Đảng ra
chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện,các tổ chức đoàn
thể tham mưu tổ chức thực hiện.
Để thể chế hóa các quan điểm, nguyên
tắc của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp, các bộ luật thể hiện nội dung
về chính sách dân tộc. Trong Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thể hiện rõ chính sách đại đoàn kết, quyền
bình đẳng của mọi công dân, không phân biệt đối xử với bất kỳ dân tộc nào:
“Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi
phương diện, để chóng tiến kịp trình độ chung”[1]
Hiến pháp năm 1992 của nước ta một lần
nữa khẳng định rõ chính sách đoàn kết, không phân biệt và giúp nhau giữa các
dân tộc “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các
dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc…Nhà nước thực hiện
chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của đồng bào dân tộc thiểu số”[2]
Cụ
thể hóa các điều quy định trong hiến pháp, Quốc hội đã ban hành nhiều luật liên
quan đến quyền lợi các dân tộc thiểu số như: Luật giáo dục, Luật bảo hiểm y tế,
Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật
bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình...
Nhằm
cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chính phủ
đã ban hành nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội
vùng dân tộc, thực hiện chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội cho đồng bào
các dân tộc. Kể từ khi đổi mới
đến nay, chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc
khá dầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc,
miền núi. Chỉ tính từ năm 2010- 2015, ngoài những văn bản do quốc hội ban hành,
trong đó có những nội dung liên quan đến dận tộc thiểu số, Chính phủ đã ban
hành 154 chính sách dân tộc được thể hiện tại 177 văn bản, 37 nghị định và nghị
quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng chính phủ. (Ủy ban dân tộc:
Báo cáo tại hội thảo “Đề xuất các chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2020” Tháng
9/2015). Mặc dù số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh
và áp dụng riêng đối với các DTTS/ vùng DTTS và cả những văn bản áp dụng chung
đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với DTTS
nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác định quyền bình đẳng
giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quan điểm của Đảng
được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về dân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính liên kết, tính minh bạch.
Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác nhau, một số văn bản (chủ
yếu là văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể các chế độ, chính sách áp
dụng đối với đồng bào DTTS/đồng bào DTTS được sửa đổi, bổ sung thường xuyên
nhằm phù hợp với sự phát triển KT-XH của đất nước và tình hình thực hiện chính
sách dân tộc đối với các vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế chính sách
đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa
phương trên cơ sở công khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lạp kế hoạch dến
tổ chức thực hiện.
Đối với các địa phương, theo
quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách nhiệm được quy định, sau khi
văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở cấp trung ương có hiệu lực,
ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành hoặc chỉ
đạo cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành
văn bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên
địa bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban
nhân dân các tỉnh/thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến
để triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh,
thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân.
Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ
xây dựng văn bả triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tổ
chức thực hiện. Mặc dù trong bối cảnh các nền kinh tế thế giới suy thoái, tình
hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khan, nhưng trong giai đoạn 2011- 2015 ngân
sách nhà nước đầu tư khoảng 135.000 tỷ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước[3], trong đó, 9 chính sách do ủy ban dân
tộc quản lý quản lý được cấp 27.000 tỷ đồng[4], giảm nghèo cho đồng bào
dân tộc thiểu số, tốc độ tang bình quân 26%/Năm
[1] Hiến pháp nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, năm 1946 (Điều 8 in trong cuốn Tuyên ngôn độc lập và các
bản Hiến pháp Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012).
[2] Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Điều 5,Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật,
Hà Nội, 2012).
[3],2 Ủy ban dân
tộc: Báo cáo đánh giá và triển khai chính sách vùng dân tộc, năm 2016.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét