Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2022

Giảng viên, học viên Học viện Quốc phòng dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ.

 

Trong 2 ngày 10 và 11-5, đoàn cán bộ, giảng viên, học viên Lớp đào tạo Cao cấp chỉ huy-tham mưu cấp chiến dịch-chiến lược khóa 11, Học viện Quốc phòng do Trung tướng Trương Đức Nghĩa, Phó giám đốc Học viện Quốc phòng làm trưởng đoàn đã đến dâng hoa, dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

 Giáo dục truyền thống và tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Côn Đảo

Giảng viên, học viên Học viện Quốc phòng dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ
Dâng hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn. 

Tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn và Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9, Di tích Quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị, đoàn đã dâng hoa, dâng hương, bày tỏ lòng thành kính đối với các anh hùng liệt sĩ đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân và xương máu của mình vì nền độc lập, tự do Tổ quốc.

Trong khuôn khổ chuyến công tác, đoàn cũng đã đến tham quan các địa danh lịch sử trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công tác tôn giáo. - Nhà nước tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt quan tâm tới các vùng, địa bàn tôn giáo; các vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. - Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về tôn giáo, gắn tôn giáo với quốc phòng, an ninh nhằm tạo cơ sở chính trị - pháp lý cho quản lý và thực hiện hiệu quả gắn tôn giáo với quốc phòng và an ninh trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Tổ chức thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hướng dẫn các tín đồ đấu tranh, chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo để kịch động gây rối xâm phạm an ninh quốc gia. - Chủ động nắm chắc tình hình diễn biến của tôn giáo, kịp thời phát hiện và giải quyết hậu quả những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ tín đồ, trong quan hệ giữa tín đồ với các chức sắc và quan hệ giữa các tôn giáo. - Khuyến khích tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, giáo dục… phù hợp với nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật. - Nhà nước thống nhất chủ trương xử lý vấn đề tranh chấp nhà, đất sử dụng vào mục đích tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo trên cơ sở pháp luật để tạo sự đồng thuận xã hội; hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú lý luận Mác-Lê nin

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

HAIVAN

Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức Lễ báo công.

 Sáng nay 12/5/2022, tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức Lễ báo công dâng lên các đức Vua Hùng, các bậc tiền nhân về kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhân dịp Kỷ niệm 132 năm Ngày sinh của Người (19/5/1890 – 19/5/2022). Dự buổi Lễ có đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; các đồng chí lãnh đạo Bộ Tư lệnh Quân khu 2; đại biểu các ban, ngành tỉnh Phú Thọ; đại biểu các tỉnh, thành Hội, Hội Cựu chiến binh các cơ quan Trung ương và đại diện các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và các đại biểu dự Lễ báo công tại Đền Hùng

Tại buổi Lễ, Trung tướng Khuất Việt Dũng, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam báo cáo thành tích của Hội đã đạt được trong thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nổi bật là: Hội Cựu chiến binh từ Trung ương đến cơ sở đã tích cực tuyên truyền, động viên cựu chiến binh hãy “Học Bác từ những việc nhỏ nhất và làm theo Bác bằng công việc hằng ngày”; tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, gắn với phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu”, “Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi”, “Tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông và xây dựng văn hóa giao thông”,... giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền lửa cho thế hệ trẻ. Năm 2021, toàn Hội đã thực hiện tốt phong trào thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu, trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả, chung sức, đồng lòng cùng toàn dân thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19”. Với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”, “Mỗi hội viên cựu chiến binh, cựu quân nhân là một chiến sĩ, mỗi gia đình cựu chiến binh, cựu quân nhân là một tổ chiến đấu, mỗi cấp Hội cơ sở là một đơn vị chiến đấu”, các cấp Hội đã vận động trên 600.000 lượt cán bộ, hội viên tham gia hơn 5.760 “Tổ Covid cộng đồng”. Mỗi hội viên tự nguyện đóng góp ít nhất hai ngày lương và vận động gia đình, người thân, doanh nhân, doanh nghiệp cựu chiến binh cùng tham gia đóng góp, ủng hộ “Quỹ vắc-xin” của Chính phủ và hưởng ứng Chương trình “Triệu phần quà đại đoàn kết tiếp sức đồng bào miền Nam vượt qua đại dịch Covid-19” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động được trên 800 tỉ đồng,... góp phần cùng toàn dân đẩy lùi dịch bệnh, đưa đất nước bước vào trạng thái bình thường mới, được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Trước anh linh các Vua Hùng và các bậc tiền nhân; anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với các đức Vua Hùng đã có công dựng nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả đời mình cho độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; đồng thời xin hứa sẽ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; tích cực xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đẩy mạnh thực hiện các phong trào thi đua, cuộc vận động, chương trình do Trung ương, địa phương phát động, góp phần phục hồi, phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương sau đại dịch Covid-19.

Kết thúc Lễ báo công, chiều ngày 12 và sáng ngày 13, Hội Cựu chiến binh Tổ chức Hội nghị tập huấn công tác phòng, chống tội phạm, ma túy; Hội nghị xây dựng và nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến về an toàn giao thông năm 2022.

Lời Bác dạy ngày này năm xưa “Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được..."

 


“Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ” là câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói tại Lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an, ngày 16-5-1959. (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia-Sự thật, 2011, tập 12, tr. 221)

Bác chỉ rõ: “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù”. Bác căn dặn ngành công an muốn làm tròn nhiệm vụ “phải trau dồi đạo đức cách mạng, cũng chống chủ nghĩa cá nhân”, chống thói so bì đãi ngộ, chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể... Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ hơn cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù ngoại xâm, bởi nó ẩn sâu trong tư tưởng, suy nghĩ và hành vi của mỗi cá nhân, không dễ gì nhận thấy và cũng không dễ gì đánh đổ. Việc chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm cần thiết, thường xuyên của những người cộng sản chân chính, trong đó có những cán bộ ngành công an.

Lời dạy của Bác có giá trị bền vững, có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch bộ máy Nhà nước ta hiện nay. Học tập và làm theo Bác, chống chủ nghĩa cá nhân, các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là chi bộ cần coi trọng khâu giáo dục, nâng cao nhận thức, tăng cường quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn của quần chúng, để họ hiểu vào Đảng không phải là để thăng quan tiến chức mà là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mỗi người phải tự cảnh giác với chính mình, vượt qua được những tiêu cực, cám dỗ của lợi ích vật chất, những tác động mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế; cảnh giác trước sự chống phá, mua chuộc, dụ dỗ của kẻ thù.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, phát huy tinh thần làm chủ tập thể, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; luôn đặt công việc, lợi ích của tập thể lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân; không ngừng nâng cao khả năng chuyên môn nghiệp vụ, làm chủ vũ khí trang bị; phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác; ra sức xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; xứng đáng là người quân nhân cách mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

HAIVAN

Cảnh giác với cái gọi là “nhân danh nhân dân” của các thế lực chống phá.

 Nói lên tiếng nói của người dân là cách hiệu quả nhất để thuyết phục người nghe. Chính vì thế, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng cái gọi là “nhân danh nhân dân”, “đại diện cho người dân” để xuyên tạc, kích động, lôi kéo người dân thực hiện các mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đây là chiêu trò khá tinh vi, bài bản, đòi hỏi chúng ta phải cảnh giác để nhận diện và kiên quyết đấu tranh.

Mưu đồ đặt người dân trong mối quan hệ đối lập với chính quyền

Đây vừa là mục đích, vừa là thủ đoạn nguy hiểm nhằm phá hoại một trong những mối quan hệ “rường cột” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch - người đóng vai “đại diện cho nhân dân”. Cách thức phổ biến được các đối tượng chống phá thực hiện là đánh đồng hiện tượng của một hoặc một nhóm người với toàn thể nhân dân. Từ sự việc của một người dân, họ tô vẽ, thổi phồng để tìm sự đồng cảm của nhóm người, sau đó cộng hưởng với quá trình “tam sao, thất bản” trên internet, mạng xã hội, sự việc ấy sẽ bị đẩy lên mang tính toàn thể nhân dân, tạo cớ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng”, tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền.

Với thủ đoạn: tạo ra sự đối lập, đẩy mâu thuẫn lên cao, châm ngòi cho các hoạt động chống đối chính quyền, cùng với việc xuyên tạc hình ảnh người dân thống khổ, các đối tượng chống phá còn thêu dệt nên hình ảnh của đảng độc tài, xã hội mất dân chủ, chính quyền yếu kém, quan tham,… không dừng lại ở đó, họ còn tìm mọi cách khai thác, nhào nặn, thêm thắt, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đặc biệt, lợi dụng việc một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, đưa ra xét xử do liên quan đến những vụ án tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng chống phá suy diễn, quy chụp, cho đó là tình trạng phổ biến, hệ quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, là “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo,… gây hoài nghi và làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Song, dù có cố tình tô vẽ thế nào, thì các thế lực chống phá cũng không thể che lấp sự thật là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền nhà nước các cấp thực sự là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân vẫn luôn bền chặt, gắn bó. Mọi hoạt động của chính quyền đều hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Gần đây, với những nỗ lực cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử, chuyển đổi số,... đã góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân với chính quyền các cấp, chính quyền phục vụ nhân dân tốt hơn, cán bộ, công chức gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bức xúc của nhân dân. Từ đó, nhân dân ngày càng phát huy dân chủ, tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạt động, phong trào, cuộc vận động của các cấp chính quyền phát động hiệu quả hơn.

Ngụy tạo hình tượng “người dân thống khổ” để đổ lỗi cho chính quyền

Đây cũng là một chiêu trò khá quen thuộc của các thế lực thù địch, nhằm tung tin giả để dẫn dắt dư luận theo mưu đồ của chúng. Theo đó, hình tượng người dân trong con mắt của các thế lực thù địch rất đa dạng, nhưng chung quy lại đều có hoàn cảnh thống khổ theo nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, họ bám vào các đối tượng vi phạm pháp luật1, đã bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội với các tội danh như: “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”, “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,... để “phù phép” thành những “người tử tế”, “người hùng”, những “tù nhân lương tâm”,… rồi kêu gọi, lập “hội nhóm”, ra sức kêu oan cho các đối tượng này.

Một chiêu thức khác là họ lợi dụng một số người dân có khiếu kiện với chính quyền để tạo ra “dân oan”. Không cần biết việc khiếu kiện đúng hay sai, một mặt, các thế lực thù địch tiếp cận, kích động để người dân thấy oan ức, tiếp tục các hoạt động khiếu kiện đông người, gây mất an ninh, trật tự xã hội,… mặt khác, họ sử dụng các phương tiện truyền thông để xuyên tạc, quy chụp chính quyền không vì lợi ích của người dân. Chúng còn hậu thuẫn cho các đối tượng chống đối trong các tôn giáo tạo cớ kêu gọi đòi đất đai trái pháp luật, gây chia rẽ tôn giáo với chính quyền, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối, làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Gần đây, xuất hiện một số trí thức, học sinh, sinh viên có nhận thức chính trị hạn chế, bị các thế lực thù địch lôi kéo, dụ dỗ tham gia bình luận, viết bài, quay video clip cổ súy quan điểm “dân chủ tư sản”, nói xấu chế độ, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước rồi tán phát trên blog, mạng xã hội và được các đài, báo phản động nước ngoài khai thác triệt để, tạo hình ảnh về một lực lượng quần chúng bất bình với chế độ ở trong nước.

Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch cũng không từ một thủ đoạn nào để khắc họa một bức tranh xám xịt, một tương lai không lối thoát cho đồng bào nơi đây. Cùng với đó, mảnh đất màu mỡ là “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” luôn được các thế lực thù địch cày xới để trồng những “mầm non” ảo tưởng về sự áp bức, bất công của chế độ ta.

Họ cũng rất “chịu khó” đi từng ngõ ngách của xã hội, lân la, dò hỏi, góp nhặt thông tin, hình ảnh một số người dân có những tranh chấp dân sự chưa được giải quyết thấu đáo, có hoàn cảnh khó khăn,… để xây dựng nên hình mẫu một người “dân oan” với những ngôn từ khổ sở, thê thảm, rồi kích động, xúi giục mọi người đấu tranh đòi quyền lợi cá nhân. Khi người dân sập bẫy thì những bài viết, video clip xuyên tạc, bóp méo sự thật được xuất hiện và nhanh chóng chia sẻ trên một số trang mạng của các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí. Trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, khi cả hệ thống chính trị và toàn dân đang căng mình, nỗ lực để vừa chống dịch hiệu quả, vừa chăm lo tốt an sinh xã hội cho người dân thì các thế lực thù địch lợi dụng thời điểm khó khăn của đất nước, “đục nước béo cò” ra sức tung ra nhiều chiêu trò xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận thành tựu chống dịch của đất nước. Thời điểm này, những luận điệu vu khống, sai sự thật, như: “người dân đấu tranh đòi quyền sống giữa đại dịch”, “hàng nghìn người tham gia biểu tình, tuần hành phản đối chính quyền, kéo lên phường cướp kho gạo vì bị bỏ đói hơn tuần nay”,… được chia sẻ rộng rãi trên một số trang mạng, xúi giục, kích động người dân phá rào cách ly, tấn công lực lượng chức năng. “Tát nước theo mưa”, các tổ chức phản động ở hải ngoại cũng ra sức hùa theo với luận điệu kích động, như: “dân đã bắt đầu biết xuống đường đấu tranh bất bạo động”, “Ai chưa nhận được hỗ trợ hãy làm như họ, xuống đường ngay và luôn”, v.v.

Hoàn thành xong công đoạn tô vẽ hình tượng người dân khổ sở, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách vu khống, bóp méo sự thật, ra sức đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước, cho rằng “họ là nạn nhân” của sự “độc tài, độc quyền”, tham nhũng,… của chế độ ta. Như lẽ tất yếu, cái đích mà chúng luôn ngắm tới của những nỗ lực công kích ấy là chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,… tiến tới đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng để đấu tranh hiệu quả.

Bộ mặt “Rắn độc giả lươn”

Không khó để tìm các bài viết, video clip mang nội dung kêu gọi hãy “cứu dân”, bảo vệ “dân oan”, “thương cho người Việt phải chịu đựng cái đảng cầm quyền bất lực, tham lam, tàn ác đến bao giờ”,… mà các thế lực thù địch đăng tải trên các trang mạng xã hội. Thoạt nghe, người ta dễ lầm tưởng họ đang “thương cho dân, lo cho nước”, song thực chất là họ cố tình che đậy bản chất phản động đằng sau những luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân; làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

Được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự, như: “nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “hội dân oan”, “hội cựu tù nhân lương tâm”, “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “liên đoàn lao động Việt tự do”,… các đối tượng chống phá tổ chức nhiều diễn đàn như: “tiếng nói người dân”, “người dân lên tiếng”, “diễn đàn dân chủ”,… để rêu rao cho cái gọi là “đại diện cho người dân”, đưa ra những yêu sách về tự do dân chủ, tự do ngôn luận,…; thậm chí viết “thư ngỏ”, tham gia “hiến kế” cho Đảng, Nhà nước ta với những nội dung ngông cuồng, phi thực tế. Bỉ ổi hơn, với thủ đoạn “bí mật giật dây”, “sau bức màn che”, chúng mua chuộc, lừa gạt, ép buộc người dân nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn cho những cuộc biểu tình, đập phá, để rồi khi vi phạm pháp luật tất cả hậu quả người dân đều gánh chịu, còn những kẻ tự xưng “đại diện cho người dân” thì ung dung ở trời Tây nhận thưởng với thành tích lừa dân của chúng.

Đóng vai “một người lạ”, những kẻ cơ hội chính trị, có tư tưởng bất mãn cũng lân la tận các ngõ xóm, tìm đến những người có hoàn cảnh khó khăn; chúng giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm với người nghèo, lao động thất nghiệp, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, dựng lên bức tranh bi thảm về một xã hội bất công rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng.

Song, dù có “khoác tấm áo người dân” với bất kỳ cái tên gì thì bản chất giả nhân, giả nghĩa của các thế lực chống đối đã dần bị bộc lộ. Mọi ngôn từ mĩ miều “thương cho dân”, đồng cảm với “nỗi khổ” của người dân cuối cùng đều dẫn đến mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước. Bản chất xấu xa của những kẻ “đại diện cho người dân” đã bộc lộ hoàn toàn khi đưa ra những lời hô hào, xúi giục, kích động nhân dân “đoàn kết”, đấu tranh đòi “cái bánh vẽ” tự do, dân chủ, nhân quyền,... để phá hoại sự bình yên của cuộc sống, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta.

Thực tế đã chứng minh, bản chất côn đồ, coi thường pháp luật của “tổ đồng thuận” không thể đại diện cho đa số người dân xã Đồng Tâm chất phác, lương thiện; hay sự trơ trẽn của “nhóm dân oan” do Cấn Thị Thêu cầm đầu không thể đánh đồng với những người dân đang kiến nghị theo đúng trình tự pháp luật. Những chứng cứ không thể chối cãi cùng những lời thú tội của những kẻ “đại diện cho người dân” này trước tòa cho thấy rõ chân tướng xấu xa của chúng. Và những kẻ ảo tưởng ngông cuồng về quyền lực, sống lưu vong, tị nạn chính trị theo đuôi các tổ chức phản động ở nước ngoài không có đủ tư cách để đại diện cho quyền lợi của người dân Việt Nam trong nước và người Việt yêu nước ở nước ngoài. Và, rắn độc vẫn mãi là rắn độc, các thủ đoạn, chiêu trò của họ nhằm gài bẫy người dân sẽ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Do vậy, mỗi người dân cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, tránh trở thành người tiếp tay cho tội phạm, là “con rối” bị các đối tượng chống đối lợi dụng, đưa vào vòng lao lý.

Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Campuchia lần thứ nhất.

 (15/5), Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất được tổ chức tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (Việt Nam) và huyện Snoul, tỉnh Kratie (Campuchia).

*Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5

Đoàn đại biểu Việt Nam do Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu và đoàn đại biểu Campuchia do Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Samdech Pichey Sena Tea Banh dẫn đầu cùng tham dự giao lưu.

Trong khuôn khổ Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, thiết thực, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước, như: Chào cột mốc chủ quyền, trồng cây hữu nghị, chứng kiến tuần tra chung của lực lượng bảo vệ biên giới hai nước, khánh thành Trạm Y tế Quân dân y hữu nghị Việt Nam-Campuchia, thăm và tặng quà học sinh tại các trường học Việt Nam và Campuchia...

Cũng tại giao lưu, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước sẽ tiến hành hội đàm nhằm đánh giá tình hình thế giới, khu vực, kết quả hợp tác quốc phòng song phương thời gian qua và phương hướng hợp tác quốc phòng song phương thời gian tới.

Các đại biểu dự Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5

*Chiều 14/5, tại Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (tỉnh Bình Phước) đã diễn ra Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng đoàn Việt Nam và Đại tướng Neang Phat, Quốc vụ khanh Thường trực Bộ Quốc phòng Campuchia, Trưởng đoàn Campuchia đồng chủ trì đối thoại.

Chào mừng ngài Quốc vụ khanh Thường trực và đoàn Bộ Quốc phòng Campuchia sang Việt Nam tham dự Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam-Campuchia lần thứ 5, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến nhấn mạnh, đối thoại lần này có ý nghĩa rất quan trọng, diễn ra ngay trước thềm Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ nhất. Kết quả đối thoại sẽ được báo cáo lên hai Bộ trưởng để xem xét quyết định tại cuộc hội đàm trong khuôn khổ chương trình Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ nhất giữa hai nước.

Đây cũng là một hoạt động trọng điểm trong “Năm hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Campuchia-Việt Nam 2022”, kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (24/6/1967 - 24/6/2022); kỷ niệm 45 năm “Con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Campuchia Hun Sen (20/6/1977 - 20/6/2022).

Đại tướng Neang Phat cảm ơn sự đón tiếp trọng thị của Việt Nam, đồng thời đánh giá cao công tác chuẩn bị Đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 5 của Bộ Quốc phòng Việt Nam. Đại tướng Neang Phat khẳng định, Campuchia luôn coi trọng thúc đẩy quan hệ với Việt Nam.

Đại tướng Neang Phat cũng nhất trí với ý kiến của Trưởng đoàn Việt Nam về tầm quan trọng của việc tổ chức Đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 5 ngay trước thềm Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới lần thứ nhất.

Tại đối thoại, hai bên trao đổi về tình hình thế giới, khu vực và những vấn đề cùng quan tâm; hai bên thống nhất đánh giá, môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực hiện đang có nhiều biến động phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất ổn, trong đó có thách thức an ninh biển; nhấn mạnh hai nước cần tăng cường hợp tác cùng nhau giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Hai bên chia sẻ nhận thức chung về những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, sự nổi lên của các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đang đặt ra những thách thức lớn đối với hòa bình, ổn định ở khu vực, thế giới. Hai trưởng đoàn nhấn mạnh, trong bối cảnh đó, ASEAN tiếp tục phát huy vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực, thúc đẩy đối thoại và hợp tác giữa các quốc gia nội khối cũng như các đối tác bên ngoài vì hòa bình, ổn định khu vực.

Hai bên đánh giá cao kết quả hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Campuchia trong thời gian qua. Hai trưởng đoàn khẳng định, dịch Covid-19 bùng phát ảnh hưởng trên mọi lĩnh vực, tuy nhiên hợp tác giữa quân đội hai nước vẫn đạt được những kết quả tích cực.

Hai bên tiếp tục duy trì gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao với các hình thức linh hoạt; triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác về công tác tuyên truyền, giáo dục về quan hệ hữu nghị hai nước, hai quân đội; tìm kiếm, quy tập và hồi hương hài cốt liệt sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Campuchia; phối hợp bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu vực biên giới hai nước, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thăm hỏi lẫn nhau, đầu tư, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; duy trì tốt tuần tra chung giữa Cảnh sát biển, Hải quân hai nước; thúc đẩy hợp tác quân y, đào tạo...

Về phương hướng hợp tác trong thời gian tới, hai bên thống nhất thúc đẩy các nội dung hợp tác: Phối hợp triển khai hiệu quả Kế hoạch tổ chức các hoạt động trong “Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Campuchia-Việt Nam 2022”; tăng cường tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp với hình thức phù hợp, duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc phòng song phương hiện nay, nhất là Đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng; tiếp tục đẩy mạnh hợp tác giữa các lực lượng quản lý biên giới thông qua các hình thức như: Giao lưu, kết nghĩa, chia sẻ thông tin, tuần tra chung, phòng, chống, trấn áp tội phạm, ngăn chặn hiệu quả các hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép; phối hợp phòng, chống dịch bệnh; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hai nước nhận thức sâu sắc về mối quan hệ hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa hai Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước nhân dịp các ngày lễ, các sự kiện chính trị lớn của hai nước và hai quân đội; nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo; hợp tác chặt chẽ trong các cơ chế, diễn đàn đa phương...

Nhân dịp này, Trưởng đoàn Việt Nam chúc mừng Bộ Quốc phòng và Quân đội Hoàng gia Campuchia vừa qua đã chủ trì rất thành công các hội nghị ASEAN theo hình thức trực tiếp (sau hai năm bị ảnh hưởng do dịch Covid-19, các hội nghị phải tổ chức trực tuyến). Trưởng đoàn Việt Nam khẳng định, Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ để Campuchia đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2022.

Cấp dưới chăm lo cấp trên

 

Trong câu chuyện trà nước dịp cuối tuần, một anh bạn gần nhà chủ ý buôn chuyện, rồi hăm hăm trách cứ vị lãnh đạo cấp trên của mình.

Anh bảo: “Thủ trưởng mà chẳng quan tâm đến tư tưởng, tình cảm của cấp dưới và nhân viên thì ắt sẽ mất dần tình cảm mà tập thể dành cho”.

Chẳng biết câu chuyện nội bộ ở cơ quan anh thế nào, thế nhưng với trách nhiệm của một đảng viên, tôi buộc phải đấu lý: “Thế anh em cấp dưới ở cơ quan anh đã bao giờ thật sự quan tâm và chăm lo cho cấp trên chưa?”.

Không chủ ý trả lời câu hỏi đấy, anh cán bộ cho rằng nguyên tắc bất biến là cấp trên phải quan tâm đến cấp dưới cả trong công việc lẫn đời tư. Người xưa từng răn dạy “Thần thiêng vì bộ hạ”, bao nhiêu thành quả của cơ quan là bởi công sức của cấp dưới tạo lập, nên cấp trên phải biết ơn cấp dưới, từ đó mà quan tâm, chăm lo đến cấp dưới. Trong khi đó, không ít vị “sếp” tỏ ra quan cách, thiếu gần gũi với cấp dưới. Họ chỉ biết giao việc, đặt ra yêu cầu cao mà không chú ý nhiều đến điều kiện hoàn thành; cũng chẳng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, nhân viên thì âu khó bề mà tụ hội được sức mạnh đoàn kết và trí tuệ tập thể.

Cấp dưới chăm lo cấp trên
Ảnh minh họa / Vov.vn 

Những thủ trưởng như vậy thì quả là đáng trách, nhưng cũng cần thấy rằng: Ở mỗi cơ quan thường có đến hàng chục, hàng trăm cán bộ, nhân viên, làm sao mà một vài thủ trưởng có thể chiều lòng hết thảy; cũng không thể đủ sức bao quát, quán xuyến đời tư, công việc từng thành viên. Có chăng, sự quan tâm ở đây cần nhìn ở nghĩa là cấp trên luôn sẵn sàng dấn thân vì nhiệm vụ chung, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của bản thân. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, cấp trên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ. Sự quan tâm còn thể hiện ở chuẩn mực đời sống sạch sẽ thanh liêm; giải quyết, ứng xử các mối quan hệ công bằng, dân chủ với mọi người... Sự quan tâm cần phải được hiểu ở nghĩa đó thì mới đúng và đầy đủ!

Quả đúng vậy, ít có thủ trưởng nào có thể “nắm tay cả ngày”, chăm chút đến từng chi tiết nhỏ nhặt của cấp dưới. Tập thể cũng cần tường rõ, cấp trên luôn có những nỗi khổ riêng, vì áp lực của “cấp trên của cấp trên” đặt ra; vì khối lượng công việc ngồn ngộn và áp lực hoàn thành với yêu cầu cao; rồi còn giải quyết các mối quan hệ với những cơ quan khác mà cấp trên là “sứ giả” của tập thể... Bởi thế, dù ở bất kỳ tổ chức nào thì cũng rất cần sự quan tâm của cấp dưới dành cho cán bộ chủ trì, chủ chốt, nhất là người đứng đầu.

Tất nhiên, sự quan tâm của cấp dưới ở đây là tình cảm, thái độ và mức độ am hiểu nhân phẩm, tính cách cá nhân và đặc thù công việc của cấp trên; nắm rõ chức năng, nhiệm vụ trên cương vị công tác của thủ trưởng để chia sẻ, hỗ trợ bằng cả lời nói lẫn việc làm; nhất là việc tham mưu đúng, tổ chức thực hiện hiệu quả những mệnh lệnh, quyết định, nhiệm vụ mà cấp trên giao phó. Ở đây, sự quan tâm hoàn toàn không phải sự xu nịnh, hầu hạ thủ trưởng để lấy lòng; càng không phải chuyện nịnh hót, xoa tay, cúi đầu, không dám nêu lên chính kiến của mình với cấp trên; cũng không phải chuyện quà cáp, biếu xén để thể hiện sự quan tâm của mình dành cho cấp trên.

Để hiện thực sự quan tâm của cấp dưới đối với cấp trên, từng cán bộ, đảng viên phải tự soi lại mình, cảm nhận cho đúng, đủ về sự quan tâm của cấp trên dành cho tập thể và từng thành viên. Không thể có chuyện thông qua một vài biểu hiện bức xúc của những thành phần cá biệt, rồi xới lên, gây bức xúc trong dư luận tập thể. Không thể có chuyện khi thực hiện nhiệm vụ thì thụ động, ỷ lại cấp trên, mong chờ lời chỉ đạo hoặc sự “cầm tay chỉ việc”, nhưng khi có được tí công trạng thì đặt điều kiện về lợi ích, ép buộc thủ trưởng phải “trả ơn” bằng các yêu sách quá đáng hoặc không chính đáng. Đó thực sự là những biểu hiện tâm lý tập thể tiêu cực, cần được nhận diện, đẩy lùi. Thay vì chờ cấp trên quan tâm theo ý thích của riêng mình, tại sao cấp dưới không chủ động tìm hiểu lý do và bày tỏ, thể hiện sự quan tâm của mình bằng trách nhiệm trong công việc, chuẩn chỉ trong ứng xử quan hệ và lối sống với những người đang gánh trách nhiệm “đứng mũi, chịu sào”.

Trong khi đó, những người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt cũng rất cần chú tâm nhiều hơn đến trách nhiệm bản thân trong thực hành nêu gương; thường xuyên rèn luyện đạo đức và tác phong quần chúng; gắn bó nhiều hơn với cấp dưới và nhân viên để thực sự là hạt nhân đoàn kết trong cơ quan, tập thể. Tuyệt nhiên, không nên áp đặt cấp dưới sợ mình mà hãy làm cho họ nể mình.

Nguồn: QĐND.

Chung ước mơ

Một ngày cuối tuần tháng 4, khuôn viên Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 được đón những vị khách đặc biệt đến thăm, đó là những người cha, người mẹ... của lớp chiến sĩ mới. Dù trước đó họ chưa biết nhau, thế nhưng đến đây, ai cũng hồ hởi, thân tình như đã thân quen. Vợ chồng anh Hoàng Văn Tới và chị Phạm Thị Liên phấn khởi kể với mọi người sự háo hức được lên thăm hai con trai sinh đôi Hoàng Phi Hùng và Hoàng Phi Mạnh (chiến sĩ Đại đội 7, Tiểu đoàn 2); kể về sự trưởng thành, chững chạc của các con ngày hôm nay so với lúc ở nhà...

 Chị Liên chia sẻ: “Ban đầu, vợ chồng tôi cứ băn khoăn, lo lắng sợ các con khó thích nghi với môi trường quân đội. Lên đây, được các anh chỉ huy thông báo tình hình học tập, sự tiến bộ trong luyện rèn của các con và được tham quan đơn vị, vợ chồng tôi mừng lắm. Mới có hai tháng mà hai anh em trông đã rắn rỏi, khỏe mạnh, tinh thần phấn chấn, nói năng chững chạc. Chuyến này về, vợ chồng tôi có nhiều chuyện để kể cho hàng xóm láng giềng, để mọi người thêm hiểu về môi trường quân đội”.

Chung ước mơ
Anh em sinh đôi Hoàng Phi Hùng (bên trái) và Hoàng Phi Mạnh. 

Như để chứng minh lời mình nói, chị Liên “khoe” cuốn nhật ký của con trai Hoàng Phi Hùng gửi về những ngày trước đó. Ngay trang đầu cuốn nhật ký, Hùng nắn nót ghi: “Bắc Giang, ngày 10-4-2022. Con và những anh em nhập ngũ đợt này đã ở với nhau được gần 50 ngày. Bước vào cuộc sống của một người lính, con làm những công việc mà mình chưa hề biết, chưa hề làm bao giờ. Nhưng vào đây, các anh chỉ huy hướng dẫn và cũng nhờ các anh ấy mà chúng con ngày càng trưởng thành, không ngại việc khó...”.

Anh Hoàng Văn Tới (bố của Hùng và Mạnh) tiếp lời: “Hai con tôi đều có giấy báo trúng tuyển của mấy trường đại học. Nếu Hùng quyết tâm thực hiện nghĩa vụ quân sự thì theo quy định, Mạnh sẽ được hoãn nghĩa vụ quân sự. Vậy mà hai anh em bàn bạc, thống nhất giấu gia đình để viết đơn xung phong nhập ngũ. Mọi chuyện xong đâu đấy, các con mới làm công tác tư tưởng cho vợ chồng tôi...”. Cứ thế, hoàn cảnh gia đình được anh Tới chị Liên trải lòng. Ở thị trấn Vương, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, nhiều người biết gia đình anh chị vốn hiền lành, chân chất, chịu thương chịu khó.

Anh Tới làm nghề thợ xây, thường xuyên vắng nhà. Chị Liên mở cửa hàng may đo tại nhà, thu nhập tuy không cao nhưng bù lại, có thời gian vun vén cho gia đình, con cái. Vì vậy, chuyện anh em Hùng và Mạnh cùng lúc lên đường nhập ngũ, chị Liên khó tránh khỏi suy tư là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, được lên đơn vị, chứng kiến sự rắn rỏi, trưởng thành của hai con, bao băn khoăn trước đó cùng những mệt mỏi, vất vả của quãng đường dài dường như tan biến. Chị Liên bảo: “Tôi hoàn toàn bất ngờ trước môi trường đơn vị, chỗ nào cũng xanh, sạch, đẹp; còn chỗ ăn ở của các con thì gọn gàng, ngăn nắp, nền nếp. Thời gian biểu giờ nào việc đó, rất chặt chẽ và hợp lý. Điều này khiến vợ chồng tôi thật sự yên tâm về môi trường học tập và rèn luyện của các con”.

Trò chuyện với chúng tôi, Hoàng Phi Hùng bộc bạch: “Những ngày đầu, anh em tôi gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, nhất là trong sắp đặt trật tự nội vụ vệ sinh. Tuần đầu, mặc dù được tiểu đội trưởng kèm cặp sát sao, nhưng việc gấp chăn màn của tôi vẫn chưa đẹp và nhanh bằng các bạn. Tôi suy nghĩ, nội vụ vệ sinh mà mình làm không tốt thì việc học tập và rèn luyện sẽ không đạt kết quả cao được, như vậy thì xấu hổ với em trai, không là tấm gương cho em học tập. Từ suy nghĩ đó, tôi thêm động lực và quyết tâm phải làm tốt mọi chuyện”.

Quả thực, những ngày đầu, nếp sống, sinh hoạt, cường độ huấn luyện cao, kỷ luật nghiêm, giờ nào việc nấy khiến Hùng và Mạnh cảm thấy áp lực và gặp không ít khó khăn. Được sự quan tâm của chỉ huy đơn vị, qua hai tháng huấn luyện, Hùng và Mạnh ngày càng trưởng thành, tự tin hơn trong môi trường mới. Cả hai thường xuyên bảo ban nhau trong học tập cũng như cuộc sống sinh hoạt. Anh mà chưa đúng thì em nhắc nhở. Em làm chưa đúng thì anh bảo ban. Tranh thủ những lúc giải lao, họ lại giúp nhau chỉnh sửa những động tác ke chân, đánh tay, đi đều cho đúng, cho đều, cho đẹp. Trải lòng cùng chúng tôi, Hoàng Phi Hùng cho biết: “Trong tôi luôn nghĩ về gia đình, tự nhủ phải đạt được kết quả cao trong huấn luyện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Nhận xét về cặp sinh đôi Hoàng Phi Hùng-Hoàng Phi Mạnh, Trung úy Nguyễn Văn Thảo, Chính trị viên Đại đội 7, Tiểu đoàn 2 cho biết: “Hùng và Mạnh có lối sống hòa đồng, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ đồng chí, đồng đội. Tấm gương của hai anh em Hùng và Mạnh đã tạo thêm động lực, niềm tin, sức lan tỏa cho các chiến sĩ khác noi theo, cùng nhau thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Nhìn niềm vui, sự tự hào tỏa rạng trong ánh mắt của anh Tới chị Liên khi nói về các con, chúng tôi tin rằng, với những nỗ lực phấn đấu không ngừng cùng nguồn động viên, cổ vũ của gia đình, Hùng và Mạnh sẽ tiếp tục đạt những thành tích cao trong huấn luyện, tiếp tục nuôi dưỡng ước mơ được phục vụ lâu dài trong quân ngũ, góp sức mình bảo vệ Tổ quốc.

Nguồn: QĐND.

Vấn nạn ô nhiễm môi trường, khủng hoảng sinh thái và sự cần thiết phải xây dựng tư duy văn minh sinh thái.

 - Hiện nay, vấn nạn ô nhiễm môi trường sống, sự đe dọa của cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu đã và đang đặt ra cho nhân loại nhiệm vụ hết sức cấp bách, đó là cần phải thay đổi tư duy cũng như thái độ, hành vi, nhất là thay đổi những hành động cụ thể trong việc ứng xử với giới tự nhiên. Có như vậy, con người mới có thể ngăn chặn được cuộc khủng hoảng môi trường toàn cầu và từ đó hình thành được văn minh sinh thái.

1- Trong suốt quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển, con người luôn gắn kết chặt chẽ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Chừng nào còn tồn tại thì con người không thể sống ở đâu khác ngoài môi trường tự nhiên, trong lòng giới tự nhiên và cũng không thể sống ngoài môi trường xã hội. Về điều này, nhà triết học Hy Lạp thời cổ đại A-ri-xtốt (384 - 322 TCN) đã từng viết rằng: “con người là một động vật mà do bản tính tự nhiên phải sống trong một nhà nước (con người là một động vật chính trị)”(1). Trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C. Mác viết rằng, “giới tự nhiên... là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người... Con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(2). Năm 1876, Ph. Ăng-ghen cũng khẳng định: “Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với tất cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên”(3).

Như vậy, sự ra đời, tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người gắn chặt với môi trường tự nhiên. Chính giới tự nhiên cung cấp các vật dụng cần thiết, tức là dòng vật chất và dòng năng lượng, để nuôi sống con người.

Sự cố tràn dầu trên biển hủy hoại nghiêm trọng môi trường sinh thái biển_Ảnh: Tư liệu 

Từ nửa sau thế kỷ XIX, thuật ngữ “environment” (môi trường) mới thật sự được sử dụng trong khoa học. Nó được rút ra từ những thuật ngữ đã có từ trước đó như “environ” (vùng ngoại vi) và “environing” (vây quanh). Trong đó, cuốn sách của nhà sinh học người Mỹ, Ra-chen Ca-xơn (Rachel Carson), có tên “Silent Spring” (“Mùa xuân yên tĩnh” hay “Mùa xuân vắng lặng”) xuất bản năm 1962, được coi là cột mốc đánh dấu mối quan tâm thật sự đến vấn đề môi trường sống của con người. Đây là lần đầu tiên một nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo về hậu quả tiêu cực, về mối hiểm nguy của việc sử dụng thuốc trừ sâu bừa bãi trong sản xuất nông nghiệp(4).

Từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, các thành viên của Câu lạc bộ Roma đã có những báo cáo cảnh báo nghiêm túc về nạn ô nhiễm môi trường sống; về mối đe dọa từ sự nóng lên của toàn cầu; về tình trạng thiếu nước ngọt cho các ngành sản xuất nông nghiệp và công nghiệp cũng như cho mọi sinh hoạt thường ngày của con người; về nguy cơ nạn đói đe dọa ở nhiều nơi trên thế giới,... Đỉnh điểm về những mối đe dọa này được trình bày khá sâu và có đầy đủ căn cứ trong một báo cáo khoa học của Câu lạc bộ Roma mang tên “Giới hạn để tăng trưởng” (Limits to Growth)(5). Mặc dù có một vài điều cần phải thảo luận, song báo cáo này đã chỉ rõ tất cả những mối nguy hiểm về môi trường do sự can thiệp của chính con người và chỉ có thể được khắc phục thông qua sự thay đổi thái độ và hành vi của con người với tự nhiên. Đây là luận điểm hết sức quan trọng mang tính gợi mở về cách thức hữu hiệu duy nhất để từng bước hạn chế và tiến tới khắc phục tình trạng hủy hoại sinh thái, phá hoại môi trường sống của con người. Báo cáo “Giới hạn để tăng trưởng” cũng chỉ rõ, chính việc khai thác và sử dụng tài nguyên không hợp lý, thiếu khoa học, vì mục đích chạy theo lợi nhuận trước mắt của con người mà môi trường tự nhiên bị tàn phá nặng nề, hệ sinh thái ở nhiều nơi bị hủy hoại rất nghiêm trọng. Về điều này, năm 1868, C. Mác đã từng cảnh báo: “nếu canh tác được tiến hành một cách tự phát mà không được hướng dẫn một cách có ý thức... thì sẽ để lại sau nó đất hoang”(6). Tất cả những cảnh báo đó của các nhà khoa học thuộc nhiều trường phái khác nhau về nguy cơ môi trường tự nhiên bị tàn phá, bị ô nhiễm, hệ sinh thái bị suy thoái đã và đang trở thành sự thật, thành vấn nạn trong thời đại chúng ta.

Cháy rừng dữ dội tại bang California, Mỹ _Ảnh: AP

Ở nước ta, nạn phá rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ để xây dựng các nhà máy thủy điện ở một số nơi nhưng không tính đến điều kiện tự nhiên cùng với nạn chặt phá, đốt rừng để lấy đất canh tác, nạn khai thác trộm gỗ quý ở các cánh rừng nguyên sinh gây nên tình trạng lụt lội, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá thời gian qua đã và đang hủy hoại nơi sinh sống của các loài sinh vật và đe dọa nghiêm trọng sự sống của cả con người. Theo Tổng cục Lâm nghiệp, trong năm 2017 và năm 2018, toàn khu vực Tây Nguyên đã xảy ra hơn 1.800 vụ phá rừng trái phép; trong đó có trên 1.200 vụ phá rừng để chiếm đất làm nương rẫy, gây thiệt hại hơn 700ha rừng các loại. Riêng trong 4 tháng đầu năm 2019, cơ quan chức năng các tỉnh Tây Nguyên đã phát hiện gần 200 vụ phá rừng với mục đích lấn chiếm làm đất rừng để sản xuất(7). Rừng nguyên sinh của đại ngàn Trường Sơn, rừng tại các Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vườn quốc gia Tam Đảo,... cũng nằm trong tình trạng bị chặt phá nặng nề. Cùng với các vụ phá rừng, cả nước cũng đã xảy ra hàng chục vụ cháy thiêu hủy hàng trăm héc-ta cả rừng trồng và rừng nguyên sinh. Tuy nhiên, có thể thấy, nạn ô nhiễm môi trường trên thế giới và ở nước ta chủ yếu do các ngành sản xuất, nhất là do sản xuất công nghiệp, gây ra. Đó là các dạng ô nhiễm đất, nước, không khí do các loại chất thải mà nhiều loại trong số đó bằng mắt thường con người không thể nhìn thấy được. Tình trạng ô nhiễm môi trường đang làm gia tăng và phát tán nhanh chóng các loại bệnh tật bệnh quái ác, thậm chí dẫn tới những đại dịch đe dọa sự sống của con người.

2- Vấn nạn ô nhiễm môi trường đang báo hiệu một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu ngày càng gần hơn, với tốc độ nhanh hơn và nguy hiểm hơn đối với con người và mọi sinh vật đang sinh sống trên trái đất. Khủng hoảng sinh thái toàn cầu được hiểu là khủng hoảng trong mối quan hệ giữa các sinh vật, trong đó có con người với môi trường trên phạm vi toàn cầu.

Trong công trình “21 bài học cho thế kỷ XXI”, Y.N. Ha-ra-ri (Yoval Noah Harari) nhận định: “Trong quá khứ, chúng ta đạt được quyền năng kiểm soát thế giới xung quanh và tái định hình cả hành tinh này; nhưng chúng ta không hiểu sự phức tạp của hệ sinh thái toàn cầu nên những thay đổi [do] chúng ta tạo ra đã vô tình làm gián đoạn toàn bộ hệ sinh thái và giờ ta đang đối mặt với một cuộc sụp đổ sinh thái”(8).

Có thể thấy, cùng với thời gian, càng ngày càng cần phải thẳng thắn thừa nhận rằng, đến nay, con người vẫn đang cố gắng điều khiển thế giới tự nhiên một cách chủ quan, duy ý chí theo ước muốn và tham vọng ích kỷ của mình nhiều hơn là tìm hiểu tự nhiên một cách tường tận và khoa học. Do lối tư duy chủ quan mà con người đã vô tình làm gián đoạn, phân mảnh toàn bộ hệ sinh thái vốn gắn bó hữu cơ và phụ thuộc lẫn nhau nên bây giờ phải đối mặt với nguy cơ của một cuộc sụp đổ sinh thái.

Thật ra, trước Y.N. Ha-ra-ri nửa thế kỷ, câu lạc bộ Roma đã dự báo về nguy cơ ô nhiễm môi trường và khủng hoảng sinh thái. Năm 2006, Phrít-men (T. L.Friedman) đã cho rằng: “thế giới đang ngày càng nóng bức, bằng phẳng, và chật chội hơn... hành tinh này có thể rơi vào trạng thái bất ổn đầy nguy hiểm”(9). Đó là do từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp cho đến nay, con người đã san phẳng các dải rừng nguyên sinh để lấy đất xây dựng nhà máy. Các ngành công nghiệp đã sử dụng một lượng rất lớn các loại nhiên liệu hóa thạch, như than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên, bởi cho rằng chúng là vô tận, không bao giờ cạn kiệt. Song, chính việc “hạ sát” rừng nguyên sinh, việc sử dụng số lượng lớn các nhiên liệu hóa thạch không chỉ thải ra quá nhiều CO2 cùng các chất gây ô nhiễm không khí và các chất gây ô nhiễm khác, mà còn dẫn đến sự cạn kiệt nhanh chóng các nguồn tài nguyên này. Các ngành công nghiệp, như nhiệt điện, luyện kim, dệt, nhuộm, điện tử, chế biến nhựa,... ở nhiều nước, nhất là ở các nước đang phát triển vận hành với công nghệ lạc hậu, còn thải ra môi trường những loại hóa chất và rác thải chưa được xử lý cực kỳ nguy hại đã làm ô nhiễm trầm trọng đất đai, các nguồn nước, bầu khí quyển và cả đại dương.

Cùng với quá trình đô thị hóa, các ngành công nghiệp thải ra một lượng lớn CO2 và rất nhiều chất gây ô nhiễm khác. Việc các khu rừng tự nhiên sau một thời gian nắng nóng kéo dài dễ bị cháy do sét gây ra, hoặc do con người đốt để lấy đất làm nương rẫy, thì lượng CO2 thoát ra “còn lớn hơn lượng phát thải của toàn bộ các phương tiện giao thông trên thế giới cộng lại, bao gồm ô tô con, xe tải, máy bay, tàu hỏa và tàu thủy”(10). Đặc biệt là nạn phá rừng lấy gỗ, đốt than đã làm cho tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Nhiệt độ trái đất tăng lên đã làm cho nhiều vùng trên trái đất trở nên khô hạn hơn. Bên cạnh đó, việc băng tan nhanh ở Grin-len (Greenland) dẫn đến nước biển dâng cao đang làm cho khí hậu, thời tiết ngày càng trở nên vô cùng khó đoán định.

Một nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng khác và có ảnh hưởng rất lâu dài qua nhiều thế hệ là các cuộc chiến tranh và các vụ thử nhiều loại vũ khí ở nhiều khu vực trên thế giới, nhất là vũ khí hóa học, vũ khí vi trùng, vũ khí nguyên tử. Đó là những loại vũ khí không chỉ gây chết người, mà còn tiêu diệt tất cả sự sống ở những nơi chúng được dùng. Đây là loại tội ác đã được thế giới gọi là “ecocide”, tức là “sự phá hủy hệ sinh thái, nhân loại và sự sống”(11).

Tất cả những sự thay đổi đó đang hủy hoại dần các hệ sinh thái tự nhiên và nhất là sự đa dạng sinh học. Đa dạng sinh học được hiểu là “tổng thể sự sống trên trái đất, tất cả các thành phần trong quần xã sinh vật và hệ sinh thái mặt đất, đại dương và nước ngọt, và mọi loài - cây cối, động vật, nấm và các vi sinh vật - sống trong các hệ sinh thái đó, bao gồm cả hành vi của chúng, mối tương tác giữa chúng và chu trình sinh thái. Đa dạng sinh học có quan hệ trực tiếp với những yếu tố phi sinh vật trên trái đất - gồm hệ thống khí quyển, đại dương, nước ngọt, thành phần địa chất và đất đai - qua đó tạo nên một hệ thống vĩ đại, phụ thuộc lẫn nhau, đó là sinh quyển”(12). Chính các hệ sinh thái tự nhiên và sự đa dạng sinh học có vai trò hết sức quan trọng mà nhiều khi con người không thấy hết, hoặc không biết rõ tác dụng của chúng. Sự đa dạng sinh học mất đi biểu hiện đứt đoạn nguy hiểm chu trình sinh học của các loài sống trên trái đất. Chính những hành động thiếu ý thức, vô trách nhiệm, thiếu kiến thức và lòng tham của con người là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cuộc khủng hoảng sinh thái trên quy mô toàn cầu.

Vấn nạn ô nhiễm môi trường đang báo hiệu một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu ngày càng gần hơn, với tốc độ nhanh hơn và nguy hiểm hơn đối với con người_Ảnh: tapchicongthuong.vn

3- Với tư cách một loài sinh vật, con người không thể đi ngược lại hoặc làm trái các quy luật của tự nhiên. Bởi vậy, con người cần chủ động thích ứng với tự nhiên bằng những hành động thiết thực, mà trước hết là cần hình thành tư duy khoa học về văn minh sinh thái cùng một chương trình hành động thật sự hữu ích để tránh các thảm họa sinh thái.

Suốt hơn nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học thế giới đã cảnh báo bằng những công trình nghiên cứu về nhiệm vụ bảo vệ môi trường sống, cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội, và về nguy cơ khủng hoảng sinh thái trên phạm vi toàn cầu. Nhiều tổ chức bảo vệ môi trường đã được thành lập ở nhiều nơi, cả trên phạm vi khu vực lẫn quốc tế, với sứ mệnh góp phần ngăn chặn khủng hoảng sinh thái xảy ra. Giờ đây, cấp bách hơn lúc nào hết, ô nhiễm môi trường nặng nề, sự mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng đã và đang đòi hỏi mỗi cá nhân cũng như toàn nhân loại nhìn nhận lại thực trạng văn hóa sinh thái và cần hình thành tư duy sinh thái mới, từ đó xây dựng văn minh sinh thái, để con người có cuộc sống hài hòa với thiên nhiên, hướng tới sự phát triển bền vững.

Trước hết, để hình thành văn minh sinh thái thì đòi hỏi mỗi người phải có tư duy về văn minh sinh thái; cụ thể là nhận thức về sự gắn bó chặt chẽ giữa con người với tự nhiên. Con người cũng phải luôn nhớ rằng, mọi hiện tượng và mọi quá trình diễn ra trong tự nhiên đều có ảnh hưởng lẫn nhau và tác động qua lại với nhau. Việc con người khai thác thiên nhiên cũng không nằm ngoài quy luật này. Bởi vì, “cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta... hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên đó”(13). Cho nên, cùng với sự thay đổi tư duy thì đòi hỏi con người còn phải có những sự thay đổi về thái độ và hành vi cụ thể trong ứng xử với giới tự nhiên. Sự thay đổi từ tư duy đến thái độ và hành động trong cách ứng xử với giới tự nhiên là hết sức quan trọng.

Tuy nhiên, để có văn minh sinh thái thì sự thay đổi tư duy và thái độ cư xử của con người với giới tự nhiên tuy là quan trọng, nhưng chắc chắn là chưa đủ. Những thay đổi trong tư duy và trong thái độ nhất định phải dẫn tới sự thay đổi hành vi và hành động thực tế, trong đó hành động thực tế đầu tiên mà con người cần làm là thay đổi thói quen và quan niệm tiêu dùng dựa trên sự “hạ sát” tự nhiên để có các sản phẩm “độc”, “lạ” và quý giá từ tự nhiên (chẳng hạn, thói quen sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã...). Những thói quen đó đã dẫn tới sự tuyệt chủng của không ít loài động vật quý hiếm trên thế giới. Sự biến mất của chúng đã làm đứt đoạn, thậm chí đã phá vỡ chu trình sinh học các loài sinh vật trên trái đất. Vì thế, các nhà khoa học thế giới đã phải xếp một số loài động vật vào sách đỏ để cảnh báo về nguy cơ cuộc khủng hoảng sinh thái trên quy mô toàn cầu.

Đặc biệt, văn minh sinh thái đòi hỏi tất cả các quốc gia phải thay đổi tư duy trong phát triển kinh tế, hết sức tránh việc chạy theo lợi nhuận đơn thuần mà hy sinh, hay đánh đổi bằng các giá trị môi trường. Cụ thể nhất là phải thay đổi cách thức tăng trưởng kinh tế chủ yếu chỉ dựa vào sự khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo, nhưng lại làm phát sinh ra nhiều chất thải có hại và cực độc. Các ngành, nghề và tất cả mọi người trong xã hội cần có cách thức thiết kế, vận hành và tiêu dùng hiệu quả để giảm mức tiêu thụ năng lượng, nhằm giảm thiểu những chất thải đe dọa cuộc sống của con người và muôn loài. Văn minh sinh thái đòi hỏi mỗi quốc gia phải “giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường”(14); “chủ động giám sát, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế xanh, ít chất thải, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, cácbon thấp; khuyến khích phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn để sử dụng tổng hợp và hiệu quả đầu ra của quá trình sản xuất”(15). Chính phủ của các quốc gia trên thế giới cần có tầm nhìn dài hạn trong công tác hoạch định chính sách; các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cần hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, chú trọng tới việc bảo đảm những lợi ích của các thế hệ tương lai. Nghĩa vụ và trách nhiệm đạo đức của thế hệ hiện tại đối với các thế hệ tương lai không cho phép họ coi trái đất và tất cả tài nguyên thiên nhiên chỉ là của riêng hiện tại mà toàn quyền tác động bất chấp hậu quả sinh thái.

Để hình thành tư duy văn minh sinh thái, cần coi trọng vai trò của giáo dục đạo đức sinh thái cho tất cả mọi người, trước hết là thế hệ trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Các hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật và các thông tin về môi trường và phát triển bền vững cần không ngừng đổi mới về nội dung và đa dạng về hình thức. Vấn đề môi trường và tư duy văn minh sinh thái cần được đưa vào hệ thống chương trình được giảng dạy ở các cấp học cũng như đưa vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; qua đó, góp phần giáo dục và xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, nếp sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên trong mỗi người dân, nhất là thanh thiếu niên.

Đoàn viên, thanh niên ra quân trồng rừng ngập mặn tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau_Ảnh: TTXVN

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường cần được hoàn thiện; năng lực tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường cần được kiện toàn và tăng cường, bảo đảm thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ môi trường từ Trung ương đến cơ sở. Việc thực thi luật pháp về môi trường ở từng nước cũng như các điều ước và luật pháp quốc tế cần tiếp tục được thúc đẩy. Hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu, hệ thống dự báo, cảnh báo thiên tai, ô nhiễm và thảm họa môi trường cần được xây dựng và không ngừng củng cố. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các giải pháp công nghệ trong xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường; sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng; ứng dụng và phát triển công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. Đây là những công cụ hết sức quan trọng để từng bước góp phần hình thành tư duy văn minh sinh thái, nhất là để kịp thời ngăn chặn thảm họa sinh thái, đặc biệt là tội ác “ecocide”, góp phần cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân, bảo đảm thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững./.