Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa và tình hình an ninh, trật tự ở một số địa phương. Một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân; thuyết giảng “kinh sách” có nội dung phê phán, đi ngược lại với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Tính đến tháng 11/2021, Việt Nam
có hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; có 43 tổ chức
thuộc 16 tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động.
Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân là
quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Nhà nước ta còn quan tâm
và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động bình thường trong khuôn khổ
Hiến pháp và pháp luật.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
đã khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách
dân tộc, tôn giáo;... thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc...”.
Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà
nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm
tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp
luật” (Điều 24). Đồng thời, “nghiêm cấm xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Tuy nhiên, thời gian qua, lợi dụng
chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam, một số người đã đứng ra thành lập và
tuyên truyền một số hình thức của tà đạo như “Long Hoa Di Lặc”, “Chân không”,
“Thanh Hải Vô thượng sư”, “Hà Mòn”, “Dương Văn Mình”, “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ”…
Thời gian qua, hoạt động của các
tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và trật tự
an toàn xã hội. Trong đó, đáng chú ý hoạt động của tà đạo “Thanh Hải Vô thượng
sư”, “Pháp môn diệu âm”, “Dương Văn Mình”, “tà đạo Hà Mòn”, tà đạo “Hoàng Thiên
Long”… trái với phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc; tuyên truyền mê
tín dị đoan; xâm hại đến tính mạng, sức khỏe; khống chế, lừa gạt người dân để
trục lợi; gây mất đoàn kết trong cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo, gia đình
ly tán (khi bị gia đình, người thân can ngăn, đối tượng đã bỏ người thân theo
tà đạo).
Các tà đạo này ảnh hưởng đến sự ổn
định xã hội (kích động trốn vào rừng, trốn đi nước ngoài); một số tà đạo bị các
thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân
dân (“tà đạo Hà Mòn”)…
Phần lớn các tà đạo ở nước ta có
những cách hành đạo trái với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục
của dân tộc, nhằm mục đích gây thanh thế cá nhân, thu lợi bất chính về kinh tế.
Mặt khác, gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số địa
phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của đất
nước.
Từ thực tiễn hoạt động của các tà
đạo trong thời gian vừa qua, có thể nhận diện các tà đạo dựa vào một số đặc điểm
chủ yếu sau:
- Về người đứng đầu: Luôn tự đề
cao, đánh bóng bản thân mình cho rằng bản thân họ là “phật”, “thánh”, “thần”…,
nhiều người trước khi tạo dựng tà đạo hay “đạo lạ” còn mắc bệnh tâm thần hoặc từ
nước ngoài tuyên truyền phát triển vào trong nước trước để tạo thanh thế. Các
tà đạo thường sùng bái và thần thánh hóa người cầm đầu, khác với tôn giáo truyền
thống: đối tượng sùng bái là những bậc thánh hiền, thần thánh hóa lãnh tụ, siêu
trần, thoát thế…, tôn giáo truyền thống phát huy được tác dụng hướng thiện,
nâng đỡ cuộc sống con người; “tà đạo” thường có tư tưởng cực đoan, chống lại hiện
thực xã hội, thực hành lối sống phi pháp, quyên góp, bóp nặn tiền của người
dân.
- Về lý thuyết, “giáo lý”, “giáo
luật”: Chủ yếu được chắp vá, pha tạp, cải biên, xuyên tạc từ một số điều trong
lý thuyết, giáo lý, giáo luật của các tôn giáo truyền thống, đã hình thành từ
lâu, nên có những lời khuyên, điều răn dạy hướng thiện, giúp xoa dịu, an ủi con
người về mặt tinh thần trước những bất hạnh, khó khăn gặp phải trong cuộc sống
(đây là yếu tố làm cho tà đạo có thể tồn tại). Tuy nhiên, có một số tà đạo có nội
dung giáo lý trái thuần phong, mỹ tục của dân tộc, phản văn hóa, phản khoa học
như khuyên người ốm không dùng thuốc, chỉ cần cúng, dâng hoa, cầu nguyện, dùng
“nước thánh”, “thuốc phật”…, trái với quy luật tự nhiên; lợi dụng các tà thuyết
về “ngày tận thế” hoặc gắn với các nhu cầu về sức khỏe để lôi kéo, mê hoặc, khống
chế quần chúng.
Điển hình như đối với tà đạo “Giê
Sùa” đã và đang tác động vào vùng dân tộc Mông nước ta từ năm 2015 và tuyên
truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia với những nội dung khác với giáo
lý, giáo luật của đạo Tin Lành. Tà đạo “Giê Sùa” gọi tên Chúa là “Giê Sùa” chứ
không phải là Giêsu; coi “đạo Giê Sùa” là tôn giáo chính thống, không thừa nhận
các tôn giáo khác; thay nhân vật Adam và Eva trong Kinh thánh bằng “chàng Ong”
và “cô Ía”; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh; kiêng ăn thịt lợn và loài
cá không vảy. Trong các tài liệu tuyên truyền về tà đạo “Giê Sùa” ngoài nội
dung bóp méo Kinh Thánh của đạo Tin Lành, những đối tượng cầm đầu, cốt cán còn
tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông”.
- Về mục đích hoạt động: Hầu hết
các tà đạo đều có chung mục đích là phục vụ lợi ích của người cầm đầu “giáo chủ”
(người sáng lập) và một số đối tượng cốt cán, tay chân của họ nhằm thu về kinh
tế thông qua thu lệ phí “quy y”, bán “sắc phong”, “bùa”, bán sách, bài giảng,
“thuốc chữa bệnh”... Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động tạo dựng hoặc
lợi dụng “tà đạo” như là công cụ để tuyên truyền, tập hợp, thu hút người vào
các hoạt động chống chính quyền.
- Về nghi lễ hành đạo: Mang nặng
yếu tố mê muội, mê tín dị đoan, lừa bịp, phản khoa học trái với những nghi lễ
truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc hay thần thánh hóa lãnh tụ,
các bậc thánh hiền, danh nhân, anh hùng dân tộc như: ép quan hệ tình dục tập thể
hoặc với giáo chủ để “đắc đạo” (“tà đạo Chân không” của Lưu Văn Ty ở Hà Tĩnh
khuyên tín đồ quan hệ tình dục với “người trời” là Lưu Văn Ty); hủy hoại tài sản,
của cải, hủy hoại một phần cơ thể hoặc cả thân xác con người để sớm “siêu
thoát” (“tà đạo Chân không” khuyên đốt bỏ một phần tài sản, đầy đọa thân xác mới
“đắc đạo”; tà đạo “chặt ngón tay” do Phạm Thị Hải ở TP Hồ Chí Minh khởi xướng
năm 1993 quy định người tu theo muốn thành “chính quả” phải chặt một ngón tay để
bỏ đi một phần thể xác giúp siêu thoát phần hồn...); kích động tự sát để sớm về
“nước trời” (như vụ hơn 50 người ở bản Pahé, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo
tà đạo “Phạ tốc” đã tuân lệnh “giáo chủ” Cà Văn Liêng tiến hành tự sát tập thể).
- Về cách hoạt động: Thường thiên
về hoạt động thực tiễn, nhưng lén lút, thường xuyên thay đổi địa điểm nhằm
tránh sự phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng; lợi dụng sơ hở của pháp luật,
trong công tác quản lý của chính quyền cơ sở để tuyên truyền phát triển “đạo”;
tán phát tài liệu tuyên truyền ở trên mạng Internet hay ở những nơi công cộng,
nơi tập trung đông dân cư; tập luyện “dưỡng sinh” ở công viên, quảng trường, vườn
hoa; lợi dụng những vùng đồng bào trình độ nhận thức còn thấp, điều kiện sống,
chăm sóc sức khỏe còn khó khăn để dụ dỗ, lừa bịp, khống chế, lôi kéo theo “đạo”.
Điển hình như đối với tà đạo “Bà Cô Dợ” thường sử dụng các đoạn video clip quay
các buổi sinh hoạt của điểm nhóm ở Mỹ và phát trực tiếp trên mạng xã hội
Facebook, kênh Youtube để giới thiệu, hướng dẫn mọi người sử dụng điện thoại,
máy tính bảng... kết nối Internet vào xem trực tuyến và làm theo hướng dẫn.
- Về đối tượng tin theo: Phần lớn
người tin theo các tà đạo là những người gặp rủi ro, bế tắc trong cuộc sống, do
ốm đau, bệnh tật, nghèo khó; những người có trình độ văn hóa thấp, ở vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cũng có những tà đạo do biết
khai thác, lợi dụng, tạo vỏ bọc xuyên tạc các sự kiện thực tế (dịch bệnh, thiên
tai, hiểm họa môi trường...) để “khoác áo” cho các “tín điều” nên đã thu hút được
những người trẻ tuổi ưa cái mới, kể cả những người có trình độ nhận thức và
chuyên môn kỹ thuật cao, hoặc cán bộ các cơ quan chính quyền và nhất là số cán
bộ nguyên là lãnh đạo các ngành, giáo sư, tiến sỹ nghỉ hưu tiếp tay cho tà đạo
hoạt động.
Cũng như hoạt động bình thường
khác của xã hội, mọi sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều phải trong khuôn khổ Hiến
pháp, pháp luật Việt Nam; nghiêm cấm bất kỳ ai lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp
luật. Dù ở quốc gia nào, hoạt động tôn giáo đều cần phải có sự quản lý để bảo đảm
hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và tuân thủ luật pháp. Không tôn giáo nào được
phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. (báo CAND)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét