Thứ Năm, 12 tháng 5, 2022

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG CÁCH MẠNG - GIÁ TRỊ VẬN DỤNG TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ HIỆN NAY.


Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị của Đảng cách mạng có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng về chính trị hiện nay. Trong điều kiện đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng càng phải không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.


Bản lĩnh Hồ Chí Minh - bản lĩnh chính trị của Đảng chân chính cách mạng


Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, khi truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh chính trị với những quan điểm rất riêng và sáng tạo. Khi đó, Quốc tế Cộng sản chưa nhìn nhận đầy đủ vai trò của cách mạng thuộc địa và cho rằng, cách mạng ở các nước thuộc địa chỉ có thể thắng lợi sau khi cách mạng vô sản thắng lợi ở các nước tư bản (chính quốc). Tháng 5-1921, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mạng các nước thuộc địa ở châu Á có thể chủ động giành thắng lợi và còn “có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. Là người hoạt động quốc tế sôi nổi, nhất là trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng tranh thủ sự ủng hộ, đoàn kết, giúp đỡ của đồng chí, bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng của dân tộc mình. Nhưng Người ý thức rất rõ là phải dựa vào thực lực của chính mình để tự giải phóng, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Ý chí tự lực, tự cường của Người là rất rõ ràng và đã trở thành ý chí của toàn Đảng và toàn dân tộc.


Ở một nước thuộc địa, phong kiến lạc hậu như Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ chính sách tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp; từ đó, Người đã viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Ở xứ thuộc địa, mâu thuẫn dân tộc là cực kỳ gay gắt; vì vậy, đấu tranh giải phóng dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, chứ không phải là đấu tranh giai cấp như ở các nước tư bản phương Tây. Đó là điều rõ ràng trong quan điểm của Nguyễn Ái Quốc. Các giai cấp bóc lột ở Việt Nam (địa chủ, tư sản) đều nhỏ bé, một bộ phận có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”. “Nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có tài sản gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì cam chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được”. “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”.


Do đặc điểm và mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp như thế, nên khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2-1930), trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu rõ mục tiêu chiến lược là: Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, để đi tới xã hội cộng sản. Đảng chủ trương tranh thủ mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội vào thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Quan điểm đó của Nguyễn Ái Quốc đã không được Quốc tế Cộng sản và một số đồng chí hiểu đúng, thậm chí còn cho là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên trì giữ vững quan điểm nêu cao đấu tranh dân tộc, và phải đến Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (tháng 7-1935), một số đồng chí trong Quốc tế Cộng sản mới chia sẻ với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc, khi Quốc tế Cộng sản chủ trương các đảng cộng sản phải lập Mặt trận dân tộc, dân chủ chống nguy cơ chủ nghĩa phát-xít, nguy cơ chiến tranh thế giới. Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc có thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản nêu rõ mình đã 8 năm trong “tình trạng không hoạt động”, vì thế “Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”.


Năm 1938, Quốc tế Cộng sản đồng ý để Nguyễn Ái Quốc trở về nước để lãnh đạo phong trào cách mạng. Cần nhấn mạnh rằng, thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX đã chứng minh quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là đúng đắn, sáng tạo, không giáo điều. Hội nghị Trung ương Đảng (tháng 11-1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì, họp ở Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) đã chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc ở Hà Quảng, Cao Bằng. Tại đây, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941). Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc với mục tiêu giành cho được độc lập, với tinh thần độc lập trên hết, dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Vấn đề lợi ích giai cấp phải phục tùng lợi ích dân tộc: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.


Chủ trương đúng đắn đó đã đoàn kết mọi lực lượng có thể và phát huy được sức mạnh toàn dân tộc quyết “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, để làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trên tầm cao nhận thức, giành được độc lập, tự do cho dân tộc đã có lợi ích của bộ phận, giai cấp trong đó. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp đã thể hiện bản lĩnh chính trị và tầm trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại quan điểm phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn của đất nước, không nên “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”.


Những năm 1945 - 1946, cách mạng Việt Nam phải chống giặc ngoài, thù trong, tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng tỏ rõ bản lĩnh và sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời có những quyết sách khôn khéo, “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Ngày 11-11-1945, Đảng tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, bảo toàn lực lượng. “Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất. Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế”.


Trong lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tư duy sáng tạo, phân tích hoàn cảnh cụ thể của đất nước, kết hợp với việc học hỏi kinh nghiệm các nước, nhưng không máy móc, giáo điều. Năm 1956, Người đã nhận thức “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”. “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”. “Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước... cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội”. Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích điều kiện của Việt Nam vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu. “Trong những điều kiện như thế, chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện nay”. Người chỉ rõ: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”.


Trong quá trình lãnh đạo và cầm quyền, Đảng cũng phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm, hoặc trên những vấn đề lớn, hoặc trong phạm vi hẹp hay ở một số đồng chí. Đó là, sai lầm “tả” khuynh trong Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ (năm 1931), Trung ương đã kịp thời phê phán khuyết điểm của một số đồng chí trong hợp tác vô nguyên tắc với các phần tử tơ-rốt-xkít và về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; là việc tồn tại 2 Xứ ủy (Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải Phóng) ở Nam Kỳ trước Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945. Khi Đảng nắm chính quyền, một số cán bộ đã phạm những lầm lỗi: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời phê bình và yêu cầu sửa chữa. Khi xảy ra sai lầm trong cải cách ruộng đất (năm 1956), Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự phê bình trước nhân dân và quyết tâm sửa sai. Tự chỉ trích, tự phê bình khi phạm sai lầm là yêu cầu đối với một đảng chân chính cách mạng. Người nêu rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng của Người đã, đang và sẽ mãi mãi soi sáng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Bản lĩnh Hồ Chí Minh chính là bản lĩnh chính trị của Đảng chân chính cách mạng, thể hiện ở những nội dung chủ yếu: Một là, Đảng nêu cao khát vọng độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng bào; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, đồng thời tuyệt đối trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa; trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không xa rời những mục tiêu chiến lược căn bản đó. Hai là, độc lập, tự chủ, luôn luôn tinh thần xuất phát từ thực tiễn của cách mạng, đất nước để vận dụng sáng tạo lý luận khoa học Mác - Lê-nin, lựa chọn hình thức, phương pháp đấu tranh thích hợp và phương châm, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả. Kiên quyết chống chủ nghĩa xét lại, cơ hội “tả” khuynh, “hữu” khuynh; đồng thời, chống giáo điều, nóng vội, duy ý chí. Ba là, nắm vững nguyên tắc cách mạng, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo về sách lược “dĩ bất biến ứng vạn biến”; chủ động, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết giữ vững nền độc lập, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, không hoang mang, dao động trong hoàn cảnh hiểm nghèo, vững tin ở thắng lợi. Bốn là, thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm với thái độ nghiêm túc, cầu thị và quyết tâm sửa chữa. Những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền đều được Đảng sửa chữa có kết quả, từ đó củng cố được niềm tin của nhân dân, tăng cường thống nhất, tinh thần đoàn kết trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.


Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị - nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh nói chung và xây dựng Đảng về chính trị nói riêng


Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị có mối quan hệ mật thiết với các nội dung xây dựng Đảng về chính trị và có ảnh hưởng lớn đến cả xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị là yêu cầu đặt ra với Đảng và cũng là yêu cầu đặt ra với từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.


Báo cáo chính trị, Báo cáo về công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng và Nghị quyết của Đại hội XIII, đều đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Những nội dung cơ bản đó trong xây dựng Đảng có quan hệ mật thiết và quyết định lẫn nhau, để hướng tới mục tiêu chính trị là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xét đến cùng, vấn đề xây dựng Đảng về chính trị của một đảng lãnh đạo, cầm quyền như Đảng ta có ý nghĩa quyết định bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, bản chất nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam.


Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị với nội dung căn bản: “Kiên định và không ngừng vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại. Kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trình độ, trí tuệ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược. Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”.


Từ thực tiễn đổi mới, Đảng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm. Trong đó, bài học hàng đầu là: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Kinh nghiệm trước hết trong công tác xây dựng Đảng là: “nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ; đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.


Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm, bài học xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, nội dung, phương hướng xây dựng Đảng về chính trị hiện nay cần được chú trọng trên những vấn đề lớn:


Thứ nhất, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, cương lĩnh xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.


Trong xây dựng Đảng về chính trị, vấn đề hàng đầu là xây dựng, hoàn chỉnh và bảo đảm tính đúng đắn của cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng. Đó cũng là điều kiện cơ bản cho sự lãnh đạo, cầm quyền thành công của Đảng Cộng sản. Cương lĩnh, đường lối bao giờ cũng là sự kết hợp giữa nguyên lý lý luận, quy luật khách quan với đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử của đất nước, của cách mạng ở mỗi thời kỳ và phải luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng, phát triển lý luận một cách sáng tạo. Nhờ vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh cách mạng mà Đảng đề ra đường lối cách mạng giải phóng và đường lối kháng chiến thích hợp để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến toàn thắng. Trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trước đổi mới đã có lúc Đảng chưa nhận thức đúng đắn các quy luật, rơi vào nóng vội, chủ quan, duy ý chí nên đã mắc phải những sai lầm, khuyết điểm. Đường lối đổi mới của Đại hội VI (tháng 12-1986) vừa sửa chữa khuyết điểm, vừa đổi mới tư duy lý luận để nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) được bổ sung, phát triển năm 2011 chính là sự tiếp nối tư duy đó. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn để làm rõ nhiều vấn đề mới do sự vận động và phát triển của đất nước và thời đại đặt ra.


Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa trung thành với lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với không ngừng phát triển lý luận, đổi mới nhận thức. Trung thành mà không thể phát triển thì sẽ sa vào giáo điều, bảo thủ, trì trệ; phát triển mà không trung thành sẽ có thể mắc vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội và chệch hướng. Mối quan hệ giữa kiên định nguyên tắc với đổi mới sáng tạo phải luôn luôn được đặt ra với Đảng, với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược - đội ngũ có vai trò hoạch định đường lối.


Nhiều vấn đề xây dựng Đảng về chính trị đang đặt ra đối với đường lối, chủ trương lớn, những quyết sách chiến lược của Đảng cần có giải pháp xử lý kịp thời, gắn liền với việc hoàn chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các quy luật của thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa nhà nước với thị trường và xã hội. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì chính sách, pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hóa đường lối của Đảng và do đó, có quan hệ mật thiết với xây dựng Đảng về chính trị. Chính sách, pháp luật càng hoàn thiện, có hiệu lực, chính là hiện thực hóa có hiệu quả đường lối, Cương lĩnh của Đảng. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một mối quan hệ lớn rất quan trọng, đó là quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là vấn đề lớn về chính trị, xã hội của Đảng Cộng sản cầm quyền. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng là thuộc phạm trù Đảng lãnh đạo chính trị, xây dựng nền chính trị vì dân và do đó, cũng là yêu cầu xây dựng Đảng về chính trị.


Thứ hai, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ, trí tuệ của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược.


Bản chất giai cấp công nhân của Đảng là sự hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, giải phóng triệt để dân tộc, giai cấp, xã hội và con người; là tính tiền phong cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và khát vọng xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc; là phẩm chất chính trị cao đẹp, đức hy sinh, ý thức tổ chức, tính kỷ luật, phong cách làm việc nghiêm túc, tinh thần tập thể gắn liền với tác phong công nghiệp. Trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển mạnh mẽ, thì bản chất giai cấp công nhân còn là trình độ trí tuệ, là nền học vấn hiện đại. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự tiêu biểu về trí tuệ.


Bản lĩnh chính trị của Đảng cần được nhận thức sâu sắc như điều kiện bảo đảm cho Đảng hoàn thành sứ mệnh của một đảng chân chính cách mạng lãnh đạo đất nước, xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, trong điều kiện một thế giới đầy biến động, khó lường, phải nâng cao “năng lực dự báo”, phân tích, đánh giá đúng đắn thực tiễn của đất nước và “xu thế phát triển của thời đại”. Điều đó đòi hỏi Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần luôn luôn nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị. Những quyết sách chính trị của Đảng phải bảo đảm sự đúng đắn, chính xác, không bị động, bất ngờ trên tất cả các lĩnh vực. Bản lĩnh chính trị của Đảng đặt ra yêu cầu mọi tổ chức đảng, cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên, “trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược” phải nâng cao tính chiến đấu. Kiên quyết phê phán, loại bỏ những sai trái, khuyết điểm, bảo vệ cái đúng, bảo vệ những cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; dám đổi mới, sáng tạo, dám vượt qua và có đủ bản lĩnh, năng lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ.


Xây dựng Đảng về chính trị luôn luôn hướng tới khả năng hiện thực hóa tốt nhất, có hiệu quả nhất cương lĩnh, đường lối của Đảng, tức là thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, của giai cấp và dân tộc. Sau khi đã có đường lối đúng đắn, thì toàn bộ vấn đề là ở năng lực thực hiện đường lối, là hành động thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đưa ra nhận định rằng, khâu tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Cần phải nâng cao hơn nữa khả năng cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời “khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện”.


Thứ ba, xây dựng Đảng về chính trị là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, đề cao trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân.


Trong công cuộc đổi mới, Đảng kiên định lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đổi mới đã ngày càng làm sáng tỏ hơn nhận thức về chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng đã được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Một trong những đặc trưng đó là xây dựng xã hội “do nhân dân làm chủ”; bởi vậy, cần xây dựng và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa trong xã hội là cơ sở rất quan trọng và cũng là yêu cầu khách quan để phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh nội dung “Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng”. Đó là nội dung cần được nhận thức rõ và kiên trì thực hiện. Khi khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phong cách làm việc, khắc phục tình trạng quan liêu xa rời thực tế, xa rời nhân dân; lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ.


Cần nhận thức rõ, nội dung xây dựng Đảng về chính trị được Đại hội XIII nhấn mạnh là khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tính kiên định đó thể hiện trách nhiệm cao của Đảng đối với đất nước và nhân dân trên con đường phát triển, đồng thời cũng là trách nhiệm đối với lịch sử, đối với con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn - sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Mục tiêu chính trị của Đảng, của dân tộc và con đường phát triển đó là duy nhất đúng đắn, không thể là con đường nào khác.


Trách nhiệm chính trị của Đảng đối với sự phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc và sự bình yên trong cuộc sống của nhân dân là rất quan trọng. Đó không chỉ là sứ mệnh, là nguyên tắc mà còn là lương tâm, danh dự của Đảng. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu đều được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định điều đó. Thực tế cho thấy, ở ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương, đơn vị nào mà trách nhiệm chính trị được đề cao và thực hiện nghiêm túc thì nơi đó đạt được nhiều thành quả trong sự phát triển, niềm tin của nhân dân được củng cố, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng cao. Mọi biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm đều mang lại hậu quả tiêu cực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì thế mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị cần nghiêm túc, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân./.(HD)


ST

BÁC HỒ VÀ NHỮNG TIÊN ĐOÁN THIÊN TÀI KHOA HỌC

 

"Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì Độc lập, vì Tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, 

Tiến lên chiến sĩ đồng bào,

Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn!" -Thư xuân của Bác  1969.


"Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay" - Di chúc của Bác 1969.


Những dự báo của Người hoàn toàn không mang mầu sắc thần linh, huyền bí. Trái lại, đó là những dự báo khoa học có hàm lượng trí tuệ cao; là đòi hỏi tất yếu của những suy tư, trăn trở trước vận mệnh dân tộc của một nhân cách lớn; là sản phẩm của tư duy khoa học, logic và biện chứng ở một trí tuệ siêu việt, am tường đông - tây, kim - cổ; là sự đúc kết những trải nghiệm phong phú qua mấy chục năm bôn ba khắp chân trời, góc bể và thực tiễn hết sức sôi động của Cách mạng Việt Nam...


- Tháng 8-1914, khi đang ở Anh, trong bức thư gửi cụ Phan Chu Trinh, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã viết: "...Tiếng súng đang rền vang. Thây người đang phủ đất. Năm nước lớn đang đánh nhau. Chín nước đã vào vòng chiến. Cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng cháu đã nói với bác về cơn dông sấm động này...". Như vậy trong một bức thư gửi trước đó, Bác đã tiên đoán Chiến tranh thế giới lần thứ 1 (1914-1918) sắp sửa nổ ra.


- Năm 1924 , trong bài "Đông Dương và Thái Bình Dương", Bác đã dự báo về nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới mới và tiên đoán: "Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ  sức với chủ nghĩa tư bản". Với tầm nhìn chiến lược, Bác còn thấy trước Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh nó sẽ trở thành miếng mồi béo bở cho các tên đế quốc nhòm ngó, khu vực này "tương lai có thể trở thành một lò lửa của cuộc chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải  nai lưng ra gánh". Những tiên đoán này, 15 năm sau trở thành hiện thực. Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, phát-xít Đức tấn công Liên Xô, các nước xung quanh Thái Bình Dương trở thành chiến trường ác liệt.


- Tháng 5-1941, tại Hội nghị Trung ương ở Pác Bó, Bác đã dự liệu thời cơ tổng khởi nghĩa là lúc Liên Xô thắng Đức; Mỹ, Anh, Trung Quốc phản công đánh bại Nhật Bản. Cần thấy rằng, dự báo này đưa ra lúc Đức chưa tấn công Liên Xô, Nhật chưa tấn công vùng đất do Mỹ, Anh kiểm soát. Nhờ phán đoán tài tình như vậy nên Bác đã yêu cầu  Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đình chỉ chủ trương khởi nghĩa đầu năm 1944, đồng thời phát động toàn Đảng, toàn dân tích cực chuẩn bị để đón thời cơ.


- Ngày 1-1-1942, trên báo "Việt Nam độc lập" số 114, Bác viết bài thơ "Chúc năm mới", mở đầu cho sự ra đời thể loại Thơ chúc Tết của Người. Bài thơ tràn đầy niềm lạc quan vào triển vọng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.  Lúc này, cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên Xô đang ở giai đoạn khó khăn, còn bọn phát-xít thì đang "làm mưa làm gió"  trên các chiến trường. Trả lời câu hỏi: Năm nay tình hình thế giới và trong nước sẽ thế nào? Trong bài "Năm mới, công việc mới" cùng in trong số báo trên, Bác khẳng định: "Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại; Anh, Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta độc lập tự do". Trên thực tế chúng ta đã tiến hành Tổng khởi nghĩa vào đúng thời cơ mà Bác đã dự đoán, giành thắng lợi trong thời gian ngắn.


- Tháng 2-1942 , Bác biên soạn cuốn "Lịch sử nước ta" theo hình thức diễn ca. Cuối tác phẩm có mục "Những năm tháng quan trọng" ghi những sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc, sự kiện cuối cùng, Bác viết: "1945 - Việt Nam độc lập". Khi đưa đi in, một số đồng chí băn khoăn hỏi lại thì được Bác khẳng định: "Được rồi, cứ thế in". Đúng là một dự báo thiên tài. Trong khi các nguyên thủ của phe Đồng minh họp tại Tehran (năm 1943), dự tính rằng, phải đến năm 1946 mới có thể hoàn toàn đánh bại lực lượng phát-xít, kết thúc chiến tranh, thì lịch sử lại diễn ra đúng như tiên đoán của Người. Tháng 5-1945, phát-xít Đức đầu hàng, Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật, Mỹ ném bom  nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, Nhật đầu hàng vô điều kiện. Chớp thời cơ đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta nổi dậy tổng khởi nghĩa giành độc lập, tự do.


- Trong năm 1953. Theo nhà báo Hà Đăng (báo Nhân dân- Xuân Đinh Dậu) thì vào năm 1953, tại một hội nghị kháng chiến- hành chính bàn về thuế nông nghiệp, Bác Hồ lên nói để kết thúc hội nghị. Sau đó, Bác chỉ định luật sư Phan Anh lẩy Kiều (tức là chọn rút ra một vài câu trong Truyện Kiều, để phỏng theo phong cách, vần điệu Truyện Kiều mà làm ra câu thơ của mình). Luật sư hưởng ứng ngay:

"Diệt thù giải phóng quê ta

Ấy là nghĩa nặng, ấy là tình sâu"

Bác Hồ tiếp luôn: 

"Đành lòng chờ đó ít lâu

Chầy ra thì cũng năm sau vội gì"

Câu lẩy Kiều của Bác Hồ là một lời tiên đoán tài tình. Đúng một năm sau, năm 1954, quân dân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ, kết thúc thành công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


- Năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng ngay lúc đó, Bác đã chỉ rõ thắng lợi này mới chỉ là bước đầu và cảnh báo rằng, đế quốc Mỹ sẽ nhảy vào thay thế Pháp ở Đông Dương, Người nhận định: "Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt  Nam, Lào". Trên cơ sở đó chúng ta đã chủ động về chiến lược, tích cực chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 


- Năm 1960, Bác đã tiên đoán thật là kỳ diệu: chậm nhất là 15 năm nữa nước nhà sẽ thống nhất. Trong Diễn văn lễ mừng Quốc khánh 2-9-1960, có đoạn viết: "Trong lúc chúc mừng ngày Quốc khánh vĩ đại lần thứ 15, chúng ta càng nhớ đến đồng bào ta ở miền Nam đang anh dũng đấu tranh chống  chế độ tàn bạo của Mỹ - Diệm. Chúng ta gửi đến đồng bào miền Nam mối tình ruột thịt và hứa với đồng bào rằng: Toàn dân ta đoàn kết nhất  trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc - Nam nhất định sẽ sum họp một nhà". Bác gạch dưới trong bản thảo các chữ "chậm lắm là 15 năm nữa". Đúng 15 năm sau,  mùa xuân 1975,  với thắng lợi  vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước ta đi đến thống nhất như tiên đoán diệu kỳ của Người.  


- Cuối năm 1967, khi làm việc với Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bác đã tiên liệu: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua". Từ kinh nghiệm ở Triều Tiên, trước khi thua, Mỹ đã ném bom hủy diệt Bình Nhưỡng, Bác đã dự báo sớm: "Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội". Thực tế đã diễn ra đúng như dự báo thiên tài của Người. Tháng 12-1972, Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội và Hải Phòng. Chỉ  sau khi thất bại nặng nề trong trận "Điện Biên Phủ trên không", ý chí xâm lược bị đập tan, Mỹ mới chịu ký kết Hiệp định Paris, thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và rút hết quân về nước.


- Năm 1968, trong lúc chiến trường miền Nam có hơn 50 vạn quân Mỹ cùng một số quân ngụy được Mỹ trang bị, huấn luyện và chỉ đạo tác chiến, Bác đã dự báo con đường để đi đến thắng lợi là: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Thực hiện chủ trương đó, ta không dốc toàn lực để tiêu diệt lớn quân Mỹ như đã tiêu diệt quân Pháp mà chỉ cần đánh cho quân Mỹ thương vong nhiều ở những trận có quy mô vừa và nhỏ cũng buộc chúng phải rút quân về. Trái lại, để làm cho ngụy nhào, ta đã tổ chức nhiều trận đánh lớn vừa tiêu diệt vừa làm cho quân ngụy tan rã.


- Năm 1969, trước lúc đi xa, trong "Di chúc" của mình, Người vẫn rất lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của dân tộc: "Cuộc kháng chiến có thể còn kéo dài... Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta... Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà". 

ST

VỮNG TIN BỨT PHÁ

 


Diễn ra trong 6 ngày, Hội nghị Trung ương (HNTƯ) 5, khóa XIII tập trung xem xét, quyết nghị nhiều vấn đề rất hệ trọng, có tính chất quyết định đối với sự nghiệp cách mạng cả về trước mắt, lẫn chiến lược lâu dài.


Trong đó, vấn đề nhận sự quan tâm đặc biệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là việc xây dựng, ban hành chủ trương, giải pháp mới về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Tư duy và nội hàm của chủ trương lần này tự thân nó mang đến sự kỳ vọng mạnh mẽ; thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Trung ương Đảng cả trong nhận thức và hành động; nhằm quyết liệt tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ, chuyển biến về chất trong công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta vững mạnh từ gốc-từ mỗi “tế bào chi bộ” và từng đảng viên.


Khẳng định vị trí hết sức quan trọng của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên theo huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”, HNTƯ lần này một lần nữa khẳng định: Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân... Trên cơ sở đó, Trung ương thẳng thắn chỉ rõ nhiều khó khăn, vướng mắc; thống nhất ban hành các giải pháp đồng bộ, khả thi, nhằm nâng tầm, nâng chất của phần việc quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.


Để làm được điều đó, Trung ương tập trung đánh giá đúng, đủ thành quả của công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng thời gian qua; nhận diện các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ tổ chức cơ sở đảng và ở từng đảng viên. Đây là phần việc “tự soi, tự sửa”, “tự gột rửa”, “tự chỉnh đốn”... một cách thường xuyên; cũng là vấn đề có tính chất cần kíp của Đảng ta trong tình hình mới. Chỉ khi Trung ương hoạch định đường lối đúng, huy động sự vào cuộc của toàn Đảng, hệ thống chính trị và xã hội cùng quyết liệt hành động, hướng mạnh về cơ sở, kiên quyết ngăn chặn mọi “mầm bệnh” từ lúc phôi thai, xây dựng Đảng vững mạnh từ gốc rễ thì mới “vững gốc, bền cây”; triệt tiêu tuyệt đối mọi nguy cơ sinh ra trọng bệnh hoặc di căn ngoài mong muốn.


Hướng về cơ sở, lần này Trung ương dành nhiều thời gian thảo luận, thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Có nghĩa, để Đảng mạnh, hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đội ngũ cán bộ trong sạch từ Trung ương về cơ sở thì việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải làm quyết liệt, mạnh mẽ “từ trên xuống dưới” và “từ dưới lên trên”, ở tất cả các khâu, các cấp, các bộ phận... Trong đó, việc thành lập các ban chỉ đạo ở cấp tỉnh sẽ giúp sớm nhận diện, chỉ đạo đấu tranh hiệu quả với mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, rơi vào tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên. Trung ương cho rằng, đây là việc làm cần thiết, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp trong cuộc chiến đương đầu với “giặc nội xâm” theo đúng tinh thần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!".


Thể hiện rõ tinh thần “trọng cơ sở", thiết thực chăm lo cuộc sống nhân dân, vì sự phồn vinh, phát triển đất nước, HNTƯ 5, khóa XIII còn dành nhiều thời gian thảo luận, tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết HNTƯ 6, khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết HNTƯ 7, khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết HNTƯ 5, khóa IX tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể... Đây là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt trong việc tạo môi trường thuận lợi, kiến tạo động lực, huy động nguồn lực cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Với ý nghĩa đó, các đại biểu đề xuất nhiều giải pháp “đi trước, đón đầu” trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bắt nhịp với kinh tế số, xã hội số và tốc độ phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay.


Thẳng thắn nhìn vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, HNTƯ 5 đã nghiêm túc kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2021 gắn với thực hiện Kết luận HNTƯ 4, khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Hội nghị đánh giá hết sức kỹ lưỡng cả ưu điểm, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên các lĩnh vực của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đặc biệt là chỉ rõ nguyên nhân, đúc rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp khẩn trương, quyết liệt khắc phục vướng mắc, tồn đọng trong thời gian tới.


Như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nội dung trình HNTƯ lần này là những vấn đề rất lớn, rất khó và rất hệ trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên các lĩnh vực trọng yếu. Thế nhưng, với trách nhiệm cao trước Đảng, trước nhân dân, các đồng chí Trung ương đã nghiên cứu, thảo luận, quyết nghị nhiều chủ trương, giải pháp mới, thể hiện sự bổ sung, phát triển về lý luận, đáp ứng yêu cầu vận động mau lẹ của tình hình thực tiễn đất nước và thời đại. Đây là minh chứng thuyết phục, khẳng định thành công quan trọng của HNTƯ 5, khóa XIII.


Để tinh thần, chủ trương của HNTƯ 5, khóa XIII đi vào cuộc sống, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải có quyết tâm lớn và phương pháp đúng trong quán triệt, triển khai. Sẽ không có bất kỳ tập thể, cá nhân nào đứng ngoài cuộc, mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải “chung sức, đồng lòng”, sớm biến quyết tâm chính trị của Trung ương thành “mệnh lệnh hành động” trên thực tế; không ngừng nỗ lực vượt khó, tận tâm tận lực sản xuất, lao động sáng tạo, cống hiến vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc và sự nghiệp cách mạng.


Với tinh thần và trách nhiệm lớn, chắc chắn đất nước Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, tuy còn không ít khó khăn, thách thức, nhưng cũng đầy ắp quyết tâm bứt phá và niềm tin thắng lợi! (NĐ)


ST

KHÔNG NGỦ QUÊN TRÊN “VÒNG NGUYỆT QUẾ”

 

Nhìn lại chặng đường hơn 35 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đó là cả quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhưng chúng ta cũng không ngủ quên trên “vòng nguyệt quế” bởi nguy cơ tụt hậu về kinh tế vẫn hiện hữu.


Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử


Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước thực sự mang lại những thay đổi to lớn, có ý nghĩa lịch sử.


Quá trình tiến hành khảo sát ở một số địa phương trên cả nước, khi đặt vấn đề với các thế hệ trưởng thành trước đổi mới (năm 1986), nhiều người vẫn còn ám ảnh bởi sự tàn phá nặng nề của chiến tranh và những năm thiếu đói triền miên, người dân, nhất là nông dân làm không đủ no. Sau chiến tranh, các nước đế quốc áp đặt bao vây cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ. “Lương thực, thực phẩm khan hiếm do nước ngoài cấm vận. Trong nước, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp khiến người nông dân không mặn mà với ruộng đồng. Gia đình tôi cũng như nhiều người dân khác trong vùng thiếu đói triền miên”, ông Nguyễn Văn Bình (78 tuổi) ở xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội chia sẻ.


Tại Đại hội VI (tháng 12-1986), Trung ương Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước chuyển rất quan trọng trong nhận thức của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội (CNXH), về thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đại hội VI đã cụ thể hóa quan điểm mới về cơ cấu kinh tế, về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong chặng đường đầu tiên, từ đó đề ra chủ trương tập trung cho "3 chương trình kinh tế lớn". Đại hội có quan điểm mới về cải tạo XHCN, coi cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, phải trải qua thời gian dài và liên tục với những bước đi, hình thức thích hợp. Đại hội nhận rõ, ngay khi quan hệ sản xuất XHCN chiếm ưu thế vẫn tồn tại những thành phần kinh tế khác, như kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, kinh tế tư bản tư nhân ở mức độ nhất định...


Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta bắt đầu có những bước chuyển động tích cực và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt hơn 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008.


Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ liên tục tăng và hiện chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt hơn 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 280 tỷ USD. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước).


Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có hơn 70% dân số sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.


Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định và nhấn mạnh: Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới.


Trong thời gian qua, chúng tôi có dịp khảo sát tại nhiều địa phương trong cả nước. Mỗi người dân dù ở miền núi hay vùng biển, thành phố hay nông thôn đều có chung cảm nhận: Diện mạo đất nước đổi thay từng ngày. Đặc biệt đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong những năm qua, nhờ có sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, sự đoàn kết vượt khó vươn lên của đồng bào các dân tộc, kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có bước phát triển vượt bậc. Hiện nay, 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm, tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới đạt 96.7%; 100% xã có trường tiểu học, THCS; 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,5% xã có trạm y tế; 76,7% thôn có nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng...


Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH là đúng đắn. Những kết quả đạt được sau hơn 35 năm đổi mới là minh chứng cụ thể nhất, sinh động và thuyết phục nhất để đập tan các luận điệu xuyên tạc về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.


Chúng ta sẽ tụt hậu nếu...


Ngày 28-3-2021, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, khi giới thiệu, quán triệt chuyên đề về Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc (nay là Chủ tịch nước) đã khẳng định: “Cán bộ, đảng viên chúng ta đều có nguyện vọng đưa đất nước tiến bước. Đây là truyền thống quý, không chịu đói nghèo, không chịu tụt hậu, không chịu thua kém. Tất cả điều đó cũng là sự hiện thực hóa ước nguyện của Bác Hồ, đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu và mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân... Áp lực đối với chúng ta là liên tục tăng trưởng cao. Các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc có 2-3 thập niên liền liên tục tăng trưởng cao. Việt Nam hoàn toàn có khả năng tăng trưởng cao, nếu không có biện pháp để tăng trưởng cao thì sẽ tụt hậu, không phát triển bền vững, nghèo, thu nhập thấp, lạc hậu”.


Sau hơn 35 năm đổi mới, nhìn tổng quát, thế và lực của nước ta mặc dù đã mạnh hơn trước nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhiều nút thắt vẫn chưa được khơi thông; nguy cơ tụt hậu, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn rất lớn, nhất là một số nhóm yếu tố, nhóm dễ bị tổn thương trước các biến động kinh tế... Đặc biệt, Việt Nam sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, nền kinh tế có độ mở lớn và chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi tình hình kinh tế quốc tế ngày càng khó lường; những căng thẳng địa chính trị, sự gia tăng bảo hộ thương mại và các rủi ro tài chính... Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra cơ hội lớn cho các nước đang phát triển có thể đuổi kịp nước giàu, nhưng cũng đi kèm theo nhiều thách thức bị bỏ lại hoặc lệ thuộc hơn vào nước giàu.


Đại hội XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.


Để đạt mục tiêu đề ra, chúng ta phải đổi mới tư duy phát triển, thay đổi cách làm. Chính phủ thể hiện rõ sự điều hành linh hoạt trong đại dịch Covid-19 khi có những chính sách phù hợp, đặc biệt là Nghị quyết 128 được ban hành thực sự đã thổi một luồng sinh khí mới vào nền kinh tế Việt Nam. GDP năm 2021 ước tính tăng 2,58%; thu ngân sách nhà nước ước tính cả năm 2021 đạt 1.523,4 nghìn tỷ đồng, bằng 113,4% dự toán năm (tăng 180,1 nghìn tỷ đồng). Việt Nam cũng trở thành một trong 20 nước thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới.


Đầu năm 2022, lần đầu tiên Quốc hội khóa XV tổ chức Kỳ họp bất thường lần thứ nhất. Tại kỳ họp này, Quốc hội xem xét, quyết định thông qua những nội dung quan trọng, như: Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư...; Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025; Nghị quyết thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Cần Thơ... Phát biểu bế mạc kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh: “Tinh thần và kết quả của Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV đã tạo ra những khí thế mới, thời cơ mới, cùng với các chính sách mới được ban hành, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ, đồng lòng của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta tin tưởng sẽ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 và cả giai đoạn 2021-2025, đất nước sẽ tiếp tục phát triển bền vững, đời sống người dân sẽ được nâng cao, niềm tin của nhân dân sẽ càng được củng cố vững chắc”.


Quyết tâm của cả hệ thống chính trị được thể hiện rõ nét nhất, sinh động nhất khi ngay đầu Xuân 2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiến hành chuyến đi “xuyên Tết, xuyên Việt” khảo sát từ Bắc vào Nam, trực tiếp chỉ đạo, giải quyết những vướng mắc trong triển khai một số dự án trọng điểm. Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, Thủ tướng nhiều lần nhấn mạnh, đối với các bộ, ngành, địa phương: Quyết tâm phải rất cao, nỗ lực phải rất lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả, xác định trọng tâm, trọng điểm để lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư nguồn vốn, tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, hiệu quả.


Với niềm tin và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, Việt Nam đã và đang bứt phá, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới, nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu sớm trở thành nước thu nhập trung bình cao, tránh nguy cơ tụt hậu...


Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026, trong bối cảnh, tình hình có nhiều khó khăn, thách thức lớn hơn trước và gay gắt hơn so với dự báo, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu Chính phủ cần tập trung “ưu tiên thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, xử lý dứt điểm những “điểm nghẽn”, vướng mắc, tồn tại để phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn trên cơ sở tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của đất nước”, xứng đáng với vị thế là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất; trực tiếp tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện hiệu quả mọi chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam./.(HN)

 

ST

LỜI BÁC DẠY NGÀY 12/5

 

“Tất cả mọi người đều phải trông thấy ai sai thì phê bình. Phê bình để sửa chữa, để tiến bộ. Không phê bình là tự làm mất quyền dân chủ”. 12/5/1952

Là lời dạy của Bác Hồ đối với các chiến sĩ thi đua công nông binh trong bối cảnh các ngành, các giới, các lĩnh vực công tác hăng hái thi đua lập nhiều thành tích vì mục tiêu đánh thắng thực dân Pháp xâm lược. Trong đó, chiến sĩ đánh giặc trên chiến trường phải cùng với các ngành thi đua giết giặc, phải quí trọng, gìn giữ từng hạt gạo, hạt muối, từng viên đạn; công nhân phải tiết kiệm nguyên vật liệu, không được hoang phí. Chính phủ và đoàn thể hết sức chống bệnh quan liêu, chống tham ô, lãng phí. Muốn vậy, phải thực hiện tự phê bình và phê bình để sửa chữa khuyết điểm, để đạt được nhiều kết quả hơn nữa trong thi đua và để phát huy quyền dân chủ của mỗi người. 

Phương pháp và tinh thần tự phê bình theo tư tưởng của Bác đã trở thành nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng và trong bồi dưỡng, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đảng ta khẳng định: Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân; là vấn đề vừa cơ bản, vừa lâu dài; vừa là những yêu cầu trước mắt của công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, của quá trình đổi mới và cải cách bộ máy hành chính, đổi mới cung cách làm việc của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta thật sự trong sạch, vững mạnh, thực sự của dân, do dân, vì dân, hướng tới thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy các cấp trong toàn quân phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc việc tự phê bình và phê bình thông qua việc duy trì nền nếp và không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban Kiểm tra Đảng các cấp, của các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân. Tiến hành tự phê bình và phê bình từ trong cấp ủy ra ngoài đảng bộ, đơn vị; mở rộng dân chủ và phát huy quyền, trách nhiệm của các tổ chức quần chúng, của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia phê bình cho cấp ủy, các đồng chí bí thư, phó bí thư cấp ủy, cán bộ chủ trì, chủ chốt để xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, phát huy tốt tính tiền phong, gương mẫu của đỗi ngũ cán bộ, đảng viên… hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 

YÊU CẦU XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn cán bộ là gốc của mọi công việc. Đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận, việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Chất lượng, hiệu quả của đội ngũ cán bộ sẽ là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự ổn định và phát triển của Đảng, của chế độ. Trong Nghị quyết số 35-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII xác định: “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nhấn mạnh, xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh; đồng thời, phát huy cao nhất trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Phát huy tốt vai trò của các lực lượng tác chiến không gian mạng, an ninh mạng.

Như vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó lực lượng cán bộ tuyên giáo các cấp là nòng cốt; đây cũng là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Lịch sử từng chứng minh rằng trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào, nhất là cuộc đấu tranh “không tiếng súng” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, văn nghệ, yếu tố con người giữ vai trò quan trọng. Khi lực lượng này hùng hậu, tinh nhuệ, nhạy bén, có trình độ, nghiệp vụ, am hiểu lĩnh vực sẽ tạo sức mạnh như những “lá chắn”, “tấm phên dậu” vững mạnh để các thế lực thù địch không thể, không dám tuyên truyền hay có những hành vi kích động, chống phá Đảng, chính quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, lâu dài trong quá trình phát triển của Đảng, vì thế đội ngũ cán bộ làm công tác này luôn được quan tâm, bổ sung, tăng cường, làm việc theo chế độ chuyên trách với các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành. Với yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã và đang đổi mới, được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nắm chắc địa bàn, lĩnh vực phụ trách, có nhiều đóng góp lớn vào sự ổn định, phát triển của tình hình chính trị - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, có thể thấy đội ngũ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận hiện nay ở nước ta còn mỏng, thiếu và chưa đồng bộ. Ngoài một số cán bộ chuyên trách còn phần lớn đội ngũ là những cán bộ kiêm nhiệm hoặc được điều chuyển từ những vị trí, chức danh công tác khác, ít liên quan đến lĩnh vực chuyên môn. Bên cạnh đó, đội ngũ này thường xuyên biến động về số lượng, cơ cấu, thiếu những chuyên gia, nhà nghiên cứu đầu ngành, có uy tín và tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân.

Để có được những nhà khoa học, chuyên gia giỏi trong lĩnh vực này cần thời gian trau dồi, rèn luyện, trải nghiệm thực tiễn và sự tận tâm, tận lực, yêu nghề của mỗi cá nhân. Trong khi đó, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn cũng như cơ chế, chính sách ưu đãi cho đội ngũ làm công tác trên lĩnh vực đặc biệt quan trọng, nhạy cảm này lại chưa tương xứng, chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút được người tài. Riêng đối với lĩnh vực văn học - nghệ thuật, một lĩnh vực nhạy cảm, tinh tế, muốn hiểu sâu và nắm vững, đòi hỏi người lãnh đạo và làm công tác định hướng, tuyên truyền phải xuất phát, đi lên từ chính đời sống văn học - nghệ thuật. Trong khi đó, thực tế có nhiều cán bộ quản lý văn học - nghệ thuật có chuyên môn từ những ngành, nghề ít liên quan đến văn học - nghệ thuật. Số lượng các nhà nghiên cứu, phê bình, lý luận văn học - nghệ thuật hiện còn mỏng. Lĩnh vực tư tưởng, lý luận là lĩnh vực khó, đặc thù, đòi hỏi việc tuyển chọn đội ngũ phải khắt khe với những quy chuẩn về đạo đức, phẩm chất, tư cách và trình độ, kinh nghiệm chuyên môn cao. Vì thế, việc quan tâm xây dựng, củng cố lực lượng nhân sự trong các lĩnh vực này là việc làm cần thiết có ý nghĩa cấp bách hiện nay./.

                                                                                             VHT.

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẠO ĐỨC TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Giá trị văn hóa đạo đức là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc; đã soi sáng con đường giải phóng và phát triển đất nước, là một trong những nền tảng vững chắc để Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra đường lối và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ ở từng thời kỳ cách mạng. Văn hóa đạo đức trước hết là một bộ phận, thành tố của văn hóa tinh thần xã hội. Giá trị văn hóa đạo đức là những giá trị, chuẩn mực đạo đức in đậm trong nhận thức, hành động của cộng đồng, được xã hội thừa nhận và được thể hiện thông qua hành vi của con người. Đảng ta xác định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong tình hình mới, để phát huy giá trị văn hóa đạo đức của con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII, chúng ta cần chú trọng thực hiện có chất lượng, hiệu quả một số nội dung sau:

Một là, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân.

Yêu nước là lý tưởng thiêng liêng, lẽ sống cao đẹp, là tình cảm chủ đạo và định hướng giá trị cho hành động và cách ứng xử của con người Việt Nam. Đây là giá trị tiêu biểu hàng đầu trong văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam. Từ tình cảm yêu mến, gắn bó tha thiết với quê hương xứ sở; từ lòng tự hào, tự tôn dân tộc... Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một sự thống nhất chặt chẽ ý thức bảo vệ chủ quyền non sông đất nước, tinh thần độc lập dân tộc, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, quyết tâm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, không chịu khuất phục trước mọi thế lực xâm lược.

Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành giá trị, chuẩn mực cao nhất trong thang giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và là sức mạnh tiềm tàng, không bao giờ cạn trong nhân dân. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Đúng như Đảng ta đã xác định, phải “giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ”. Trong bối cảnh hiện nay, việc giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ cần phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cùng với bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, niềm tin, ý chí, cần thôi thúc hành động tự giác, hướng tới mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; “khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Hai là, khơi dậy, phát huy tối đa nguồn lực con người và lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Lòng trung thành là một trong những giá trị văn hóa đạo đức, được biểu hiện ở sự giác ngộ sâu sắc và quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân; thương yêu giúp đỡ đồng chí, đồng đội; đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân; “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”; “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”...

Ba là, khơi dậy tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế cao cả.

Đoàn kết dân tộc - gắn bó cộng đồng là bản chất, truyền thống của dân tộc Việt Nam, được biểu hiện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Đoàn kết dân tộc không chỉ là sự cố kết giữa các tộc người, tôn giáo, giai cấp trên mọi vùng, miền Tổ quốc, mà còn là sự gắn kết, sẻ chia, tương trợ lẫn nhau giữa người dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài trên cơ sở thống nhất về mục tiêu chung. Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Vì đồng bào ta đại đoàn kết. Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước (...). Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc...”. “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn...”. Chỉ có đoàn kết mới giành được chiến thắng, càng khó khăn gian khổ, càng phải đoàn kết chặt chẽ, rộng rãi và vững chắc; chỉ có đoàn kết mới tạo nên sự bền vững, đưa đất nước phát triển.

Thực hiện nhất quán “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”, Việt Nam đã và đang luôn là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Bốn là, khơi dậy giá trị cần cù, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của nhân dân và khát vọng phát triển đất nước.

Những giá trị cần cù, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo luôn tiềm ẩn trong hầu hết mỗi con dân đất Việt. Tùy vào những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể mà những “chất vàng mười” đó được “phát lộ” đến “mức độ” nào. Chính vì thế, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước là phải luôn tạo ra được những “chất xúc tác” quan trọng để không ngừng khơi dậy, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ những giá trị đã làm nên một dân tộc anh hùng. Trong giai đoạn cách mạng mới, giá trị đó cần phải được phát huy một cách tự giác, chủ động trong ý thức của mỗi cá nhân, cộng đồng, tập thể, đơn vị; hài hòa giữa cái riêng và cái chung, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi cá nhân, gia đình và trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân; biết đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước; biết sống “mình vì mọi người”...

Sự gương mẫu, thống nhất giữa lời nói và hành động của cán bộ, đảng viên sẽ là một trong những “chất xúc tác” quan trọng thôi thúc dân nghe, tin và làm theo. Chính vì thế, để khơi dậy và phát huy được những giá trị văn hóa đạo đức nêu trên trong mọi tầng lớp nhân dân, thì trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải luôn biết đặt mình trong tập thể, trong sự nghiệp cách mạng chung của Đảng và nhân dân; không buông lỏng kỷ luật, kỷ cương dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”.

Bốn là, khơi dậy giá trị cần cù, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của nhân dân và khát vọng phát triển đất nước.

Những giá trị cần cù, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo luôn tiềm ẩn trong hầu hết mỗi con dân đất Việt. Tùy vào những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể mà những “chất vàng mười” đó được “phát lộ” đến “mức độ” nào. Chính vì thế, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước là phải luôn tạo ra được những “chất xúc tác” quan trọng để không ngừng khơi dậy, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ những giá trị đã làm nên một dân tộc anh hùng. Trong giai đoạn cách mạng mới, giá trị đó cần phải được phát huy một cách tự giác, chủ động trong ý thức của mỗi cá nhân, cộng đồng, tập thể, đơn vị; hài hòa giữa cái riêng và cái chung, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi cá nhân, gia đình và trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân; biết đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước; biết sống “mình vì mọi người”...

Sự gương mẫu, thống nhất giữa lời nói và hành động của cán bộ, đảng viên sẽ là một trong những “chất xúc tác” quan trọng thôi thúc dân nghe, tin và làm theo. Chính vì thế, để khơi dậy và phát huy được những giá trị văn hóa đạo đức nêu trên trong mọi tầng lớp nhân dân, thì trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải luôn biết đặt mình trong tập thể, trong sự nghiệp cách mạng chung của Đảng và nhân dân; không buông lỏng kỷ luật, kỷ cương dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”.

                                                                                                      VHT.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 

Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của Đảng ta. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đặc biệt này thì công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có tài, có tâm, có tầm nhìn và bản lĩnh, ý chí cách mạng được xem là nhân tố đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Để nâng cao chất lượng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có những giải pháp cơ bản:

Một là, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của đội ngũ cán bộ chuyên trách tham gia trực tiếp vào công tác xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng. Đây là đội quân tinh nhuệ, tiên phong trên mặt trận tư tưởng. Qua học tập di sản lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua tổng kết thực tiễn, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải cung cấp được những luận cứ khoa học để tuyên truyền, phổ biến sâu rộng cho nhân dân hiểu sâu sắc hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về bản chất tốt đẹp của Đảng, Nhà nước ta; để người dân ngày càng vững tin vào Đảng, vào chế độ; biết cảnh giác và nhận diện rõ âm mưu, luận điệu sai trái, thù địch của các thế lực phản động ở trong và ngoài nước. Cần xác định rõ lực lượng chuyên trách và lực lượng thường xuyên (toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân) để phối hợp, tập hợp lực lượng và các giai tầng một cách nhịp nhàng, có hiệu quả. Phát huy thế mạnh của từng lĩnh vực, từng cá nhân và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận tư tưởng, lý luận rất rộng lớn, sự tấn công, chống phá của các thế lực thù địch rất đa dạng, tinh vi, nhiều thủ đoạn nên đòi hỏi kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị, chuyên môn và thế mạnh của từng cá nhân, cộng đồng trong việc chung sức, đồng lòng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, của các tổ chức, đoàn thể, tạo không gian, môi trường sống và làm việc khoa học, nhân văn, lành mạnh, vì sự phát triển của đất nước và của mỗi cá nhân. Việc nhận thức, đánh giá đúng vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ kích thích, động viên những người tham gia trực tiếp vào lĩnh vực đặc biệt này có thêm động lực, niềm tin để cống hiến; từ đó có những tham vấn, góp ý hữu ích cho các cơ quan, tổ chức Đảng trong việc nhận định tình hình, hoạch định chủ trương, chính sách một cách thiết thực, hiệu quả.

Hai là, đẩy mạnh việc đổi mới cơ chế, chính sách trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút người tài, người có bản lĩnh, kinh nghiệm để tạo ra một lực lượng cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có sự trao truyền, nối tiếp giữa các thế hệ. Tạo môi trường hấp dẫn (về điều kiện làm việc, chính sách tiền lương, nhà ở...) để người tài yên tâm công tác, tâm huyết với nghề, có nhiều đóng góp vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống lại âm mưu, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Đối với lực lượng trực tiếp làm công tác tuyên giáo các cấp phải có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng, kiên định và tuyệt đối trung thành với Đảng, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh, vừa phải thật sự tinh thông, nhanh nhạy và sáng tạo. Tạo điều kiện cho họ được tham gia các khóa học tập dài hạn, ngắn hạn về cả chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị. Khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ tuyên giáo chủ động, sáng tạo trong đổi mới phương thức hoạt động. Cổ vũ các phương thức hoạt động theo nhóm để có nhiều sáng kiến dự báo, giải pháp xử lý các tình huống tư tưởng; sử dụng triệt để những tiện ích, công nghệ thông tin hiện đại trong công tác tuyên giáo, trong phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...

Ba là, xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể trong việc nhận diện những nhóm, đối tượng chống phá, thù địch. Có chế tài, hành lang pháp lý đủ mạnh để cảnh báo, xử lý, răn đe những hành vi vi phạm, đồng thời bảo vệ đội ngũ, cán bộ làm công tác đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Trước mắt cần hướng dẫn và triển khai có hiệu quả Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015), Luật An ninh mạng (năm 2018) để mọi người dân hiểu và ý thức rõ về quyền lợi, trách nhiệm của bản thân trong việc cung cấp, xử lý và tiếp nhận thông tin và nhận diện, phân biệt được thông tin tốt - xấu, thật - giả trong thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin, In-tơ-nét, mạng xã hội, từ đó có phương thức bảo vệ an toàn cho bản thân và các cơ quan, tổ chức.

Bốn là, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh chính trị cách mạng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng tiếp cận In-tơ-nét, mạng xã hội, thành thạo ngoại ngữ; tiên phong trong nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh phức tạp hiện nay. Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải tạo được niềm tin và uy tín đối với cộng đồng thông qua những bài viết, bài phát biểu, qua những hành động cụ thể mang tính thiết thực, sắc về lý luận và sâu về thực tiễn, xứng đáng là đội quân tinh nhuệ, là lực lượng xung kích, tiên phong của Đảng trên mặt trận đầy chông gai, thử thách nhưng cũng rất vinh quang, tự hào.

                                                                                                  VHT.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 10/5

 

Một trong những điều căn dặn hệ trọng Bác Hồ viết bổ sung lần cuối trong bản “Di chúc” của Người, được đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam công bố tại Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1969. Đó là: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Thực tiễn trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng. Đó không chỉ là lực lượng trực tiếp gánh vác và giải quyết những nhiệm vụ hiện tại, mà còn là đội ngũ kế cận, nguồn bổ sung năng lực để kế thừa và tiếp tục phát triển sự nghiệp của những thế hệ đi trước. Sự nghiệp cách mạng là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều nhiệm vụ, giai đoạn khác nhau, đòi hỏi sự hy sinh, cống hiến của nhiều thế hệ.

Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng ta luôn quan tâm giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ cách mạng cho đời sau, nhất là thế hệ trẻ; coi trọng giáo dục, rèn luyện toàn diện về mọi mặt, chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho thế hệ trẻ, tạo điều kiện để thế hệ trẻ nâng cao trình độ, ổn định cuộc sống, nghề nghiệp và tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội… Lời căn dặn về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau thể hiện sự hiểu biết sâu sắc trong tầm nhìn và tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ nhìn hiện tại mà còn hướng về tương lai; không chỉ dành tâm huyết cho sự nghiệp cách mạng trước mắt, mà còn chăm lo vun trồng cái gốc của sự nghiệp đó để nó trở nên vững bền.

Luận điểm đó chứa đựng thế giới quan khoa học, cách mạng và biện chứng của một lãnh tụ cách mạng, phản ánh tầm nhìn xa, trông rộng của một nhà hiền triết, một nhà văn hóa lớn; đã trở thành một chân lý của cách mạng. Thấm nhuần lời căn dặn của Người, cấp uỷ, tổ chức đảng, chính uỷ, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm chăm lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức và năng lực công tác tốt, tác phong làm việc khoa học; có số lượng và cơ cấu hợp lý, cân đối và đồng bộ; thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, bảo đảm kế thừa, liên tục vững chắc trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ… đã trực tiếp góp phần quan trọng vào kết quả lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.

                                                                             VHT.

 

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN, XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC!

         Ngày 2/3, tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine. Sau khi nghị quyết trên được thông qua và thông tin các nước thành viên LHQ thể hiện quan điểm, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức phản động trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế… Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Chính vì vậy: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế”.

Tiếp đó, ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine. Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường…”.

Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng; chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế./.
Yêu nước ST.

Nâng cao công tác tuyên truyền trong hoạt động chống lại các thế lực thù địch trên các phượng tiện thông tin

 


Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo; môi trường xuất hiện nhiều yếu tố bất ổn mới, tác động nhanh, mạnh và bất ngờ. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh thời cơ, thuận lợi cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh đó các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng tu tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước. Coi trọng hướng vào đối tượng là cán bộ trẻ và học viên trong các nhà trường. Tố chức nhiều nội đung, hình thức tuyên truyên, giáo dục phong phú gắn với phê phán, phản bác các luận điệu sai trái bằng những lý lẽ sắc xảo, khoa học, khách quan, thực tế, có sức thuyết phục cao. Tăng cường công tác thông tin nội bộ, công tác tuyên truyền miệng, kịp thời định hướng tư tưởng, giải đáp thông tin từ trong nội bộ, từ cơ sở tạo ra dư luận rộng rãi phản bác thông tin quan điểm sai trái, thủ địch. Tăng cường thông tin, tuyên truyền đối ngoại, quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam ra nước ngoài để người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân các nước hiểu đúng tình hình trong nước, ủng hộ chúng ta.

Đó là một trong những giải pháp hiệu quả nhất trong trong hoạt động chống lại các thế lực thù địch trên các phượng tiện thông tin của chúng ta hiện nay.

 

Nâng cao nhận thức trong đấu tranh chống lại hoạt động chống phá của các thế lực thù địch


Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; trong giai đoạn hiện nay, nhất là các cấp ủy Đảng đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động sẽ đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” với những âm mưu thủ đoạn thâm độc mới để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đứng trước nhiệm vụ trên đòi hỏi cần nâng cao nhận thức trách nhiệm, phát huy vai trò của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các lực lượng chuyên trách và đảng viên phải nắm chắc âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; định hướng tư tưởng, tạo thành sức mạnh để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao cho. Đồng thời, thường xuyên củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả, phát huy vai trò chức năng, nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan báo chí, tuyên truyền, hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên ở tất cả các cấp; huy động mọi nguồn lực, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, chuyên gia tham gia đấu tranh. Xây dựng các tổ nhóm chuyên trách, hình thành các quy chế phối hợp và cơ chế hoạt động trong các cơ quan chuyên môn; Có chính sách phù hợp để duy trì và phát huy có hiệu quả các tổ chức hoạt động. Chủ động tổ chức đấu tranh theo phương châm: “chủ động, kiên quyết, nhạy bén, kịp thời, liên tục, triệt để”.

Vấn đề đặt ra trong đấu tranh chống lại hoạt động chônga phá của các thế lực thù địch trên các phương tiện thông tin, mạng xã hội

 


Hiện nay, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên nhiều lĩnh vực và đang diễn biến phức tạp, khó lường. Thời gian gần đây chúng triệt để sử dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ cao, để đẩy mạnh âm mưu chống phá với nhiều thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt. Các thế lực phản động, thù địch thời gian qua đã tập trung tuyên truyền, xuyên tạc phủ nhận Học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hòng bóp méo lịch sử, chống phá đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc bản sắc văn hóa dân tộc, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Lợi dụng các phương tiện truyền thông để truyền bá những tư tưởng, quan điểm, thông tin xấu độc, kích động, lôi kéo, tổ chức biểu tình, bạo loạn; gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Vấn đề đặt ra là mọi tổ chức, cá nhân cần phải nắm chắc quan điểm của Đảng, pháp luật Nhà nước trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên các loại hình thông tin, mạng xã hội; chủ động tiếp cận thông tin định hướng trên không gian mạng; Nắm chắc đặc điểm, âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, chống phá của địch trên các loại hình thông tin nhất là không gian mạng để tổ chức đấu tranh hiệu quả; Thường xuyên cảnh giác, đấu tranh ngăn chặn, bác bỏ mọi luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Xin lỗi vì chúng tôi đã xuất khẩu rừng rú sang xứ văn minh!

 Phạm Minh Vũ, tay phản động dân chủ cuội, tiếp tục tại trận đấu Nhật Bản – Việt Nam, Phạm Minh Vũ lại ngứa mồm với bài viết xuất khẩu rừng rũ sang xứ văn minh nhằm chê bai việc cổ động viên Việt Nam hò hét quá to theo đúng kiểu họ cổ vũ như thi đấu tại sân nhà. Không thể phủ nhận một số hành động chưa phải của cổ động viên Việt Nam nhưng vì thể mà tự nhục, từ nhận đồng bào mình rừng rú thì Phạm Minh Vũ lại chứng minh góc nhìn lệch lạc của mình.

Cổ động viên thì họ phải cổ động, đi xem bóng đá không phải xem nhạc thính phòng. Đến sân bóng nó khác ở chỗ xem tivi là dù xem ở sân không nét, không rõ bằng tivi nhưng cái điều mọi người muốn trải nghiệm đó là không khí, là bản sắc.

Ở Anh, cổ động viên dường như rất ít khi ngồi ghế. Suốt 90 phút của trận đấu, họ luôn ồn ào, chưa bao giờ hết ồn ào. Họ hát liên tục để cổ vũ đội bóng hoặc bất kỳ cầu thủ nào của họ mà họ yêu quý, thậm chí là ghét.

Ở Nam Phi, tại World cup 2010, các bạn sẽ không thể nào quên được âm thanh của kèn Vuvuzela với tần số vượt qua cả xe ben chạy ngoài đường. Đã có sự lo ngại về âm thanh đó, đã có ý kiến nên cấm cái kèn đó nhưng rồi, tiếng kèn vẫn vang lên trên khắp các sân vận động, trong các trận đấu World cup. Để rồi cả thế giới biết về cái kèn đặc trưng của Nam Phi, biết về một phần nền văn hóa nơi đây.

Ở UAE, vòng loại World cup 2022, UAE đấu với Việt Nam hay bất kể đối thủ nào khác, chúng ta ấn tượng bởi cái thời tiết nắng nóng khắc nghiệt cùng thứ âm nhạc đây ma mị của cổ động viên nước này. Ai đó không nghe quen chứ cổ động viên UAE vẫn tự tin khoe cá tính.

Với đối tuyển Iceland, họ không có một đội bóng mạnh nhưng họ có một đội cổ động viên tràn đầy sức mạnh với màn cổ vũ Viking và nó trở thành một hiệu ứng cho cổ động viên trên khắp thế giới. Viking mang lại sự hào hùng, sức mạnh lịch sử của dân tộc Iceland và họ tự hào vì điều đó.

Trong trận đấu Nhật Bản – Việt Nam vừa qua, cổ động viên Nhật nghe nói cũng hò hét to lắm, nhưng khi đội như hòa như thua, nhìn sang mấy ông Việt Nam to còi không ai bằng, họ xem bóng ở sân nhà mà như đi xem sân khách nên mới có chuyện chỉ trích phong cách cổ vũ lẫn nhau.

Nghe nói Phạm Minh Vũ để được xuyên tạc, chống phá đất nước mình mà giờ này đang trốn chui, trốn lủi ở nước ngoài. Cho chúng tôi xin lỗi và biết ơn nước ngoài nào đó khi đã xuất khẩu một rừng rú sang xứ văn minh của các vị. Bởi chúng tôi đã xuất một kẻ thân hình của người tinh khôn nhưng đầu óc của người tối cổ, mồm chưa rụng hết lông nên hay ngứa mồm nói xàm, nói nhảm và nói ngu./.

Rừng rú - văn minh

 Phạm Minh Vũ, ngay mồng 1 Tết đã có bài viết phê phán việc Thủ tướng ta ăn mừng khi đội tuyển Việt Nam của chúng ta cho đội tuyển Trung Quốc ăn hành, thì nay trong trận đấu giữa  Việt Nam – Nhật Bản, tên này lại vẫn “ngựa quen đường cũ” với bài viết xuyên tạc, về việc xuất khẩu rừng rú sang xứ văn minh để chê bai những hành động cổ vũ của cổ động viên Việt Nam.

Đi xem bóng đá thì phải cổ động, chứ đi xem mà ngồi yên một chỗ, không nói không rằng gì thì khác nào đi xem kịch c.âm.  Với người xem bóng đá, việc theo dõi, hò hét và chia sẻ cảm xúc khiến chúng ta xích lại gần nhau. Bóng đá có thể khiến những con người hoàn toàn xa lạ trở nên hòa đồng, thân thiện.  Tuy nhiên không thể phủ nhận việc sẽ có những cổ động viên quá khích hay có những hành động hơi quá, chưa phải của một số cổ động viên. Nhưng nếu chỉ vì những hành động đó mà bị xem là không văn minh, là “rừng rú” thì tôi lại cười cho cái nhìn của tên này quá. Chẳng nhẽ mức độ nhận thức của hắn chỉ đến vậy thôi sao hay đây chính là công cụ kiếm tiền của hắn.

Thử nhìn xem các trận bóng đá ở các quốc gia khác, các giải bóng đá khác xem thế nào, cổ động viên ở đấy ra sao. Chỉ nhìn vào trận đấu vòng loại World cup 2022 giữa UAE với Việt Nam, chúng ta  cũng đã thấy ấn tượng bởi cái thời tiết nắng nóng khắc nghiệt cùng thứ âm nhạc đầy ma mị của cổ động viên nước này. Sao lúc đó không thấy hắn lên tiếng gì nhỉ?

Nhưng cũng phải đặt lại câu hỏi liệu cổ động viên của Nhật Bản có tuân thủ đúng quy định của khán giả đó hay không, hay quy định này chỉ giành cho người Việt. Khán giả của Nhật chắc là không hò hét đâu nhỉ, nhưng cái này phải để những người có mặt ở đó cho ý kiến nhé.

Rõ ràng với con rận như Phạm Minh Vũ hay những con rận khác đang sống chui lủi ở xứ văn minh thì tôi xin cảm ơn Nhà nước ta đã cho đi xuất khẩu những kẻ “rừng rú” đó, để chúng ta còn lại một cánh đồng xanh tỏa hương thơm ngát./.