Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

 

Chấn chỉnh những hành vi lệch chuẩn

Báo chí từng tốn không ít giấy mực phản ánh tình trạng xuống cấp đạo đức của một bộ phận người nổi tiếng. Thế nhưng, chủ đề này dường như vẫn chưa hết "nóng", nhất là khi gần đây, tình trạng lệch chuẩn trong lối sống, văn hóa ứng xử của người nổi tiếng đang có biểu hiện gia tăng, nguy cơ gây tác động xấu, làm suy giảm nghiêm trọng tình cảm, sự tin yêu của công chúng, đặc biệt là ở giới trẻ.

Thời gian qua, không ít người nổi tiếng với tâm huyết, tài năng và trách nhiệm xã hội đã làm được nhiều điều đáng trân trọng, mang lại giá trị, lợi ích thiết thực cho xã hội, tạo ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng. Điển hình như trong giai đoạn cả nước dồn sức chống dịch COVID-19 vừa qua, một số nghệ sĩ bằng những hành động thiết thực như sáng tác ca khúc, vẽ tranh, biểu diễn phục vụ đồng bào ở tâm dịch… đã mang đến những liều "vaccine tinh thần" ý nghĩa để tri ân, tiếp sức, cổ vũ lực lượng nơi tuyến đầu, chung sức cùng cả nước vượt qua đại dịch.

Có người bằng khả năng và sức ảnh hưởng của mình trực tiếp đóng góp và kêu gọi sự chung tay của cộng đồng để hỗ trợ những hoàn cảnh gặp khó khăn. Họ đã góp phần lan tỏa những hành động nhân văn cao đẹp, minh chứng cho tinh thần đoàn kết tương thân tương ái của người Việt Nam trong đại dịch…

Tuy nhiên, bên cạnh những việc làm ý nghĩa, truyền cảm hứng cho cộng đồng, đáng buồn là vẫn còn không ít hành động thể hiện lối sống, cách hành xử thiếu chuẩn mực, gây tác động xấu đến cộng đồng của một bộ phận người nổi tiếng. Có thể kể tới một số vụ bê bối tình cảm gây bức xúc dư luận, cách sống buông thả, sẵn sàng vượt qua lằn ranh về đạo đức và pháp luật của không ít người nổi tiếng đã làm bộc lộ khoảng tối trong nhận thức, dẫn đến những việc làm khó có thể được chấp nhận.

Cùng với đó là những ồn ào liên quan một số "người của công chúng" sa vào tệ nạn xã hội như cờ bạc, lô đề, mại dâm; chụp ảnh phản cảm, khoe thân trá hình; sử dụng hình ảnh cá nhân tham gia quảng cáo những sản phẩm không rõ nguồn gốc, kém chất lượng; thậm chí quảng bá tiền ảo một cách bất hợp pháp… Không ít người hâm mộ thất vọng nhận ra đằng sau ánh hào quang của người nổi tiếng mà họ hâm mộ lại đang phơi bày sự lệch lạc về tư duy và hành động.

Đáng nói, những biểu hiện lệch chuẩn về đạo đức, lối sống bị công chúng bàn luận, lên án nhiều thời gian qua phần lớn rơi vào những người đang hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Bằng công nghệ lăng xê, không ít người trong số họ được nhào nặn trở thành những "ông hoàng", "bà hoàng", "nam thần", "nàng hậu"… trong khi mới chỉ có một vài dự án, hoạt động nghề nghiệp, thậm chí chưa được thẩm định sâu về chuyên môn. Sự nổi tiếng quá nhanh, quá dễ dãi với sự tung hô, săn đón quá đà của truyền thông và người hâm mộ khiến nhiều người ngộ nhận, ảo tưởng về tài năng, coi mình là trung tâm của vũ trụ. Thế nên mới có chuyện không ít "sao" tự cho mình quyền phát ngôn vô tội vạ mà chẳng cần để ý đến những tác động tiêu cực do "vạ miệng" gây ra, thậm chí đăng tải cả những thông tin giả, thông tin chưa được kiểm chứng lên trang cá nhân nhằm thu hút sự chú ý của cộng đồng.

Bên cạnh đó, môi trường mạng xã hội với khả năng tương tác, lan tỏa thông tin nhanh bị khai thác triệt để, trở thành môi trường diễn ra những cuộc "khẩu chiến"; những livestream phát vô tội vạ nhằm "bóc phốt" nhau, thậm chí xúc phạm, chửi bới, đe dọa, công kích người khác bằng những lời lẽ thô tục, vô văn hóa, không dựa trên bằng chứng xác thực chỉ để thỏa mãn sự ghen ghét, đố kị cá nhân. Hằng ngày trên không gian mạng xuất hiện nhan nhản những phát ngôn phản cảm, gây bức xức dư luận, như việc một nữ diễn viên lên tiếng "chúc mừng" người đã khuất vì đã "về với trời"; nữ diễn viên khác lại "cảm ơn cô Vy" vì giúp dân số thế giới bớt quá tải; có nam ca sĩ thì cho rằng mình là "vùng cấm" không ai có thể đụng vào…

Thật khó để liệt kê hết những phát ngôn gây sốc, thậm chí ngông cuồng của người nổi tiếng xuất hiện dày đặc trên mạng xã hội cũng như ngoài đời thường. Đáng bàn là những phát ngôn chợ búa, giật gân không phải lúc nào cũng đơn giản chỉ xuất phát từ tật xấu hay sự vô ý, vô tâm, thiếu cẩn trọng, mà nhiều khi là cố tình tô vẽ, tạo ra scandal để thu hút sự chú ý của nhiều người và đánh bóng bản thân. Nắm bắt tâm lý tò mò của một bộ phận dân chúng, các phát ngôn bạt mạng của một số người nổi tiếng liên tục được phát ra, và được chia sẻ lan truyền chóng mặt.

Thực tế người nổi tiếng luôn có sức hút, tầm ảnh hưởng mạnh mẽ với đám đông, thậm chí một số người còn được coi như thần tượng. Vì thế, sự xuống dốc về đạo đức, lối sống của một số người trong họ dù biểu hiện ở nhiều hình thức, mức độ khác nhau vẫn có nguy cơ không chỉ tạo nên sự hỗn loạn của những giá trị thật-ảo, gây ảnh hưởng đến uy tín của những người làm nghề chân chính mà nguy hiểm hơn còn tạo ra những tác động tiêu cực đến tâm lý, nhận thức của đám đông, đặc biệt là một bộ phận giới trẻ vốn dễ bị tác động, thích học và làm theo thần tượng. Những hành vi lệch chuẩn nếu xuất hiện một cách phổ biến mà không được cảnh tỉnh, chấn chỉnh kịp thời sẽ tiếp tục cổ súy cho những hành vi tương tự.

Sẽ nguy hại thế nào nếu một người đẹp chỉ nổi tiếng bằng cách khoe thân, phát ngôn gây sốc, cặp kè đại gia… cũng trở thành thần tượng của giới trẻ? Sẽ ảnh hưởng ra sao nếu người không mấy tài năng mà chỉ toàn tai tiếng cũng được tung hô, xưng tụng? Chúng ta đang nhìn thấy những cái giá quá đắt phải trả. Điều này lại càng nguy hiểm khi ngay cả những "giang hồ mạng" cũng trở thành những "idol" trên không gian ảo; bản sao của những kẻ chọn lối sống thực dụng, "đi tắt" bằng mọi giá để nổi tiếng, làm giàu nhanh chóng xuất hiện ngày càng nhiều…

Thời gian qua, với sự vào cuộc của lực lượng chức năng cùng các ban, ngành liên quan, nhiều người nổi tiếng có hành vi ứng xử vi phạm chuẩn mực đã bị xử lý nghiêm khắc. Tiêu biểu như một nữ MC từng đăng nội dung có dấu hiệu kích động, gây mâu thuẫn, hoang mang về công tác hỗ trợ chống dịch COVID-19 đã phải chịu xử phạt; một YouTuber nổi tiếng đã bị tuýt còi khi cung cấp, chia sẻ những thông tin nhảm nhí, độc hại, cổ súy mê tín dị đoan; một nam ca sĩ với những phát ngôn tục tĩu, vi phạm thuần phong mỹ tục đã bị cơ quan chức năng mời tới làm việc; một cựu người mẫu có biệt danh "thánh chửi" đã bị xử lý vi phạm… khá nhiều người nổi tiếng chia sẻ thông tin giả, chưa được kiểm chứng cũng đã bị phạt hành chính. Những động thái xử lý vi phạm này cho thấy dù chỉ là tư cách cá nhân cũng không có nghĩa là họ muốn phát biểu, đăng tải nội dung như thế nào cũng được mà cần phải tuân thủ luật pháp và đạo đức xã hội, nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh.

Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, hình thức xử phạt cho những vi phạm đạo đức trên môi trường mạng ở nước ta hiện vẫn còn quá nhẹ. Mức phạt hành chính là chủ yếu với mức chỉ vài triệu đồng, quá nhỏ so với mức thu nhập "khủng" của những người nổi tiếng nên hiệu quả răn đe không cao.

Nhìn sang một số quốc gia trong khu vực, dễ nhận ra cả nhà chức trách lẫn khán giả đều rất nghiêm khắc với những nghệ sĩ nổi tiếng nhưng có những lời nói, việc làm đi ngược đạo đức xã hội và các quy định của pháp luật. Bên cạnh sự vào cuộc của cơ quan chức năng thì thái độ phản đối, bài trừ quyết liệt đối với cá nhân có các hành vi thiếu chuẩn mực, vi phạm thuần phong mỹ tục cũng đã và đang phát huy tác dụng, góp phần tích cực trong việc chấn chỉnh những hành vi vi phạm đạo đức, văn hóa ở người nổi tiếng.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa qua đã ban hành Quy tắc ứng xử của người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật. Bên cạnh những quy tắc ứng xử chung, ứng xử trong hoạt động nghề nghiệp, trong việc tham gia các hoạt động xã hội, ứng xử với đồng nghiệp, công chúng, văn bản còn đưa ra những quy định ứng xử trên không gian mạng, cụ thể như cần bình luận, nhận xét đúng mực, có văn hóa, có trách nhiệm, trung thực trong phát ngôn, bày tỏ và chia sẻ quan điểm đúng đắn, khách quan; không đăng tải, chia sẻ và lan truyền các nội dung vi phạm pháp luật, thông tin sai sự thật, vi phạm bản quyền, thông tin chưa được kiểm chứng, xúc phạm danh dự, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân…

Trước đó, ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội với các quy tắc chung: tôn trọng, tuân thủ pháp luật; lành mạnh; an toàn, bảo mật thông tin; trách nhiệm. Đây là những quy tắc cần thiết giúp định hướng, điều chỉnh hành vi của người nổi tiếng theo phương châm lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận người nổi tiếng đã trở nên báo động, bên cạnh việc yêu cầu sự tự ý thức, tự thay đổi của từng cá nhân, cũng cần có thêm những chế tài xử lý đủ mạnh, đủ sức ngăn chặn những người có ý định vi phạm, hoặc tái phạm. Quan trọng không kém là cũng cần có những "bản án" nghiêm khắc từ dư luận. Sự lên án thẳng thắn, quyết liệt của công chúng với các hành vi phản cảm, từ chối tiếp nhận, tiêu thụ những sản phẩm, dự án, hoạt động có sự tham gia của những người tai tiếng sẽ tạo cơ hội để những người của công chúng thức tỉnh, nhìn nhận lại và điều chỉnh bản thân, hướng đến những hành vi đúng đắn, chuẩn mực, có những việc làm ý nghĩa đóng góp vào sự phát triển của xã hội./.

Nguồn: ST

 

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch xuyên tạc chống phá bản chất giai cấp công nhân của Đảng CSVN

 


Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tung ra rất nhiều luận điệu, trong đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau đây:

Một là, chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng của nông dân và trí thức. Bởi vì, nhìn vào đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam chủ yếu là nông dân và trí thức, còn GCCN chiếm số lượng rất nhỏ bé. Cho nên, Đảng có rất ít tính công nhân, mà mang đậm dấu ấn của tiểu tư sản. Hơn nữa, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến, nên GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Hai là, với cách diễn đạt về bản chất GCCN của Đảng như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) là hạ thấp bản chất GCCN của Đảng, là trượt sang quan điểm “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”.

Ba là, trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm cho Đảng biến chất, không còn mang bản chất GCCN.

Sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực này trước đây chỉ về mặt lý thuyết, nên tác hại của nó chỉ diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng. Sau khi GCCN đã giành được chính quyền, sự xuyên tạc, chống phá này đã được tiến hành một cách toàn diện và tác hại của nó diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Vậy, sự thật có đúng như các quan điểm trên không?

Trước hết, phải khẳng định rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.

Thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”(1).  

Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đa số những người lãnh đạo là trí thức, nhưng điều đó không có nghĩa là trí thức lãnh đạo và Đảng biến chất giai cấp. Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(2). Cách diễn đạt này là hoàn toàn đúng đắn, chứ không hề hạ thấp hay từ bỏ bản chất GCCN của Đảng, trượt sang “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”… như quan điểm của một số người. Bởi vì, về lý luận, đây không phải là lần đầu tiên Đảng ta khẳng định điều này. Trước đó, trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) đã khẳng định: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(3). Trong bài nói chuyện ở Trường Cán bộ Công đoàn (1-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”(4). Việc khẳng định bản chất GCCN của Đảng được thể hiện ở chỗ: nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng là tập trung dân chủ, liên hệ mật thiết với nhân dân, đoàn kết thống nhất trong Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển.

Về thực tiễn, không có bất kỳ một đảng chính trị nào ra đời, tồn tại và phát triển đều không mang bản chất của một giai cấp nhất định. Chính bản chất giai cấp của đảng quy định đảng đó đại diện cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội. Còn GCCN có sứ mệnh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng chế độ XHCN, đại biểu cho lợi ích của giai cấp và đại đa số nhân dân lao động. Khác với sự ra đời của Đảng Cộng sản ở các nước tư bản - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Điều kiện, đặc điểm ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam có tính đặc thù - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Điều đó đã khẳng định, ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của GCCN, đồng thời đại biểu cho lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Với cách diễn đạt như trên vừa thể hiện bản chất GCCN của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa nói lên nét đặc thù của Đảng theo sự phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của nhân dân - với tên gọi trìu mến Đảng ta

Trong điều kiện hiện nay, Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; chủ động hội nhập quốc tế; cùng với quá trình đó là nêu cao tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì càng cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng trong việc diễn đạt bản chất GCCN của Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng ta là một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Cách diễn đạt bản chất GCCN của Đảng như vậy, đòi hỏi Đảng chẳng những phải trung thành với GCCN, nâng cao lập trường, tư tưởng của GCCN, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân, phấn đấu vì lợi ích của cả giai cấp và dân tộc.

Thứ ba, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số đảng viên, cán bộ chủ chốt, cấp cao yếu kém về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; một số có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu và xa dân…trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính… Đây là thực tế đau lòng, đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Đảng cũng thừa nhận rằng, đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ. Điều này là trái với bản chất GCCN của Đảng, đã từng được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cảnh tỉnh về nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ dẫn đến kiêu ngạo, quan liêu, xa rời quần chúng.

Nhìn lại giai đoạn 1989-1991 ở một số nước XHCN cho thấy rằng, GCCN khi đã giành được chính quyền, nhưng do không quan tâm xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, bảo đảm tính tiên phong của GCCN nên đã làm cho đội ngũ phân hóa phức tạp; một bộ phận đảng viên mơ hồ về lập trường GCCN; dễ dàng ngã theo phái cơ hội chủ nghĩa. Một số khác gần như là một đẳng cấp có đặc quyền, đặc lợi, xa rời quần chúng và bị quần chúng xa lánh. Vì vậy, nhiều đảng đã mất tín nhiệm với GCCN, với nhân dân, và trước sự tấn công của kẻ thù, một số đảng đi đến chia rẽ và tan rã.

Việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm, thì tự họ đã tự đánh mất bản chất GCCN của đảng viên, có ảnh hưởng nhất định đối với Đảng, nhưng cũng không vì thế mà quy kết là Đảng đánh mất bản chất GCCN, và theo quy luật họ sẽ bị đào thải nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chính vì vậy, trong hai nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta ban hành liên tiếp các Nghị quyết chuyên đề liên quan đến những vấn đề cấp bách xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới. Đây là những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm trong những năm qua đã được các cơ quan của Đảng và Nhà nước tiến hành nghiêm túc, bài bản, hiệu quả, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, được nhân dân và dư luận xã hội đánh giá cao.

Không che dấu khuyết điểm, nhưng cũng phải khẳng định rằng, trước những khó khăn, thách thức lớn ở trong nước, những biến động bất lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, Đảng ta vẫn giữ vững bản chất khoa học và cách mạng của GCCN, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên trì đổi mới, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất, năng lực có bước trưởng thành đáng kể, đóng vai trò nòng cốt, đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần thành quả xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

HAIVAN

MỘT HÌNH ẢNH CHƯA TỪNG CÓ TRONG TIỀN LỆ SEAGAMS!

         Sau trận Thái Lan và Singapore kết thúc, toàn bộ các cầu thủ Thái Lan và trưởng đoàn U23 Thái Lan đã nán lại sân vận động Thiên Trường; đồng loạt giơ tay chào cảm ơn và thể hiện sự xúc động trước sự cổ vũ nhiệt tình của cổ động viên Nam Định dành cho U23 Thái Lan đến thi đấu Seagame tại Thiên Trường.

Ngoài ra, HLV U23 Singapore cũng bất ngờ khi cổ đông viên đã dành tình cảm cho các đội. Ông rất trân quý và cảm ơn về điều này. Ông phát biểu: "Tôi rất bất ngờ khi cổ động viên dành tình cảm cho tất cả các đội. Tôi trân quý và cảm ơn điều này".

Đây là một điều hiếm gặp ở trên bóng đá thế giới khi các đội khách đến thi đấu được sự ủng hộ cuồng nhiệt của khán giả nhà. Và điều này chỉ có ở Việt Nam./.

Yêu nước ST.

Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư bế mạc Hội nghị Trung ương 5

 

“Ra sức phấn đấu, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII”:

"Kính thưa Trung ương,

Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Ủy viên Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị đã tập trung công sức, trí tuệ, nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn, phát huy dân chủ, thảo luận thẳng thắn, sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc vào các tờ trình, báo cáo, đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình có sức thuyết phục những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhất trí cao thông qua các Nghị quyết và Kết luận của Hội nghị. Để kết thúc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, phát biểu, nhấn mạnh và làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng chủ yếu mà Hội nghị của chúng ta lần này đã đạt được.

1. Về vấn đề quản lý và sử dụng đất đai

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận và đã thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao". Trung ương cho rằng, cần phải kế thừa, bổ sung, phát triển Nghị quyết Trung ương 6 theo hướng tiếp tục khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội theo luật định, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất một cách công bằng, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo lãnh thổ quốc gia, cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với các địa phương.

Quyền sử dụng đất là quyền sử dụng một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; có chính sách để đất nông nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất. Thể chế, chính sách về đất đai phải được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có chính sách phù hợp đối với đối tượng, loại hình sử dụng đất để khơi dậy tiềm năng, phát huy cao nhất nguồn lực tài nguyên đất đai; kiên quyết khắc phục tình trạng đầu cơ đất, sử dụng đất không đúng mục đích, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực, gây khiếu kiện, bức xúc trong nhân dân.

Nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về đất đai. Hiện đại hóa công tác quản lý đất đai và dịch vụ công về đất đai. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai một cách tập trung, đồng bộ, thống nhất. Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. Đất đai phải được điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hóa, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; được quy hoạch sử dụng hợp lý, với tầm nhìn dài hạn, hài hòa lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền; giữa Trung ương và địa phương; giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Giải quyết tốt những bất cập, vướng mắc trong việc quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới đặt ra của thực tiễn.

Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, quán triệt đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Hội nghị Trung ương lần này đã đi sâu phân tích, đánh giá và thống nhất cao về các giải pháp, chủ trương, định hướng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa luật pháp, chính sách về đất đai, trước hết là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 và các luật pháp có liên quan để khắc phục những hạn chế, yếu kém tồn tại kéo dài lâu nay, đặc biệt là những hạn chế, yếu kém liên quan đến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư, thu hồi đất; chính sách tài chính đất đai và xác định giá đất; chế độ quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh, đất dành cho việc thờ tự, tôn giáo, nghĩa trang, nghĩa địa; quản lý nhà nước về đất đai...

Trung ương còn nhấn mạnh, trong quá trình tổ chức thực hiện, cần thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân để tạo sự đồng thuận, đưa chính sách, pháp luật về đất đai thực sự đi vào cuộc sống.

2. Về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận sôi nổi và cho nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm để hoàn thiện "Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn". Trung ương nhận thấy: Sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện, nhất là trong việc cơ cấu lại nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố, nâng cao.

Nông nghiệp đang tiếp tục được phát triển cả về quy mô và trình độ sản xuất, duy trì tăng trưởng ở mức khá cao và tiếp tục khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng, là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đang chuyển mạnh theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu; phát huy lợi thế vùng, miền, địa phương; chú trọng ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh ngày càng được hoàn thiện, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Tỉ lệ nông sản qua chế biến tăng dần; thị trường tiêu thụ được mở rộng cả trong và ngoài nước; xuất khẩu tăng nhanh cả về sản lượng, giá trị và tỉ trọng sản phẩm chất lượng cao. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.

Nông dân nước ta đã phát huy tốt hơn vai trò là chủ thể, tích cực trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ, tham gia hợp tác, liên kết, khôi phục và phát triển ngành nghề nông thôn; xây dựng nông thôn mới, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn. Thu nhập của nông dân ngày càng tăng, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được cải thiện; tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm nhanh; dân chủ cơ sở ngày càng được phát huy.

Nông thôn đang có nhiều thay đổi rõ rệt, khá toàn diện, thể hiện rõ vai trò là địa bàn chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ cấu kinh tế của khu vực nông thôn chuyển đổi tích cực; tỉ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ tăng khá. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ, nhận được sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, của toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp, đã về đích sớm hơn 1,5 năm so với mục tiêu đề ra.

Để tiếp tục phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, thực hiện thành công những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, chúng ta phải nhận thức thật đầy đủ và đúng đắn hơn nữa về vị trí, vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; coi đây là cơ sở và lực lượng đặc biệt quan trọng để phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam. Công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Nhà nước cần phải tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Phát triển hài hòa giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền; gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp; giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hóa theo hướng "nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh".

Khẳng định Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp. Chú trọng nâng cao trình độ, năng lực làm chủ của nông dân theo hướng phát triển toàn diện, văn minh; phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết, tự chủ, tự lực, tự cường, đổi mới sáng tạo; ý chí vươn lên, khát vọng xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc; có trình độ tổ chức sản xuất tiên tiến, nếp sống văn minh, trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường; được thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế - xã hội và tiếp cận các dịch vụ, tiệm cận với đô thị. Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và người dân nông thôn; lấy lợi ích của người dân là mục tiêu cao nhất.

Phải nhận thức và xác định rõ, nông nghiệp là một lợi thế của quốc gia, là trụ đỡ của nền kinh tế. Phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, minh bạch, trách nhiệm, tích hợp đa giá trị theo hướng giữ vững an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái; khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn. Phát huy lợi thế vùng, miền; tổ chức sản xuất, kinh doanh nông nghiệp theo chuỗi giá trị, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu. Chuyển mạnh từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh; phát triển cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu.

Xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, văn minh; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, kết nối với đô thị; có đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc; có môi trường xanh, sạch, đẹp; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cần chú trọng phát triển hài hòa, đồng bộ cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, gắn với cơ cấu lại lao động, tạo sinh kế, việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho nông dân và người dân nông thôn. Xây dựng nông thôn mới ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững. Quản lý, sử dụng một cách hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên đất, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững các hệ sinh thái. Chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu, bảo đảm an toàn cho người dân.

Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân và người dân nông thôn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát, phản biện và vận động đoàn viên, hội viên, người dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

3. Về vấn đề phát triển kinh tế tập thể

Hội nghị Trung ương lần này cũng đã thống nhất cao về sự cần thiết phải tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò và những kết quả quan trọng đã đạt được của kinh tế tập thể nước ta trong suốt 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX; đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân. Trung ương cho rằng, có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, đặc biệt là do: Nhận thức của nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, đảng viên và người dân về bản chất, vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chưa thật đầy đủ, thiếu thống nhất, thậm chí còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi định kiến về mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Việc lãnh đạo, chỉ đạo của nhiều cấp ủy đảng và chính quyền còn hình thức, chưa thực sự quan tâm, thậm chí còn lúng túng, hoài nghi về sự thành công của kinh tế tập thể. Công tác hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, xây dựng thể chế, chính sách còn chậm, thiếu cụ thể, hiệu quả chưa cao. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho kinh tế tập thể tuy đã có nhiều nhưng còn dàn trải, phân tán, chưa thống nhất, thiếu nguồn lực để tổ chức thực hiện. Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập thể chưa được kiện toàn, còn nhiều bất cập, không thống nhất, thiếu chặt chẽ, phân tán, hoạt động chưa hiệu quả; ở một số nơi còn tình trạng buông lỏng quản lý hoặc can thiệp quá sâu, không đúng đối với tính chất tổ chức, hoạt động của hợp tác xã; hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật về kinh tế tập thể chưa sâu sát, chưa thường xuyên. Việc đánh giá về hiệu quả và đóng góp của kinh tế tập thể còn phiến diện, thiên về mặt kinh tế, chưa chú ý đúng mức đến mặt chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường,... dẫn đến hạ thấp vai trò, vị trí của kinh tế tập thể trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Kinh tế tập thể, hợp tác xã phần lớn có quy mô còn nhỏ, năng lực nội tại còn yếu; đội ngũ cán bộ hợp tác xã cơ bản chưa được đào tạo chuyên sâu. Việc tổng kết lý luận và thực tiễn về kinh tế tập thể chưa kịp thời; tâm lý xã hội nói chung còn rất e ngại đối với kinh tế tập thể; thành viên hợp tác xã vẫn còn tâm lý ỷ lại, dựa dẫm lẫn nhau hoặc trông chờ sự trợ cấp của Nhà nước.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu, trong thời gian tới, phải tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc, đầy đủ, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết của Trung ương lần này về phát triển kinh tế tập thể phù hợp với yêu cầu và tính chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta. Phải thường xuyên quan tâm đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, mà nòng cốt là các hợp tác xã kiểu mới; coi đây là một thành phần kinh tế quan trọng cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Khẳng định phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu khách quan và phải xuất phát từ nhu cầu thiết thực của các thành viên; bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho các thành viên hăng say làm việc, lao động tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững; tôn trọng các giá trị, nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã, phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng vùng và của cả nước. Kinh tế tập thể có nhiều hình thức tổ chức, hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao (tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã...), trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Kinh tế tập thể phát triển dựa trên sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tổ chức; tổ chức hoạt động theo nguyên tắc đối nhân, không chỉ phụ thuộc vào vốn góp; phân phối theo mức độ tham gia dịch vụ, theo lao động và theo vốn góp. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm cả lợi ích của thành viên, của tập thể và lợi ích của xã hội, của Nhà nước; đồng thời coi trọng lợi ích về chính trị, văn hoá, xã hội trên địa bàn. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các cá nhân và pháp nhân, thành viên chính thức và thành viên liên kết, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn, góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, và quản lý dân chủ. Khuyến khích việc tích lũy và sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản chung trong tổ chức kinh tế hợp tác. Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng về chất lượng; bảo đảm sự hài hòa trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa bàn của nền kinh tế; có chính sách ưu tiên các tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức. Đánh giá hiệu quả của kinh tế tập thể phải toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh; về hiệu quả của tổ chức và của các thành viên. Phải nhận thức rõ: Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể, và coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Liên minh hợp tác xã phải phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia phát triển kinh tế tập thể.

4. Về vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên

Hội nghị đã thảo luận sôi nổi, tâm huyết và thống nhất cao về sự cần thiết phải tạo cho được sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất hơn nữa trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở; xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư cấp ủy có đủ năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị; nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên và chất lượng đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Trung ương đặc biệt nhấn mạnh: Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 và năm 2030 như đã đề ra, cần phải nâng cao hơn nữa sự thống nhất về nhận thức, và đổi mới, hành động quyết liệt hơn nữa. Cụ thể là:

Về nhận thức, phải xác định rõ tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Đội ngũ đảng viên có vai trò trực tiếp và là nhân tố cơ bản quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, đảng viên, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phải gắn liền với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phải lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Quá trình thực hiện phải thường xuyên kết hợp giữa xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với củng cố, chấn chỉnh cơ sở đảng yếu kém; coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đi đôi với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, vai trò tiên phong, gương mẫu trong sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cần tạo môi trường để đảng viên rèn luyện, phấn đấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, tính tiên phong, gương mẫu, thực hiện nghiêm các nguyên tắc về sinh hoạt đảng và lời thề của đảng viên khi vào Đảng. Phát huy thật tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội; tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên. Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện, bồi dưỡng quần chúng, đối tượng cảm tình đảng, trước khi vào Đảng phải thực sự là những quần chúng ưu tú không chỉ về năng lực công tác mà phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, lối sống, có động cơ trong sáng với phương châm "quý hồ tinh bất quý hồ đa". Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kịp thời và kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.

Về hành động, cần khẩn trương, nghiêm túc xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt các chương trình, kế hoạch hành động liên quan đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết lần này của Trung ương đã đề ra, như: Đổi mới, hoàn thiện tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác cho phù hợp với từng loại hình tổ chức cơ sở đảng. Xác định rõ những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt của đảng bộ, chi bộ; bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cấp uỷ viên các cấp...

Để thực hiện thành công mục tiêu, yêu cầu và các nhiệm vụ và giải pháp đề ra, Ban Tổ chức Trung ương và các Ban Đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc ở Trung ương cần sớm có hướng dẫn tổ chức thực hiện; các tỉnh, thành ủy, các đảng bộ trực thuộc Trung ương phải thực sự năng động, chủ động cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyếtcủa Trung ương đã đề ra, sao cho thật sát hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và đặc điểm của địa phương mình, ngành mình, cơ quan, đơn vị mình; và đặc biệt là từng cơ sở đảng phải đề ra và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với cơ sở mình. Từng đảng viên cũng phải xác định rõ bổn phận và trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của mình khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, không ngừng phấn đấu và rèn luyện bản lĩnh chính trị, tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, lối sống; thường xuyên tự phê bình và phê bình, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ có như vậy thì tổ chức đảng và đảng viên mới thật sự trong sạch, vững mạnh, có uy tín với quần chúng nhân dân. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, cần hết sức coi trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, qua đó kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến; kịp thời củng cố các tổ chức đảng yếu kém; xử lý nghiêm các đảng viên thoái hoá, biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua các hoạt động của mình, phát huy vai trò của đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh.

5. Về Báo cáo kết quả kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021

Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao sự chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm hết sức nghiêm túc, trách nhiệm, gương mẫu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; và hoàn toàn đồng tình, nhất trí cao với Báo cáo, đặc biệt là những bài học kinh nghiệm dẫn đến thành công của năm 2021 được rút ra, đó là: (1) Tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt là một tập thể đoàn kết, thống nhất, trên dưới đồng lòng, đã phát huy những bài học kinh nghiệm được rút ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm "dân là gốc"; lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, có bước đi phù hợp; chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (2) Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã bám sát Quy chế làm việc, Chương trình làm việc toàn khóa và Chương trình làm việc năm 2021, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành khoa học, phối hợp nhịp nhàng, thống nhất, không có tình trạng chồng chéo hoặc "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". (3) Phương thức lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có đổi mới, có sự phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, bảo đảm được sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trực tiếp, toàn diện.

Đồng thời, Trung ương cũng đồng tình, nhấn mạnh thêm sự cần thiết phải tập trung ưu tiên lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2022 do Bộ Chính trị, Ban Bí thư đề ra trong Báo cáo.

6. Về một số vấn đề quan trọng khác

Bên cạnh những vấn đề nêu trên đây, Ban Chấp hành Trung ương cũng đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong Đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu lực, hiệu quả cao hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần: "Trên Dưới đồng lòng, Dọc Ngang thông suốt!".

Tại Hội nghị này, Trung ương cũng đã nghe báo cáo chuyên đề về cuộc "Xung đột Nga - U-crai-na: Tác động quốc tế và những vấn đề đặt ra". Hội nghị đã biểu thị sự đồng tình, đánh giá cao về những chủ trương, quyết sách kịp thời, đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta trước những diễn biến mới rất phức tạp tại U-crai-na và trên thế giới; đồng thời yêu cầu phải tiếp tục theo dõi sát sao tình hình; dự báo các tình huống, khả năng có thể xẩy ra để chủ động có các phương án ứng phó kịp thời, phù hợp, có hiệu quả; giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực, theo đúng tinh thần "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế".

Thưa các đồng chí,

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thành công tốt đẹp, hoàn thành có chất lượng cao một khối lượng công việc lớn, rất quan trọng. Chúng ta đã bàn và nhất trí cao về nhiều chủ trương, định hướng cơ bản, quan trọng trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Thành công của Hội nghị Trung ương lần này, ngoài sự nỗ lực tích cực, đầy tinh thần trách nhiệm của các đồng chí Trung ương, các đồng chí tham dự Hội nghị, các cấp uỷ, chính quyền, các cơ quan và cán bộ tham mưu, còn có phần đóng góp quan trọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước, đặc biệt là các đồng chí cán bộ lão thành, các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, những người luôn luôn quan tâm, nhiệt tình hưởng ứng và có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, trí tuệ cho công việc chung của Đảng và Nhà nước. Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi xin trân trọng cảm ơn những tình cảm và sự đóng góp quý báu đó. Tôi tin tưởng rằng, với thành công của Hội nghị lần này và với truyền thống đoàn kết, nhất trí trong Đảng, trước hết là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự ủng hộ, hưởng ứng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất định chúng ta sẽ tổ chức thực hiện thành công các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này, góp phần từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng và nhân dân với niềm tin mới và khí thế mới.

Tôi xin trân trọng cảm ơn./."

HAIVAN

SÁNG MÃI PHẨM CHẤT “ BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

Sáng 10-5, xảy ra mưa lớn kéo dài tại khu vực xã Kim Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Cơn mưa đã làm cho nước sông Thảo dâng cao bất thường, gây lụt cục bộ tại một số địa bàn của xã, trong đó có thôn Đồng Rãng. 

Trước sự uy hiếp của dòng nước lũ đối với tính mạng, tài sản của người dân, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 đang thực hiện nhiệm vụ huấn luyện dã ngoại trên địa bàn đã nhanh chóng cơ động lực lượng giúp nhân dân sơ tán người và vật chất ra khỏi khu vực nguy hiểm.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Thiếu tá Trương Ngọc Danh, Phó trung đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn 18, gần 100 cán bộ, chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 18 đã phát huy tinh thần “tất cả vì tính mạng và tài sản của nhân dân”, dũng cảm dầm mình trong dòng nước lũ gần hai tiếng đồng hồ để vận chuyển người, tài sản, vật nuôi... đến nơi tập kết an toàn. Nhờ sự chủ động, kịp thời của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 18, địa bàn không xảy ra thiệt hại về người, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về tài sản của nhân dân. Đồng thời, đơn vị tiến hành tốt công tác dân vận, kịp thời nắm bắt, động viên tinh thần bà con, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị trên địa bàn.

Việc làm thiết thực, giàu ý nghĩa này của cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã được Đảng ủy, chính quyền và nhân dân xã Kim Sơn nói chung, thôn Đồng Rãng nói riêng ghi nhận và đánh giá cao. Đồng thời qua đó góp phần tô thắm thêm hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

HAIVAN 



Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 

“Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội ngày 11-5-1969. Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang huy động cao nhất mọi nguồn lực, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo Bác, có quyết tâm cao mới có hành động dũng cảm, có phương pháp tốt mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ; quyết tâm một, biện pháp phải 10 mới đi đến thành công. Vì vậy, Người nhắc nhở cán bộ quân đội trước hết phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn, phải học tập để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao trình độ về mọi mặt, làm cho ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Đây là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ quân đội phải luôn triệt để chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích hơn nữa trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, lời dạy của Người về lòng quyết tâm và ý thức trách nhiệm của cán bộ quân đội càng có ý nghĩa và giá trị nhân văn sâu sắc. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ quân đội luôn phát huy tốt tính tiền phong, gương mẫu, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Cán bộ luôn gần gũi bộ đội, quan tâm xây dựng động cơ, quyết tâm cao cho bộ đội; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

HAIVAN

"TỐT GỖ HƠN TỐT NƯỚC SƠN"


Nghị định số 144/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành cuối tháng 12-2020 quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn, không giới hạn số lượng các cuộc thi sắc đẹp trong một năm cũng như thẩm quyền thuộc về địa phương, đã tạo điều kiện cho hàng loạt cuộc thi hoa hậu, hoa khôi được tổ chức sau thời gian dài ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Theo thống kê chưa đầy đủ, sẽ có hơn 10 cuộc thi sắc đẹp được tổ chức trong năm 2022, đồng nghĩa sẽ có thêm hàng chục người đẹp đội vương miện cùng hàng trăm người đẹp có các giải phụ kèm theo ở những hạng mục khác nhau.

Như chúng ta đã biết, từ thời phong kiến, công-dung-ngôn-hạnh là một chuẩn mực đạo đức xã hội, là thước đo đánh giá người phụ nữ. Câu tục ngữ “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” mà ông cha ta vẫn thường răn dạy con cháu chính là đề cao nét đẹp bên trong, đề cao nội dung, bản chất hơn là hình thức bên ngoài, để nhắc nhở mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ ý thức được việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực của bản thân. Quan niệm đó cũng thường liên hệ đến người phụ nữ, vì họ được mệnh danh là phái đẹp. Sở dĩ nhắc đến điều này vì không phải cuộc thi sắc đẹp nào cũng mang đầy đủ ý nghĩa, giá trị xã hội tích cực. Bởi thực tế diễn ra, có không ít cuộc thi bị cơ quan chức năng dừng lại khi đêm chung kết cận kề, hoặc không công nhận kết quả, giá trị cuộc thi. Cùng với đó, đã có thí sinh sau những cuộc thi không chuyên rơi vào vòng lao lý vì cái bẫy, danh xưng người đẹp. Có dư luận cho rằng, một số cuộc thi sắc đẹp là cơ hội để “tuyển vợ cho đại gia” hay là “sân sau” của doanh nghiệp...

Để những cuộc thi sắc đẹp có ý nghĩa, giá trị xã hội tích cực, cũng là cơ hội để những cô gái trẻ với đầy đủ trí tuệ, sắc đẹp, bản lĩnh thể hiện mình, rất cần sự quản lý chặt chẽ từ phía cơ quan chức năng. Điều này cho thấy công tác thẩm định hồ sơ, điều kiện tổ chức cuộc thi phải thật kỹ lưỡng. Công tác phối hợp, hỗ trợ giữa chính quyền địa phương và đơn vị, tổ chức, cá nhân đứng ra tổ chức cuộc thi phải hết sức linh hoạt trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật. Một cuộc thi sắc đẹp chỉ thực sự có ý nghĩa khi chọn ra được người giành vương miện sở hữu đầy đủ tài-sắc, mang trọng trách như mục đích của cuộc thi hướng đến, đó là các giá trị chân-thiện-mỹ, đồng thời phải có ảnh hưởng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần cân đối việc định hướng tổ chức các cuộc thi sắc đẹp với những hoạt động an sinh xã hội. Làm được như vậy, các cuộc thi sắc đẹp không chỉ có tính chất giải trí mà còn có ý nghĩa xã hội nhân văn sâu sắc. 

-Nguồn: Quân đội nhân dân-

HẬN TỔ QUỐC NÀO ĐÂY???

 Hòa hợp dân tộc ở Việt Nam là một trong những truyền thống nhân văn, thể hiện ý nghĩa về sự đoàn kết và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. 

Thời gian qua, tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện tối đa để những người đã từng lầm đường, lạc lối trở về quê hương, góp phần xây dựng đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp đất nước ngày càng phát triển.

Trong số đó tiêu biểu như Nguyễn Cao Kỳ, Võ Đông Cung, Nguyễn Ngọc Lập, Hoàng Duy Hùng... và rất nhiều người đã từng bỏ Tổ quốc ra đi nhưng khi quay trở lại chính họ lại thấy 1 dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đầy tính nhân văn và tinh thần đoàn kết. 

Thế nhưng, trong khi cả dân tộc sống hạnh phúc, hòa bình dưới lá cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đa số kiều bào luôn hướng về Tổ quốc xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, giàu mạnh thì ở nước ngoài vẫn tồn tại một nhóm người như Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố Việt Tân lại gọi là "quốc hận".... 

Thế nào là quốc hận và hận quốc gia nào thì họ không trả lời được nhưng cứ đến ngày đất nước trọn niềm vui, ngày Bắc - Nam sum họp một nhà thì nhóm người này lại ôm cái "dẻ vàng" chẳng đại diện cho 1 quốc gia nào, rồi diễn những trò hề, rồi chạy lông nhông khắp nơi ở hải ngoại để tuyên truyền “quốc hận”.

Như thế này thì biết đến bao giờ trong tâm trí họ có cụm từ hòa hợp dân tộc đây?
---------
PV-TG. st


BIẾT TRÊN BIẾT DƯỚI!

Như mọi năm, cứ trong nước ăn mừng ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước thì một số ít người Mỹ gốc Việt lại tỏ ra đau buồn cho cái bát cơm bị hất đi của mình cách đây gần nửa thế kỷ. Dù anh em trong nước có mắng nhiếc 3/// như thế nào thì cũng phải thừa nhận một số ưu điểm của người ta, nhất là cách sống biết trên biết dưới.

Hình ảnh mới nhất của lễ tưởng niệm thì mọi người đều thấy rõ rồi. Không thể thiếu được cờ Mỹ. Nhưng lá cờ ngụy thì luôn phải treo dưới lá cờ Mỹ cả mét thể hiện sự trên dưới, phân tầng rõ ràng. Một sự biết điều, ngoan ngoãn như tính cách vốn có của mấy anh chị 3/// này.

Nhìn thấy 3/// dựng bản đồ Việt Nam lên có Hoàng Sa mà không biết những con người ở đó có thẹn với lịch sử, thẹn với dân tộc hay không? Khi chính trong vòng 20 năm tồn tại của cái chế độ ngụy này, không biết bao nhiêu chủ quyền biển đảo của nước ta bị nước ngoài xâm chiếm, trong đó có trọn vẹn chủ quyền Hoàng Sa. Khi Hoàng Sa bị chiếm, lực lượng không quân chuyên đi ném bom làng mạc, đồng bào mình cũng chỉ chờ cất cánh làm gỏi quân Trung Quốc khi quân Trung Quốc thời điểm đó hoàn toàn không có khả năng tác chiến trên không tại quần đảo Hoàng Sa. Nhưng không có cái gật đầu của Mỹ, máy bay lại tắt máy, bom lại được cất đi chờ ném xuống đồng bào, chiến sĩ ta. Ngoan, biết điều đến thế là cùng. Một đức tính trung thành với chủ hiếm có. 
--------------
PT-TG. St