Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

Về đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

 


          So với pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và văn bản hướng dẫn thi hành pháp lện, thì nội dung đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung có điểm mới, như: chủ thể dược thực hiện quyền sinh hoạt tôn giáo tập trung giành cho không chỉ tín đồ thuộc tổ chức tôn giáo, người theo tôn giáo thuộc tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, mà nhóm người theo tôn giáo nhưng chưa có tổ chức, cũng được thực hiện; đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tất cả mọi người được xem là một bước đẻ tiến tới đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo.

          Về đăng ký hoạt động tôn giáo: Luật quy định: để được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức phải đáp ứng đủ các điều kiện, đó là: có giáo lý, giáo luật, lễ nghi; có tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động không trái với quy định của pháp luật; tên của tổ chức không trùng với tên của tổ chức tôn giáo, hoặc tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc; người đại diện, người lãnh đạo là tổ chức tổ chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có nán tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; có địa điểm hợp pháp để đặt trụ sở; nội dung hoạt động tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại điều 5 vủa Luật.

Sau khi được cấp chứng nhận đăng ký hoạt dộng tôn giáo, tổ chức được tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý; bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc, sửa chữa, cải tạo trụ sở; tham gia hoạt động từ thiện, nhân đạo; tổ chức đại hội thông qua hiến chương.

Huy động phân bố, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển vùng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số.

 


Tiếp tục quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sờ hạ tầng thiết yếu gắn với xây dựng nông thôn mới, trọng tâm là giao thông, điện, trường học và thủy lợi; gắn với bố trí, sắp xếp lại dân cư, giải quyết cơ bàn vấn đề đất ở, đất sản xuất, đất phục vụ cộng đồng, nước sinh hoạt, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường, khai thảc và sử dụng hợp lý tài nguyên. Chú trọng tới những hộ đồng bào thiếu đất sản xuất, các điểm nóng về di cư tự phát, dự án tái định cư thủy lợi} thủy điện.

Tập trung phát triền sản xuất gắn với thị trường chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hình thành các mô hình quan hệ sản xuất mới, phát triển doanh nghiệp xã hội; đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xỏa đỏi, giảm nghèo nhanh, bền vững, tăng dần mức thu nhập cho người dân; tạo điều kiện và cơ hội giúp đồng bào các dân tộc thiểu số nâng cao mức sống.

Tiếp tục thể chế hóa những chính sách ưu tiên thúc đẩy việc làm đối với nhỏm lao động trong khu vực phi chính thức, đặc biệt là đối với lao động là người dân tộc thiểu số ở khu vực nông thôn, lao động tự do... nhằm tăng cường tính bền vững đối với việc làm ở các khu vực này, vì đây là khu vực chịu nhiều rủi ro về điều kiện, môi trường làm việc, thu nhập và thiếu tính ổn định hơn so với khu vực chính thức.

 Bảo vệ môi trường (bảo vệ rừng, nguồn nước, vệ sinh môi trường)

Hoạt động tín ngưỡng trong luật tín ngưỡng, tôn giáo

 


          Hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng khi thực hiện phải đảm bảo nguyên tắc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo đảm an ninh, trạt tự an toàn xã hội, tiết kiệm, bảo vệ môi trường.

Nhằm tạo điều kiện cho cơ sở tín ngưỡng hoạt động có hiệu quả, Luật quy định cơ sở tín ngưỡng phải có người đại dieẹn hoặc ban quản lý để chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động diễn ra tại cơ sở tín ngưỡng, như đăng ký hoạt động tín ngưỡng; thông báo việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ; đăng ký tổ chức lẽ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi; quản lý và sử dụng khoản thu đúng mục đích, công khai, minh bạch.

          Người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có uy tín trong cộng đồng dân cư. Việc bầu cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý do ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tín ngưỡng phối hợp với ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư bầu, cử. Căn cư svào keét quả bầu, cử, Ủy ban Nhân dân cấp xã có văn bản công nhận người đại diện hoặc thành viên ban quản lý trong thời hạn 5 ngày làm vieẹc. Đây cũng là một trong những quy định mới của Luật so với Pháp lệnh.

          Hoạt động tín ngưỡng còn có một số quy định mới, như việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng hằng năm của cơ sở tín ngưỡng phỉat thực hieẹn đăng ký chậm nhất là 30 ngày trước ngày cơ sở tín ngưỡng, trừ trường hợp quy định tại Điều 14 của Luật, các hoạt động tín ngưỡng không có trong văn bản đăng ký đã được chấp thuận thì phải đăng ký bổ sung; các lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi thay vì phải xin phép thì nay chỉ phải đăng ký.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển

 


 Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

 Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư)

 Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu.

 Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ.

 Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới.

Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước.

 Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Văn hóa truyền thống được bảo tồn, tiếng nói, chữ viết, tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số được tôn trọng

 

  

Trái với luận điệu của các thế lực thù địch là “các dân tộc thiểu số đang bị đồng hóa, phân biệt đối xử vì khác biệt văn hóa...”. Thực tế Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến các công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Ngày 14/1/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, trong đó quy định: “hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam; hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm giữ gìn văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật; xây dựng, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, hỗ trợ việc đầu tư, giữ gìn, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa đã được Nhà nước xếp hạng; đồng bào dân tộc thiểu số được ưu đãi, hưởng thụ văn hóa; hỗ trợ xây dựng, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; bảo tồn phát huy các lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc, định kỳ tổ chức ngày hội văn hóa – thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số[1]

Ngày 27-7-2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” với nội dung tập trung ưu tiên bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người. Nhờ các chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn vinh, từng bước được bảo tồn, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện, mức hưởng thụ văn hóa được nâng cao. Các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số như: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên , Thánh địa Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn...được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Năm 2011, Chính phủ và các địa phương đã tỏ chức trình diễn trang phục của 54 dân tộc Việt Nam. Theo thống kê, đồng bào các dân tộc thiểu số được thụ hưởng đời sống văn hóa mới: 91,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh; 92% người dân được nghe đài phát thanh, 85% người dân được xem truyền hình, nhiều chương trình phát bằng tiếng dân tộc thiểu số như: Mông, Thái, Ê Đê, Chăm, Khmer[2]

Chính phủ thực hiện chương trình cấp miễn phí 19 loại báo, tạp chí đến tận thôn, bản, ấp vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn. Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyeeng hình Việt Nam không ngừng mở rộng diện phủ sóng rộng khắp trong cả nước tới các khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Trên 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh, truyền hình địa phương đều có các chương trình bằng tiếng dân tộc, phát bằng 26 ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Số lượng các chương trình phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số tăng liên tục theo thời gian từ mức mỗi tuần 335 chương trình năm 2005 lên đến 362 chương trình, tổng thời lượng phát sóng cũng tăng lên, bảo đảm cho người dân tộc thiểu số sinh sống ở các vùng sâu, vùng xa có điều kiện tiếp cận với thông tin trong nước và quốc tế.

Chính phủ Việt nam tạo mọi điều kiện để người dân, trong đó có người dân tộc thiểu số tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet đã hình thành cung cấp dịch vụ đến từng xã, thôn, bản cho 63 tỉnh, thành phố, kể cả vùng sâu, vùng xa.

Quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Nhà nước có nhiều chính sách bảo tồn, sử dụng và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Chính phủ đã xây dựng chữ viết cho các dân tộc thiểu số. Sau quá trình thực hiện, tổng kết, Chính phủ đã ban hành nghị định số 82/NĐ-CP quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Đến nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số; cả nước có hơn 30 tỉnh, hơn 600 trường tỏ chức dạy, với trên 200000 học sinh đang theo học tiếng dân tộc[3] 10 ngôn ngữ dân tộc được đưa lên sóng phát thanh - truyền hình[4]

Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số: Hiến pháp năm 2013 của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi người có quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”[5]

Nhà nước tôn trọng tự do tín ngưỡng, không phân biệt đối xử giữa những người theo tôn giáo và những người không theo tôn giáo, giữa các tôn giáo khác nhau, giữa những người dân tộc thiểu số theo tôn giáo và người Kinh theo tôn giáoThời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân, một số tôn giáo phục hồi và phát triển nóng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Điển hình là việc đạo Tin Lành phục hồi và phát triển mới với tốc độ rất nhanh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Nam Trường Sơn và các tỉnh lân cận.

Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2015 số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và vùng cao duyên hải miền Trung theo đạo Tin Lành là hơn 550 nghìn người với 1.732 điểm nhóm theo buôn. Ngoài ra, ở khu vực Tây Nguyên còn có 350.000 người dân tộc thiểu số theo Công giáo, 20.000 người dân tộc thiểu số theo Phật giáo và 1.000 người theo đạo Cao Đài,...

Đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Bắc, năm 2015 số người H’mông theo đạo Tin Lành là hơn 240 nghìn người với 1.200 điểm nhóm ở 14 tỉnh. Ngoài hai khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, ở Tây Nam Bộ có gần 1,3 triệu người Khmer theo Phật giáo Nam tông. Như vậy, số lượng tín đồ trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam theo tôn giáo là 2,2 triệu người, trong đó: Phật giáo Nam tông: 1,3 triệu, Tin Lành: 780.000, Công giáo: 420.000, Phật giáo: 35.000,... chiếm khoảng hơn 23% số người dân tộc thiểu số, tương đương với số tín đồ tôn giáo so với tỷ lệ dân số của Việt Nam (22,0 triệu tín đồ trong tổng dân số 90,0 triệu).

Vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số được Đảng và Nhà nước rất quan tâm trên cả hai phương diện dân tộc và tôn giáo. Do đó, cơ bản, tình hình tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoạt động theo xu hướng ổn định, tuân thủ pháp luật.

Tóm lại, do cư trú trên địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, xuất phát điểm thấp và những khó khăn do lịch sử để lại, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thấp, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta còn nhiều khó khan. Để giúp các dân tộc thieur số cùng phát triển, Nhà nước ta xác định chính sách dân tộc nhất quán là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển. Nhờ thực hiện chính sách đúng đắn của Nhà nước, trên thực tế các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được bình đẳng về chính trị, đời sống được cải thiện, văn hóa truyền thống được bảo tồn, chữ viết, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào được tôn trọng, các quyền của công dân ngày càng được bảo đảm. Những kết quả trong thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội đối với các dân tộc của Chính phủ Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá cao là những minh chứng hung hồn phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, vu khống về cái gọi là “đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!) của các thế lực thù địch



[1] Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngyaf 14-1-2011 của Chính phủ

[2] Ủy ban dân tộc: Báo cáo đánh giá và triển khai chính sách vùng dân tộc và miền núi, năm 2018.

[3] Báo cáo thực hiện chính sách dân tọc của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2012

[4] Báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2012.

[5] Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013,Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2014.

Chủ thể thực hiện quyền tín ngưỡng, tôn giáo theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo

 


          Cụ thể hóa quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”, Luật quy định chủ thể thực hieẹn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là “mọi người” (khoản 1 Điều 6)

          Bên cạnh đó Luật cũng quy định mỗi người có quỳen bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, thực hành lễ nghị tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo, quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở, đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo.

          Đối với người chưa thành niên, khi xuất gia vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc theo học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

          Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.

Như vạy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi

Đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện

 


Nhờ đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, bộ mặt vùng dân tộc và miền núi nước ta đã thay đổi rõ rệt.

Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Hiện nay có 98,6% số xã có đường ô tô đến trụ sở ủy ban nhân dân xã; 99,8% số xã và 95,5% số  thôn có điện lưới quốc gia; 99,5% số xã có trường tiểu học, 93,2% số xã có trường trung học cơ sở, 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo, mầm non; 99,39 % số xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc  gia về y tế

Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện

Về phát triển kinh tế, đã hình thành các vùng cây công nghiệp: Cà phê, chè, cao su, hạt tiêu, điều,…; các vùng cây ăn quả như: Cam (Hòa Bình, Hà Giang), vải thiều (Bắc Giang), nhãn (Sông Mã, Sơn La),…;Công nghiệp khai khoáng: Than (Quảng Ninh), Apatit (Lào Cai), Đồng (Lào Cai), Thiếc (Cao Bằng), Bô xit (Tây Nguyên),…;Thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu,…

Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay. Chính phủ tập trung chỉ đạo đầu tư và nguồn lực thực hiện chính sách giảm nghèo, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chăm lo cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Những năm vừa qua, thu nhập bình quân các vùng dân tộc tăng nhanh: Tây Nguyên tăng 1,5 lần; Đông Bắc bộ 1,4 lần; Tây Bắc 1,3 lần. Tỷ lệ giảm nghèo các tỉnh Đông Bắc 3,62%, Tây Bắc 4,4%, Tây Nguyên 3,04%; trong dân tộc thiểu số 3,55%/năm (bình quân cả nước là 1,83%). Khoảng cách nghèo trong dân tộc thiểu số giảm từ 24,3% xuống còn 19,2%. Mức độ trầm trọng của hộ nghèo giảm từ 11,3% xuống còn 8,2%. Qua khỏa sát 98,6% ý kiến của cán bộ cơ sở và người dân đánh giá đời sống đồng bào dân tộc thiểu số khá hơn, được dư luận trong nước, quốc tế đánh giá cao. Về Giáo dục và đào tạo, hiện nay có- 300 trường phổ thông dân tộc nội trú,  với 88 ngàn học sinh theo học; 876 trường phổ thông dân tộc bán trú, với 140 ngàn học sinh theo học; 782 trường, 124 ngàn HS học tiếng dân tộc thiểu số. 5 năm qua (2011- 2016), vùng dân tộc cử tuyển 18 ngàn sinh viên dân tộc thiểu số vào học các trường cao đẳng, đại học. Đến nay, đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS

Về y tế, nhờ thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế  và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn, một số dịch bệnh trước đây phổ biến ở vùng dân tộc như sốt rét, bướu cổ, phong, lao được ngăn chặn và đẩy lùi. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25%.

Các dân tộc thiểu số đã được bình đẳng, quyền tham chính về chính trị ngày càng nâng cao

 


Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước.

Quốc hội khóa 14 có 86 đại biểu quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 17,4%; 49/53 dân tộc thiểu số có đại biểu trong Quốc hội; Đại biểu trong hội đồng nhân dân các cấp khoảng 20%. Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước là người dân tộc thiểu số như Tổng bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, ban bí thư, ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng, Bí thư, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh...

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.

 


Đảng ra chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện,các tổ chức đoàn thể tham mưu tổ chức thực hiện.

Để thể chế hóa các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp, các bộ luật thể hiện nội dung về chính sách dân tộc. Trong Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thể hiện rõ chính sách đại đoàn kết, quyền bình đẳng của mọi công dân, không phân biệt đối xử với bất kỳ dân tộc nào: “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện, để chóng tiến kịp trình độ chung”[1]

Hiến pháp năm 1992 của nước ta một lần nữa khẳng định rõ chính sách đoàn kết, không phân biệt và giúp nhau giữa các dân tộc “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc…Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”[2]

Cụ thể hóa các điều quy định trong hiến pháp, Quốc hội đã ban hành nhiều luật liên quan đến quyền lợi các dân tộc thiểu số như: Luật giáo dục, Luật bảo hiểm y tế, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình...

Nhằm cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, thực hiện chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc. Kể từ khi đổi mới đến nay, chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc khá dầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Chỉ tính từ năm 2010- 2015, ngoài những văn bản do quốc hội ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến dận tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành 154 chính sách dân tộc được thể hiện tại 177 văn bản, 37 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng chính phủ. (Ủy ban dân tộc: Báo cáo tại hội thảo “Đề xuất các chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2020” Tháng 9/2015). Mặc dù số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh và áp dụng riêng đối với các DTTS/ vùng DTTS và cả những văn bản áp dụng chung đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với DTTS nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác định quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quan điểm của Đảng được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính liên kết, tính minh bạch. Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác nhau, một số văn bản (chủ yếu là văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể các chế độ, chính sách áp dụng đối với đồng bào DTTS/đồng bào DTTS được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển KT-XH của đất nước và tình hình thực hiện chính sách dân tộc đối với các vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lạp kế hoạch dến tổ chức thực hiện.

Đối với các địa phương, theo quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách nhiệm được quy định, sau khi văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở cấp trung ương có hiệu lực, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành hoặc chỉ đạo  cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành văn bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến để triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh, thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân. Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ xây dựng văn bả triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tổ chức thực hiện. Mặc dù trong bối cảnh các nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khan, nhưng trong giai đoạn 2011- 2015 ngân sách nhà nước đầu tư khoảng 135.000 tỷ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước[3], trong đó, 9 chính sách do ủy ban dân tộc quản lý quản lý được cấp 27.000 tỷ đồng[4], giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, tốc độ tang bình quân 26%/Năm



[1] Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, năm 1946 (Điều 8 in trong cuốn Tuyên ngôn độc lập và các bản Hiến pháp Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012).

[2] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Điều 5,Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2012).

[3],2 Ủy ban dân tộc: Báo cáo đánh giá và triển khai chính sách vùng dân tộc, năm 2016.

 

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.

 


Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Phát huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào.

Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Quân đội

 

Hiện nay, tình hình hoạt động chống phá Quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ngày càng diễn ra quyết liệt, phức tạp.

Một trong những cách thức chúng đã và đang sử dụng là thủ đoạn lôi kéo, móc nối các cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ cao cấp của Quân đội nghỉ hưu, cán bộ, đảng viên có tư tưởng bt mãn, quan điểm “cấp tiến” để nhằm tạo dựng “ngọn cờ” tập hợp lực lượng, hình thành các hội, nhóm, tổ chức chính trị đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó phát động các “phong trào đấu tranh” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

Đây là thủ đoạn rất nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, nếu không có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời sẽ ảnh hưởng tiêu cc tác động ti đời sng chính tr, gây hoang mang trong cán b, đảng viên, qun chúng và tác động vào ni b ca Quân đội.

PHAO

Phát triển toàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh

 


Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn Miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ và  phía tây các tỉnh miền trung.

Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.

Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

 

 


Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Chính sách tôn giáo và quy định quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo

 


          Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được quốc hội khóa XIV kỳ họp thức 2 thông qua ngày 18/11/2016 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

          Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 9 chương, 68 điều. Các chương đó là:

          - Chương 1: Những quy định chung (gồm 5 điều, từ điều 1 đến điều 5)

-Chương II: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 6 đến Điều 9).

-Chương III: Hoạt động tín ngưỡng (gồm 6 điều, Từ Điều 10 đến Điều 15)

          - Chương IV: Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo (gồm 5 điều, từ Điều 16 đến Điều 20).

          - Chương V: Tổ chức tôn giáo (gồm 22 điều, từ Điều 21 đến Điều 42).

          - Chương VI: Hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo (gồm 13 điều, từ Điều 43 đến Điều 55)

          - Chương VII: Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 56 đến Điều 59)

          - Chương VIII: Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 6 điều, từ Điều 60 đến Điều 65)

        

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi người.

 


Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã được chuyền từ “quyền công dân” theo điều 70 của Hiến pháp năm 1992, thành “quyền con người”, Tại Điều 24 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định:

1)Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

          2) Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

3) Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo đề vi phạm pháp luật.

          Như vậy quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền của tất cả mọi người, là quyền con người, và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Hiến định như vậy veè quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chính sách của Nhà nước ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo đã tiệm cận với nhận thức và chính sách chung về tôn giáo của các quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Về nguyên tắc chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam

 


Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, để phát huy sức mạnh toàn dân phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đảng ta yêu cầu các cáp ủy Đảng và chính quyền động viên đồng bào các tôn giáo phát huy truyền thống yêu nước, hăng hái tham gia công cuộc đổi mới, làm tốt việc đạo, làm tròn nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện tốt quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo, Bộ Chính trị ra chỉ thị 37-CT/TW ngày 02-7-1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đã yêu cầu công tác tôn giáo của hệ thống chính trị phải thường xuyên chú ý tuân thủ những nguyên tắc, chính sách sau đây:

1)Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mội công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau.

2) Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân.

3) Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ hiến pháp và phá luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam XHCN; gìn giữ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.

4) Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm. Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy.

5) Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội, phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hóa của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, đều bị xử lý theo pháp luật. Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỀ CHÍNH TRỊ LÀ GỐC ĐỂ TẠO NÊN SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG

 

Trong lịch sử nhân loại, hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, trong quá trình dựng nước và giữ nước, phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại xâm có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn mạnh hơn nhiều lần. Hiếm có quân đội nào như Quân đội nhân dân Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời và trong quá trình xây dựng, phát triển, trưởng thành, đã phải đụng đầu với các thế lực thực dân, đế quốc to lớn, có trình độ tác chiến hiện đại, trang bị vũ khí, phương tiện quân sự vượt trội. Để chiến thắng những đội quân xâm lược như thế, nhất thiết quân đội phải mạnh, chính trị phải vững, phải lấy xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm gốc để tạo nên chất lượng tổng hợp, nâng cao sức mạnh chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù.

Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[1]. Gần 80 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng quân đội về chính trị, coi đó là cơ sở, nền tảng để xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt, nâng cao sức mạnh chiến đấu. Vì vậy, quân đội luôn xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, quân đội ta ngày càng lớn mạnh, đã cùng với toàn Đảng, toàn dân, lập nên những kỳ tích vĩ đại trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đáng thắng.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chúng ta cần phải quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đặc biệt là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị nhằm nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu để quân đội ta hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

PHAO

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 350.

Trách nhiệm của các tổ chức chính trị- xã hội về tôn giáo

 


Về trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận, Đoàn thanh niên, Tổng LĐLĐ, Hội CCB, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo.

 Về trách nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân:

LLVT là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và tham gia giả quyết, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Về trách nhiệm của Đảng và Nhà nước về tôn giáo

 


Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo. Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện, bảo đảm tôn trọng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc.Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng

 


Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng,Bởi vì:

+ Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo và sự khác biệt về thế giới quan tôn giáo và CNMLN

+ Đồng bào các tôn giáo là nhân dân lao động, là quần chúng của Đảng, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có khoảng 27 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Phải làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức đúng, tin và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và BVTQ