Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

“Cố đấm ăn xôi” chiêu bài quen thuộc của Việt Tân

 

Chiến thắng 30-4-1975 là một cột mốc vĩ đại, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, cứ đến dịp quân và dân ta tổ chức kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), các tổ chức phản động, những kẻ lưu vong, hận thù dân tộc lại kêu gào:“Tháng Tư đen”, “Ngày Quốc hận”…

Điều hiển nhiên, “miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Đây không chỉ là sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn là sự khẳng định của cả lịch sử, của đất nước và con người Việt Nam. Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, theo hiệp định này nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền qua vĩ tuyến 17. Hai miền phải thống nhất trước tháng 7 năm 1956 bằng tổng tuyển cử “tự do và dân chủ”. Nước Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc và Việt Minh phải rút khỏi miền Nam trong thời hạn 300 ngày; thường dân có quyền lựa chọn muốn ở miền Bắc hay miền Nam, trong thời gian đó, họ được tự do đi lại. Nghiêm cấm quân đội nước ngoài xâm nhập lãnh thổ Việt Nam. Nhưng Pháp thâm độc, rút quân và để Mỹ nhảy vào Việt Nam, chúng đã ngang nhiên dựng lên chính quyền tay sai, vi phạm trắng trợn hiệp định đã ký kết. Chính quyền tay sai do Mỹ dựng lên hội tụ của những kẻ bán nước cầu vinh, những tên tay sai tàn ác nhất, có nhiều nợ máu với nhân dân, chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại sự nghiệp thống nhất Tổ quốc. Ngay những người lính Mỹ trực tiếp tham chiến cho đến những quan chức Mỹ, những kẻ ‘‘ đạo diễn’’ cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam đã phải thừa nhận: ‘‘Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam…’’ (Henry Kissinger, cự Ngoại trưởng Hoa Kỳ). Ngày 30-4-1975, với khí thế tấn công thần tốc, khi 5 cánh quân của quân Giải phóng tiến về Sài Gòn; khi chiếc xe tăng mang số hiệu 390 húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc Lập, lá cờ của Quân Giải phóng tung bay kiêu hãnh trên nóc Dinh Độc Lập, đánh đổ chính quyền tay sai của ngoại bang, đánh đổ những kẻ bán nước cầu vinh. Rõ ràng, Chiến thắng 30-4 là thắng lợi của chính nghĩa và tinh thần dân tộc quật cường; khát vọng hòa bình của một dân tộc yêu nước chưa bao giờ khuất phục trước đế quốc, ngoại bang xâm lược, niềm tự hào của tộc Việt Nam, của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới. Chiến thắng 30-4 là thắng lợi của cách mạng Việt Nam đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, giành lại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, Nam - Bắc sum họp một nhà sau gần một phần tư thế kỷ Nhân dân ta chịu nhiều đau thương, chia cắt. Sau ngày đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo Đảng đất nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách; đặc biệt, sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ nghèo nàn, bị tàn phá nặng nề do chiến tranh khốc liệt; đến nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia giàu, mạnh. Vị thế của Việt Nam đã khẳng định trên trường quốc tế. Đó là sản phẩm của sức sáng tạo, kết quả của quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; đồng thời, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, những kẻ tay sai bán nước năm xưa trốn chạy ra nước ngoài, sống lưu vong ở các nước cấu kết, hô hào dựng lên hội này, nhóm nọ, tổ chức kia rêu rao, gào thét rằng 30-4 là “Ngày quốc hận”, “Tháng Tư đen”. Chúng cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu phát triển đất nước, kích động lòng hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng đã lập ra các tổ chức phản động: “Việt Tân”, “Triều Đại Việt”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”…do một số sĩ quan chế độ Việt Nam cộng hòa cầm đầu, chống phá hết sức quyết liệt. Số đối tượng cực đoan trong nước móc nối với các phần tử lưu vong lập ra cái gọi “diễn đàn dân chủ” với các “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội Tù nhân lương tâm”… tán phát thông tin bịa đặt, xuyên tạc rất phản động hòng đánh tráo bản chất của cuộc chiến tranh chống xâm lược, giành độc lập dân tộc của Nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”, chiến tranh mang tính ý thức hệ”. Chúng đã cố tình phớt lờ ô nhục của những kẻ bán nước, làm tay sai cho đế quốc, cam phận làm“lính đánh thuê” để nhận những đồng tiền thấm máu nhân dân ta là tội ác! Đã không biết “quay đầu là bờ” mà tiếp tục tru tréo những luận điệu cũ mèn, phi lý theo kiểu "cố đấm ăn xôi"./.

Kiểm tra, giám sát - vũ khí sắc bén để Đảng ngày càng vững mạnh

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nghiêm túc nhìn nhận trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI, tháng 10/2012): “Bộ Chính trị, Ban Bí thư từ nhiều khóa nay có một số khuyết điểm lớn, đặc biệt là chưa ngăn chặn và khắc phục được tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Việc một số cán bộ cao cấp (cả đương chức và nguyên chức) có lúc, có việc còn biểu hiện chưa gương mẫu về đạo đức, lối sống của bản thân và gia đình, nói không đi đôi với làm, đã làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bản thân các đồng chí đó. Chưa tập trung chỉ đạo làm rõ, đánh giá đầy đủ thực chất tình hình để kịp thời có biện pháp kiên quyết khắc phục một số tiêu cực (như chạy chức, chạy quyền, chạy tội...) và một số trường hợp phân công, đề bạt cán bộ chưa chính xác, chưa được dư luận đồng tình”…

Sau hội nghị nêu trên, ngày 01/2/2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban. Trước đó nhiều năm, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng trực thuộc một cơ quan khác nên khó phát huy được hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo, đấu tranh với tham nhũng. Cùng với việc tái lập một số ban của Đảng như: Ban Nội chính Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương… thì việc phát huy tốt vai trò công tác kiểm tra, giám sát được coi trọng đúng mức. Qua đó, tính chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng cao hiệu lực, hiệu quả; thể hiện rất rõ trong việc hình thành và hoạt động của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực – mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương giữ vai trò cực kì quan trọng.

Với những quyết sách nêu trên, đồng thời phát huy tốt vai trò của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, trong nhiệm kì Đại hội XII và những năm đầu Đại hội XIII của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát nói chung, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, đã thu được những kết quả to lớn. Nhiều vụ án lớn, thậm chí là đại án tưởng chừng “chìm xuồng” đã được đưa ra ánh sáng, xác định được tập thể, cá nhân phải chịu trách nhiệm; không ít lãnh đạo cấp cao, kể cả Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị… bị xử lí kỉ luật Đảng, xử lí hành chính, thậm chí xử lý hình sự.

Phát huy những thành tựu và bài học kinh nghiệm nêu trên, Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 34 về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030. Kết luận nêu rõ mục tiêu, yêu cầu, giải pháp nhằm phát huy hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát. Trong đó, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đối với công tác kiểm tra, giám sát; Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; Chủ động dự báo, kịp thời ban hành các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật; Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra công minh, liêm chính; tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp đồng bộ, tinh gọn.

Đặc biệt, một trong những nhiệm vụ, giải pháp được nhấn mạnh trong Kết luận: “Chủ động nghiên cứu, tham mưu, ban hành các văn bản của Đảng bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, đồng thời tăng cường trách nhiệm, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kịp thời thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tạo sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức; hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm; phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực”.

Kiểm tra, giám sát là lĩnh vực công tác tối quan trọng của Đảng, có vai trò quyết định trong việc xây dựng chủ trương, đường lối cũng như triển khai, thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng; là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng...

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Có kiểm tra mới huy động tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”.

Cũng với tinh thần đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng (ngày 15/9/2021) đã phân tích một cách giản dị nhưng cực kì thuyết phục về vị trí, vai trò và tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát, kỉ luật của Đảng: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hoà thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp (nếp nhà): "Trên kính dưới nhường", tôn ti trật tự, không thể vô lễ, vô phép, "cá mè một lứa", "thượng hạ bằng đẳng"...; không có cái kiểu "nhà kia lối phép con khinh bố, mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng" như cụ Tú Xương đã từng phê phán; như thế là một gia đình vô phúc. Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có "Nội quy"; một tổ chức, đoàn thể phải có "Quy chế", có "Điều lệ"...

Nhìn lại kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, tiếp đó là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, chúng ta càng nhận thức rõ hơn nhiệm vụ cấp bách xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, công tác kiểm tra, giám sát giữ một vai trò cực kì quan trọng, để Đảng thêm trong sạch, vững mạnh./.

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo, đấu tranh với luận điệu sai trái

 

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam./.

Không thể bẻ cong lịch sử

 

Mỗi dịp tháng tư về, một số cá nhân, nhóm người Việt Nam ở nước ngoài lại đưa ra những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm như “tháng tư là tháng “vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận - tháng tư đen”, hoặc đòi vinh danh chế độ tay sai “Việt Nam Cộng hòa”, thậm chí là đòi chia đôi lại đất nước giống như trước 1975. Một số đối tượng đưa lên mạng xã hội những quan điểm sai trái, coi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta “thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào”. Đáng nói, một số người dù đã được nhân dân nuôi dưỡng, trải qua những năm tháng chiến tranh, giờ đây khi đã nghỉ hưu thì tự cho mình là người có quan điểm “cấp tiến”, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.

Tất cả những việc làm đó hướng đến mục đích làm sai lệch lịch sử, đối tượng hướng đến là giới trẻ, những người sinh ra sau ngày 30/4/1975 vốn không phải trải qua những năm tháng chiến tranh đau thương, mất mát để thấu hiểu ý nghĩa của độc lập, thống nhất và hòa bình.

 Ý đồ những luận điệu sai trái này nhằm mang đến cách nhìn lệch lạc, cho rằng chiến thắng 30/4/1975 và sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập kỷ là cái giá phải trả quá đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc đau thương, chậm phát triển đất nước. Từ đó, các đối tượng hướng lái vấn đề, quy trách nhiệm cho Đảng ta, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn. Đây là một nhận thức phi lịch sử, muốn phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên trì xây dựng. Cách nhìn của các đối tượng xấu muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, tính chất, bản chất sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức chính thể “Việt Nam cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng miền Nam 30/4/1975 là bằng chứng rõ ràng về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc.

Đó là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức, bóc lột nhân dân ta ở miền Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những “học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ.

Đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam cũng như chiến công của những người cộng sản.

Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới về ý chí, nghị lực, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất non sông. Khát vọng thống nhất non sông, bảo vệ chủ quyền đất nước là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với tính chính nghĩa làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại.

Quá khứ phải lùi lại, lịch sử sang trang mới. Tuy nhiên, có những sự kiện lịch sử thời gian càng lùi xa càng tỏa sáng, càng nghiền ngẫm càng nhận ra những giá trị mới mẻ, vĩ đại, càng có sức lôi cuốn, là động lực tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong các chặng đường cách mạng tiếp theo. Ngày toàn thắng 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là một trong những sự kiện huy hoàng như vậy.

Gần 50 năm đã trôi qua kể từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, thời gian càng lùi xa, chiến thắng 30/4/1975 của dân tộc Việt Nam càng nổi bật tầm vóc và ý nghĩa lịch sử. Các thế hệ người Việt Nam càng cảm nhận đầy đủ, sâu sắc hơn giá trị và bài học của chiến công chói lọi này.

Nhân dân Việt Nam luôn thiết tha, yêu chuộng hòa bình, khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc, không bao giờ mong muốn chiến tranh. Nhưng vì sinh mệnh và sự tồn vong của dân tộc, cũng như nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng đối với quốc tế mà nhân dân ta, cả hai miền Nam - Bắc, tiền tuyến và hậu phương buộc phải cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bao thế hệ ông cha đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do, để hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình, tự do, mưu cầu hạnh phúc, bạn bè quốc tế đến làm ăn, sinh sống, thăm thú trong thanh bình, cùng chung tay xây dựng một đất nước ngày càng thể hiện cơ đồ, vị thế trên trường quốc tế.

Ai đó, vì bất cứ lý do gì, có tư tưởng lệch lạc, có hành vi gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc./.

Lực lượng vũ trang ra quân bảo vệ người dân ở vùng lũ Lạng Sơn

 Thời tiết mưa lũ phức tạp, kéo dài gây ngập lụt nghiêm trọng tại nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. 

Sáng 10/5, nhiều nơi ở Lạng Sơn xuất hiện mưa lớn. Từ 1h đến 7h, lượng mưa ghi nhận được ở Bắc Sơn lên đến 216 mm, TP Lạng Sơn 116 mm, Mẫu Sơn 67 mm... Đợt mưa này xảy ra do ảnh hưởng của nam rãnh thấp kết hợp hội tụ gió trên cao.

Tính đến 10h sáng nay, mưa lớn khiến một người chết ở huyện Bắc Sơn do sạt lở đất vào nhà. Ngoài ra, 8 ngôi nhà bị sập đổ, 169 nhà ảnh hưởng do sạt lở và ngập úng. Riêng 43 hộ gia đình bị nước tràn vào nhà với độ sâu ngập 0,1-0,5 m, trong đó 27 hộ đã phải di dời.

Về nông nghiệp, hơn 1.500 ha lúa và hoa màu ngập cục bộ; 3 ha thủy sản và 6 con gia súc bị cuốn trôi. Trong khi đó, 13 cột điện đã bị đổ, gãy.

Mưa lũ cũng khiến nhiều tuyến đường ngập cục bộ, ách tắc ở khu vực các huyện Cao Lộc, Tràng Định, Văn Lãng, Bắc Sơn, Chí Lăng.

Hiện, lãnh đạo UBND tỉnh Lạng Sơn và Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai thành lập đoàn kiểm tra các địa bàn chịu thiệt hại; rà soát phương án chống thiên tai và tiếp tục cảnh báo về diễn biến mưa lớn để người dân chủ động ứng phó.

Sáng 10/5, mưa lớn khiến nhiều khu vực trũng, thấp của thành phố Lạng Sơn và cửa khẩu Cốc Nam ngập nặng nề. Ảnh: Đức Phú.

Giải cứu hơn 20 người bị mắc kẹt do mưa lũ ở Lạng Sơn - Ảnh 1.

Lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn

 Công an tỉnh Lạng Sơn đưa người dân bị mắc kẹt ra nơi an toàn - Ảnh: Công an cung cấp

Ông Hoàng Văn Thoan - chủ tịch UBND thị trấn Đồng Mỏ (huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn) - cho biết lực lượng cứu hộ, cứu nạn của tỉnh, huyện và địa phương vừa phối hợp giải cứu khoảng 20 người dân bị mắc kẹt trong nhà, không thể thoát ra ngoài do ảnh hưởng của mưa lũ.

Theo ông Thoan, trên địa bàn có mưa to cục bộ nên sáng nay nước sông Thương dâng cao gây ngập úng nhiều khu dân cư dọc hai bờ sông. Từ khoảng 6h đến 7h, nước lũ bất ngờ về nhanh, chảy mạnh, xiết và dâng cao khiến người dân không kịp trở tay.

Tại khu dân cư Hòa Bình 2 có 5-6 hộ dân, thôn Lũng Cút 5 người, khu Tiền Phong có 2 người,... bị mắc kẹt, chủ yếu là người già, trẻ nhỏ và phụ nữ.

Từ khoảng 7h sáng, lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn (Công an tỉnh Lạng Sơn), Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, lực lượng cứu hộ cứu nạn tại địa phương đã tới các khu dân cư có người mắc kẹt để đưa họ vào nơi an toàn.

Đáng chú ý, lực lượng cứu hộ cứu nạn giải cứu thành công một bé gái 8 tuổi bị lũ cuốn trôi.


 LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 11/5


       “ Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”.


           Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội năm 1969.


            Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang huy động cao nhất mọi nguồn lực, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo Bác, có quyết tâm cao mới có hành động dũng cảm, có phương pháp tốt mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ; quyết tâm một, biện pháp phải 10 mới đi đến thành công. Vì vậy, Người nhắc nhở cán bộ quân đội trước hết phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn, phải học tập để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao trình độ về mọi mặt, làm cho ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Đây là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ quân đội phải luôn triệt để chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích hơn nữa trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


          Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, lời dạy của Người về lòng quyết tâm và ý thức trách nhiệm của cán bộ quân đội càng có ý nghĩa và giá trị nhân văn sâu sắc. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ quân đội luôn phát huy tốt tính tiền phong, gương mẫu, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Cán bộ luôn gần gũi bộ đội, quan tâm xây dựng động cơ, quyết tâm cao cho bộ đội; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.

 VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÒNG, CHỐNG MÊ TÍN, DỊ ĐOAN

🍁🍂🍁🍂🍁🍂🍁🍂🍁🍂

Một trong những trăn trở của không ít cán bộ, đảng viên hiện nay là tham gia đời sống tâm linh như thế nào cho phù hợp, để không vi phạm Điều 19 của Quy định số 37-QĐ/TW “về những điều đảng viên không được làm”: “Mê tín, hoạt động mê tín, ủng hộ hoặc tham gia các tôn giáo bất hợp pháp hoặc lợi dụng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng để trục lợi”.

Ranh giới giữa hoạt động tâm linh với hoạt động mê tín, dị đoan thường rất mỏng manh. Định hình được ranh giới ấy, cán bộ, đảng viên sẽ thấy thoải mái, tự tin hơn trong tham gia các hoạt động tâm linh...

Mỗi dịp Tết đến, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn.

Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân-thiện-mỹ mãnh liệt.

Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ.


Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp.

Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng.

Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.

Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.

Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”.

Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

 ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 


Dù thời thế có đổi thay, nhưng mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta là không bao giờ thay đổi.


Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam luôn là một trong những chủ đề thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước quan tâm. Vấn đề này một lần nữa được đề cập và phân tích sâu sắc, đầy sức thuyết phục trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. 


Dù thời thế có đổi thay, nhưng mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta là không bao giờ thay đổi. Độc lập dân tộc là điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, ngược lại chủ nghĩa xã hội là điều kiện để đảm bảo độc lập dân tộc. Vì đây là mục tiêu đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đương nhiên, vấn đề không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà điều không kém phần quan trọng là phải tìm ra giải pháp, bước đi, cách làm khoa học, sáng tạo nhằm thực hiện cho bằng được mục tiêu, lý tưởng đã xác định. Chủ nghĩa xã hội của chúng ta xây dựng là chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa xã hội đổi mới đúng đắn trên tinh thần phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn đất nước. Với những đặc trưng và phương hướng, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có giá trị khoa học và thực tiễn rất to lớn, là định hướng chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, để tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, phát huy sức mạng tổng hợp trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Việt Nam net.vn

 Khẳng định vị thế, tầm vóc và trách nhiệm Việt Nam

                     ---------------

Nhận lời mời của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joseph Robinette Biden Jr., Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng lãnh đạo các nước ASEAN dự Hội nghị Cấp cao đặc biệt kỷ niệm 45 năm quan hệ ASEAN-Hoa Kỳ trong hai ngày 12 và 13-5 tại thủ đô Washington D.C, Hoa Kỳ.


Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam thăm, làm việc tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc (LHQ) từ ngày 11 đến 17-5.


Quan hệ đối thoại ASEAN-Hoa Kỳ chính thức thiết lập năm 1977, trải qua nhiều giai đoạn và đạt kết quả khả quan trên các bình diện khác nhau, cả trong hợp tác chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội. Hai bên đã nâng cấp lên Đối tác chiến lược tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Hoa Kỳ lần 3 ngày 21-11-2015. Hoa Kỳ thành lập Phái đoàn Đại diện thường trực tại ASEAN vào tháng 6-2010 và cử Đại sứ chuyên trách tại ASEAN vào tháng 4-2011.


Hiện nay, quan hệ ASEAN-Hoa Kỳ bao gồm các cơ chế như: Hội nghị Cấp cao thường niên, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao (PMC) ASEAN-Hoa Kỳ, Đối thoại ASEAN-Hoa Kỳ cấp Thứ trưởng Ngoại giao/Quan chức Cao cấp (SOM), Ủy ban Hợp tác chung (JCC) và các hội nghị, cuộc họp hợp tác chuyên ngành các cấp. Hai bên triển khai hợp tác toàn diện trên tất cả lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội và hợp tác phát triển, thực hiện dựa trên Kế hoạch Hành động ASEAN-Hoa Kỳ giai đoạn 2021-2025. Ngoài các Hội nghị Cấp cao thường niên từ năm 2013, hai bên cũng tổ chức Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ (tại Sunnylands, Hoa Kỳ, tháng 2-2016) và Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 40 năm quan hệ đối thoại ASEAN-Hoa Kỳ (tại Manila, Philippines, ngày 13-11-2017).


Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ lần này tại Washington D.C là sự tiếp nối trao đổi cấp cao giữa hai bên, khẳng định những cam kết của ASEAN và Hoa Kỳ về hợp tác xây dựng lòng tin, thúc đẩy quan hệ kinh tế-thương mại và tăng cường giao lưu nhân dân. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam dự hội nghị.


Tại hội nghị này, dự kiến lãnh đạo các nước ASEAN và Tổng thống Hoa Kỳ sẽ cùng nhìn lại và đánh giá tổng thể chặng đường quan hệ đối tác hai bên trong 45 năm qua và đề ra những định hướng quan trọng phát triển quan hệ ASEAN-Hoa Kỳ trong thời gian tới, đồng thời dành thời gian trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Ngoài ra, ASEAN và Hoa Kỳ cũng sẽ có các phiên thảo luận riêng, chuyên sâu về những nội dung hợp tác cùng quan tâm như: Kinh tế, thương mại, đầu tư, hợp tác và an ninh biển, ứng phó và phục hồi sau đại dịch, ứng phó với biến đổi khí hậu, năng lượng, khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng bền vững....


Sau 27 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã chứng kiến những bước tiến dài trên cơ sở cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau. Hai nước đã xác lập quan hệ Đối tác toàn diện vào năm 2013. Với Việt Nam, Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu. Trong khi đó, Hoa Kỳ nhiều lần khẳng định ủng hộ một Việt Nam độc lập và phát triển giàu mạnh, mong muốn đưa quan hệ giữa hai nước lên một tầm mức mới. Hiện nay, Hoa Kỳ cũng là nhà đầu tư lớn tại Việt Nam, kim ngạch thương mại song phương tiếp tục tăng nhanh và ổn định.


Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ thời gian qua tiếp tục đà phát triển tích cực. Lãnh đạo hai bên duy trì tiếp xúc và điện đàm ở các cấp, đặc biệt Việt Nam đã tổ chức thành công các hoạt động của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bên lề Đại hội đồng LHQ (tháng 9-2021) và các cuộc gặp của Thủ tướng Phạm Minh Chính với Tổng thống Joe Biden và Đặc phái viên John Kerry bên lề Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (COP26) vào tháng 10-2021. Hợp tác Việt Nam-Hoa Kỳ trên các lĩnh vực như: Kinh tế-thương mại-đầu tư, giáo dục, hợp tác quốc phòng-an ninh, khắc phục hậu quả chiến tranh... tiếp tục được duy trì và thúc đẩy. Hai bên cũng tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như: Ứng phó với biến đổi khí hậu; giáo dục-đào tạo, trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.


Đặc biệt, thời gian gần đây, hai nước đã tích cực hợp tác trong phòng, chống dịch Covid-19 và phục hồi sau đại dịch. Hoa Kỳ đứng đầu trong số các nước cung cấp vaccine cho Việt Nam thông qua cơ chế COVAX, cụ thể là đã viện trợ gần 40 triệu liều vaccine cho Việt Nam thông qua cơ chế này cùng nhiều vật tư, thiết bị y tế phòng, chống dịch khác. Đáp lại, khi tình hình chống dịch tại Hoa Kỳ cấp bách, Việt Nam đã hỗ trợ Hoa Kỳ thiết bị bảo hộ cá nhân và khẩu trang vải kháng khuẩn, được phía Hoa Kỳ trân trọng và đánh giá cao.


Trong khi đó, việc thúc đẩy quan hệ với LHQ được xác định là một trong những trọng tâm của đối ngoại đa phương Việt Nam qua các thời kỳ. Trong gần 45 năm qua kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập LHQ (tháng 9-1977), quan hệ giữa hai bên đã phát triển tốt đẹp, gặt hái được nhiều thành tựu. Việt Nam luôn là thành viên trách nhiệm, tích cực đóng góp vào các nỗ lực chung của LHQ, nổi bật là thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs), tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình LHQ, đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 và vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, qua đó khẳng định vị thế và tầm vóc mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Quan hệ hợp tác Việt Nam-LHQ trong những năm qua cũng góp phần bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia-dân tộc của Việt Nam, nhất là duy trì, củng cố môi trường hòa bình, an ninh và thuận lợi cho phát triển đất nước; thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng hơn và góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế; làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với các nước, các đối tác chủ chốt và bạn bè và tranh thủ một nguồn lực quan trọng phục vụ công cuộc phát triển đất nước.


Ở chiều ngược lại, hệ thống phát triển LHQ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Việt Nam phát triển kinh tế-xã hội. Các tổ chức LHQ, nhất là Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) và Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) đã tích cực hỗ trợ Việt Nam trong việc ứng phó với đại dịch Covid-19. Hiện hai bên đã thông qua Khung hợp tác chiến lược giữa Việt Nam và LHQ giai đoạn 2022-2026 với các lĩnh vực trọng tâm là phát triển xã hội bao trùm, chống chịu với biến đổi khí hậu, thiên tai và bền vững môi trường, chuyển đổi nền kinh tế và quản trị với tổng ngân sách là hơn 542 triệu USD, tăng hơn 100 triệu USD so với giai đoạn 2017-2021.


Có thể nói, những kết quả này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những nỗ lực chung của Việt Nam và LHQ trong việc khắc phục những mặt còn tồn tại, mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác hai bên, hỗ trợ tích cực cho công cuộc phát triển đất nước, hội nhập quốc tế của Việt Nam và góp phần nâng cao vai trò của LHQ trong thời kỳ mới.


Cần nhấn mạnh rằng, chuyến công tác lần này của Thủ tướng Phạm Minh Chính nhằm triển khai đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, góp phần khẳng định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; khẳng định vị thế và trách nhiệm của Việt Nam trong ASEAN, đề cao vị trí và vai trò trung tâm của ASEAN, đồng thời thúc đẩy hợp tác với Hoa Kỳ-một đối tác quan trọng của ASEAN. Bên cạnh đó, chuyến công tác cũng góp phần tạo động lực thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ phát triển hiệu quả, đi vào chiều sâu, ổn định lâu dài trên tất cả lĩnh vực; góp phần củng cố quan hệ hợp tác toàn diện, hiệu quả giữa Việt Nam và LHQ, thể hiện cam kết mạnh mẽ, đóng góp tích cực của Việt Nam với hòa bình và ổn định trên thế giới...


Với những ý nghĩa quan trọng đó, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính là cơ hội để một lần nữa khẳng định vị thế, tầm vóc của đất nước và chứng tỏ vai trò, trách nhiệm của Việt Nam đối với hợp tác trong khu vực cũng như trên thế giới./.

QĐND

 Hội nghị Trung ương 5 quyết định nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế và xây dựng Đảng


Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc chiều 10/5.


Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị.

Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội điều hành phiên bế mạc.


Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị về các báo cáo tổng kết: 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.


Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị về các đề án: xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên; thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021; Dự thảo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.


Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng chủ yếu mà Hội nghị đã đạt được.


Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất

Tổng Bí thư nêu rõ, sau khi dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao". Trung ương khẳng định, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; có chính sách để đất nông nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất. Khơi dậy tiềm năng, phát huy cao nhất nguồn lực tài nguyên đất đai; kiên quyết khắc phục tình trạng đầu cơ đất, sử dụng đất không đúng mục đích, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực, gây khiếu kiện, bức xúc trong nhân dân.


Tổng Bí thư nhấn mạnh, nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về đất đai. Hiện đại hóa công tác quản lý đất đai và dịch vụ công về đất đai. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai một cách tập trung, đồng bộ, thống nhất. Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. Đất đai phải được điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hóa, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; được quy hoạch sử dụng hợp lý, với tầm nhìn dài hạn, hài hòa lợi ích giữa các thế hệ, các vùng, miền, giữa Trung ương và địa phương; giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Giải quyết tốt những bất cập, vướng mắc trong việc quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới đặt ra của thực tiễn, v.v.


Xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc


Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Trung ương nhận thấy sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết, nông nghiệp đang tiếp tục được phát triển cả về quy mô và trình độ sản xuất, duy trì tăng trưởng ở mức khá cao và tiếp tục khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng, là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.


Tổng Bí thư lưu ý, để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, chúng ta phải nhận thức thật đầy đủ và đúng đắn hơn nữa về vị trí, vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và người dân nông thôn; lấy lợi ích của người dân là mục tiêu cao nhất.


Xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, văn minh; có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ, kết nối với đô thị; có đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc; có môi trường xanh, sạch, đẹp; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Xây dựng nông thôn mới ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững. Quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên đất, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững các hệ sinh thái. Chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu, bảo đảm an toàn cho người dân,...


Nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác

Trung ương thống nhất, trong thời gian tới phải thường xuyên quan tâm đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, mà nòng cốt là các hợp tác xã kiểu mới; coi đây là một thành phần kinh tế quan trọng cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

Tổng Bí thư khẳng định phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu khách quan và phải xuất phát từ nhu cầu thiết thực của các thành viên; bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho các thành viên hăng say làm việc, lao động tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững; tôn trọng các giá trị, nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã, phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế-xã hội của từng địa phương, từng vùng và của cả nước. Kinh tế tập thể có nhiều hình thức tổ chức, hợp tác đa dạng, phát triển từ thấp đến cao (tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã...), trong đó hợp tác xã là nòng cốt.


Kinh tế tập thể phát triển dựa trên sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tổ chức; tổ chức hoạt động theo nguyên tắc đối nhân, không chỉ phụ thuộc vào vốn góp; phân phối theo mức độ tham gia dịch vụ, theo lao động và theo vốn góp. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm cả lợi ích của thành viên, của tập thể và lợi ích của xã hội, của Nhà nước; đồng thời coi trọng lợi ích về chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm các cá nhân và pháp nhân, thành viên chính thức và thành viên liên kết, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn, góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, và quản lý dân chủ. Khuyến khích việc tích lũy và sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản chung trong tổ chức kinh tế hợp tác. Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng về chất lượng; bảo đảm sự hài hòa trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa bàn của nền kinh tế; có chính sách ưu tiên các tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức,…, Tổng Bí thư nhấn mạnh.


Xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở


Hội nghị thống nhất cao về sự cần thiết phải tạo cho được sự chuyển biến mạnh mẽ và thực chất hơn nữa trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng ta và hệ thống chính trị ở nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện từ gốc, từ cơ sở; xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, nhất là bí thư cấp ủy có đủ năng lực, uy tín lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị; nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên và chất lượng đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Trung ương đặc biệt nhấn mạnh: cần phải nâng cao hơn nữa sự thống nhất về nhận thức, và đổi mới, hành động quyết liệt hơn nữa.


Tổng Bí thư nhấn mạnh, cần khẩn trương, nghiêm túc xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt các chương trình, kế hoạch hành động liên quan đến việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết lần này của Trung ương đã đề ra, như: Đổi mới, hoàn thiện tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác cho phù hợp với từng loại hình tổ chức cơ sở đảng.


Để thực hiện thành công mục tiêu, yêu cầu và các nhiệm vụ và giải pháp đề ra, các cơ quan liên quan cần sớm có hướng dẫn tổ chức thực hiện; các tỉnh, thành ủy, các đảng bộ trực thuộc Trung ương phải thực sự năng động, chủ động cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết đã đề ra, sao cho thật sát hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và đặc điểm của địa phương mình, ngành mình, cơ quan, đơn vị mình. Đặc biệt là từng cơ sở đảng phải đề ra và tổ chức thực hiện thật nghiêm, thật tốt những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với cơ sở mình. Từng đảng viên cũng phải xác định rõ bổn phận và trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của mình khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, không ngừng phấn đấu và rèn luyện bản lĩnh chính trị, tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, lối sống; thường xuyên tự phê bình và phê bình, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, cần hết sức coi trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, qua đó kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến; kịp thời củng cố các tổ chức đảng yếu kém; xử lý nghiêm các đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật đảng.


Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt là một tập thể đoàn kết, trên dưới đồng lòng

Tổng Bí thư cho biết, Ban Chấp hành Trung ương đánh giá cao sự chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm hết sức nghiêm túc, trách nhiệm, gương mẫu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; và hoàn toàn đồng tình, nhất trí cao với Báo cáo, đặc biệt là những bài học kinh nghiệm dẫn đến thành công của năm 2021 được rút ra, đó là:


(1) Tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt là một tập thể đoàn kết, thống nhất, trên dưới đồng lòng, đã phát huy những bài học kinh nghiệm được rút ra tại Đại hội XIII của Đảng; tập trung chỉ đạo triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm "dân là gốc"; lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, có bước đi phù hợp; chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


(2) Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã bám sát Quy chế làm việc, Chương trình làm việc toàn khóa và Chương trình làm việc năm 2021, bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành khoa học, phối hợp nhịp nhàng, thống nhất, không có tình trạng chồng chéo hoặc "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược".


(3) Phương thức lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có đổi mới, có sự phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, bảo đảm được sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trực tiếp, toàn diện.

Thống nhất rất cao việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.


Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong Đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu lực, hiệu quả cao hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần: "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!".


Tại Hội nghị, Trung ương đã nghe báo cáo chuyên đề về cuộc "Xung đột Nga - Ukraine: Tác động quốc tế và những vấn đề đặt ra".

Tổng Bí thư nhấn mạnh, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thành công tốt đẹp, hoàn thành có chất lượng cao một khối lượng công việc lớn, rất quan trọng. Đồng chí tin tưởng rằng, với thành công của Hội nghị lần này và với truyền thống đoàn kết, nhất trí trong Đảng, trước hết là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự ủng hộ, hưởng ứng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất định chúng ta sẽ tổ chức thực hiện thành công các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này, góp phần từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.


Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch; đổi mới nội dung, phương thức công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch thì việc nhận diện các loại quan điểm sai trái, thù địch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Những luận điệu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị chống phá Đảng và Nhà nước ta; nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch

 

 

Trong nhiệm kỳ qua, nhằm thực hiện “Diễn biến hòa bình” đối với nước ta, các thế lực thù địch đã triệt để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch hòng xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng triệt để lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện quan trọng như: Đại hội đảng các cấp, các ngày lễ trọng đại của đất nước…hòng gây nhiễu loạn thông tin, hoang mang tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; kích động chia rẽ nội bộ từ đó gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, từng bước đưa nước ta đi theo quỹ đạo của các nước phương tây.

Bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ trong tình hình mới

 

 

Xuất phát từ lòng yêu thương, sự tin tưởng đối với thế hệ trẻ kết hợp với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những di sản tư tưởng có giá trị về chiến lược xây dựng thế hệ trẻ: phải coi trọng giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ có đạo đức, có tri thức văn hoá, khoa học và kỹ thuật giỏi, làm cho họ là những người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

SỰ TRƯỜNG TỒN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

 

 Hầu hết những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn thường lập luận, thế giới ngày nay đã phát triển vượt bậc, mọi thứ đều đã khác, hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được so với hệ thống tư bản chủ nghĩa thời C.Mác nghiên cứu, do đó chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, tư tưởng của C.Mác không còn phù hợp! Nhưng những lời chống đối ấy đã cố tình lờ đi sự thật là: Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự phê phán sâu sắc nhất, khoa học nhất đối với những bất công, bất bình đẳng. Đó là hệ tư tưởng phản biện duy nhất đã và đang làm thay đổi thế giới theo hướng ngày càng công bằng và tốt đẹp hơn. Cũng có nghĩa, chừng nào xã hội hiện đại còn có những bế tắc, khủng hoảng thì chừng đó chủ Nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại và phát triển cấp tiến hơn. Một điều chắc chắn là các thế hệ tiếp nối tư tưởng đương nhiên sẽ làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời.

 Chúng ta thấy rằng, những điều tưởng như hiển nhiên trong cuộc sống của loài người hôm nay như: trẻ em được đến trường chứ không phải đi làm; phụ nữ được giải phóng và bình đẳng với nam giới; người lao động làm việc 8h một ngày, thời gian rảnh không bị ai quản thúc; y tế được chăm sóc toàn dân; giáo dục được phổ cập; người nghèo được quan tâm, người có hoàn cảnh đặc biệt được chia sẻ...tất cả những điều tưởng chừng như hiển nhiên hôm nay không phải ngẫu nhiên có được mà chính sự thật là nhờ sự thức tỉnh được chỉ ra từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta phải biết ơn Mác và những nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi chính họ mang đến, gieo mầm để những sự thật tốt đẹp đó từng ngày hiển hiện khắp hành tinh.

Khác với tất cả các học thuyết trước đó hoàn toàn chỉ là nhận thức thế giới, với chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề không chỉ có nhận thức, mà điều quan trọng phải là cải tạo thế giới, nghĩa là làm cho thế giới thay đổi, làm cho thế giới tốt đẹp hơn. C.Mác luôn ý thức được bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống tư bản chủ nghĩa mà ông phản bác. Chính nhờ C.Mác mà loài người có được những khái niệm về các hình thái lịch sử khác nhau đã song hành hoặc kế tục nhau tồn tại của tư bản: tư bản thương mại, tư bản nông nghiệp, tư bản công nghiệp, tư bản độc quyền, tư bản tài chính, đế quốc… C. Mác còn nhìn thấy trước được cái mà giờ đây chúng ta gọi là “toàn cầu hóa”.

 Sự thật là, tại thời điểm C.Mác và Ph.Ăngghen viết Tuyên ngôn đảng Cộng sản, ở khắp Châu Âu và Hoa Kỳ, trẻ em từ 5 đến 14 tuổi phải làm việc phổ biến trong các ngành nông nghiệp, nhà máy, hầm mỏ hay bán báo, thậm chí phải làm đến 12h/ngày. Tuyên ngôn Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen đã không khoan nhượng tình trạng ấy, các ông yêu cầu giáo dục miễn phí cho trẻ em trong các trường học công và xóa bỏ bóc lột trẻ em trong các nhà máy. Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác đã khởi xướng và bắt nhịp cho dàn đồng ca khắp thế giới để ngăn chặn chấp dứt lao động trẻ em và đưa trẻ đến trường. Cũng chính ở thời điểm đó, người phụ nữ ở Mỹ và các nước Châu Âu vốn có địa vị thấp kém hơn so với đàn ông, họ bị coi như nô lệ trong gia đình, thậm chí bị coi như là một món món hàng để giới tư sản mua bán, trao đổi, quyền công dân của họ bị tước bỏ, không được bỏ phiếu bầu cử và cũng chẳng được tham gia bất cứ hoạt động chính trị nào. C.Mác và Ph.Ăngghen đã tố cáo gay gắt sự bất công ấy, nhưng quan trong hơn, các ông không chỉ vách trần nguồn gốc sự bóc lột tư bản đối với nữ giới mà còn chỉ ra con đường giải phong phụ nữ thành công. Đó là một tầm cao mà tại thời điểm đó tư tưởng nhân loại chưa thể vươn tới.

Đối với nhân loại cần lao, quyền bình đẳng là cái mà họ phải phấn đấu đấu tranh cả đời, nên ai ai cũng rất hiểu và thấm thía. Khi ấy giới tư bản chỉ tập trung làm giầu trong một số ít giai cấp tư sản, còn đại bộ phận nhân dân không được bảo vệ trước áp bức, bất công. Nơi nào có áp bức tất yếu nơi đó có đấu tranh. Dự báo của C.Mác về việc đấu tranh rút ngăn thời gian lao động từ 14, 15h/ngày xuống còn 8h/ngày trở thành mục tiêu quan trọng được tuyên bố trong Quốc tế Cộng sản I, sau này tiếp tục được nêu trong Quốc tế Cộng sản II để rồi từ ngày 1/5/1890, Quốc tế lao động đầu tiên ra đời với quy mô toàn thế giới cùng hiệp lực, cùng đấu tranh đã biến ngày làm 8h thành hiện thực. 

Có lẽ chính bởi sự vạch trần và phê phán gay gắt, quyết liệt đến tận cốt tử về bản chất của CNTB nên CNTB trở lên thù hận Chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí họ còn ngông cuồng coi đó như là một bóng ma cần phải trừ khử. Thế nhưng chính sự phê phán của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khiến CNTB tự biến đổi, tự sửa chữa những sai lầm của mình như, xây dựng các nhà nước phúc lợi hay tìm cách thu hẹp khoảng cách giầu nghèo nhằm điều hòa mâu thuẫn xã hội, mâu thuấn giai cấp. Thực tế CNTB không phải đi từ tờ giấy trắng để có sự tốt đẹp. Để có thành tựu hôm nay, CNTB đã để lại trên con đường đi của mình biết bao mồ hôi, xương máu của con người. Biết bao người da đen, da đỏ, da vàng đã phải bị giết chóc, tù đầy, biết bao người lao động đã bị hành hạ, bóc lột đến tận xương tủy…để họ xây dựng chế độ như ngày nay? 

Jacques Derrida, một nhà triết học người Pháp viết trong tác phẩm “Những bóng ma của Mác” cho rằng: "con người trong xã hội hiện đại, dù là những người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin hay những người phê phán C.Mác cũng gắn chặt với C.Mác. Sẽ không thể có tương lai nếu không có các di sản của C.Mác". Ông khẳng định: “cần phải trở về với Mác để chống lại cái "trật tự thế giới mới" của thị trường tư bản chủ nghĩa”. Còn Tery Eagleton, giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste Vương quốc Anh thì viết trong cuốn “Vì sao Mác đúng?” rằng: "Chủ nghĩa Mác giống như bác sỹ, khi mà cơ thể khỏe mạnh sẽ không để ý, song một khi CNTB gặp vấn đề nghiêm trọng thì chủ nghĩa Mác lại phát huy tác dụng phê phán vốn có của mình. Chính Mác đã thúc đẩy những thay đỏi tích cực của các nước tư bản". Đối với các đảng cộng sản, đảng công nhân, đảng dân chủ xã hội và loài người tiến bộ, hàng tỉ người trên khắp thế giới vẫn khẳng định học thuyết của C.Mác có giá trị thời đại, vững bền.

Linh hồn và sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là phương pháp luận, những đòi hỏi đổi mới và sáng tạo không ngừng. Nhưng nguyên lý này không chỉ đúng trong thế kỷ trước, trong thế kỷ này mà còn đúng cho những thế kỷ sau, vì đó là những quy luật khách quan. Một số người chống đối chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ tập trung phê phán 3 người sáng lập C.Mác, Ph.Ăngghen, VI. Lênin mà tách rời tư tưởng hoặc tìm cách đối lập tư tưởng của họ với những người tiếp nối về sau. Họ cố tình lời đi sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong hơn một thế kỷ qua mà chỉ nhằm vào mục tiêu chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, giáo điều, hay xa rời thực tiễn. Cách suy luận siêu hình đó tất yếu sai lầm. Tiếp nối C.Mác, VI.Lênin khắp thế giới có nhiều nhà tư tưởng kiệt xuất. Ở Việt nam, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng tài tình chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam mà còn cống hiến, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên những tư tưởng tầm vóc lịch sử, những cuộc cách mạng chấn động địa cầu, đẩy lùi chiến tranh xâm lược của Đế quốc, thực dân, những nô dịch, áp bức, bất công để thiết lập lên nền tảng của cuộc sống độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Tiếp sau Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công hơn 30 năm đổi mới tạo ra sự biến đổi về chất, từ một đất nước bị bóc lột, tàn phá đến quyệt quệ, bị cô lập, chống phá quyết liệt sau chiến tranh thành quốc gia tự tin hội nhập cùng thế giới. Bởi vậy, chính sự nối tiếp một cách biện chứng và bản chất sáng tạo, luôn phát triển của mình làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời hay lạc hậu.

Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ bởi tính lôgic, khoa học mà còn tính nhân văn, nhân bản trong mục tiêu, đích đến. Giá trị thời đại trong chủ nghĩa Mác chính là sự hiện tồn những giá trị tốt đẹp của CNXH. CNXH liệu có xa xôi đến mức không tưởng? Thực ra không cần tìm kiếm đâu xa, chỉ nhìn rất gần xung quanh chúng ta, rất nhiều người dù thành đạt hay chưa thành đạt lắm vẫn dành thời gian đều đặn tham gia nấu những bữa cơm cho người bệnh, vui vẻ chung tay xây dựng những chương trình từ thiện, lo những xuất ăn cho người nghèo… Dù là chủ doanh nghiệp hay cán bộ, nhân viên, thỉnh thoảnh lại chi ra một số tiền cho hoạt động thiện nguyện và trực tiếp thực hiện những chương trình của mình. Không những thế, họ rất chu đáo, tậo tâm với công việc này, vẫn quan tâm chi sẽ nỗi lo, niềm vui vì lợi ích của người khác, cho dù thế giới đang khủng hoảng tài chính hay nền kinh tế gặp khó khăn. 

V.I.Lênin gọi những người quan tâm đến lợi ích của những người bà con xa là những người của CNXH. Ở Việt Nam, sự tự nguyện, tự giác chăm lo cho người khác ngày càng được nhân lên nhiều mô hình phong phú: những phụ nữ làm tủ bánh mì miễn phía cho người cơ nhỡ; những người đàn ông bơm, vá xe miễn phí cho sinh viên, người lao động nghèo; góc đường phố có bình nước mát miễn phí ai đó đặt... Trong kinh tế thị trường ai cũng vất vả kiếm sống không dễ, nhưng chia sẻ với nhau bằng tấm lòng vị tha, nhân ái thì không phải là xã hội nào cũng có. Họ có lẽ chưa hiểu đầy đủ về CNXH, CNCS nhưng họ đã có hành động như vậy đấy.

CNXH không phải là sản phẩm của C.Mác, của Ph.Ăngghen, của VI.Lênin. Ngay từ thế kỷ VII, VIII, các nhà tư tưởng ở phương Đông đã mơ về một xã hội không còn người lầm than, không còn người lê la ở nơi hang cùng, xóm vắng nữa. Thuật ngữ CNXH đã bắt đầu xuất hiện trước lúc C.Mác sinh ra hơn 100 năm. Có điều, làm thế nào để xây dựng được một xã hội như vậy thì các nhà tư tưởng lúc đó chưa tìm ra được con đường, thế cho nên người ta gọi CNXH không tưởng. Chỉ đến khi C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra cơ sở lịch sử để thực hiện lý tưởng XHCN thì CNXH mới không còn là một “bóng ma”. Các ông đã tìm thấy ở đó lực lượng, điều kiện mà những người trước đó không tìm thấy. Với Tuyên ngôn Đảng Cộng sản 1848, CNXH được khẳng định là một thực thể, một sự tồn tại có thật và đang lớn lên từng ngày, trở thành lực lượng khuynh đảo thế giới, cân bằng lại thế giới đang trong thời của bờ vực rạn vỡ.

CNXH mới được hơn 100 năm kể Cách mạng tháng Mười. Nếu nhìn rộng ra CNTB có tận 500 năm lịch sử. Thế nên nếu chỉ nhìn vào sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu những năm 90 mà vội kêu lên CNXH đã cáo chung thì hoàn toàn sai lầm. CNXH là chủ nghĩa cộng đồng, tư tưởng cộng đồng không dễ gì bác bỏ, tiêu vong được. Nhân loại đã đi qua rất nhiều chặng đường và lịch sử của CNXH cũng đã trải qua những bước thăng trầm tất yếu với 4 lần khủng hoảng, điều đó cho thấy sức sống của một lý tưởng không hề bằng phẳng. Các thế lực thù địch công kích nó đã đành, nội tại bản thân nó cũng phải đấu tranh để tồn tại và phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “CNCS không phải là một lý tưởng hay một khuân mẫu để chạy theo. Đối với chúng tôi CNCS là sự vận động của đời sống hiện thực”. Con đường đi lên CNXH sẽ không bằng phẳng mà còn rất nhiều gập ghềnh, thử thách, thậm chí phải trả giá bởi những thất bại tạm thời, bởi đó không phải con đường có sẵn, mà muốn đi lên phải tìm tòi, thử nghiệm, điều chỉ, sửa chữa, đục kết, hoàn thiện… Để có một chế độ xã hội tốt đẹp phải trải qua quá trình xây dựng. Đó là con đường tất yếu mà xã hội nào cũng phải trải qua. CNXH mà Hồ Chí Minh quan niệm là độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một nước XHCH tức là một nước có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập. Ba mục tiêu mà chúng ta hướng tới đó là độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là mục tiêu sống còn, là đích đến cuối cùng mà chúng ta xây dựng. Lựa chọn con đường nào để đi đến chân trời tươi sáng là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc. Người ta có thể nghi ngờ, nhưng rõ ràng ở Việt Nam hiện nay phát triển theo CNXH là con đường duy nhất đúng. Để đạt được mục tiêu ấy con đường đi lên của chúng ta không phải là con đường tư bản đã đi, mà là đi theo con đường XHCN. Một đất nước ổn định về chính trị, yên bình về xã hội, an toàn về quốc phòng an ninh để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư phải là một nước Việt Nam của con người CNXH. Khi đất nước đã bước qua những năm tháng chiến tranh đói khổ, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH ở Việt Nam tiến lên một bước mới: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thế giới đã đổi thay, thế nhưng thực tiễn xã hội cũng như sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ vẫn không đưa ra được bằng chứng xác thực nào để bác bỏ nguyên lý căn bản của triết học Mác - Lênin. Hơn thế, đi ngược về các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thế kỷ này, tức là trên dưới 150 năm học thuyết Mác ra đời người ta buộc phải tìm lại giá trị Mác để tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng đương thời, bởi Mác đã mô tả hoàn toàn chính xác về quy luật phát triển của CNTB. Cho đến hôm nay, chính nội tại của các nước Tư bản, đằng sau sự hào nhoáng thì con người phải đối diện với những bất an, bất lực, phân biệt chủng tộc, khoảng cách giầu nghèo, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn chính trị xã hội. Và cũng chính ở đó, sự an hòa, yên bình, người với người sẻ chia của xã hội XHCN lại là những chân trời mà nhân loại khao khát vươn tới. 

Hơn 100 năm qua tư tưởng của các nhà kinh điển đã vượt qua thử thách của thời đại cũng như sự công kích, chống phá của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, bất chấp mội công kích, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn vững vàng và phát huy vai trò trong thời đại mới. Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với tư tưởng Mác ngày càng tăng như một đơn đặt hàng của lịch sử./.

Hải Đăng ST