Trong
những năm gần đây, khi Việt Nam có những bước phát triển trên nhiều lĩnh vực,
đặc biệt là về mặt kinh tế, theo đó nhu cầu giải trí, thưởng thức nghệ thuật
cũng lên cao. Nhiều ca sĩ, nghệ sĩ ra nước ngoài sau năm 1975, những người từng
tuyên bố "còn Cộng sản thì không bao giờ trở về quê hương". Thế nhưng
khi nước nhà thanh bình, là mảnh đất màu mỡ và ăn nên làm ra của giới nghệ sĩ
thì những tuyên bố tưởng chừng như đã được tạc vào đá núi ấy lại trở thành lời
nói gió bay. Chế Linh, Khánh Ly hay "con nhạn trắng Gò Công" Phương
Dung hay cả Chí Tài, Hoài Linh... đều tìm về Việt Nam để kiếm sống.
Suy
rộng ra thì chúng ta đã chiến thắng, đã hàn gắn, hòa hợp với những khúc ruột
vạn dặm. Người Việt Nam chẳng ai cực đoan đến mức không cho những người trước
đây ở phía bên kia quay đầu là bờ, trở về với cội nguồn dân tộc, đất mẹ Việt
Nam. Thế nhưng trường hợp của ca sĩ Đan Nguyên lại khác. Nói một cách chính xác
thì Đan Nguyên chính là sản phẩm thứ thiệt của văn hóa nhồi sọ. Sinh năm 1984
tại Thừa Thiên - Huế, vài tuổi đã sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình. Một
đứa trẻ hồn nhiên như tờ giấy trắng, "nhân chi sơ tính bản thiện",
chưa cảm nhận được những gì đã diễn ra và sự vận động, phát triển của Việt Nam.
Anh ta bị những kẻ chống Cộng cực đoan ở Mỹ nhồi nhét vào đầu cái gọi là
"Cộng sản tàn bạo, độc tài" và "Việt Nam đói nghèo vì Cộng
sản"...
Sự
thống khổ cùng cực của một kiếp nhân sinh chính là lòng thù hận không dứt ra
được. Những tổ chức chống Cộng hải ngoại ghen ghét, tức tối, hằn học khi đất
nước ta ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên. Họ
chống lại quê hương, nơi đã sinh ra họ. Đan Nguyên nhiễm nặng luồng tư tưởng đó
và trở thành công cụ tuyên truyền chống Cộng ở Hoa Kỳ. Rất nhiều bài hát anh ta
khoác áo ngụy quân, khoác cờ vàng ba sọc đỏ, những thứ đã bị nhân dân Việt Nam
chôn vùi cùng với chế độ tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn ngày 30/4/1975.
Những
người biết quay đầu là bờ, quay về với chính nghĩa dân tộc thì người Việt Nam
rộng lòng tha thứ. Nhưng với những kẻ tham gia nhiều hội đoàn chống Cộng như
Đan Nguyên thì chúng ta không chấp nhận. Không cho phép ca hát kiếm ăn ở Việt
Nam một khi chưa xin lỗi nhân dân Việt Nam và xin phép chính quyền. Hoa Kỳ giờ
đây không còn là mảnh đất màu mỡ cho giới ca sĩ, nghệ sĩ gốc Việt. Đơn giản là
các thế hệ f1 đã gần như không còn, f2, f3 thì không biết, không hiểu tiếng
Việt và văn hóa Việt Nam. Vậy họ biểu diễn cho ai, ai bỏ tiền để xem họ biểu
diễn? Một thời gian nữa thì "những cái cột điện biết hát" như Đan
Nguyên sẽ lũ lượt kéo về Việt Nam kiếm sống. Chúng ta luôn mong muốn thực hiện
chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và xem người Việt Nam ở nước ngoài là bộ
phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những kẻ chống Cộng
cực đoan như Đan Nguyên thì không! Báo Tuổi Trẻ cũng chẳng có lý do gì để tung
hô Đan Nguyên. Các bạn là những người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng
của tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đấy /.st/5347
Theo di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người
tập trung phần lớn vào việc lên án chủ nghĩa cá nhân. Người chỉ rõ: “giặc nội
xâm- giặc ở trong lòng còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, bởi vì nó phá từ
trong phá ra”.
Bác chỉ trích cả những người mắc bệnh công
thần, tức là có một chút công trạng đã kể công với Đảng, đã đòi hỏi Đảng phải
đối xử trọng đãi như thế nào. Bác viết rất nghiêm khắc, có những người vì mắc
chủ nghĩa cá nhân mà biến Đảng thành một chiếc "cầu thang" để leo lên
từng bậc danh vọng.
"Những
người mắc cơ hội chủ nghĩa, việc lớn không làm được, việc nhỏ thì không làm,
học hành thì biếng nhác, công việc thì trễ nải, cuối cùng là vi phạm tổ chức kỷ
luật của Đảng và mắc tội, trở thành chống Đảng.
Những
cân nhắc, phân tích như thế cực kỳ sâu sắc - là một lời cảnh báo nghiêm khắc
cho chúng ta trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời”. 5347
Tiết học biên cương” gieo tình yêu Tổ quốc
Với mong muốn mỗi học
sinh ngay lúc còn cắp sách đến trường đã hình thành ý thức về chủ quyền biên
giới quốc gia, Chi đoàn Thanh niên Đồn Biên phòng Ra Mai, Bộ đội Biên
phòng Quảng Bình đã xây dựng kế hoạch và triển khai “Tiết học biên cương”
tại tất cả các trường học trên địa bàn quản lí. Các anh cũng không tiếc công
làm mô hình “Mốc 521” giúp cho những tiết học ngoại khóa càng trở nên sinh
động, hiệu quả.
Trong khuôn viên của
Đồn Biên phòng Ra Mai có một mô hình cột mốc biên giới số 521 được đặt ở vị trí
trang trọng, dễ nhìn thấy. Mô hình này đúng chuẩn về hình dáng, kích cỡ, màu
sắc. Đại úy Cao Xuân Hoành, Chính trị viên phó, Bí thư Chi đoàn Đồn Biên phòng
Ra Mai cho biết: Hiện nay, nhiều Đồn Biên phòng trên cả nước triển khai “Tiết
học biên giới” bằng cách đưa học sinh tới cột mốc để giới thiệu về biên giới
quốc gia. Tuy nhiên, nó lại không phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị vì
đường biên và cột mốc do Đồn Biên phòng Ra Mai quản lí ở xa, phải đi qua
núi cao, vực sâu. Sau nhiều trăn trở, cuối năm 2021, Ban Chấp hành Chi đoàn Đồn
Biên phòng Ra Mai đã tham mưu cho Đảng ủy triển khai xây dựng mô hình mốc 521.
Mô hình được dựng ngay trong khuôn viên của Đồn. Điều này đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tổ chức công tác giáo dục tuyên truyền về chủ quyền an ninh
biên giới cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, đặc biệt là giúp các trường học tổ
chức mô hình tiết học ngoại khóa cho các em học sinh.
"Anh
hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam"
Chủ
tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) là hiện thân của lòng yêu nước vĩ đại; Năm 1987,
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Chủ
tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa
kiệt xuất của Việt Nam".
Ngày 12/5/2022 Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu tại Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Hoa Kỳ (CSIS), trước thềm Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN - Hoa Kỳ: "Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng".
"Giữa độc lập và phụ thuộc, chúng tôi luôn chọn độc lập với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; giữa thương lượng và đối đầu, chúng tôi chọn thương lượng; giữa đối thoại và xung đột, chúng tôi chọn đối thoại; giữa hoà bình và chiến tranh, chúng tôi chọn hoà bình; giữa hợp tác và cạnh tranh, chúng tôi chọn hợp tác và cạnh tranh thì phải lành mạnh, bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau"./.
Yêu nước ST.
Lễ khai mạc SEA
Games 31: Vì một Đông Nam Á mạnh mẽ hơn!
Tối 12/5, tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội,
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tuyên bố khai mạc SEA
Games 31. Gần 5.000 vận động viên từ 11 quốc gia sẽ tham gia tranh
tài tại đấu trường thể thao lớn nhất khu vực Đông Nam Á.
Sau 19 năm, những khoảnh khắc mong đợi của lễ khai mạc SEA
Games đã trở lại với thể thao và người hâm mộ Việt Nam. Lễ khai mạc SEA
Games 31 của nước chủ nhà Việt Nam như một lời chào đón các nước trong khu vực
Đông Nam Á tham dự SEA Games 31 bằng sự nồng ấm, thân thiện.
Tham dự buổi lễ, có Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch
Quốc hội Vương Đình Huệ, Chủ tịch Quốc hội Singapore Tan Chuan-Jin, cùng lãnh đạo
các bộ, ngành, thành phố Hà Nội, các đại biểu, khách mời quốc tế, lãnh đạo thể
thao khu vực và các nước.
Để chuẩn bị cho Lễ khai mạc SEA Games 31, thành phố Hà Nội
đã huy động gần 2.000 cán bộ, chiến sĩ, nghệ sĩ, diễn viên, vận động viên, sinh
viên của 14 đơn vị nghệ thuật, thể thao. Đặc biệt, để bảo đảm an ninh cho lễ
khai mạc, các lực lượng của Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động bao gồm cả tiểu đoàn đặc
nhiệm, kỵ binh, chó nghiệp vụ, xe đặc dụng… đã có mặt tại sân vận động và sẵn
sàng thực thi nhiệm vụ.
Màn nghệ thuật ấn tượng
Mở màn lễ khai mạc là phần giới thiệu lại 30 kỳ đại hội theo
chiều của chim Lạc trên trống đồng, kéo dài đến thời khắc khai mạc SEA Games
31. Rồng thiêng bay lên tái hiện một huyền thoại của địa linh nhân kiệt và những
kỳ tích của đất thiêng Thăng Long - Hà Nội.
Tiếp đó, màn biểu diễn nghệ thuật, võ thuật kết hợp với công
nghệ mapping của số lượng lớn diễn viên, vận động viên diễn tả tinh thần võ
công - văn trị, yêu lao động, nhân ái, đoàn kết của người Việt Nam, sẵn
sàng hòa mình vào biển lúa phồn vinh của cả khu vực Đông Nam Á.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để tăng cường tu dưỡng,
rèn luyện
đạo đức cách mạng
Hội thảo khoa học quốc gia "Nâng cao đạo đức cách
mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh" diễn ra ngày 12/5 tại Hà Nội đã thành công tốt đẹp. Trân trọng giới
thiệu cùng bạn đọc tổng thuật từ hội thảo.
Hơn 80 tham luận tham gia Hội thảo thể hiện nhận thức
sâu sắc về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về trách nhiệm chống chủ
nghĩa cá nhân, xây dựng Ðảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; những
ưu điểm, hạn chế, mô hình hay cần chia sẻ về thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ
Chính trị... Hội thảo đã đề xuất và làm rõ những định hướng, nhiệm vụ, giải
pháp đột phá cần tập trung thực hiện để tiếp tục vận dụng hiệu quả tư tưởng Hồ
Chí Minh về tăng cường tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng và phòng, chống
chủ nghĩa cá nhân trong Ðảng.
Sáng 12/5, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn chủ trì buổi tham vấn ý kiến chuyên gia về triển khai chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và môn Lịch sử bậc trung học phổ thông. Ông Sơn cùng các thành viên Ban phát triển chương trình, Hội đồng thẩm định chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể đã nghe nhiều ý kiến phân tích sâu về cách bố trí và tổ chức dạy học môn Lịch sử.
Bộ Giáo dục cho biết, các chuyên gia đều khẳng định chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng đúng đường lối; công phu, khoa học, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Riêng với việc dạy học môn Lịch sử cấp THPT, trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cân nhắc các phương án trong thời gian sắp tới và xin ý kiến các cấp có thẩm quyền, ông Sơn cho biết.
Theo kế hoạch Giáo dục phổ thông mới, chương trình lớp 10 từ năm học 2022-2023 chỉ yêu cầu học sinh học bảy môn và hoạt động giáo dục bắt buộc gồm: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh, Hoạt động trải nghiệm - hướng nghiệp, Nội dung giáo dục của địa phương.
Các em chọn năm môn khác từ ba nhóm môn (mỗi nhóm chọn ít nhất một môn): Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật); Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học); nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật (Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật - Âm nhạc và Mỹ thuật). Như vậy, Lịch sử là môn lựa chọn ở cấp THPT chứ không bắt buộc như trước đây.
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được thông qua từ năm 2018. Sau bốn năm chuẩn bị, khi sắp được triển khai với lớp 10, chương trình vấp phải nhiều ý kiến tranh cãi về việc để Lịch sử là môn lựa chọn. Nhiều người cho rằng như vậy là không thỏa đáng với vị trí đặc biệt quan trọng của môn Sử; thậm chí lo ngại, Lịch sử - nếu không được giảng dạy đầy đủ trong nhà trường - sẽ khiến các thế hệ sau lãng quên quá khứ, ảnh hưởng đến tình yêu đất nước.
Giữa tháng 4, Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định việc bố trí môn Lịch sử trong chương trình mới vẫn đáp ứng được yêu cầu giáo dục môn học này cho học sinh phổ thông.
Theo Bộ, chương trình giáo dục phổ thông mới được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn giáo dục cơ bản (năm năm tiểu học và bốn năm THCS) nhằm đảm bảo trang bị cho học sinh tri thức phổ thông nền tảng. Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (ba năm THPT) bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông.
Ở cấp THCS của giai đoạn cơ bản, Lịch sử được dạy từ lớp 6 đến 9, trang bị cho học sinh kiến thức cốt lõi của toàn bộ lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam từ nguyên thủy đến cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại. "Ở giai đoạn này, trong toàn cấp THCS, tất cả học sinh đều được học lịch sử dân tộc Việt Nam đầy đủ, toàn diện", Bộ nhấn mạnh.
Ở cấp THPT - giai đoạn định hướng nghề nghiệp, Lịch sử được bố trí là một môn trong tổ hợp xã hội. Các chuyên đề, chủ đề của môn Lịch sử là những nội dung chuyên sâu. Học sinh không học thiên về khoa học xã hội vẫn có thể lựa chọn Lịch sử nếu thấy môn này cần thiết cho bản thân hoặc cần thiết để phục vụ nghề nghiệp mà các em lựa chọn.
Chương trình mới cũng dành 20% thời lượng cho lịch sử địa phương, do các địa phương tự biên soạn đưa vào giảng dạy.
Dù chương trình đã thông qua, được lý giải và chuẩn bị đưa vào áp dụng, Bộ vẫn nhận được nhiều ý kiến phản đối. Trình bày báo cáo tổng hợp ý kiến cử tri và người dân trước kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XV chiều 11/5, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến cho biết dư luận xã hội đặc biệt quan tâm và băn khoăn với việc Lịch sử là môn lựa chọn ở bậc THPT. Cử tri cho rằng việc này có thể gây "hậu quả, hệ lụy khó lường".
Nhiều đại biểu cùng đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét một cách thận trọng chương trình cải cách giáo dục, nhất là đưa Lịch sử thành môn học lựa chọn ở cấp THPT. "Cần đổi mới cách dạy và học để nâng cao chất lượng, chứ không nên để Lịch sử là môn tự chọn", ông Chiến nói và đề nghị Bộ Giáo dục rà soát, nghiên cứu nghiêm túc, cầu thị để có giải pháp phù hợp./.
Yêu nước ST.
Việt Nam không chọn bên, Việt Nam chọn chính nghĩa, công lý và lẽ phải
"Trong một thế giới
đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn
bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên
tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có
lợi, cùng thắng", Thủ tướng Phạm Minh Chính chia sẻ tại Trung tâm
nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Hoa Kỳ (CSIS)- một trong những cơ quan nghiên
cứu hàng đầu của Hoa Kỳ về chiến lược, chính sách đối ngoại và các vấn đề quốc
tế.
Chiều 11/5 (theo giờ địa phương), tại Washington, D.C., Thủ tướng Phạm Minh
Chính đã có bài phát biểu quan trọng tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và
Quốc tế Hoa Kỳ (CSIS).
Mở đầu phát biểu với chủ đề "Chân thành, lòng tin và trách nhiệm vì
một thế giới tốt đẹp hơn", Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ vui mừng chứng
kiến quan hệ hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ đã phát triển vượt bậc sau gần 3 thập
niên bình thường hoá quan hệ. Mối quan hệ đó đã "đơm hoa kết trái"
với nỗ lực của hai bên bằng sự chân thành, lòng tin và trách nhiệm, bằng sự cảm
thông, chia sẻ và sự tôn trọng lẫn nhau để đạt được mục tiêu hai quốc gia, hai
dân tộc và nhân dân hai nước mong muốn và hướng tới. Hai bên đã vượt qua được
những khác biệt và đạt được những nguyên tắc nền tảng cho quan hệ hai nước, như
đã được khẳng định trong Tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt Nam - Hoa Kỳ khi Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ vào năm 2015, trong đó nhấn mạnh
tôn trọng “thể chế chính trị, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
nhau".
- Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác và phủ nhận những đóng góp của Ph. Ăng-ghen. Do đó, cần tiếp tục khẳng định công lao to lớn của Ph. Ăng-ghen trong việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen _Tranh: Tư liệu
Ph. Ăng-ghen bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác thông qua lý luận và hoạt động thực tiễn
Năm 1844, tác phẩm đầu tiên của Ph. Ăng-ghen là “Phê phán chính trị kinh tế học” được đăng trên tờ “Niên giám Pháp - Đức”. Đây được coi là tác phẩm mở đầu cho tư duy phê phán của Ph. Ăng-ghen khi xem xét những tư tưởng về chính trị, kinh tế của các nhà tư tưởng cùng thời. Điều này được C. Mác, người chủ của tờ “Niên giám Pháp - Đức” lúc bấy giờ, đánh giá rất cao và coi đây là “một cuốn đại cương tài tình về khoa học chính trị của giai cấp vô sản”. Có thể nói, đây cũng chính là mối lương duyên cho cuộc gặp gỡ và tình bạn vĩ đại của C. Mác và Ph. Ăng-ghen sau này. Cuối năm 1844, Ph. Ăng-ghen sang Đức gặp C. Mác. Dù đây là lần đầu gặp nhau nhưng hai ông nhanh chóng có những điểm tương đồng về lập trường, tư tưởng. Sau đó, Ph. Ăng-ghen cùng với C. Mác viết chung một loạt tác phẩm tiêu biểu, như “Gia đình thần thánh” (năm 1845), “Hệ tư tưởng Đức” (năm 1846), “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (năm 1848), “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức” (năm 1851 - 1852),…
Ngoài việc đồng hành cùng C. Mác, Ph. Ăng-ghen còn tự tìm cho mình một hướng nghiên cứu riêng là khoa học tự nhiên và nâng cao khả năng ngoại ngữ. Đó là tiền đề để Ph. Ăng-ghen là tác giả của một số tác phẩm nổi tiếng, như “Biện chứng của tự nhiên” (năm 1873 - 1883), “Tác dụng của lao động trong việc chuyển biến từ vượn thành người” (năm 1876), “Chống Đuy-rinh” (năm 1877), “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước” (năm 1883), “Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung và triết học cổ điển Đức” (năm 1888)….
Trong các tác phẩm của mình, Ph. Ăng-ghen bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trên những phương diện cơ bản như sau:
Thứ nhất, xây dựng và phát triển chủ nghĩa Mác trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học.
Trong lĩnh vực triết học, cũng như C. Mác, Ph. Ăng-ghen tuy xuất thân từ phái Hê-ghen trẻ nhưng ông có công lao to lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng thông qua những nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng duy vật. Mặc dù khẳng định những quan điểm duy vật lịch sử là một trong hai phát kiến vĩ đại của C. Mác, nhưng Ph. Ăng-ghen cũng có công rất lớn trong việc cung cấp những luận chứng thuyết phục để chứng minh tính chất duy vật triệt để của học thuyết Mác trong lĩnh vực lịch sử, xã hội; làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và là “công cụ nhận thức vĩ đại” của con người. Đặc biệt, bằng việc chỉ ra những quy luật của giới tự nhiên, Ph. Ăng-ghen không chỉ khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới mà còn làm sáng tỏ thêm mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên. Từ đó, Ph. Ăng-ghen đã cùng với C. Mác xây dựng được một hệ thống lý luận triết học hoàn chỉnh với những quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Trong lĩnh vực kinh tế chính trị học, Ph. Ăng-ghen đã chứng tỏ là một nhà kinh tế học xuất sắc khi chỉ ra được những quy luật vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, bóc trần bản chất bóc lột giá trị thặng dư của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đặc biệt, khi giúp C. Mác hoàn thành nốt những tập bản thảo còn dang dở của bộ “Tư bản”, Ph. Ăng-ghen cũng góp phần quan trọng trong việc luận giải những tư tưởng lớn của C. Mác về đặc trưng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Trong lĩnh vực chủ nghĩa xã hội khoa học, với những trải nghiệm trong thời gian dài ở các nước Anh, Pháp, Đức, cùng thời gian cộng tác với C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã tạo lập và hoàn thiện những quan điểm về chủ nghĩa xã hội khoa học, mà linh hồn của lý luận đó là làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân - giai cấp có khả năng tổ chức và lãnh đạo xã hội thông qua đảng cộng sản, tiến hành cải biến xã hội từ xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi từng nước và trên toàn thế giới. Nhờ có lý luận này, giai cấp công nhân đã từng bước bước lên vũ đài chính trị và xác lập được vai trò to lớn của mình. Cùng với C. Mác, Ph. Ăng-ghen có công lao trong việc cung cấp những luận cứ thuyết phục để biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành chủ nghĩa xã hội khoa học. Vì vậy, “những chiến lược, sách lược cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và sự hình thành các chính đảng vô sản mà ông đưa ra trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời hoạt động lý luận và thực tiễn cách mạng của ông là một cống hiến lớn vào kho tàng chủ nghĩa xã hội khoa học”(1).
Như vậy, có thể nói, “chủ nghĩa Mác trên tất cả các phương diện cấu thành của nó, từ nội dung đến phương pháp, từ những mầm mống đầu tiên đến khi có một diện mạo trưởng thành, từ những luận chiến đanh thép để tự bảo vệ trước những đòn tấn công, xuyên tạc của kẻ thù cho đến những tổng kết thực tiễn đặc sắc và những dự báo khoa học về xã hội tương lai đều in đậm dấu ấn những đóng góp kiệt xuất của Ph. Ăng-ghen”(2).
Thứ hai, không ngừng bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn đã có nhiều thay đổi.
Cũng như C. Mác, Ph. Ăng-ghen luôn khẳng định hệ thống lý luận do các ông xây dựng lên có tính phê phán. Tính phê phán đó không chỉ bao hàm sự phê phán đối với các nhà tư tưởng có quan điểm phiến diện, sai lầm về thế giới khách quan, mà còn bao hàm cả sự phê phán đối với chính tư tưởng của các ông qua mỗi thời kỳ lịch sử. Do đó, Ph. Ăng-ghen không bao giờ coi lý luận của mình cũng như của C. Mác là học thuyết hoàn hảo, là chân lý vĩnh hằng và buộc mọi người phải rập khuôn, sao chép, mà luôn đòi hỏi phải phát triển lý luận ấy thông qua nghiên cứu và tổng kết thực tiễn. Chẳng hạn, với tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, ông và C. Mác chỉ rõ, nếu được viết lại thì cũng cần bổ sung và yêu cầu những người cộng sản “bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II”(3). Đó là lý do giải thích tại sao trong khoảng hơn 20 năm (1872 - 1893), ông cùng C. Mác đã 7 lần viết “Lời tựa” cho những lần tái bản tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”. Sau khi C. Mác qua đời (năm 1883), những “Lời tựa” cho những lần xuất bản kế tiếp của “Tuyên ngôn” chỉ còn một mình Ph. Ăng-ghen đứng tên. Những “Lời tựa” đó chính là sự bổ sung, phát triển tư tưởng của “Tuyên ngôn” trên quan điểm thực tiễn, lịch sử - cụ thể và phát triển, làm cho “Tuyên ngôn” trở thành tác phẩm kiểu mẫu của việc bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác bằng thực tiễn sinh động, mà chính Ph. Ăng-ghen là người tiên phong đi đầu.
Thứ ba, đấu tranh không khoan nhượng với những phe phái phi mác-xít để bảo vệ chủ nghĩa Mác.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, cũng như C. Mác, Ph. Ăng-ghen nhiều lần bị chính quyền tư sản các nước trục xuất, kiện ra tòa vì tội “nói xấu”, “phỉ báng” chính quyền. Không chỉ có vậy, tư tưởng của các ông luôn bị chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại xuyên tạc, bôi nhọ, phản bác. Vì vậy, bên cạnh việc viết những tác phẩm có tính chất tuyên ngôn hay chính sự, lý luận thuần túy, Ph. Ăng-ghen còn viết một số tác phẩm bút chiến để vạch trần các luận điệu xuyên tạc, lừa bịp của những kẻ cơ hội, tư sản, trong đó, tiêu biểu nhất là tác phẩm“Chống Đuy-rinh”. Với tác phẩm này, Ph. Ăng-ghen đã trình bày một cách có hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác và qua đó, không chỉ nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác, mà còn phát triển nó lên một tầm cao mới. Một điều đáng trân trọng là trong bất cứ điều kiện, tình huống nào, Ph. Ăng-ghen cũng luôn tuyệt đối trung thành với hệ tư tưởng mà ông và C. Mác đã xây dựng.
Ph. Ăng-ghen đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác không chỉ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, mà còn thông qua hoạt động thực tiễn rất sôi nổi và tích cực trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cùng với C. Mác, Ph. Ăng-ghen đấu tranh không khoan nhượng chống lại những khuynh hướng cải lương và biệt phái (của Pru-đông, Lát-xan, Bac-u-nin...) để thống nhất hàng ngũ quốc tế cộng sản. Ngoài ra, Ph. Ăng-ghen là người đỡ đầu của Đảng Dân chủ Xã hội Đức và có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động của đảng này. Những nhà xã hội chủ nghĩa ở Pháp, Áo, Hung-ga-ry, Anh, Ba Lan, Tây Ban Nha, I-ta-ly, Nga, Hà Lan và ở nhiều nước khác đều nhận được sự giúp đỡ vô giá của Ph. Ăng-ghen. Vì vậy, đúng như V.I. Lê-nin nhận xét: “Sau bạn ông là C. Mác (mất năm 1883), Ph. Ăng-ghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh”(4). Từ những đóng góp to lớn của mình đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Ph. Ăng-ghen xứng danh là “người thầy vĩ đại” của giai cấp công nhân toàn thế giới.
Có thể thấy, Ph. Ăng-ghen không chỉ cùng C. Mác xây dựng nên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác, mà còn có công lao to lớn trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, bất chấp mọi sự xuyên tạc, công kích của các thế lực thù địch. Vì thế, không thể nói rằng: “Ph. Ăng-ghen chỉ là người đi sau C. Mác” hay “hệ thống lý luận chỉ được đứng tên C. Mác, không có tên Ph. Ăng-ghen”,… Những quan điểm đó là sự xuyên tạc, bóp méo và cố tình phủ nhận những công lao to lớn của Ph. Ăng-ghen đối với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác. Đúng như V.I. Lê-nin khẳng định: “Không thể nào hiểu được chủ nghĩa Mác và trình bày đầy đủ được chủ nghĩa Mác, nếu không chú ý đến toàn bộ những tác phẩm của Ph. Ăng-ghen”(5).
Hội thảo khoa học quốc gia: “Di sản tư tưởng Ph.Ăngghen: Giá trị và sức sống thời đại” tổ chức nhân kỷ niệm 200 năm Ngày sinh Ph. Ăngghen (1820 - 2020) diễn ra tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh _Ảnh: TTXVN
Những kinh nghiệm của Ph. Ăng-ghen trong đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác gợi mở cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay
Việc Ph. Ăng-ghen đấu tranh để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác có nhiều nét tương đồng với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay. Đó đều là cuộc đấu tranh của những người mác-xít nhằm bảo vệ những giá trị cốt lõi, bền vững của chủ nghĩa Mác. Nếu ở thời đại của Ph. Ăng-ghen, chủ nghĩa Mác chính là nền tảng tư tưởng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ở nhiều nước châu Âu, thì ngày nay, chủ nghĩa Mác là cấu phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Việc Ph. Ăng-ghen ra sức đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác đã để lại những kinh nghiệm quý giá mà chúng ta cần tiếp thu, kế thừa và vận dụng vào việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
Một là, trong bất cứ điều kiện và tình huống nào, phải luôn giữ vững lập trường, quan điểm mác-xít, có thái độ kiên quyết, triệt để đối với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Thực tiễn cho thấy, ngay sau khi chủ nghĩa Mác ra đời, các phe phái phi mác-xít liên tục tấn công bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau. Do đó, Ph. Ăng-ghen và sau này là V.I. Lê-nin luôn giữ vững lập trường của người cộng sản chân chính, đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng phi mác-xít, bảo vệ chủ nghĩa Mác bằng mọi cách. Tinh thần đấu tranh đó cho thấy bản lĩnh kiên định, vững vàng của Ph. Ăng-ghen. Sự kiên định về lập trường tư tưởng cũng chính là ngọn lửa thử vàng, là nguyên tắc tối cao của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Nếu không có bản lĩnh ấy, chúng ta rất dễ bị lung lay bởi sự xuyên tạc, công kích của các thế lực thù địch.
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Ph. Ăng-ghen cho thấy, ông luôn có thái độ rõ ràng, cứng rắn, kiên định trước mọi sự tấn công của các phe phái phi mác-xít, nhất là của chủ nghĩa cơ hội dưới các hình thức khác nhau. Do đó, bất chấp các luận điệu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là sau khi C. Mác qua đời, Ph. Ăng-ghen vẫn luôn giữ vững bản lĩnh kiên định của những người mác-xít chân chính. Sự kiên định đó của Ph. Ăng-ghen là bài học kinh nghiệm quý giá cho chúng ta trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
Hai là, phải luôn kết hợp giữa việc khẳng định những giá trị đúng đắn, trường tồn với việc bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Cũng như C. Mác, Ph. Ăng-ghen không coi lý luận do các ông xây dựng là hoàn chỉnh, là công cụ vạn năng, nên trong quá trình xây dựng hệ thống lý luận của mình, cả C. Mác và Ph. Ăng-ghen không ngừng bổ sung, phát triển những nguyên lý, luận điểm của hệ thống đó cho phù hợp với thực tiễn. Các ông cũng luôn kêu gọi những người mác-xít khi vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác cần tránh tư tưởng dập khuôn, máy móc, giáo điều, bởi điều đó tất yếu dẫn đến những sai lầm. Kế thừa tinh thần đó của Ph. Ăng-ghen, để bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cần kết hợp cùng một lúc cả hai quá trình. Một mặt, tiếp tục khẳng định, lan tỏa những giá trị cốt lõi, trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; mặt khác, không ngừng bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho phù hợp với thực tiễn. Đây là hai mặt của một nhiệm vụ, vừa là sự bảo vệ, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa bao hàm trong đó sự bổ sung, phát triển theo quan điểm biện chứng. Khi tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới đất nước, Đảng ta coi sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin là bài học kinh nghiệm đầu tiên, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào cũng phải luôn kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, coi đó là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam cho mọi hành động”(6). Điều này tiếp tục được Đảng ta nhấn mạnh thêm ở Đại hội XIII: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(7). Đây được coi là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(8). Nguyên tắc này là điều kiện tất yếu bảo đảm cho sự thắng lợi của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là “xét lại” hoặc “quy kết” nó như nhiều người lầm tưởng, mà là làm cho nó ngày càng “thêm da thêm thịt” và có thêm sức sống mới từ thực tiễn sinh động. Điều này đã được V.I. Lê-nin - người kế tục xuất sắc sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(9).
Cho đến nay, công cuộc đổi mới đất nước đã trải qua 35 năm tuy còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng đã đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn nhiều diễn biến phức tạp. Đặc biệt, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(10), “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”(11). Đây được nhận định là một trong những nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sư tồn vong của Đảng, của chế độ ta. Tại Đại hội Đảng lần thứ XIII, Đảng ta đã chỉ rõ, một mặt phải kiên định, vững vàng với nền tảng tư tưởng của Đảng; mặt khác phải không ngừng bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh mới: “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(12).
Ba là, phải có nội dung và phương thức đấu tranh phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
Ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác luôn vấp phải sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, với nhiều âm mưu, thủ đoạn khác nhau. Do đó, trong mỗi thời điểm, giai đoạn lịch sử, Ph. Ăng-ghen có những nội dung, cách thức đấu tranh khác nhau để bảo vệ chủ nghĩa Mác. Khi thì ông đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận bằng những tác phẩm luận chiến, bút chiến; lúc lại đấu tranh bằng hoạt động thực tiễn khi lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thông qua tổ chức Quốc tế Cộng sản. Vì thế, song song với quá trình xây dựng, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác là quá trình Ph. Ăng-ghen hoạt động thực tiễn cách mạng, giúp cho những nguyên lý của chủ nghĩa Mác ngày càng thâm nhập vào đời sống của giai cấp công nhân, trở thành vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích của mình và lợi ích của nhân dân lao động.
Quá trình đấu tranh đó của Ph. Ăng-ghen gợi mở cho chúng ta một bài học kinh nghiệm quý giá, đó là cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cũng cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng in-tơ-nét, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống (viết bài đăng tải trên các sách, báo, tạp chí), chúng ta cần bổ sung những hình thức đấu tranh khác như, đấu tranh trên không gian mạng bằng những bài viết lý luận chuyên sâu hoặc xây dựng những tin, bài, video, clip, hình ảnh… để đăng tải trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Cùng với đó, phải đoàn kết, tập hợp lực lượng ở trong Đảng và ngoài Đảng, trong giới nghiên cứu lý luận nói riêng và giới nghiên cứu khoa học xã hội nói chung, đồng thời, phối hợp với cả những nhà mác-xít chân chính ở nước ngoài, bởi đây là cuộc đấu tranh có ý nghĩa sống còn đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng cộng sản chân chính nói chung, của Đảng ta nói riêng. Điều này từng được V.I. Lê-nin chỉ rõ như sau: “Không có việc gì quan trọng bằng việc đoàn kết tất cả những người mác-xít hiểu rõ tính chất sâu sắc của cuộc khủng hoảng và hiểu rõ sự tất yếu phải khắc phục cuộc khủng hoảng ấy để bảo vệ những cơ sở lý luận và những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác”(13). “Cuộc khủng hoảng” mà V.I. Lê-nin nhắc đến ở đây là sự “khủng hoảng” về tư tưởng của những người mác-xít khi bị các thế lực thù địch công kích, chống phá. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước là một trong những lý do chính khiến các thế lực thù địch ngày càng điên cuồng chống phá nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản. Song đó cũng là lý do quan trọng dẫn đến việc các đảng cộng sản phải tăng cường đoàn kết, siết chặt đội ngũ trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình./.
- Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc, phê phán, bóp méo. Họ cho rằng, không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản,... Chính vì vậy, việc nhận diện và chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch về nội dung này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ trương lớn của Đảng, là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay; đồng thời, còn là nhiệm vụ và trách nhiệm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, vì đây là vấn đề không chỉ liên quan đến uy tín và tính chính danh của Đảng, mà còn liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng Đảng, xây dựng xã hội trong sạch, vững mạnh, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” với nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, Đảng ta xác định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, Đảng ta yêu cầu các cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương thăm Trung tâm điều hành tại Công ty TNHH một thành viên Đạm Ninh Bình _Ảnh: TTXVN
Việc nhận diện, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - mô hình kinh tế sáng tạo riêng có của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua việc phân tích và làm rõ một số nội dung sau:
Một là, về luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội là hai ý tưởng hoàn toàn mâu thuẫn nhau, đưa thêm đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào là một sự gán ghép khiên cưỡng.
Trong quản lý và điều hành đất nước, bất cứ quốc gia - dân tộc nào cũng lựa chọn và có quyền lựa chọn một mô hình quản lý, phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của đất nước mình. Kể từ khi thành lập nước đến nay, chúng ta đã áp dụng và thực thi hai mô hình phát triển kinh tế cơ bản: mô hình kế hoạch hóa tập trung và mô hình phát triển kinh tế thị trường. Mô hình xây dựng và phát triển kinh tế theo phương thức vận hành của nền kinh tế kế hoạch (hay còn gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung, hoặc nền kinh tế chỉ huy) là mô hình kinh tế trong đó Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất và giữ quyền phân phối về thu nhập (để bảo đảm tính xã hội). Mô hình này đặc biệt có ưu thế trong điều kiện đất nước có chiến tranh, vì có thể huy động tối đa các nguồn lực kinh tế, có tính thống nhất cao về hệ tư tưởng, ý chí để tập trung chiến đấu, sản xuất. Tuy nhiên, những hạn chế về quan liêu, triệt tiêu sáng tạo, cạnh tranh, làm cho mô hình này không có sức sống trong thời bình(1).
Nhận thức rõ hạn chế của mô hình kế hoạch hóa tập trung, với tinh thần đổi mới tư duy và đổi mới toàn diện công cuộc xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường trong việc xây dựng và phát triển đất nước, một mô hình vốn là kết quả của nền văn minh nhân loại đã đạt đến và là con đường tất yếu mà các dân tộc, dù dài hay ngắn, buộc phải đi theo để phát triển. Vấn đề đặt ra là, Việt Nam phải xây dựng và thực thi mô hình kinh tế thị trường kiểu gì để phù hợp với đặc điểm phát triển của đất nước, mà về thực chất, đã có sự lựa chọn con đường phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội? Một thực tế, nhân loại đã và đang có các phương án lựa chọn khác nhau trong phát triển kinh tế thị trường. Kiểu thứ nhất, kinh tế thị trường tự do, được thực hiện ở hầu hết các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Mô hình này hạn chế sự can thiệp, điều tiết của nhà nước ở mức thấp, trong khi đó đề cao sự vận hành tự do của quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh. Sự tham gia của nhà nước vào quá trình phân bổ hệ thống phúc lợi xã hội, ngăn chặn và xử lý các thất bại của thị trường, tuy vẫn được coi trọng nhưng không nhiều. Kiểu thứ hai, kinh tế thị trường xã hội, thực hiện ở một số nước Tây - Bắc Âu (điển hình là nước Đức - quê hương của mô hình kinh tế này). Đây là một nền kinh tế mà trong đó nhà nước bảo đảm tự do hoạt động kinh tế, nhưng có chính sách quản lý, điều tiết về kinh tế, cũng như về xã hội, để đạt được sự cân bằng về xã hội. Đặc trưng nổi bật của mô hình này là: ngoài mục tiêu lợi nhuận, phát triển kinh tế cũng rất coi trọng các mục tiêu xã hội và phát triển con người (công bằng xã hội, phúc lợi cho người nghèo và cho người lao động, quyền tự do...). Kiểu thứ ba, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mà Cộng hòa nhân dân Trung Hoa áp dụng. Sự ra đời của mô hình này gắn với sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, vốn trước đó phủ nhận vai trò của kinh tế thị trường và qua đó, Trung Quốc muốn khẳng định với thế giới một mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu mới mà Trung Quốc đã lựa chọn: chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Mô hình này cũng áp dụng các quy luật kinh tế thị trường, nhưng nhà nước can thiệp mạnh hơn vào thị trường, đồng thời tác động nhiều vào tính xã hội(2).
Trong khi đó, ở Việt Nam, mới chỉ đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - một thời kỳ quá độ đang hướng đến mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là, cần một quá trình phấn đấu và phát triển lâu dài, Việt Nam mới có thể xây dựng được mô hình chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó. Để phù hợp và tương thích với hoàn cảnh và đặc điểm của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn xây dựng mô hình phát triển nền kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình này được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng tạo và thực hiện xây dựng từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay và tên gọi này chính thức được dùng từ Đại hội IX của Đảng (năm 2001). Đối với Việt Nam, mô hình này có ý nghĩa quyết định đến tương lai đất nước và vì vậy, tại Đại hội XI, Đảng ta coi đây là một trong ba đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng và chủ động hội nhập quốc tế.
Hơn thế nữa, trong quá trình điều hành, hoàn thiện mô hình này, Đảng ta đã đưa ra cách tiếp cận tổng thể về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ làm rõ về nội hàm, đưa ra các quan điểm chỉ đạo đến xác định mục tiêu, lộ trình và đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện, mà điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong đó, đã thể hiện khá đầy đủ, sát hợp, khoa học, có hệ thống, vừa mang tính tổng quát, vừa có tính cụ thể về nội hàm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đây là lần đầu tiên có thể được định hình như là lý thuyết về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(3).
Điều đó khẳng định rằng, định hướng xã hội chủ nghĩa “không phải là cái đuôi” được gán ghép chủ quan, áp đặt của những bộ óc “giáo điều”, “kinh viện chủ nghĩa” như một số người sính chữ đang dùng, mà chỉ rõ tính chất của nền kinh tế thị trường mà nước ta đang xây dựng. Bởi lẽ, nó được quyết định bởi chính tính chất của những bộ phận cấu thành, thuộc kết cấu bên trong của nền kinh tế, xác định bản chất và xu thế vận động của nền kinh tế thị trường. Điều đó cũng có nghĩa rằng, tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường hay tính định hướng trong phát triển nền kinh tế thị trường là hoàn toàn đúng đắn. Do đó, không thể xuyên tạc hoặc bóp méo sự thật mà phải nhận thức cho đúng, tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường phản ánh mục tiêu, phương thức phát triển, phân phối của cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta; nhờ đó mà khai thác tốt nhất lợi thế vốn có của thị trường, đồng thời khắc phục và hạn chế tới mức thấp nhất những “khuyết tật”, rủi ro của nó, nhằm phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân hướng đến các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Hai là, về luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, “kinh tế thị trường là gắn với chủ nghĩa tư bản”, “là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản”.
Trước hết, phải thấy rằng, kinh tế thị trường không phải là một chế độ kinh tế - xã hội. Nó là một hình thức, phương pháp vận hành nền kinh tế. Ở đó, các quy luật của thị trường chi phối việc phân bổ tài nguyên, quy định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Đây là một kiểu mô hình kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan về sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quá trình hình thành, phát triển kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội, phát triển khoa học - công nghệ và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất - kinh doanh. Dễ dàng thấy, sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với sự phát triển của văn minh nhân loại, của khoa học - kỹ thuật và của lực lượng sản xuất. Nó là sản phẩm của sự phát triển khách quan của lịch sử xã hội loài người. Và như vậy, kinh tế thị trường không phải sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, càng không phải là chủ nghĩa tư bản, dù theo bất kỳ cách tiếp cận nào.
Theo C. Mác, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử, mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển và trong chủ nghĩa tư bản thì kinh tế thị trường phát triển đến trình độ phổ biến. Nấc thang cao hơn chính là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Để chuyển lên nấc thang này, nền kinh tế thị trường phải phát triển hết mức, phải trở thành phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây là một kết luận có ý nghĩa quan trọng về lý luận. Nó khái quát quá trình phát triển của lịch sửnhân loại, trong đó, kinh tế thị trường được xác định là một nấc thang tất yếu, mang tính phổ biến. Rõ ràng, luận điểm cho rằng, kinh tế thị trường chỉ gắn liền với chủ nghĩa tư bản là không có cơ sở khoa học.
Ba là, về luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không có tự do cạnh tranh.
Trên thực tế,nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Các chủ thể này hoàn toàn độc lập, tự chủ trong việc quyết định các vấn đề, như sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Họ tự chịu trách nhiệm đối với quyết định sản xuất, kinh doanh dựa trên những tín hiệu thị trường.
Mọi nền kinh tế thị trường đều có các yếu tố cấu thành cơ bản là các thị trường, bao gồm các thị trường đầu vào (như thị trường đất đai, thị trường sức lao động, thị trường tài chính, thị trường máy móc thiết bị, thị trường khoa học - công nghệ) và thị trường hàng tiêu dùng. Không có cạnh tranh tự do, không thể nói đến kinh tế thị trường. Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh. Do vậy, nó còn được gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc. Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường. Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn.
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế;... thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường”(4).
Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật của kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế được tự do cạnh tranh. Nếu nói rằng, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không có tự do là xuyên tạc trắng trợn.
Bốn là,vềluận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, trong kinh tế tư nhân lẫn kinh tế nhà nước gọi chung là kinh tế quốc dân không có kinh tế nào là chủ đạo cả, nghĩa là kinh tế nhà nước không thể đóng vai trò chủ đạo.
Chúng ta đều biết, thị trường có những “khuyết tật” và cơ chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển, như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường,... Để khắc phục những hạn chế đó và tránh khỏi thất bại thị trường, Nhà nước phải tham gia quản lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế. Nhà nước tham gia vào các quá trình hoạt động của kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế. Với các tư cách đó, Nhà nước thực hiện ba chức năng: Thứ nhất, quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển; thứ hai, phân phối lại thu nhập quốc dân; thứ ba, bảo vệ môi trường. Để thực hiện ba chức năng đó, nhà nước phải giải quyết các nhiệm vụ, như cung cấp khuôn khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường; kiến tạo và bảo đảm môi trường vĩ mô ổn định, có tính khuyến khích kinh doanh; cung cấp kết cấu hạ tầng (gồm hạ tầng “cứng” - giao thông vận tải, cung cấp điện, nước,... và hạ tầng “mềm” - dịch vụ thông tin, bưu chính - viễn thông; tài chính,...), cũng như các dịch vụ và hàng hóa công cộng (chăm sóc sức khỏe, giáo dục - đào tạo, bảo vệ môi trường,...); hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường bình đẳng.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam đưa điện về bản _Ảnh: TTXVN
Ngay kể cả quốc gia được xem là điển hình của “thị trường tự do” như Mỹ, nhưng một nghiên cứu gần đây của GS. Mariana Mazzacato trong cuốn “Nhà nước khởi tạo” đã minh chứng rằng đằng sau thành công của các tập đoàn tư nhân đều có vai trò to lớn của chính phủ. Rằng “Kẻ rao giảng về vai trò tối thiểu của nhà nước hay học thuyết về thị trường tự do, thực tế trong hàng thập kỷ qua đã và đang đầu tư công lớn vào công nghệ và đổi mới sáng tạo, là tiền đề cho thành công của kinh tế Mỹ trong quá khứ và hiện tại(5). Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”(6). Đại hội X của Đảng khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”(7). Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(8). Kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo ở một số lĩnh vực then chốt. Đó là những “đài chỉ huy”, là huyết mạch chính của nền kinh tế. Đây là điều kiện có tính nguyên tắc bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó thể hiện sự khác biệt về bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với các mô hình kinh tế thị trường khác. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện trước hết và chủ yếu ở sức mạnh định hướng, hỗ trợ phát triển và điều tiết nền kinh tế chứ không phải ở quy mô và sự hiện diện của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở tất cả hoặc hầu hết các ngành, các lĩnh vực.
Đồng thời, với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò điều tiết của Nhà nước, cần coi trọng vai trò của các thành phần kinh tế khác. Các thành phần này gắn bó hữu cơ với nhau trong một thể thống nhất, không tách rời kinh tế nhà nước ở tất cả các giai đoạn phát triển và đều là những thực thể của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi chủ thể kinh tế với nguồn gốc sở hữu khác nhau đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật; quyền bình đẳng về cơ hội phát triển và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ. Quả thực, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo, chứ không phải như luận điểm sai trái cho rằng, trong nền kinh tế thị trường thì không cần kinh tế nhà nước hay kinh tế tư nhân đóng vai trò chủ đạo.
Năm là,về luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng,định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường là bóp nghẹt, là loại bỏ kinh tế tư nhân.
Về bản chất, nền kinh tế thị trường có cấu trúc đa sở hữu. Trong cấu trúc đó, sở hữu tư nhân luôn luôn là thành tố tất yếu, bắt buộc. Phủ nhận sở hữu tư nhân có nghĩa là bác bỏ kinh tế thị trường trên thực tế. Bên cạnh sở hữu tư nhân, còn có các dạng sở hữu khác là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và dạng đồng sở hữu của các chủ thể khác như, sở hữu công ty cổ phần, doanh nghiệp tư bản nhà nước,... Về nguyên tắc, các chủ thể sở hữu và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường là độc lập và bình đẳng với nhau trước pháp luật và trong hoạt động kinh doanh. Nhưng mỗi hình thức sở hữu và mỗi chủ thể sở hữu lại có vai trò, vị thế và chức năng đặc thù trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất, trong đó, chế độ công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Không thể có nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu trong nó, chế độ công hữu không đóng vai trò nền tảng.Đây là một cấu trúc đặc thù của nền kinh tế thị trường theo nghĩa: Thứ nhất, không loại trừ các quan hệ sở hữu tư nhân và sở hữu tư bản chủ nghĩa, thừa nhận tính chất “hỗn hợp” sở hữu như bất cứ nền kinh tế thị trường nào; thứ hai, khu vực kinh tế nhà nước chứ không phải bất cứ lực lượng kinh tế nào khác đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất _Ảnh: TTXVN
Trước đây, quan niệm các hình thức sở hữu là đơn nhất: nhà nước, tập thể hoặc tư nhân. Sau 35 năm đổi mới, kinh tế hỗn hợp đang được hình thành và từng bước phát triển mạnh; chế độ cổ phần đang dần trở thành hình thức tổ chức chủ yếu của kinh tế công hữu. Vì thế, công hữu không chỉ bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể đơn nhất mà còn bao gồm cả phần sở hữu của Nhà nước và tập thể trong kinh tế hỗn hợp. Cũng như vậy, tư hữu không chỉ bao gồm sở hữu tư nhân đơn nhất, mà còn bao gồm cả phần sở hữu của tư nhân trong kinh tế hỗn hợp.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao”(9). Như vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế tư nhân không hề bị bóp nghẹt, càng không bị loại bỏ; trái lại, kinh tế tư nhân còn là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Sáu là, về luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, những năm gần đây, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã bị “chuyển hướng”, “xoay trục”.
Chúng ta đều biết, mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa chính là một trong chín mối quan hệ lớn mà Đảng ta đã chỉ ra và yêu cầu “cần phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế...; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(10). Bản chất của kinh tế thị trường là luôn luôn năng động, luôn luôn khả biến, luôn luôn mở, vì vậy, trong hoạt động của nó bao giờ cũng gắn liền với xã hội hóa, xem đó là một trong những phương thức cơ bản để thu hút nguồn lực của xã hội, mở rộng quy mô, tăng cường khả năng thích ứng với sự biến động của quá trình sản xuất kinh tế - xã hội và với tiến trình phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, xã hội hóa không đồng nhất với tư nhân hóa. Chủ thể tham gia vào việc xã hội hóa có thể là tư nhân, có thể là tập thể, cũng có thể là doanh nghiệp nhà nước, thậm chí cả Nhà nước. Hơn thế nữa, quá trình xã hội hóa ở Việt Nam luôn luôn được quản lý theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, nghĩa là luôn luôn bám sát và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Rõ ràng, trong triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, chúng ta vẫn duy trì và bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không có sự “chuyển hướng”, “xoay trục” hoàn toàn sang kinh tế thị trường tư nhân tự do như một số luận điệu đã xuyên tạc.
Thực tiễn phát triển và lý luận kinh điển của C. Mác đều khẳng định tính tất yếu và phổ biến của kinh tế thị trường trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, kinh tế thị trường không phát triển theo một phương án duy nhất (phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa), cũng không theo một mô hình đơn nhất (thị trường tự do). Thực tiễn đã xác nhận những phương án và mô hình phát triển kinh tế thị trường khác nhau mang tính đặc thù, phụ thuộc vào những điều kiện xác định, hoàn cảnh phát triển cụ thể của quốc gia - dân tộc. Một quốc gia đi sau không được vận dụng cứng nhắc các nguyên lý lý luận; cũng không nên rập khuôn các mô hình kinh tế thị trường có sẵn ở đâu đó, dù là mô hình hiệu quả, để giải quyết các vấn đề phát triển mang nhiều nét đặc thù của mình. Việc khẳng định tính đặc thù trong các mô hình kinh tế thị trường hàm ý rằng, việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là đúng với xu hướng chung của loài người; đồng thời, là mô hình thiết thực, hiệu quả phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - xã hội của dân tộc. Do đó, việc xuyên tạc, bóp méo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ là những luận bàn không mang tính khoa học và tính thực tiễn./.