Đồng bào
các tôn giáo là bộ phận của dân tộc,Bởi lẽ:
Một là, đồng bào cáctôn giáo trước hết là người Việt Nam. Vì vậy,
ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức
dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao
khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý
tưởng cách mạng. Mặt khác, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là cơ sở để tập
hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.
Hai là, trong quá trình cách mạng,
đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của
dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách
mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do
của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống
nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân
tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải
phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện
nay.
Thực hiện đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác
nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.
Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu
xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,
dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ
mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác
nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền
thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận
chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[1].
Kiên
quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn
kết, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc
Đây là lập trường có tính nguyên tắc
trong quan điểm về công tác tôn giáo và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước ta. Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề tôn giáo,
đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý
đúng đắn.
[1]Đảng cộng sản
Việt Nam:
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 239-
240.
"Nam Định, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore...", những màn cổ vũ đồng thanh vang dội sân Thiên Trường (Nam Định) trong loạt trận thứ 2 bảng B môn Bóng đá nam SEA Games 31. Bóng đá đã thực sự góp phần kết nối tình hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
Cùng với Phú Thọ, Nam Định được tin tưởng đăng cai một trong hai bảng đấu bóng đá nam và luôn có hơn 2 vạn khán giả tìm về "chảo lửa" Thiên Trường, trong các buổi chiều thi đấu, với "trống rong, cờ mở", cổ vũ fair-play cho tất cả các đội.
"Đây chính là nét đặc biệt của bóng đá Nam Định, con người Nam Định. Một khi họ đã thích, một trận đấu là cả ngày hội", ông Nguyễn Tân Anh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, kiêm Phó Ban tổ chức địa phương SEA Games 31 Nam Định chia sẻ.
Bóng đá ở Nam Định không đơn thuần là một môn thể thao mà đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Thành Nam. Người bên kia cầu Đò Quan hay bên này cầu Tân Đệ, đều nói chung một thứ tiếng, đấy là bóng đá!
Trên 20.000 cổ động viên liên tục tạo nên những cột sóng người trên khán đài Thiên Trường, cùng với đó là những bài cổ động truyền thống. Khi nhạc hiệu bài hát "Bác đang cùng chúng cháu hành quân" nổi lên, một hình ảnh ấn tượng đã diễn ra khi đồng loạt 2 vạn người trên khắp 4 khán đài Thiên Trường vỗ tay theo nhịp kèn, trống.
Sân Thiên Trường có sức chứa tối đa 25.000 khán giả, cho đến giờ nghỉ giữa 2 hiệp đấu trận U23 Thái Lan - Singapore, lực lượng an ninh được lệnh đóng tất cả các cửa ra vào, chỉ giải quyết các tình huống khẩn cấp cho người già, trẻ em muốn được ra khỏi sân. Bên ngoài, hàng trăm người dù có vé trên tay, cũng không vào sân được.
Theo chia sẻ của một chiến sỹ cảnh sát bảo vệ, từ kinh nghiệm ngày đầu tiên khi các trận đấu bảng B khai màn, an ninh - an toàn cho khán giả luôn là mục tiêu quan trọng nhất được đặt ra.
Nam Định với hệ sinh thái làng ẩm thực vốn đa dạng, nghệ thuật hát chèo - tuồng sinh động. Người dân Thành Nam cũng đã mang cả gian hàng hầu đồng ra quảng bá ở khu vực khán giả. Sau tất cả, bóng đá và cổ động viên Nam Định mới thực sự là đặc sản đáng quý, đáng trân trọng của bóng đá nước nhà.
Những ngày hội sẽ còn tiếp diễn ở đây, trong đó có trận Bán kết Bóng đá nam SEA Games 31 diễn ra vào đúng ngày sinh nhật Bác (19/5). Hẹn gặp lại Thành Nam, hẹn gặp lại Thiên Trường, nơi cùng cả nước kết nối tình hữu nghị trong ngày hội lớn của thể thao Đông Nam Á./.
Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc XHCN.
Tôn giáo đã có lịch sử từ lâu đời trong xã hội loài người,
trở thành nhu cầu tinh thần (nhu cầu giải toả tâm lý) của một bộ phận quần
chúng nhân dân.
Nhiều giá trị đạo đức tôn giáo hướng con người đến những
giá trị chân, thiện, mỹ, nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi
lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để phục
vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Mọi sự nóng vội, chủ
quan trong giải quyết vấn đề tôn giáo đều trái với quan điểm trên, gây chia rẽ,
mất đoàn kết, cản trở quá trình xây dựng CNXH
Tôn trọng
nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Cụ
thể là:
Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Không ai được xâm phạm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là
hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ
quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.
Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải
tôn trọng lẫn nhau; Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối
xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín
ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân
là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,
chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
nhân dân, phải bị pháp luật xử lý
Phải quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng
bào các tôn giáo
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự
nghiệp vĩ đại nhằm giải phóng quần chúng nhân dân khỏi mọi sự áp bức, nô dịch
cả về vật chất và tinh thần. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng
lớp nhân dân trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn
giáo là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn của Đảng và Nhà nước ta trong cách mạng XHCN.
Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống có quan hệ chặt chẽ với đấu tranh phòng, chống
“diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Bởi tham nhũng, tiêu
cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sổng nảy sinh trong
cán bộ, đảng viên là mục tiêu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch
mong muốn đạt được. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống tham nhũng,
tiêu cực, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sổng của
cán bộ, đảng viên với đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên
lĩnh vực chính trị, tư tưởng là yêu cầu khách quan nhằm mang lại hiệu quả
thiết thực.
Để kết hợp chặt chẽ giữa các cuộc đấu tranh trước hết phải làm
cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn,“diễn biến
hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng có quan hệ chặt chẽ với tham
nhũng, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sổng và “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” nảy sinh trong cán bộ, đảng viên. Tình trạng
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào
chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, ích kỷ, tham nhũng, tiêu cực, tùy tiện,
vô nguyên tắc của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền là mảnh đất
màu mỡđể các thế lực thù địch thực hiện
mục tiêu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
từ nội bộ. Mặc dù không phải là một, song “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có
mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại với “diễn biến hòa bình”. “Tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” là hệ quả nảy sinh từ do tác động từ âm mưu, thủ đoạn “diễn
biến hòa bình” cúa các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư
tưởng; đồng thời “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại thúc đẩy “diễn biến hòa
bình” hoạt động mạnh mẽ hơn.
Tham nhũng, tiêu cực, suy thoáitư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sổng
của cán bộ, đảng viên là mục tiêu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù
địch nhằm thúc đẩy nhanh quá trình“tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đẩy
nhanh sự sụp đổ chế độ xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng. Điều quan ngại là,
nó diễn ra ngấm ngầm rất khó nhận diện, bởi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có
nguyên nhân từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý
tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, lãng phí, tùy
tiện, vô nguyên tắc của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Cần thấy rõ tham nhũng, tiêu cực, suy thoái tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sổng của cán bộ, đảng viên sớm muộn
cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi hành vi, hành động chống đối về chính trị của một
cá nhân hay một tổ chức. Phản bác, phủ định chủ nghĩa xã hội có thể dẫn tới có
âm mưu, hoạt động chống phá chế độ dưới hình thức này hay hình thức khác. Ca ngợi
chủ nghĩa tư bản sẽ dẫn đến tin theo con đường tư bản chủ nghĩa; đó là vấn đề
có tính quy luật của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ. Do vậy, thúc đẩy
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một trong những thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm
của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nội bộ Đảng, Nhà nước ta. Đại hội XIII của
Đảng xác định coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng phải: “Tăng cường bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ.”[1].
Chỉ có kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực,
chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ,
đảng viên với đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực
chính trị, tư tưởng mới đem lại hiệu quả thiết thực về đấu tranh
phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng
hiện nay.
PHAO
[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, Tập 1, Tr. 182.
Đảng cẩn tiếp tục đổi mới công tác lý luận, tư tưởng, tổ chức
cán bộ, kiểm tra. phương thức lãnh đạo theo hướng mở rộng dân chủ hơn nữa. Đảng phải
thường xuyên coi trọng việc xây dựng, cũng cố Đảng về tổ chức, chăm lo công tác cán bộ; nâng cao trinh độ tri tuệ và chất lượng công tác lý luận với sức sáng tạo
cao. Đường lối, chủ trương, chính sách phải luôn luôn xuất phát từ lợi ích của
nhân dân. Không giáo điều, báo thủ.
Đảng phải thật
sự thấm nhuần dân là gốc, dân là chủ và dân làm chủ: tránh dân chủ hình thức. Đảng phái giành thắng lợi trong cuộc đẩu
tranh lảm trong sạch Đảng vả chống tham nhũng, lãng phí. Hiện nay, đang
có những biểu hiện tiêu cực xuất hiện trong đội ngũ cán bộ. đảng viên ngày càng
nhiều, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phá hoại quan hệ máu
thịt giữa Đàng vả nhân dân
Cùng với việc chủ động nâng cao đạo đức trong Đảng, phải rất coi
trọng việc nâng cao trình độ trí tuệ của Đàng và thu hút được nhiều nhân
tài vảo Đảng; đề phòng tính kiêu ngạo cộng sản, biết lắng nghe ý kiến kế cả những
ý kiến trái tai.
Thực hiện tốt Di chúc cùa Chủ tịch Hồ Chí Minh: ‘"Đảng phải có kế hoạch thật tốt để
phát triển kinh tế vả văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dần. Đây là điểm mấu chốt để tăng cường quan hệ máu thịt giữa Đảng vả
nhân dân.
Đảng ta xác định, tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc
trong xây dựng đảng, là quy luật phát triển của Đảng. Tự phê bình và phê bình
là hai mặt của nguyên tắc, luôn đi liền với nhau. Trong sinh hoạt tự phê bình
và phê bình nhằm tìm ra ưu điểm của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy, tìm
ra khuyết điểm, nhược điểm để khắc phục, tăng cường đoàn kết thống nhất trong
nội bộ, không ngừng nâng cao chất lượng công tác, giúp cho cán bộ, đảng viên và
tổ chức của Đảng tiến bộ. Đối với mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng
viên, tự phê bình và phê bình rất cần thiết. Tự phê bình và phê bình là vũ khí
xây dựng tư tưởng, đạo đức, phẩm chất cách mạng, lối sống, năng lực công tác
của mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức của Đảng.
Cán bộ, đảng viên cần nhận thức rằng, tự phê bình và phê
bình không phải chỉ để riêng bản thân một tổ chức mình hoặc cá nhân mình tiến
bộ mà còn có trách nhiệm giúp cho tổ chức khác, đồng chí khác học tập, rút kinh
nghiệm để cùng tiến bộ. Mỗi chi bộ, mỗi đảng viên cần nhận rõ ý nghĩa và tác
dụng của vũ khí tự phê bình và phê bình để luôn luôn trau dồi đạo đức, phẩm
chất cách mạng, nâng cao hiệu suất công tác, cống hiến ngày càng nhiều vào sự
nghiệp cách mạng. Mọi quan niệm và nhận thức không đúng, tách rời riêng rẽ hai
mặt tự phê bình và phê bình, coi tự phê bình và phê bình là việc làm bất đắc dĩ
phải làm trong sinh hoạt đảng; thủ tiêu hoặc làm cho qua loa, chiếu lệ, có tính
chất hình thức tự phê bình và phê bình đều phải đấu tranh khắc phục.
Trong sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bìnhtrước hết nhằm quán triệt và chấp hành
đúng đắn đường lối, chính sách và nghị quyết của Đảng, thiết thực thúc đẩy
nhiệm vụ chính trị của Đảng trong từng thời gian, góp phần tăng cường sự đoàn
kết thống nhất trong Đảng. Đây là vấn đề hết sức trọng yếu, nhưng không phải
mọi tổ chức và cán bộ, đảng viên đều đã làm tốt tự phê bình và phê bình. Thực
tế hiện nay, trong sinh hoạt đảng có những cấp ủy, chi bộ khi tự phê
bình và phê bình thường chưa xuất phát đầy đủ từ tình hình và nhiệm vụ để đề ra
yêu cầu cho chính xác, chưa đi vào những nội dung chủ yếu, chưa nắm chắc phương
châm, phương pháp tự phê bình và phê bình, còn có thái độ không đúng đắn trong
tự phê bình và phê bình; sau khi tự phê bình và phê bình thường thiếu biện pháp
tổ chức quyết liệt để bảo đảm việc sửa chữa khuyết điểm được khắc phục
kịp thời, nhanh chóng.
Để nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh
hoạt của các cấp ủy, chi bộ nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, điều mấu
chốt là các tổ chức đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thấu suốt mục
đích, yêu cầu và vận dụng đúng đắn các nguyên tắc, phương châm, phương pháp,
thái độ tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình là hai mặt có quan hệ
chặt chẽ với nhau, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau; vì vậy trong sinh hoạt đảng không
được coi nhẹ mặt nào mà phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai mặt đó. Để
thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, mỗi cấp ủy, chi bộ và mỗi cán bộ,
đảng viên trước hết phải coi trọng tự phê bình đối với bản thân, vì có tự phê
bình của bản thân tốt thì mới tự giác sửa chữa những khuyết điểm đã phạm phải.
Chỉ có tự phê bình đối với bản thân thì mỗi cấp ủy, chi bộ, cán bộ,
đảng viên mới thấy được hết tác dụng và kết quả của công việc mình làm. Nếu
không làm tốt tự phê bình đối với bản thân thì không thể thấy hết
việc mình làm, không thể tự đánh giá được đúng mức ưu điểm, khuyết điểm của
chính mình. Do đó, nâng cao ý thức tự phê bình của cán bộ, đảng viên trong
sinh hoạt đảng là việc làm rất cần thiết hiện nay nhằm phòng ngừa, ngăn
chặn, đấu tranh đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống nảy sinh trong cán bộ, đảng viên, thiết thực xây dựng các tổ
chức đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Trước hết, nhân dân
cần hiểu (nhận thức được) mình có những quyền
gì cả ở tầm tổng quát, lâu
dài, lẫn quyền cụ thể. Đó mới là thông tin về chủ thể. Để có dân chủ, còn cần
có thông tin về khách thể: đó là cái gì, tình hình gì đã diễn ra, sự biến đổi của
tình hình đó, tác động của sự biến đồi ấy tới môi trường xã hội và tự nhiên, những
thông tin khác nhau về các vấn đề đó. Đây chính là những thông tin “đầu vào” để
chủ thề quyền lực - nhân dân - có thể phân tích, phát hiện tình huống có vấn đề
nhằm tham gia giám sát, phản biện, đề xuất giải pháp...
Để dân “hiểu” rõ mọi vấn đề, họ cần có cơ hội tiếp cận
thông tin như nhau, bình đẳng về thông tin (trừ những thông tin mật hoặc tuyệt
mật) là điều kiện đầu tiên bảo đảm dân chủ khi tranh luận, thảo luận, tham gia
vào việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Muốn vậy, trách nhiệm của Đảng,
Nhà nước là phải nâng cao dân trí, phải làm cho hoạt động của nhân dân mang
tính tự giác ngày càng cao thông qua công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục.
Sức mạnh thật sự của chế độ, của Đảng cầm quyền, của Nhà nước thề hiện ở trình
độ dân trí cao, xã hội năng động, người dân biết phát huy tối đa năng lực của
mình. Tất cả những điều đó chỉ trong chế độ dân chủ mới có khả năng tạo ra được.
Không dựa trên cơ chế dân chủ thì không có một thứ pháp luật, đạo đức hay công
cụ nào có thể ngăn chặn hữu hiệu sự thao túng của các nhóm lợi ích, vi phạm quyền
làm chủ của nhân dân.
Chất lượng dân chủ của một xã hội phải được đo bằng chuẩn bị
thông tin, cung cấp thông tin đầy đủ cho nhân dân đề nhân dân được biết. Khi
dân trí được nâng lên, nhân dân sẽ tham gia bàn bạc các công việc của xã hội, đất
nước.
Những dự báo của Người hoàn toàn không mang mầu sắc thần linh, huyền bí. Trái lại, đó là những dự báo khoa học có hàm lượng trí tuệ cao; là đòi hỏi tất yếu của những suy tư, trăn trở trước vận mệnh dân tộc của một nhân cách lớn; là sản phẩm của tư duy khoa học, logic và biện chứng ở một trí tuệ siêu việt, am tường đông - tây, kim - cổ; là sự đúc kết những trải nghiệm phong phú qua mấy chục năm bôn ba khắp chân trời, góc bể và thực tiễn hết sức sôi động của Cách mạng Việt Nam...
- Tháng 8-1914, khi đang ở Anh, trong bức thư gửi cụ Phan Chu Trinh, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã viết: "...Tiếng súng đang rền vang. Thây người đang phủ đất. Năm nước lớn đang đánh nhau. Chín nước đã vào vòng chiến. Cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng cháu đã nói với bác về cơn dông sấm động này...". Như vậy trong một bức thư gửi trước đó, Bác đã tiên đoán Chiến tranh thế giới lần thứ 1 (1914-1918) sắp sửa nổ ra.
- Năm 1924 , trong bài "Đông Dương và Thái Bình Dương", Bác đã dự báo về nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới mới và tiên đoán: "Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản". Với tầm nhìn chiến lược, Bác còn thấy trước Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh nó sẽ trở thành miếng mồi béo bở cho các tên đế quốc nhòm ngó, khu vực này "tương lai có thể trở thành một lò lửa của cuộc chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh". Những tiên đoán này, 15 năm sau trở thành hiện thực. Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, phát-xít Đức tấn công Liên Xô, các nước xung quanh Thái Bình Dương trở thành chiến trường ác liệt.
- Tháng 5-1941, tại Hội nghị Trung ương ở Pác Bó, Bác đã dự liệu thời cơ tổng khởi nghĩa là lúc Liên Xô thắng Đức; Mỹ, Anh, Trung Quốc phản công đánh bại Nhật Bản. Cần thấy rằng, dự báo này đưa ra lúc Đức chưa tấn công Liên Xô, Nhật chưa tấn công vùng đất do Mỹ, Anh kiểm soát. Nhờ phán đoán tài tình như vậy nên Bác đã yêu cầu Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đình chỉ chủ trương khởi nghĩa đầu năm 1944, đồng thời phát động toàn Đảng, toàn dân tích cực chuẩn bị để đón thời cơ.
- Ngày 1-1-1942, trên báo "Việt Nam độc lập" số 114, Bác viết bài thơ "Chúc năm mới", mở đầu cho sự ra đời thể loại Thơ chúc Tết của Người. Bài thơ tràn đầy niềm lạc quan vào triển vọng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Lúc này, cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên Xô đang ở giai đoạn khó khăn, còn bọn phát-xít thì đang "làm mưa làm gió" trên các chiến trường. Trả lời câu hỏi: Năm nay tình hình thế giới và trong nước sẽ thế nào? Trong bài "Năm mới, công việc mới" cùng in trong số báo trên, Bác khẳng định: "Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại; Anh, Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta độc lập tự do". Trên thực tế chúng ta đã tiến hành Tổng khởi nghĩa vào đúng thời cơ mà Bác đã dự đoán, giành thắng lợi trong thời gian ngắn.
- Tháng 2-1942 , Bác biên soạn cuốn "Lịch sử nước ta" theo hình thức diễn ca. Cuối tác phẩm có mục "Những năm tháng quan trọng" ghi những sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc, sự kiện cuối cùng, Bác viết: "1945 - Việt Nam độc lập". Khi đưa đi in, một số đồng chí băn khoăn hỏi lại thì được Bác khẳng định: "Được rồi, cứ thế in". Đúng là một dự báo thiên tài. Trong khi các nguyên thủ của phe Đồng minh họp tại Tehran (năm 1943), dự tính rằng, phải đến năm 1946 mới có thể hoàn toàn đánh bại lực lượng phát-xít, kết thúc chiến tranh, thì lịch sử lại diễn ra đúng như tiên đoán của Người. Tháng 5-1945, phát-xít Đức đầu hàng, Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật, Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, Nhật đầu hàng vô điều kiện. Chớp thời cơ đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta nổi dậy tổng khởi nghĩa giành độc lập, tự do.
- Năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng ngay lúc đó, Bác đã chỉ rõ thắng lợi này mới chỉ là bước đầu và cảnh báo rằng, đế quốc Mỹ sẽ nhảy vào thay thế Pháp ở Đông Dương, Người nhận định: "Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt Nam, Lào". Trên cơ sở đó chúng ta đã chủ động về chiến lược, tích cực chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
- Năm 1960, Bác đã tiên đoán thật là kỳ diệu: chậm nhất là 15 năm nữa nước nhà sẽ thống nhất. Trong Diễn văn lễ mừng Quốc khánh 2-9-1960, có đoạn viết: "Trong lúc chúc mừng ngày Quốc khánh vĩ đại lần thứ 15, chúng ta càng nhớ đến đồng bào ta ở miền Nam đang anh dũng đấu tranh chống chế độ tàn bạo của Mỹ - Diệm. Chúng ta gửi đến đồng bào miền Nam mối tình ruột thịt và hứa với đồng bào rằng: Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc - Nam nhất định sẽ sum họp một nhà". Bác gạch dưới trong bản thảo các chữ "chậm lắm là 15 năm nữa". Đúng 15 năm sau, mùa xuân 1975, với thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước ta đi đến thống nhất như tiên đoán diệu kỳ của Người.
- Cuối năm 1967, khi làm việc với Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bác đã tiên liệu: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua". Từ kinh nghiệm ở Triều Tiên, trước khi thua, Mỹ đã ném bom hủy diệt Bình Nhưỡng, Bác đã dự báo sớm: "Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội". Thực tế đã diễn ra đúng như dự báo thiên tài của Người. Tháng 12-1972, Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội và Hải Phòng. Chỉ sau khi thất bại nặng nề trong trận "Điện Biên Phủ trên không", ý chí xâm lược bị đập tan, Mỹ mới chịu ký kết Hiệp định Paris, thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và rút hết quân về nước.
- Năm 1968, trong lúc chiến trường miền Nam có hơn 50 vạn quân Mỹ cùng một số quân ngụy được Mỹ trang bị, huấn luyện và chỉ đạo tác chiến, Bác đã dự báo con đường để đi đến thắng lợi là: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Thực hiện chủ trương đó, ta không dốc toàn lực để tiêu diệt lớn quân Mỹ như đã tiêu diệt quân Pháp mà chỉ cần đánh cho quân Mỹ thương vong nhiều ở những trận có quy mô vừa và nhỏ cũng buộc chúng phải rút quân về. Trái lại, để làm cho ngụy nhào, ta đã tổ chức nhiều trận đánh lớn vừa tiêu diệt vừa làm cho quân ngụy tan rã.
- Năm 1969, trước lúc đi xa, trong "Di chúc" của mình, Người vẫn rất lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của dân tộc: "Cuộc kháng chiến có thể còn kéo dài... Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta... Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà".
Bài của tác giả Vũ Huy Văn (bài đăng trên báo Nhân dân ngày 14/5/2005)
Sau khi phẫn nộ với bức vẽ dị hợm, xúc phạm nghiêm trọng hình ảnh Bộ đội cụ Hồ, tôi đã vào trang facebook của Mai Duy Minh (https://www.facebook.com/minh.maiduy.9) thì té ngửa, bất ngờ với mức độ bất mãn, bất hảo công khai của tai "HỌA sỹ" này:
1. Bôi nhọ, xúc phạm các anh hùng cách mạng (Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót...).
2. Phỉ báng, miệt thị chế độ xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hùa vào luận điệu của các thế lực thù địch, quy kết chính quyền Việt Nam "bán nước cho Tàu"?!
3. Thường xuyên chia sẻ bài viết, hình ảnh, tỏ ra thần tượng những tên tội phạm, chống phá đất nước: Phạm Đoan Trang... thần tượng Đoàn Văn Vươn, Mạc Văn Trang...
4. "Dự án nghệ thuật về Điện Biên" đã được hắn chuẩn bị từ rất lâu (ít nhất là từ 2019), rất công phu tâm huyết. Chứng tỏ có kế hoạch, có ý đồ!
5. Cá nhân tôi cảm nhận, đa số các tác phẩm của Minh đều mang phong cách "u ám", "u uất", "ma mị"... ẩn chứa một làn sóng ngầm (hãy xem những bức hắn vẽ về Đại tướng - không bình thường chút nào).
TÔI CÀNG NGÃ NGỬA HƠN VÌ:
1. Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố Hà Nội đã ký giấy phép số 133, ngày 14/4/2022 đồng ý cho Minh triển lãm! Trách nhiệm, quy trình thẩm định có vấn đề gì không? Sự nhạy bén chính trị của các cán bộ có lên quan trong vụ việc này?
2. Báo Nhân Dân đã đăng hẳn một bài báo phỏng vấn sâu đối với Mai Duy Minh!?
THIẾT NGHĨ:
1. Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội qua vụ việc này cần vào cuộc quyết liệt, xem xét, chỉ đạo định hướng; nắm bắt, tổng hợp dư luận xã hội... để có tham mưu chấn chỉnh, siết chặt kỷ cương về mặt chính trị, tư tưởng, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
2. Báo Nhân Dân nên xem xét lại quy trình duyệt, đăng bài và cá nhân tác giả bài báo "Điện Biên Phủ" là một trải nghiệm quý giá" đăng trên phiên bản điện tử ngày 06/5/2022; xem xét nhanh chóng ghỡ bài viết này để tránh làm nóng thêm sự bức xúc trong dư luận Nhân dân.
3. UBND Thành phố Hà Nội nên yêu cầu Sở Văn hóa, Thể thao giải trình về nội dung, quy trình thẩm định, cấp phép triển lãm cho Mai Duy Minh./.
Ngày 18-4, Tổ chức phóng viên không biên giới – RSF (Reporters Sans Frontiers) đã công bố bảng xếp hạng tự do báo chí 2019 (World Press Freedom Index 2019) để đánh giá tình hình tự do báo chí toàn cầu.
Theo công bố của RSF, Việt Nam đã bị tụt một hạng trên bảng xếp hạng tự do báo chí so với năm ngoái, đứng thứ 176/180 quốc gia được đánh giá.
Ngay sau khi công bố này được đưa ra, các trang website, tờ báo, kênh truyền thông của các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị và những người có cái nhìn không thiện cảm với Việt Nam đã nhanh chóng rêu rao, lan truyền bảng xếp hạng và thể hiện sự hả hê trước thông tin này.
Đi liền với đó, không ít người đã lồng ghép các thông tin, tư tưởng sai lệch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Họ cho rằng tình hình báo chí của chúng ta trở nên ngày càng u ám, họ vu khống “hận thù đối với các nhà báo nay đã biến thành bạo lực” v.v…
Vậy trong số những thông tin về tự do báo chí của Việt Nam được RSF công bố, có bao nhiêu phần trăm là sự thật?
RSF là tổ chức phi chính phủ, được thành lập năm 1985 do Robert Ménard – một nhà báo người Pháp. Hiện nay, trụ sở chính của RSF đặt tại Paris, Pháp. Ngoài ra, tổ chức này còn có văn phòng đại diện tại một số quốc gia trên thế giới.
Theo tuyên bố, mục đích hoạt động của RSF là nhằm thúc đẩy tự do báo chí, tự do ngôn luận và bảo vệ nhà báo trên toàn cầu. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, RSF thường xuyên đưa ra những thông tin, đánh giá, bình luận sai lệch, vu khống, đánh giá không đúng bản chất vấn đề của Việt Nam.
Về bảng đánh giá tự do báo chí World Press Freedom Index 2019 được RSF đưa ra, không khó để thấy căn cứ đánh giá, xếp hạng của RSF không thuyết phục. Riêng đối với Việt Nam, RSF không có một nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể nào về tình hình báo chí.
Đồng thời, tổ chức này cũng không sử dụng bất kì báo cáo nào của Chính phủ Việt Nam để đưa ra đánh giá. Chỉ dựa trên một số khảo sát “như có như không” được cóp nhặt một cách phiến diện, một chiều và một số bài phỏng vấn với các “nhà báo” tự phong, các nhà “dân chủ mạng”, RSF vội vã kết luận Việt Nam về tình hình báo chí của Việt Nam.
Thực tế, cách đánh giá của tổ chức này là thiếu khách quan, không trung thực và không thể hiện được bản chất vấn đề. Chính vì vậy, mức độ tin cậy trong bảng đánh giá tự do báo chí được RSF đưa ra hầu như không có.
Bảng xếp hạng tự do báo chí: Khi những người không hiểu luật đi đánh giá vấn đề!
Qua cách làm việc của RSF, có thể thấy hoạt động của tổ chức này không có tính khách quan. Dường như những người đi đánh giá tự do báo chí của các quốc gia trên thế giới lại đang bị thiếu hụt nghiêm trọng hiểu biết về pháp luật liên quan đến báo chí.
Để đánh giá, xếp hạng về một vấn đề nhất định, cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ “cầm cân nảy mực” cần có hiểu biết toàn diện về vấn đề mà mình đang làm. Chỉ có như vậy, kết quả đánh giá mới đảm bảo tính chuẩn xác và phát huy giá trị trên thực tế.
Đối với việc đánh giá tự do báo chí của các quốc gia trên thế giới, trước hết cần phải nắm chắc quy định trong luật pháp quốc tế để từ đó nghiên cứu, so sánh, đối chiếu vào thực tiễn của từng nước. Thực tế, quyền tự do báo chí là khía cạnh cụ thể của quyền tự do ngôn luận.
Tại khoản 2 Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Việt Nam đã tham gia công ước này từ năm 1982) quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận.
Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là tự do báo chí một cách thái quá. Tự do nhưng vẫn phải trong khuôn khổ của pháp luật. Khi thực hiện các quyền tự do ngôn luận nói chung và tự do báo chí nói riêng, các cá nhân, tổ chức cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định liên quan. Và đặc biệt, việc tự do ngôn luận, tự do báo chí này không được xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích của cộng đồng.
Ngay tại khoản 3 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 cũng đã nhấn mạnh: “3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt.
Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội”.
Như vậy, để biết một quốc gia nào có tự do ngôn luận hay không có tự do ngôn luận cần phải có nghiên cứu chuyên sâu không những về quy định của pháp luật quốc tế mà còn phải nắm bắt toàn diện các quy định liên quan của mỗi quốc gia.
Chỉ có vậy, mới có thể biết những “những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” cũng như “một số hạn chế nhất định” khi thực hiện quyền tự do báo chí để từ đó đánh giá đúng bản chất của vấn đề.
Thực tiễn tự do báo chí ở Việt Nam?
Thực tế cho thấy Việt Nam đang thực hiện nghiêm túc các cam kết của mình về vấn đề tự do báo chí. Đời sống báo chí của Việt Nam đang phát triển một cách hết sức sôi nổi, đảm bảo mọi công dân đều có thể thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách thuận lợi nhất.
Về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận nói chung và tự do báo chí nói riêng đang được các cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm.
Tại Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Tại Luật Báo chí hiện hành, chúng ta cũng đã có hẳn một chương với 4 điều (từ Điều 10 đến Điều 13, Chương II) quy định về quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.
Về mặt thực tiễn, đời sống báo chí của nước ta đang rất sôi động. Chúng ta phát triển đầy đủ các loại hình báo chí từ báo in, báo nói, báo truyền hình, báo điện tử. Cùng với các hãng thông tấn báo chí trong nước, các hãng truyền thông báo chí nước ngoài cũng đang hoạt động tích cưc tại Việt Nam. Với sự phát triển nhanh chóng của Internet, mạng xã hội, các hoạt động báo chí ngày càng trở nên đa dạng.
Có thể thấy mỗi người dân đều đang trở thành một phần của đời sống báo chí. Họ không chỉ hưởng thụ các sản phẩm báo chí mà còn tham gia vào quá trình cung cấp, sản xuất tin, bài cho các cơ quan, đơn vị truyền thông. Thông qua đây, người dân được nói lên tiếng nói, nguyện vọng của bản thân mình, đồng thời thực hiện quyền lực chính trị của bản thân.
Động cơ xuyên tạc tình hình báo chí ở Việt Nam của RSF là gì?
RSF đã rất nhiều lần đưa ra các thông tin sai lệch, xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam.
Bên cạnh việc thường xuyên đưa Việt Nam vào nhóm “chót bảng” trong bảng xếp hạng tự do báo chí, tổ chức này còn liên tục cổ suý, tung hô các đối tượng phản động, cơ hội chính trị có hành vi chống phá Việt Nam.
Các đối tượng nổi bật trong giới “dân chủ” như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hữu Vinh, Trương Duy Nhất v.v… có mối quan hệ khá thân thiết với RSF. Bất chấp việc các đối tượng trên có hành vi chống phá Việt Nam, xâm phạm đến an ninh quốc gia, an toàn xã hội của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, RSF vẫn ca ngợi những người này như những “anh hùng”.
Thậm chí, RSF còn trao giải “Tự do báo chí” cho các đối tượng trên. Đồng thời, khi chính quyền Việt Nam xét xử các đối tượng có hành vi phạm tội, RSF cũng liên tục vu khống, công kích Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng này còn tự cho mình quyền phán xét hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho mình quyền coi thường, bất chấp pháp luật của Việt Nam. Đây là điều không thể chấp nhận.
Qua cách hành động của mình, RSF đang bộc lộ bản chất thù hằn, thiếu thiện cảm với Việt Nam. Dù tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức này là tốt đẹp, chính đáng nhưng khi hoạt động lại có rất nhiều lệch lạc, biến tướng.
Một mặt, RSF câu móc, tập hợp, nuôi dưỡng, huấn luyện các đối tượng chống đối, đào tạo thành những “nhà báo tự do” để tuyên truyền tư tưởng tự do tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam, chống phá hệ tư tưởng cộng sản. Mặt khác, RSF cố tình xuyên tạc tình hình, lợi dụng chiêu bài tự do ngôn luận, tự do báo chí để gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Suy cho cùng RSF cũng chỉ là một quân cờ được sử dụng trong chiến lược “diễn biến hào bình” để chống phá, tiến tới lật đổ chế độ, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản ở Việt Nam nói riêng và ở các nước theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa nói chung.
Thẳng thắn đánh giá, đây chính là một tổ chức lợi dụng vỏ bọc tự do báo chí để xâm phạm an ninh của quốc gia khác.
Xuyên tạc, suy diễn về tình hình tự do báo chí ở nước ta là một chiêu trò luôn được một số tổ chức, đối tượng cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam sử dụng. Một trong số đó là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF).
Ngày 3/5/2022, tổ chức RSF công bố cái gọi là “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” xếp hạng tự do báo chí toàn cầu. Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2022 do RSF công bố xếp Việt Nam ở vị trí 174 trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các chỉ số cụ thể của Việt Nam được nêu ra gồm chỉ số chính trị ở hạng 173, chỉ số kinh tế xếp hạng 176, chỉ số lập pháp 172, chỉ số xã hội 170 và chỉ số an ninh 170.
Trong bảng xếp hạng này, RSF đã vu cáo rằng: “các phóng viên và blogger độc lập thường bị bỏ tù”. Tổ chức này còn tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho một số hội nhóm, cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Việt Nam như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, ca ngợi những đối tượng như Phạm Thị Đoan Trang. Ngay sau khi công bố của RSF được đưa ra, một số tổ chức phản động, đối tượng cơ hội chính trị, những hãng truyền thông hải ngoại vốn định kiến với Việt Nam được dịp trích dẫn, bình luận kiểu “tát nước theo mưa”.
Đây không phải lần đầu tiên RSF đưa ra báo cáo dựa trên những thông tin sai sự thật, không có cơ sở và có dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc của RSF thực chất là trò “bổn cũ soạn lại”, mục đính nhằm bôi đen hiện thực, vẽ ra bức tranh tối màu về tình hình tự do báo chí để đả phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Hình thành từ năm 1985, RSF tên tiếng Pháp đầy đủ là “Reporters sans frontières”, có trụ sở quốc tế tại Paris.
Đây là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, lấy Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên hiệp quốc làm cơ sở để hành động. Tôn chỉ hoạt động của tổ chức này đưa ra để bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực, giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Hằng năm, vào ngày Nhân quyền thế giới, tổ chức này thường đưa ra bảng xếp hạng về tự do báo chí của các quốc gia, vùng lãnh thổ bằng cách tổng hợp các câu trả lời vào một bảng câu hỏi của RSF. Nhìn vào tôn chỉ hoạt động, cứ ngỡ RSF là một tổ chức chân chính, hoạt động vì sự tiến bộ, thúc đẩy tự do và văn minh của thế giới. Nhưng trái ngược với chủ trương của Liên hiệp quốc, nhiều năm nay, tổ chức này thường xuyên có những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận của một số nước, trong đó có Việt Nam.
Nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực. RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Chính vì vậy, trong các bảng xếp hạng tự do báo chí hằng năm, RSF thường tuân theo sự sắp đặt một cách có chủ ý của các chính phủ quốc gia tài trợ cho tổ chức này hoạt động. Những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí thiếu tính bao trùm, không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng biệt. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất mà đó là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn, phóng đại.
Việc RSF xếp loại tự do báo chí ở Việt Nam thường dựa vào những thông tin do số tổ chức, cá nhân phản động, thù địch, cơ hội chính trị, có các hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam cung cấp. Chính vì vậy, tổ chức này tìm cách bênh vực cho những đối tượng khoác áo, mượn danh nhà báo như “nhóm Báo sạch”, “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”... Họ cố ý khoác áo nhà báo, ca ngợi, tán dương cho những kẻ hoạt động chống phá Việt Nam.
Những thông tin mà “Bảng xếp hạng thường niên về tự do báo chí” năm 2022 của RSF là không khách quan, sai thực tế về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Việt Nam luôn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.
Chúng ta thấy rõ, quyền con người, quyền công dân trên lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được Nhà nước ta bảo đảm, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin là những quyền cơ bản của quyền con người, của mọi công dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để đảm bảo quyền tự do ngôn luận, báo chí và quyền hưởng thụ thông tin của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 11, Luật Báo chí năm 2016 chỉ rõ quyền của công dân: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”.
Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận báo chí của công dân bao gồm: Quyền sáng tác tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý, phê phán, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức cá nhân khác. Nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí cũng được Luật Báo chí 2016 quy định: Không được đăng phát thông tin xuyên tạc, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân... Như vậy, quyền và nghĩa vụ của công dân luôn song hành, không tách rời nhau; mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận báo chí, đồng thời đều phải có nghĩa vụ thực hiện quyền ấy trong khuôn khổ pháp luật.
Tự do báo chí không thể vượt quá hạn định, không phải là tự do quá trớn, càng không phải muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết, làm gì thì làm theo ý muốn chủ quan của chủ thể. Cũng như bất kỳ các quốc gia trên thế giới, một mặt, Nhà nước ta tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Ở Việt Nam, không ai bị xét xử, bắt giữ chỉ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật như tung tin giả, tin xấu độc, xuyên tạc, vu cáo hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận... thì bị xử lý theo pháp luật.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh-truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Chất lượng truy cập Internet Việt Nam cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, một số thông số cao hơn số liệu công bố bởi các hệ thống quốc tế. Điều này phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam phục vụ nhu cầu sử dụng Internet. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… dễ dàng được tiếp cận tại Việt Nam.
Rõ ràng, nội dung đánh giá của RSF vẫn tiếp tục phớt lờ thực tế về bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Càng ngày, RSF càng lộ rõ bản chất định kiến với Việt Nam, cố tình phủ nhận những nỗ lực, thành tựu đạt được của Đảng, Nhà nước ta trong việc bảo đảm và tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
Lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp; khó khăn về vốn đầu tư, sản xuất kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp trong nước…, một số đối tượng tiếp tục sử dụng chiêu trò tiếp nhận vốn từ nước ngoài để lừa đảo cá nhân, doanh nghiệp trong nước.
Các nhóm cá nhân, doanh nghiệp có hoạt động nghi vấn
Một trong số đó, phải kể đến trường hợp của Nguyễn Quốc Long, Lê Nguyên Thành, sáng lập viên, đại diện pháp luật Công ty cổ phần (CP) Di sản quốc tế Hồ Tràm; tổ chức tự xưng “Hội đoàn xử lý di sản tài chính quốc tế”... Thời gian trước đây, Nguyễn Quốc Long, Lê Nguyên Thành thành lập và liên tục sử dụng pháp nhân Công ty CP quốc tế Hồ Tràm lập nhiều bộ “hồ sơ”, “tờ trình” đề nghị được tiếp nhận nguồn vốn của “Hội đoàn xử lý di sản tài chính quốc tế”.
Sau khi bị các Cơ quan chức năng đề nghị giải thể pháp nhân Công ty CP Quốc tế Hồ Tràm do không đáp ứng đúng các quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động, các cá nhân này tiếp tục thành lập Công ty CP Di sản quốc tế Hồ Tràm và có các hoạt động tương tự. Vừa qua, khi các cơ quan chức năng yêu cầu giải thể Công ty CP Di sản quốc tế Hồ Tràm theo quy định của pháp luật, đã xuất hiện đơn của một doanh nghiệp đề nghị không cho giải thể do bị các đối tượng này lừa đảo. Đáng chú ý, Lê Nguyên Thành còn sử dụng trang Facebook Đặc khu kinh tế - biển đảo Hoàng Sa - Trường Sa đăng tải các thông tin không có thật là các “tờ trình”, “đơn đề nghị” liên quan đến “Hội đoàn xử lý di sản tài chính quốc tế” có thể gây hiểu nhầm và ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam.
Một số hình ảnh đăng trên Facebook của Lê Nguyên Thành được xác định là thông tin không có thật.
Trường hợp thứ hai là Đỗ Phú Phong và các doanh nghiệp liên quan. Đỗ Phú Phong (SN 1974, HKTT tại số 80/3 Lê Văn Thọ, phường 8, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh) tham gia thành lập, đại diện pháp luật của Công ty TNHH Đầu tư tài chính Asian Tradebank và Công ty TNHH Xây dựng thương mại dịch vụ Hồng Ngọc đều có trụ sở tại phường 8, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Đỗ Phú Phong còn có tên trong danh sách sáng lập viên, giữ chức vụ Phó Giám đốc một doanh nghiệp tại tỉnh Bến Tre và một số doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp này cũng có “đơn”, “tờ trình” đề nghị tiếp nhận vốn từ nước ngoài…
Đáng chú ý, có tài liệu cho thấy Đỗ Phú Phong, với tư cách đại diện pháp luật Công ty TNHH Xây dựng thương mại dịch vụ Hồng Ngọc đã ký kết hợp đồng chuyển giao nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho Nguyễn Quốc Long, nhóm Công ty CP Quốc tế Hồ Tràm, Công ty CP Di sản quốc tế Hồ Tràm. Đỗ Phú Phong đã bị Cơ quan CSĐT - Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố với vai trò đồng phạm giúp sức trong vụ án Nguyễn Minh Hiệp, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư tài chính Rolex, Chủ tịch HĐTV Công ty Đầu tư tài chính HCT; Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư xuất nhập khẩu TFF, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 2 doanh nghiệp qua hình thức tiếp nhận vốn nước ngoài và chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát đề nghị truy tố tháng 9/2021.
Quá trình điều tra cho thấy, mặc dù không hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng Nguyễn Minh Hiệp vẫn thành lập nhiều công ty, với mục đích sử dụng pháp nhân để tạo vỏ bọc khi tiếp xúc, đàm phán hợp tác với đối tác. Biết ông T.S.H. và ông P.H.N. đang cần nguồn vốn lớn để kinh doanh, Hiệp tự nhận được sở hữu tài sản, di sản thừa kế “khủng” tại các tổ chức tài chính quốc tế.
Để che đậy lời nói dối, Hiệp đưa ra các giấy tờ giả gồm: hối phiếu (Bankdraft), giấy chứng nhận sở hữu tài sản, di sản thừa kế có giá trị từ hàng triệu đến hàng tỷ USD, các hình ảnh số lượng lớn tiền USD; đồng thời thông tin gian dối rằng có mối quan hệ với các cán bộ cấp cao trong cơ quan Nhà nước. Tin tưởng Hiệp có khả năng tài chính lớn, có thể đầu tư vào dự án mà doanh nghiệp của mình đang thực hiện, ông H., ông N. ký kết các hợp đồng hợp tác đầu tư, thỏa thuận kinh doanh với Hiệp, chuyển giao khoản chi phí mở cổng thanh toán quốc tế để chuyển tiền từ nước ngoài vào Việt Nam tổng cộng hơn 10,8 tỷ đồng.
Quá thời hạn nhưng Hiệp không chuyển tiền để hợp tác kinh doanh, không mở chứng thư bảo lãnh tại ngân hàng như đã cam kết, ông H và ông N biết bị Hiệp lừa đảo nên làm đơn tố cáo gửi cơ quan Công an. Lúc này, Hiệp mới trả lại 1,5 tỷ đồng cho ông H. và gần 3,4 tỷ đồng cho ông N. Hiện, Hiệp vẫn còn chiếm đoạt gần 5,9 tỷ đồng của ông H. Theo nhận định của cơ quan điều tra, hành vi phạm tội của Hiệp đã hoàn thành, việc Hiệp khắc phục hậu quả, trả tiền cho người bị hại chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ.
Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an TP. Hồ Chí Minh đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Minh Hiệp về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Các bị can Võ Văn Cận Em, Đỗ Phú Phong tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức.
Theo chỉ đạo của Hiệp, Võ Văn Cận Em nhiều lần sử dụng tài khoản cá nhân của mình nhận từ ông H. tổng cộng hơn 6,5 tỷ đồng, rồi chuyển cho Hiệp sử dụng vào mục đích cá nhân chứ không để giải quyết công việc theo nội dung hợp đồng đã ký kết. Đỗ Phú Phong cung cấp cho Nguyễn Minh Hiệp bộ hồ sơ “chứng nhận sở hữu di sản” giả mạo, nội dung ghi nhận Hiệp sở hữu 5.000 tấn vàng, trị giá 10 tỷ USD, tại một ngân hàng ở Mỹ. Phong cũng giúp Hiệp làm giả bản hối phiếu của một ngân hàng, ghi nhận doanh nghiệp phía ông H. đã được cấp vốn với số tiền 100 triệu USD.
Một trường hợp khác có nhiều hoạt động nghi vấn phải kể đến là Nguyễn Văn Tân (SN 12/5/1971, HKTT tại số 10/2 đường Lý Quốc Bảo, phường Nhị Châu, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương). Nguyễn Văn Tân đã có tiền án, tiền sự và không có nơi cư trú ổn định. Nguyễn Văn Tân tham gia thành lập, đại diện pháp luật của Công ty CP Tài chính quốc tế nhân đạo An Sinh toàn cầu An Phát - HT, Công ty CP Thương mại quốc tế An Sinh toàn cầu An Phát - TP, Công ty CP Tài chính quốc tế nhân đạo An Sinh toàn cầu địa mẫu Hồ Chí Minh (Hải Dương) và Công ty TNHH Thương mại tài chính quốc tế Hoàng Gia vạn quốc bảo thông Bank toàn cầu (Hà Nội).
Qua xác minh, từ năm 2018 đến nay, Nguyễn Văn Tân đã nhiều lần sử dụng các pháp nhân nêu trên để gửi đơn, “tờ trình” đề nghị được tiếp nhận vốn nước ngoài, di sản tài chính… đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành để đề nghị được tiếp nhận các nguồn vốn từ nước ngoài. Tuy nhiên, qua phối hợp với các cơ quan chức năng, Cục An ninh Kinh tế đã làm rõ một số nội dung: các hồ sơ đề nghị tiếp nhận vốn từ nước ngoài đều không đúng quy định của pháp luật, các dự án không có thật, không có giấy tờ pháp lý của đối tác nước ngoài cũng như nguồn vốn từ nước ngoài, tài khoản của các doanh nghiệp không có tiền từ nước ngoài chuyển về như thông tin trên các chứng từ ngân hàng do Tân gửi kèm theo hồ sơ…
Thậm chí, tên, số tài khoản của đối tác nước ngoài cũng không tồn tại trên hệ thống của một ngân hàng ở Đức và được ghi nhận xuất hiện nhiều lần trên các bộ chứng từ được thông báo là giả mạo…
Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo
Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo Cục An ninh Kinh tế, Bộ Công an cho biết: Các đối tượng đã lợi dụng sự khó khăn về nguồn vốn, thiếu hiểu biết và lòng tham của một bộ phận cá nhân, doanh nghiệp; sơ hở trong việc phát hành các văn bản tiếp nhận, trả lời của các cơ quan chức năng để lấy mẫu, chữ ký, sửa chữa nội dung để hoạt động lừa đảo. Các đối tượng đứng tên thành lập, đại diện các doanh nghiệp, hoặc bằng nhiều cách để có tên trong danh sách sáng lập viên các doanh nghiệp khác, được bổ nhiệm giữ các chức vụ phụ trách về tài chính, được ủy quyền để tiếp nhận nguồn vốn từ nước ngoài…
Cùng với đó, là câu kết, móc nối với các cá nhân mạo danh là đại diện các cơ quan, tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài không có thật vào Việt Nam hoặc mời/đề nghị các cá nhân, tổ chức trong nước cùng ra nước ngoài để tiếp xúc, gặp gỡ nhằm tạo niềm tin. Đặc biệt, các đối tượng tạo được niềm tin rất lớn với các cá nhân, tổ chức trong nước về nguồn tiền nên các cơ quan chức năng rất khó giải thích để phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động lừa đảo.
Thông qua các mối quan hệ xã hội để giới thiệu, chào mời các cá nhân, doanh nghiệp trong nước về các nguồn vốn vay lớn, lãi suất thấp, tài trợ cho các dự án về an sinh xã hội, môi trường. Đặc biệt, bằng nhiều cách thức, các đối tượng tìm cách tiếp xúc, quan hệ với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các Bộ, ngành (đương chức, nghỉ hưu) có uy tín, chức vụ để nhờ cậy, tác động, tạo sức ép với các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương.
Để tạo sự quan tâm, chú ý của các cơ quan chức năng, cá nhân, doanh nghiệp trong nước, hồ sơ tiếp nhận vốn nước ngoài có dấu hiệu nghi vấn thường nêu chung chung mục đích đầu tư cho các dự án kinh tế, dự án an sinh xã hội; trong đó, có các dự án mới được đồng ý về mặt chủ trương, chưa được các cấp có thẩm quyền cấp phép hoặc lên mạng Internet lấy thông tin, hình ảnh của các dự án để đưa vào hồ sơ, gồm cả những dự án lớn của Chính phủ như: dự án cao tốc Bắc - Nam, các dự án xây dựng bệnhviện, trường học…
Đáng chú ý, các đối tượng còn lợi dụng tình hình thiên tai, dịch bệnh để đưa đưa vào các “tờ trình”, “đơn đề nghị” tiếp nhận vốn từ nước ngoài. Cụ thể như, lợi dụng dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp tại TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố, nhóm công ty liên quan đến Đỗ Phú Phong đã gửi rất nhiều hồ sơ và lồng ghép nội dung “hỗ trợ quỹ vaccine”, “hỗ trợ dịch bệnh COVID-19” nhằm tạo sự chú ý, quan tâm của cơ quan chức năng, các doanh nghiệp, tổ chức…
Một trong những vấn đề đáng quan tâm là việc các đối tượng lợi dụng sự thông thoáng trong đăng ký thành lập doanh nghiệp để tham gia thành lập, đại diện pháp luật của nhiều doanh nghiệp với số vốn điều lệ rất lớn lên đến hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đều không có hoạt động sản xuất kinh doanh, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, “chủ doanh nghiệp” thì không xác định được nơi cư trú và cũng không liên hệ được...
Đối với hình thức khai thác “kho báu”, “di sản”, “ngoại tệ trôi nổi”, các đối tượng thường lồng ghép các vấn đề tâm linh nhằm tạo niềm tin, mê hoặc các cá nhân, tổ chức nhằm thực hiện mục đích lừa đảo, lôi kéo tham gia. Thậm chí, có những cá nhân cho biết số ngoại tệ trôi nổi lên tới hàng trăm ngàn tỷ USD, được vận chuyển bằng rất nhiều container về Việt Nam qua đường biển mà các cơ quan chức năng Việt Nam cũng như nước ngoài không biết, được cất giữ trong nhiều kho trên khắp đất nước, mà chỉ những người được giao “mật mã” mới vào được, ai cố tình tìm cách xâm nhập vào kho, hoặc nghe các đối tượng nói mà thiếu lòng tin sẽ phải trả giá rất đắt, kể cả tính mạng.
Tương tự, là các “tờ trình”, “đơn đề nghị” được tiếp nhận nguồn vốn ủy thác của các quỹ nhân đạo, quỹ đầu tư, quỹ tài chính quốc tế… có trụ sở tại nước ngoài. Tuy nhiên, qua xác minh, tìm hiểu, các quỹ này không có thật hoặc có rất ít thông tin liên quan đến hoạt động, đại diện các quỹ thậm chí đang bị cơ quan chức năng nước sở tại truy thu thuế, thu hồi giấy phép…
Sau khi đã tiếp cận, tạo được lòng tin, các đối tượng thường yêu cầu cá nhân, tổ chức có nhu cầu tiếp nhận/vay vốn chi trả các khoản chi phí (đi lại, giao dịch, làm thủ tục, mời chuyên gia nước ngoài thẩm định dự án...), tiền đặt cọc, tiền góp vốn, nếu có nhu cầu xem các giấy tờ có liên quan đến nguồn tiền thì phải “chi phí” để kết nối với cấp lãnh đạo, cơ quan nhà nước đang nắm giữ với lý do tài liệu “mật”... và tìm cách chiếm đoạt.
Đây là các thỏa thuận miệng, hợp đồng hợp tác có tính chất dân sự, khi có đơn thư tố cáo, các đối tượng sẽ thỏa thuận đền bù theo hình thức dân sự để tránh bị xử lý theo pháp luật về hình sự, nhưng sau đó sẽ tiếp tục tìm cách trì hoãn trả lại tiền hoặc trả thành nhiều lần. Một số cá nhân khi bị triệu tập làm việc đã khai báo không có bản gốc hoặc được các đối tượng khác (mà bản thân họ cũng không xác định được nhân thân, lai lịch) cung cấp nên cơ quan Công an rất khó khăn trong truy nguyên và xử lý; hoặc sử dụng các văn bản trả lời, tiếp nhận của cơ quan chức năng để sửa chữa nội dung, tạo niềm tin đối với các cá nhân/doanh nghiệp để hoạt động lừa đảo...
Với nhiệm vụ được phân công, Cục An ninh Kinh tế đã phối hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thẩm tra các chứng từ giả mạo của ngân hàng; tổ chức tuyên truyền, cảnh báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng; chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương, các bộ, ban, ngành về phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng để phòng ngừa, ngăn chặn không để các đối tượng lợi dụng hoạt động lừa đảo. Phối hợp Công an các địa phương xác minh, làm rõ hoạt động của các đối tượng liên quan và có biện pháp răn đe, cảnh cáo; đấu tranh, làm rõ hoạt động lừa đảo của các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật.
Các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong nước cần cảnh giác với thủ đoạn hoạt động nghi vấn liên quan đến lừa đảo qua hình thức tiếp nhận vốn nước ngoài của các đối tượng, không để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hoặc chính bản thân sẽ bị vướng vào vòng lao lý. Trong trường hợp bị các đối tượng lừa đảo, cần thông báo đến cơ quan Công an để được hướng dẫn.
Trong 45 năm qua kể từ khi gia nhập LHQ (tháng 9/1977), Việt Nam luôn là thành viên trách nhiệm, tích cực đóng góp vào các nỗ lực chung của LHQ, nổi bật là thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs), tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ, đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 và vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, qua đó khẳng định vị thế và tầm vóc mới của Việt Nam trên trường quốc tế.
Hệ thống phát triển LHQ đóng vai trò quan trọng hỗ trợ Việt Nam phát triển kinh tế - xã hội.Trong giai đoạn 2017-2021, LHQ đã hỗ trợ Việt Nam hơn 423 triệu USD trong phát triển kinh tế - xã hội.
Trong đại dịch COVID-19, đến nay Việt Nam đã tiếp nhận gần 50 triệu liều vaccine thông qua Chương trình COVAX (vượt con số cam kết ban đầu của COVAX là 38,9 triệu liều) và vật tư y tế trị giá 45 triệu USD từ các tổ chức LHQ.
Việt Nam đã đề xuất Nghị quyết về việc lấy ngày 27/12 hằng năm là Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh và đã được Đại hội đồng LHQ thông qua. Việt Nam cũng đã đóng góp 50.000 USD cho Quỹ ứng phó COVID-19 của LHQ và 1 triệu USD cho COVAX, trở thành điểm tiếp nhận và điều trị bệnh nhân theo cơ chế MEDEVAC của LHQ.
Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (COP26), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đưa ra cam kết mạnh mẽ của Việt Nam về việc đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, tham gia Cam kết toàn cầu giảm phát thải methane, Tuyên bố Glasgow các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất, Tuyên bố chuyển đổi từ điện than sang điện sạch và Liên minh Hành động Thích ứng toàn cầu.
Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình LHQ, Việt Nam đã cử 493 lượt sĩ quan quân đội làm nhiệm vụ tại các Phái bộ gìn giữ hòa bình; triển khai 4 lượt bệnh viện dã chiến số 2 và 1 đội công binh; là một trong những nước có tỉ lệ nữ tham gia cao nhất trong các nước cử quân.
Hiện hai bên đã thông qua Khung hợp tác chiến lược giữa Việt Nam - LHQ giai đoạn 2022-2026 với các lĩnh vực trọng tâm là phát triển xã hội bao trùm, chống chịu với biến đổi khí hậu, thiên tai và bền vững môi trường, chuyển đổi nền kinh tế và quản trị với tổng ngân sách là hơn 542 triệu USD, tăng hơn 100 triệu USD so với giai đoạn 2017-2021.
Trong 45 năm qua, hợp tác giữa Việt Nam và LHQ có ý nghĩa to lớn từ giai đoạn tái thiết đất nước sau chiến tranh đến thời kỳ phá thế bao vây cấm vận và từng bước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Hợp tác Việt Nam - LHQ đạt kết quả tốt và có tác dụng tích cực, vừa đáp ứng được yêu cầu, lợi ích của Việt Nam trong từng giai đoạn, vừa góp phần tăng cường vai trò, tiếng nói và "dấu ấn" đóng góp của Việt Nam tại LHQ.
Những kết quả này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những nỗ lực chung của Việt Nam và LHQ trong việc khắc phục những mặt còn tồn tại, mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác hai bên, hỗ trợ tích cực cho công cuộc phát triển đất nước, hội nhập quốc tế của Việt Nam và góp phần nâng cao vai trò của LHQ trong thời kỳ mới.
Điểm mới theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, Hội nghị Trung ương 4 khóa
XIII bổ sung điều chỉnh đó là gắn xây dựng chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống
chính trị. Hệ thống chính trị bao gồm
các tổ chức là những chủ thể lãnh đạo, quản lý điều hành đất
nước và lực lượng tập hợp, tổ chức các phong trào đấu tranh cách
mạng của nhân dân. Thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”
trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, các thế lực thù địch tập trung phá
hoại tổ chức và con người, trong đó mục tiêu trọng điểm hàng đầu là
chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đánh giá về âm mưu, thủ đoạn “diễn
biến hòa bình” chống phá Đảng của các thế lực thù địch, Nghị
quyết Trung ương 4 khóa XI chỉ rõ: “Các thế lực thù địch không từ bỏ
âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”, tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ
Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy
yếu vai trò lãnh đạo của Đảng”[1].
Chăm lo xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy tốt
chức năng, nhiệm vụ và vai trò có ý nghĩa quyết định thắng lợi
trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư
tưởng.
Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về chính
trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, phát huy vai trò lãnh đạo đấu
tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư
tưởng. Coi trọng xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong sạch, vững mạnh luôn giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công
nhân, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội. Xây dựng, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; nâng
cao tính chiến đấu của công tác tư tưởng, kịp thời đấu tranh khắc phục những
biểu hiện phai nhạt lý tưởng, cơ hội, chủ nghĩa cá nhân; đấu tranh với những
quan điểm sai trái, những luận điệu phản động, làm thất bại mọi âm mưu, thủ
đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng của các thế lực
thù địch. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa
XI, Trung ương 4 khóa XII, đẩy mạnh thực hiện nghị quyết Trung ương 4 khoá XIII
về đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn,
đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong các cấp
ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xây dựng Đảng về
đạo đức, coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng, truyền thống vẻ vang của Đảng,
chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn suy thoái đạo đức, lối sống. Các cấp
ủy, tổ chức đảng phải quan tâm giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội
ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05/CT-TW của
Bộ Chính trị khóa XII về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh”, xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh.
Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân trong sạch, vững mạnh phát huy tốt vai trò tổ chức, quản lý trong
đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị,
tư tưởng. Coi trọng xây dựng các cấp chính quyền trong sạch, vững
mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tích cực đổi mới, sắp xếp tổ
chức, bộ máy chính quyền trung ương và địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu
lực, hiệu quả. Xây dựng nền hành chính Nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh,
từng bước hiện đại; đẩy mạnh cải cách hành chính công khai - minh bạch - vì dân.
Đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực kiên quyết, có
hiệu quả. Tập trung xây dựng đội ngũ công chức giỏi về nghiệp vụ, trong sáng
về đạo đức, luôn trung thành, tận tuỵ phục vụ nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện cải
cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,
bảo vệ công lý và quyền con người. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt
động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, bảo đảm thực hiện đúng
thẩm quyền và tự chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân cấp. Đẩy mạnh thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng các thiết chế tuyên truyền vận động, tạo điều
kiện cho nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ. Mở rộng dân chủ, tăng cường kỷ
luật, kỷ cương; khắc phục tình trạng dân chủ cực đoan. Chủ động có các phương
án ngăn chặn và làm thất bại âm mưu lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”,
“tôn giáo”, “dân tộc” để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính
trị, tư tưởng.
Chăm lo xây dựng các tổ chức chínhtrị - xã hội vững mạnh, phát huy tốt vai
trò trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực
chính trị, tư tưởng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các
tổ chức chính trị - xã hội được tập hợp dưới ngọn cờ Mặt Trận Tổ
quốc là lực lượng quan trọng thu hút, tập hợp đông đảo nhân dân tạo
thành các phong trào hành động cách mạng. Xây dựng các tổ chức
chính trị - xã hội vững mạnh, phát huy vai trò của mỗi tổ chức là
cơ sở để tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân tạo ra lực lượng
hùng hậu trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực
chính trị, tư tưởng. Cần đặc biệt chú trọng xây dựng và phát huy vai trò Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể nhân dân trong tập hợp lực lượng,
phối hợp hành động thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Tiếp
tục bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước
với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân để
phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản
lý điều hành của Nhà nước, thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng xã hội vững
chắc, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, lực lượng giành thắng lợi trong đấu
tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.
PHAO
[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, Tr. 24.