, kể cả những người có trình độ nhận thức và chuyên môn kỹ thuật cao, hoặc cán bộ các cơ quan chính quyền và nhất là số cán bộ nguyên là lãnh đạo các ngành, giáo sư, tiến sỹ nghỉ hưu tiếp tay cho tà đạo hoạt động.

Cũng như hoạt động bình thường khác của xã hội, mọi sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều phải trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam; nghiêm cấm bất kỳ ai lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật. Dù ở quốc gia nào, hoạt động tôn giáo đều cần phải có sự quản lý để bảo đảm hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và tuân thủ luật pháp. Không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. (báo CAND)

Giá trị bền vững của tư tưởng C.Mác về nghệ thuật.

  - Tư tưởng C.Mác về nghệ thuật và về nền nghệ thuật XHCN có giá trị to lớn trong đời sống xã hội, trong đó lý luận về tính độc lập tương đối của nghệ thuật được xem là chân lý trong di sản văn hóa nhân loại. Bài viết phân tích quan điểm của C.Mác về nghệ thuật và những đóng góp của ông trong công cuộc xây dựng nền nghệ thuật XHCN.

Giá trị bền vững của tư tưởng C.Mác về nghệ thuật

C.Mác (1818 - 1883) - Ảnh: dangcongsan.vn (ảnh tư liệu)

1. Bản chất của nghệ thuật

Trong suốt lịch sử phát triển, con người đã sáng tạo ra những điều kỳ diệu, không chỉ là cải tạo, chinh phục thiên nhiên, mà quan trọng hơn cả là tìm thấy ý nghĩa của sự sống. Ý nghĩa của sự sống khởi nguyên là những hoạt động tự phát như biết chôn cất người chết, vẽ lên các hang động những hình ảnh trực quan, sinh động, cũng như hát lên những câu hát trữ tình. Nghệ thuật ra đời như một cách thức để đi tìm ý nghĩa của sự sống. Tuy nhiên, khác với tôn giáo, con người nương tựa, lệ thuộc nhiều vào thần thánh, thì trong nghệ thuật, con người đã biết tạo nên một thế giới cho riêng mình, đó là thế giới của cái đẹp.

Nghệ thuật là sản phẩm của quá trình lao động, cộng hưởng cảm hứng sáng tạo, sự tự do của con người trong hành trình phát hiện, tìm kiếm và lưu giữ cái đẹp. Con người không tự giới hạn mình trong những hoạt động ăn, ở, mặc, một cách thuần túy bản năng và vật chất mà tạo dựng nên thế giới văn hóa nghệ thuật, từ đó tìm ra quy luật vận động của cái đẹp trong đời sống xã hội.

Như vậy, từ tự phát đến tự giác, nghệ thuật ra đời là một quá trình tất yếu và vai trò của nó không chỉ dừng lại ở mức độ thoả mãn nhu cầu tự thân của các cá nhân mà còn hướng tới phục vụ xã hội. Khi xã hội xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp, nghệ thuật tham gia vào đời sống chính trị như một vũ khí thực thụ bởi không có một hình thái ý thức xã hội nào có thể lay động tình cảm, tác động vào nhân cách làm thay đổi thói quen, hành động một cách mạnh mẽ như nghệ thuật.

2. Nghệ thuật đối với cuộc đời của C.Mác

Trong thực tế, nghệ thuật không phải là một đặc ân cho riêng một nhóm người nào, mà ai cũng có khả năng và quyền được thưởng thức nghệ thuật. C.Mác biết sáng tác thơ từ khi 15 tuổi. Những bài thơ tình của C.Mác rất nồng nàn và đầy chất cách mạng. Khi nói về nghệ thuật, ông đã có lần bộc bạch: Nghệ thuật là niềm vui cao nhất mà con người tự hiến cho mình. Như vậy, C.Mác đã khẳng định giá trị tự thân của nghệ thuật, điều mà trước đây, một số nhà nghiên cứu ngại ngần khi đề cập đến bởi quá coi trọng giá trị nhân sinh của nghệ thuật mà đôi lúc phớt lờ tính vị nghệ thuật của nó.

Cuộc đời và tên tuổi của C.Mác gắn với học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, trong đó việc chỉ ra mối liên hệ biện chứng giữa các hình thái ý thức xã hội với tồn tại xã hội đã xây dựng nên phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng, một thành tựu vĩ đại. Sau này, các nhà mácxít phát triển lý luận của C.Mác để xây dựng nên những lĩnh vực mới, trong đó nghệ thuật là một hình thái ý thức đặc thù có ý nghĩa hết sức to lớn đối với đời sống xã hội. Từ tư tưởng nghệ thuật của C.Mác, mỹ học Mác - Lênin ra đời, mở ra một cách tiếp cận mới cho việc xây dựng nền nghệ thuật tương lai - nghệ thuật XHCN.

3. C.Mác đối với sự nghiệp xây dựng nền nghệ thuật XHCN

Tư tưởng của C.Mác về nghệ thuật bền vững theo thời gian. Điều này được minh chứng qua những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, quan điểm về tính hiện thực, nhân sinh của nghệ thuật

Theo quan điểm của C.Mác, nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo đặc thù của con người nhưng không phải vì thế mà xa rời hiện thực. Tính hiện thực ở đây là nghệ thuật phục vụ ai? Phục vụ quần chúng nhân dân hay là sản phẩm chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc và giàu có? Thái độ coi thường thị hiếu nghệ thuật của những tầng lớp được coi là “tầng lớp thấp” trong xã hội đã bộc lộ chân tướng đặc quyền nghệ thuật của giai cấp phong kiến và tư sản. Nghệ thuật ban đầu có thể là để “mua vui” (Nguyễn Du) nhưng không thể không phản ánh nỗi thống khổ và bị chèn ép của nhân dân lao động dưới ách áp bức của giai cấp phong kiến cũng như giai cấp tư sản. Chính vì vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác khẳng định rằng, nghệ thuật không chỉ mang tính dân tộc, tính giai cấp mà còn mang tính nhân dân. Nghệ thuật phản ánh tinh thần của thời đại nhưng không phải để phô trương vẻ hào nhoáng và diêm dúa của tầng lớp quý tộc, thói hợm hĩnh của giai cấp tư sản mà là liều thuốc, là món ăn tinh thần cho đa số tầng lớp dân cư trong cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Các quan điểm về mỹ học nói chung và nghệ thuật nói riêng trước C.Mác đã có những đóng góp quan trọng trong việc phân tích nguồn gốc và bản chất nghệ thuật nhưng không tránh khỏi những hạn chế khi đưa nghệ thuật vào “tháp ngà” của nó và trở thành sở hữu của tầng lớp giàu có và quyền lực. Cách nhìn duy tâm và siêu hình đã phủ nhận vai trò chủ thể sáng tạo của con người và chia cắt vai trò to lớn của nghệ thuật đối với đời sống xã hội. Với C.Mác, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh tồn tại xã hội nhưng thông qua các hình tượng nghệ thuật. Sự vận động của xã hội (suy thoái hay tiến bộ) có thể được nhìn thấy thông qua các nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật. Tuy nhiên, các hình tượng nghệ thuật không thể đại diện cho một số ít nào đó mà phản ảnh tâm tư, nguyện vọng cho cả một cộng đồng, dân tộc, cao hơn là diện mạo của một thời đại. Tư tưởng của C.Mác không chỉ khẳng định sức mạnh chủ thể to lớn của quần chúng nhân dân trong việc sáng tạo ra nghệ thuật mà còn nêu lên sự tác động to lớn của nghệ thuật đối với đời sống xã hội. Bằng chứng hùng hồn đó là sự ra đời của nền nghệ thuật hiện thực XHCN của hệ thống các nước XHCN do Liên Xô đứng đầu. Những thành tựu nghệ thuật rực rỡ ấy là không thể chối cãi, phủ nhận cho dù mô hình CNXH tại Liên Xô và Đông Âu bị tan rã cùng với sự xuyên tạc, phủ định của các thế lực thù địch về nền nghệ thuật hiện thực XHCN trong lịch sử.

Ở Việt Nam, nền nghệ thuật hiện thực XHCN đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Những tác phẩm nghệ thuật đó không chỉ có sức tác động mạnh mẽ đến quá trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất, mà còn thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của đại bộ phận người dân. Các tầng lớp nhân dân đều tìm thấy chính mình trong các tác phẩm. Số phận và diện mạo của người dân được thời đại khẳng định trong tác phẩm nghệ thuật Việt Nam là một minh chứng cho bản chất của nền nghệ thuật hiện thực XHCN. Đó chính là đặc điểm, là sự ưu việt và nhân bản mà những người mácxít đã đóng góp cho nghệ thuật nhân loại.

Việc khẳng định chân lý “nghệ thuật thuộc về nhân dân” không đồng nghĩa với cách hiểu ai cũng có thể là một nghệ sĩ. Năng lực thơ ca, âm nhạc, hội họa, văn chương đều tiềm ẩn trong mỗi con người nhưng không phải ai cũng có thể trở thành nghệ sĩ, nghệ nhân. Sự ngộ nhận này, nếu được cổ súy sẽ dẫn đến tình trạng tầm thường hóa nghệ thuật, tạo ra ảo tưởng cho một số nghệ sĩ “nửa vời”, đồng thời tạo ra thái độ thiếu tôn vinh, trân trọng đối với những nghệ sĩ hoạt động nghệ thuật chân chính. C.Mác từng cho rằng, nghệ thuật thuộc về nhân dân nhưng đó là một quá trình đào luyện các giác quan của con người, trong đó, tai và mắt có vai trò vô cùng to lớn trong sáng tạo nghệ thuật. Theo ông, “lịch sử con người là lịch sử đào luyện ngũ quan”. Ngũ quan lại là cơ sở cho nghệ thuật. Việc sắp xếp các loại hình nghệ thuật như: nghệ thuật thị giác, nghệ thuật thính giác, nghệ thuật ngôn từ... đã nói lên điều đó. C.Mác cho rằng, quá trình phát triển các giác quan đã tạo ra sự phân công lao động xã hội trong nghệ thuật, hình thành đội ngũ văn nghệ sỹ - chủ thể sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật phục vụ nhân dân.

Thứ hai, tính chính trị trong nghệ thuật

Từ khi có giai cấp và đấu tranh giai cấp, nghệ thuật và chính trị có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nghệ thuật rất dễ bị tổn thương nếu như chính trị can thiệp quá sâu vào tự do tư tưởng hay áp đặt sự phục vụ. Chính trị sẽ đánh mất sự ủng hộ và động lực cần thiết nếu như không nhìn thấy “sức mạnh mềm” trong văn hóa - nghệ thuật. Trong trường hợp này, để tìm kiếm sự đồng thuận giữa nghệ thuật và chính trị thì cái đích cuối cùng là phải hướng về lợi ích của người dân, của dân tộc. Đó chính là quan điểm của C.Mác về tính chính trị trong nghệ thuật, là sự gắn kết tất yếu giữa Đảng, nhân dân và đội ngũ văn nghệ sĩ trong hành trình xây dựng nền nghệ thuật XHCN.

Thứ ba, tính độc lập tương đối của nghệ thuật

C.Mác cho rằng, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều đi liền với một kiểu văn hóa nhất định để chỉ ra quy luật vận động của các hình thái ý thức xã hội nhưng điều đó không có nghĩa ông đã tuyệt đối hóa luận đề đó như một sự bất di bất dịch. Tài năng của C.Mác là ở chỗ, ông chỉ nói rằng “xét đến cùng” thôi, bởi lẽ trong thực tiễn, nghệ thuật không hoàn toàn trùng khớp với sự phát triển kinh tế. Tư tưởng của C.Mác về tính độc lập tương đối của nghệ thuật là một phát hiện vĩ đại khẳng định sức mạnh tự thân của nghệ thuật với tư cách là thành tố đặc thù của văn hóa. Ông viết: “Đối với nghệ thuật người ta biết rằng trong những thời kỳ hưng thịnh nhất nghệ thuật hoàn toàn không tương ứng với sự phát triển của cơ sở vật chất xã hội, của cái xương sống của tổ chức xã hội”(1).

Thực tế cho thấy, việc hiểu sai ý tưởng của C.Mác đã có thời kỳ làm cho nhận thức về bản chất của nghệ thuật bị méo mó. Nghệ thuật nói riêng và văn hóa nói chung được hiểu như là “cái đuôi” theo sau kinh tế. Sự ngộ nhận nguy hiểm này đã làm cho việc xây dựng các mô hình phát triển kinh tế - xã hội ở một số quốc gia trở nên chệch hướng. Điều này lừa dối và che dậy thói vị kỷ của một bộ phận những người giàu có và làm tổn thương lòng tự trọng của đa số người dân. Nghệ thuật không phải là đặc ân, không phải là sở hữu của những kẻ giàu có. Sự tăng trưởng kinh tế có thể tạo tiền đề, điều kiện cho mọi người dân hưởng thụ và sáng tạo nghệ thuật nhưng nó cũng có thể dẫn đến sự phát triển lệch lạc nhân cách và tâm hồn của con người - nhân tố được hình thành, tạo dựng bằng niềm tin đạo đức, tôn giáo và nghệ thuật.

Việc đánh giá thấp vai trò của các hình thái ý thức xã hội, trong đó có nghệ thuật của một số nhà lý luận trước đây đã làm mất đi tính năng động của nghệ thuật. C.Mác đã từng cảnh báo điều này trong các tác phẩm của mình. Sự không tương thích giữa nghệ thuật với kinh tế không chỉ nói đến tính đặc thù của nghệ thuật mà quan trọng là vạch ra đường lối phát triển văn hóa - nghệ thuật, bởi lẽ không thể chờ đến khi có nhiều của cải, kinh tế tăng trưởng cao mới phát triển văn hóa - nghệ thuật. Thực tế lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII là một minh chứng cho sự không đồng đều và tương thích trên, khi kinh tế và chính trị giai đoạn này suy thoái nhưng đã xuất hiện nhiều tác phẩm bất hủ trong đó có Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nếu giữ cách nhìn thiếu biện chứng và cứng nhắc đó, chúng ta sẽ không thể lý giải được những thành tựu nghệ thuật Việt Nam trước năm 1975 và sự trống vắng sau này, đặc biệt là từ khi đổi mới năm 1986 đến nay, khi tăng trưởng kinh tế luôn đạt mức khá cao từ 7,5%/năm trở lên nhưng lại chưa có những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc xứng tầm với bề dày lịch sử dân tộc. Trong khi đó, đời sống kinh tế của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên trước đây rất khó khăn, gian khổ nhưng họ đã để lại một kho tàng sử thi đồ sộ cho nền văn hóa nước nhà. Những cứ liệu sinh động ấy đã khẳng định giá trị của những tư tưởng nghệ thuật của C.Mác.

Thứ tư, về mối quan hệ giữa nghệ sỹ (cá nhân) và công chúng (cộng đồng), giữa sáng tạo và giá trị trong nghệ thuật

C.Mác cho rằng với tư cách là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, sự phản ánh của nghệ thuật không chỉ là sự sao chép thuần tuý mà có sức tác động to lớn đến đời sống xã hội; triết học không chỉ giải thích thế giới mà quan trọng là cải tạo thế giới. Điều này đã nói lên vai trò to lớn của các hình thái ý thức xã hội, trong đó có nghệ thuật. Thực tiễn cho thấy, từ khi ra đời đến nay, nền nghệ thuật XHCN đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh vì sự tiến bộ của nhân loại. Thông qua nghệ thuật, mỗi quốc gia, dân tộc bộc lộ sức sống và bản sắc văn hóa của mình trong tiến trình lịch sử. Các nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật đã ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, niềm tin và hành động của nhân dân, có nhiều hình tượng nghệ thuật trở thành lẽ sống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Hình tượng Paven Coócaghin trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” trong văn học hiện thực XHCN ở Liên Xô trước đây và Anh Núp ở Việt Nam... đã cảm hóa hàng triệu con tim yêu nước, khơi dậy sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, trở thành động lực to lớn cho cách mạng.

Ở nước ta, nền nghệ thuật XHCN đã có những đóng góp lớn lao vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Những hình tượng nghệ thuật như Anh Núp, chị Sứ, chị Út Tịch, anh Trỗi... đặc biệt là hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có sức sống mạnh mẽ, đã khắc sâu vào tâm thức của toàn dân tộc.

 Động lực to lớn của nghệ thuật không chỉ thúc đẩy sự phát triển trong những thời điểm giai cấp thống trị hướng vào lợi ích nhân dân mà còn thể hiện ở chỗ sẵn sàng trở thành “lực lượng đối lập” nếu như sự tồn tại của giai cấp thống trị đi đến chỗ bảo thủ, thối nát, xa rời lợi ích dân tộc, nhân dân. Trong những trường hợp này, sự “nổi loạn” của nghệ thuật là cần thiết để đấu tranh tìm sự công bằng cho đa số người dân. Nghệ thuật chân chính luôn đứng về phía nhân dân trong những thời điểm như vậy.

Bên cạnh những tác động tích cực, C.Mác cũng chỉ ra một số ảnh hưởng trái chiều của nghệ thuật đối với xã hội. Lịch sử nghệ thuật có những giai đoạn suy thoái nhất định khi một số nghệ sĩ bị tha hóa, bị cám dỗ bởi quyền lực và tiền bạc. Trong những trường hợp đó, hình tượng nghệ thuật bị bóp méo, các nhân vật trong tác phẩm không còn là biểu tượng của cái tốt, cái đúng và cái đẹp mà là hiện thân của cái xấu, cái sai. Một số nghệ sĩ sáng tác nghệ thuật không xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, của dân tộc mà nhằm thỏa mãn thị hiếu tầm thường của một nhóm người nào đó trong xã hội. Trong những thời điểm như vậy, giá trị của nền nghệ thuật XHCN đã bị đánh cắp và bị xuyên tạc.

Sản phẩm nghệ thuật sẽ không có giá trị nếu như người nghệ sĩ chỉ tập trung vào cái tôi nhỏ bé và ích kỷ của mình. Những tác phẩm cổ súy cho bạo lực, văn hóa phẩm đồi trụy... sẽ làm thui chột hy vọng của con người, biến con người trở thành nô lệ cho bản năng, cái ác và cái xấu xa. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, một số nghệ sĩ đã đi vào con đường đó nhằm phô trương, đánh bóng tên tuổi của mình. Mạng xã hội cùng với công nghệ lăng - xê hiện đại đã tô vẽ một số nghệ sĩ như “một phát hiện” nhưng không thể che đậy được bản chất của vấn đề.

Trong quy luật của văn hóa nói chung và nghệ thuật nói riêng, sáng tạo thuộc về cá nhân nhưng những sáng tạo đó chỉ có ý nghĩa khi được cộng đồng thừa nhận giá trị. Mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng là mối liên hệ giữa sáng tạo và lưu giữ. Sẽ không có một tác phẩm nghệ thuật nào có giá trị thực sự mà lại không được cộng đồng chấp nhận. Ngược lại, dù nghệ sĩ có sáng tạo ra bao nhiêu tác phẩm đi nữa mà không đi vào tâm thức cộng đồng, không phản ánh tâm tư, nguyện vọng người dân thì cũng trở nên vô nghĩa và bị đào thải. Thực tiễn nghệ thuật thế giới đã chứng minh điều đó khi có nhiều tác phẩm nghệ thuật bất hủ đã được công chúng và cộng đồng lưu giữ như một tài sản chung.

Nhìn chung, sự phát triển đạt đến đỉnh cao của nền nghệ thuật XHCN, đặc biệt là trong văn học hiện thực XHCN ở thế kỷ XX là một thành tựu đáng trân trọng trong kho tàng nghệ thuật thế giới. Sự thoái trào của hệ thống XHCN trong cuối thế kỷ XX tác động rất lớn đến sự phát triển nền nghệ thuật XHCN. Tuy nhiên, hệ thống lý luận của C.Mác về tính độc lập tương đối của nghệ thuật vẫn được xem là chân lý trong di sản văn hóa nhân loại.

Những người con xa quê luôn nặng lòng hướng về Tổ quốc

 Ông Đinh Xuân Vinh - Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Cộng hòa Séc và các thành viên trong đoàn cho biết: Tuy sinh sống và làm việc xa quê hương nhưng những người Việt tại Cộng hóa Séc vẫn luôn hướng về đất nước. Ngay khi nhận được thông tin về trận lũ lịch sử đến với các tỉnh miền Trung, Đại sứ quán, Hội người Việt Nam và Hội đồng hương Nghệ Tĩnh tại Cộng Hòa Séc đã ra lời kêu gọi, sau 3 tuần đã quyên góp được số tiền 1,6 tỉ đồng. Số tiền dành cho các tỉnh miền Trung là công sức đóng góp của những người con xa quê gửi về vùng lũ với tình cảm "lá lành đùm lá rách", "một miếng khi đói bằng một gói khi no" như truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc.

Tận tay trao hàng trăm suất quà trị giá 150 triệu đồng cho người dân các xã vùng lũ của huyện Nghi Lộc (Nghi Đồng, Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Phương), các thành viên trong đoàn cảm thấy thật ấm lòng xúc động. Tình cảm, sự gửi gắm của bà con cộng đồng đã được chuyển về đúng địa chỉ, đúng đối tượng góp phần giúp bà con vượt qua khó khăn. Mặc dù trời đã xẩm tối nhưng đoàn công tác vẫn tiếp tục đến các điểm ngập lũ khác như các xã: Hưng Yên Nam, Hưng Yên Bắc (huyện Hưng Nguyên) - nơi cách đây vài chục ngày trước nước ngập trắng bốn bề.

Rời Nghệ An sáng 13/11, đoàn công tác tiếp tục lên đường và có mặt tại Hà Tĩnh. Hàng ngàn suất quà tổng trị giá 900 triệu đồng đến các vùng bị thiệt hại nặng như Hương Khê, Vũ Quang, Đức Thọ, Hồng Lĩnh, Thạch Hà... Trong đợt lũ lụt vừa qua, Hà Tĩnh là địa phương chịu nhiều thiệt hại nhất với 178 xã của 12 huyện, thành phố và thị xã trên địa bàn chìm trong biển nước, trong số đó có 105 xã ngập sâu và bị chia cắt hoàn toàn. Nhà dân ngập, các tuyến đường giao thông cũng bị chia cắt.

Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và những người dân vùng lũ, ông Nguyễn Thanh Bình - Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã bày tỏ sự cảm ơn tình cảm, tấm lòng của những người con đi xa luôn hướng về quê hương trong những thời điểm khó khăn, hoạn nạn. Ngay sau khi kết thúc công tác cứu trợ tại Nghệ An và Hà Tĩnh, đoàn công tác đã tiếp tục lên đường về vùng lũ Quảng Bình.

Các đảng viên của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tại Công hòa Séc, do Đại sứ Đỗ Xuân Đông - Bí thư Đảng ủy đã quyên góp và ủng hộ được 3 suất quà trị giá mỗi suất 5 triệu đồng dành cho những gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với gặp khó khăn trong trận lũ vừa qua (trích báo An ninh)

Chuyện về nữ Trưởng Công an xã đầu tiên ở Gia Lai

Thiếu tá Nguyễn Ngọc Sáng là nữ Trưởng Công an xã đầu tiên tỉnh Gia Lai. Tháng 4/2020, chị được điều động giữ chức vụ Trưởng Công an xã Đông, huyện Kbang. Gần dân, luôn năng nổ, tận tụy trong từng nhiệm vụ công tác. Chỉ sau thời gian ngắn, chị đã để lại hình ảnh đẹp trong lòng bà con tại các thôn làng.

Dưới vòm me trước sân nhà, bà Đinh Thị Bân (xã Đông) vui vẻ chuyện trò với nữ Trưởng Công an xã Nguyễn Ngọc Sáng. Nhìn cách tiếp xúc với bà con của người cán bộ này, chúng tôi cảm nhận ở chị sự khiêm tốn, giản dị và chân thành. Có lẽ chính vì thế, bà con cũng dành cho Thiếu tá Sáng tình cảm quý mến, tin tưởng.

Bà Bân cho biết: “Trước đây tôi không biết làm hộ khẩu lại quan trọng như thế. Từ hộ khẩu thì mới làm được chứng minh, rồi làm căn cước công dân, làm thẻ bảo hiểm để khi ốm đau đỡ tốn kém chi phí khám chữa bệnh. Được cán bộ Sáng tuyên truyền, tôi dành thời gian đi làm rẫy để tranh thủ làm hộ khẩu, nay được cán bộ đem đến tận nhà, tôi phấn khởi lắm”.

Bà Bân là một trong rất nhiều người dân trong xã được Thiếu tá Nguyễn Ngọc Sáng vận động làm hộ khẩu để thực hiện các thủ tục hành chính, làm căn cước công dân. Xã Đông có diện tích trên 3.760 ha với gần 1.500 hộ dân, có 9 dân tộc sinh sống đan xen ở 6 thôn, làng. Qua nhiều đợt phối hợp với các ban ngành ở địa phương tuyên truyền pháp luật cho bà con, Thiếu tá Sáng nhận thấy một số người dân chưa có hộ khẩu, chứng minh nhân dân… vì ngại đi làm các thủ tục. Chị kiên trì giải thích những thủ tục này là cần thiết, động viên bà con đến Công an xã, linh động giải quyết cho bà con nhanh chóng, hợp tình, hợp lý.

Xác định được vai trò quan trọng của người phụ nữ trong gia đình các làng đồng bào dân tộc thiểu số, với lợi thế về giới, Thiếu tá Sáng thuận lợi tranh thủ sự giúp đỡ của chị em phụ nữ, nhất là người Bahnar, qua đó nắm bắt tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của bà con và tình hình an ninh trật tự, những vấn đề phát sinh ở các thôn, làng để tham mưu các giải pháp phù hợp.

Điển hình như, để giải quyết vấn đề thanh, thiếu niên đi xe phân khối lớn, không đội mũ bảo hiểm chạy nhanh, ẩu, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông trong xã, nữ Trưởng Công an xã đã tranh thủ Chi hội Phụ nữ các thôn, làng tích cực “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng trường hợp” để tuyên truyền, vận động các cháu chấp hành nghiêm Luật Giao thông đường bộ. Trong giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự, chị chủ trương không đặt nặng việc xử phạt mà chú trọng việc nắm bắt tâm lý, từ đó giải thích, tuyên truyền, vận động để bà con hiểu, chấp hành pháp luật.

 

Trước khi được điều động, bổ nhiệm là Trưởng Công an xã Đông, huyện Kbang từ tháng 4-2020, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Sáng là cán bộ Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Nói về cảm nghĩ và những khó khăn khi đảm nhận nhiệm vụ mới mẻ này, chị cho biết: “Khi được phân công làm Trưởng Công an xã Đông, tôi cảm thấy đây là niềm vinh dự cho bản thân nhưng cũng gặp nhiều khó khăn trong công việc, sinh hoạt. Tôi cùng các đồng chí khác khắc phục khó khăn bằng cách bổ sung kiến thức cho nhau, trao đổi kinh nghiệm và phối hợp trong công việc, chú trọng phát huy năng lực, sở trường của lực lượng Công an xã bán chuyên trách. Từ tháng 11-2021 đến nay Công an xã Đông đã bố trí đủ 5 Công an xã chính quy. Ở cơ sở, chúng tôi tham gia hầu hết các hoạt động chung của địa phương để mở rộng các mối quan hệ với chính quyền xã và nhân dân, từ đó nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ toàn diện hơn để hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Nhớ những ngày đầu đến địa bàn nhận công tác, Ban Công an xã chỉ có Thiếu tá Sáng và một cán bộ Công an huyện Kbang là Công an chính quy, công việc bộn bề, chị liên tục ở lại địa bàn để trực đêm, giải quyết công việc. Hai con nhỏ nhớ, đòi mẹ. Nhưng vì nhiệm vụ, chị gác lại nỗi nhớ nhà, nhớ con để góp sức giữ gìn bình yên cho nhân dân. Giờ đây các con của chị cũng đã quen với cảm giác thiếu vắng mẹ mỗi lúc đêm về, hay những lần mẹ đến trường đón trong chiều muộn. Mỗi dịp được về với con, chị lại động viên các cháu học tính tự giác trong học tập, trong sinh hoạt để mẹ đỡ lo lắng khi xa nhà.

Với những thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự ở địa bàn xã Đông, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Sáng liên tục đạt danh hiệu Chiến sỹ Thi đua cơ sở, đồng thời nhận nhiều giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Kbang. Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất đối với người cán bộ nữ này là sự mến phục của nhân dân và sự tin tưởng của cấp ủy, chính quyền cơ sở.

Trưởng Công an xã Nậm Hàng gần dân, sát cơ sở Phó trưởng Công an xã vận dụng sáng tạo các mô hình phòng, chống tội phạm (trích báo An ninh)