Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022

GIẢNG DẠY CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VỚI BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


(LLCT) - Chương trình cao cấp lý luận chính trị có vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức về nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đấu tranh phản bác những luận điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Từ phân tích mục tiêu chương trình và đối tượng đào tạo, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác quan điểm sai trái trong giảng dạy cao cấp lý luận chính trị.
Giảng dạy cao cấp lý luận chính trị với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
1. Khái quát về cao cấp lý luận chính trị (CCLLCT)
CCLLCT là chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của hệ thống chính trị về tư tưởng chính trị; mục tiêu là củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị; phương pháp tiếp cận và năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn; phương pháp luận khoa học; xây dựng tầm nhìn, tư duy chiến lược; kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý… Đối tượng học chương trình CCLLCT là cán bộ lãnh đạo, quản lý hoặc được quy hoạch chức vụ lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị. Đây là đội ngũ cán bộ có vai trò quan trọng trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nên lập trường tư tưởng, phẩm chất đạo đức và năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ này có vai trò, ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đảm nhận biên soạn, xuất bản giáo trình phục vụ giảng dạy và học tập. Chương trình CCLLCT hiện nay có 19 môn học(*), nội dung thống nhất theo mục đích, yêu cầu của đối tượng học viên do cơ sở đào tạo thiết kế, xây dựng và có sáu chuyên đề ngoại khóa.
Căn cứ nội dung các môn học của chương trình CCLLCT có thể phân thành các nhóm như sau: Thứ nhất, nhóm các môn học về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng (như Triết học Mác - Lênin; Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh); Thứ hai, nhóm các môn học về quá trình hình thành, phát triển và vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, về những nguyên tắc tổ chức, xây dựng Đảng (như Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng); Thứ ba, nhóm các môn học về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật hiện hành của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao, tôn giáo, dân tộc... (như Giáo dục quốc phòng và an ninh; Quan hệ quốc tế; Kinh tế phát triển; Quản lý kinh tế; Nhà nước và pháp luật; Lý luận và pháp luật về quyền con người; Văn hóa và phát triển; Tôn giáo và tín ngưỡng; Lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam); Thứ tư, nhóm các môn học về xã hội nhân văn, về lãnh đạo quản lý để người học (đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trung cao cấp của Đảng, Nhà nước) đảm nhận tốt hơn vai trò lãnh đạo, quản lý của mình (như Chính trị học; Xã hội học trong lãnh đạo, quản lý; Khoa học lãnh đạo, quản lý; Giới trong lãnh đạo, quản lý).
Hiện nay, thực hiện chương trình CCLLCT là các cơ sở đào tạo: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các Học viện Chính trị khu vực I, II, III, IV; Học viện Chính trị, Học viện Lục quân, Học viện Quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng và Học viện Chính trị Công an nhân dân, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an.
2. Vai trò của công tác giảng dạy chương trình CCLLCT trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Công tác giảng dạy chương trình CCLLCT có vai trò to lớn trong việc thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất,chương trình CCLLCT trang bị cho người học nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất ở tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn, nhân bản, thể hiện ở cả trong lý luận lẫn thực tiễn. Về mặt lý luận, đó là phủ định biện chứng lý luận cũ (phủ định có kế thừa), xây dựng lý luận mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Về mặt thực tiễn, đó là phủ định biện chứng xã hội cũ lạc hậu, nhằm hướng tới xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn cho nhân loại.
Tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lý luận được khái quát từ tổng kết thực tiễn và quay lại thâm nhập vào thực tiễn, chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thực tiễn để thực tiễn tốt đẹp hơn. Tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều thống nhất ở mục tiêu vì sự giải phóng con người, xây dựng một xã hội thực sự dân chủ, trong đó con người được ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển, hoàn thiện triệt để bản thân mình.
Thứ hai,chứng minh một cách thuyết phục sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu khách quan, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin làm “kim chỉ nam” đã lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công công cuộc cứu nước và giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi sự áp bức, đô hộ, xây dựng chế độ xã hội mới, nhân dân làm chủ, được hưởng tự do, ấm no, hạnh phúc. Mọi đường lối chủ trương của Đảng đều hướng tới phục vụ nhân dân, dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “không có cái lợi ích nào của Đảng mà không phải là lợi ích của nhân dân, hay ngược lại không có lợi ích nào của nhân dân mà không phải là lợi ích của Đảng”(1).
Thứ ba,khẳng định, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, Đảng có khả năng khắc phục được những hạn chế của mình. Đảng hoàn thành được sứ mệnh của mình là lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc, đổi mới, xây dựng đất nước giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp,... thì bản thân Đảng phải có năng lực thực tiễn. Để luôn luôn là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bản thân Đảng phải không ngừng hoàn thiện và phát triển, thực hiện nghiêm nguyên tắc xây dựng Đảng.
Chương trình CCLLCT trang bị cho học viên nhận thức sâu sắc nguyên tắc tổ chức, xây dựng và hoạt động của Đảng Cộng sản. Những nguyên tắc mang tính khoa học và hiện đại, đáp ứng được việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Từ đó củng cố niềm tin, xây dựng, giữ vững Đảng trong sạch, vững mạnh, tiến bộ, tiên phong, đủ năng lực lãnh đạo đất nước trong mọi thời kỳ. Những biểu hiện tiêu cực trong Đảng chỉ là cá biệt, thiểu số, có thể khắc phục. Qua đó củng cố niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, bồi đắp bản lĩnh chính trị, giúp học viên vững vàng, bản lĩnh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Thứ tư,giúp người học nhận thức đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng,... Tất cả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Từ đó giúp người học thấy được tính thực tiễn, tính nhân văn, nhân bản trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin, quyết tâm, quyết liệt trong tuyên truyền, phổ biến, triển khai đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, qua đó củng cố niềm tin của xã hội, của nhân dân vào Đảng, huy động nhân dân vào bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.
Thứ năm,trang bị cho người học những kiến thức về lãnh đạo quản lý để người học đảm nhiệm tốt chức trách, nhiệm vụ của mình. Mục tiêu của lãnh đạo, quản lý là hướng tới sự phát triển bền vững mọi lĩnh vực, mọi phương diện. Người lãnh đạo, quản lý học CCLLCT là để thực hiện tốt hơn chức trách, công việc, phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, nâng cao tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn, nâng cao năng lực thực tiễn của người học.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy CCLLCT trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Một là, đưa nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào chương trình CCLLCT
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong chương trình CCLLCT thì kiến thức về chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện tập trung trong ba môn học thuộc ba bộ phận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin là Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học. Các môn học khác đề cập đến các lĩnh vực lý luận và thực tiễn từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, như các môn học: Xây dựng Đảng, An ninh quốc phòng, Tôn giáo và tín ngưỡng, Lý luận về dân tộc và quan hệ dân tộc... Kiến thức về tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện tập trung trong môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng thể hiện sự vận dụng sâu sắc trong một số môn học khác như các môn: Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng, Quan hệ quốc tế, Tôn giáo và Tín ngưỡng... Như tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ ngoại giao, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo...
Do đó, việc phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được thông qua giảng dạy các môn học. Trong đó cần phát huy hiệu quả bằng việc khẳng định tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp học viên củng cố niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vững vàng trước mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác những luận điệu sai trái thù địch trong mọi tình huống. Khẳng định tính tất yếu, những thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam, củng cố niềm tin sắt đá đối với Đảng, khẳng định Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Mọi luận điệu phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng đều là xuyên tạc, bịa đặt mang tính thù địch.
Hai là, tránh tình trạng cắt rời C.Mác với V.I.Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối của Đảng
Chủ nghĩa Mác - Lênin, là một “thỏi thép liền” tức một khối thống nhất, trong đó Lênin bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác và Ăngghen. Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn giáo trình cũng như trong giảng dạy, để làm sâu sắc quan điểm của các nhà kinh điển, các nhà biên soạn có tách biệt quan điểm của Mác, Ăngghen và Lênin. Việc đó là cần thiết, nhưng phải làm cho học viên thấy được “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin, tránh tình trạng nhận thức quan điểm của các nhà kinh điển một cách tách biệt hoàn toàn, dẫn đến không thấy được sự thống nhất trong tư tưởng cốt lõi của Mác, Ăngghen, Lênin.
Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin có mối quan hệ chặt chẽ, là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo, do vậy, không phải là hoàn toàn thống nhất trên tất cả các nội dung. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Trong quá trình giảng dạy, phải làm rõ được Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Phải làm rõ sự thống nhất cao độ ở nhiều nội dung, đặc biệt là thống nhất ở tính khoa học và tính cách mạng, tính nhân văn, nhân bản, đó là hướng tới giải phóng con người, giải phóng xã hội, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn cho nhân loại. Tính khoa học và tính cách mạng, tính nhân văn, nhân bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện nhất quán trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, bảo đảm sự đồng bộ về chất lượng giữa các cơ sở đào tạo CCLLCT
Hiện nay, có nhiều cơ sở tham gia đào tạo CCLLCT, để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất về nội dung, chất lượng của cả chương trình học CCLLCT.
Hiện nay với quyết tâm cao độ của Ban Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tính hệ thống, tính đồng bộ, tính thống nhất trong hệ thống Học viện ngày càng được bảo đảm trên mọi mặt công tác, tuy nhiên vẫn còn phải thực hiện tốt hơn nữa. Đối với các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thì việc đồng bộ và thống nhất nội dung, chất lượng chương trình, trong đó bao gồm cả việc chú trọng nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Để thống được nội dung và chất lượng của chương trình trong tất cả các cơ sở đào tạo, cần thống nhất nhiều công tác khác nhau, như công tác tuyển sinh, quản lý học viên, tập huấn giáo trình, giảng dạy, đánh giá hết môn, đánh giá tốt nghiệp... Hằng năm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức tập huấn giáo trình cho đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, đối với các Học viện thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thì việc này chưa được thực hiện, do đó thiết nghĩ cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với Học viện thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong đào tạo CCLLCT nói chung, trong việc chú trọng nội dung bảo vệ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng.
Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động đào tạo. Trước bối cảnh mới, giảng viên LLCT phải hội đủ các phẩm chất như trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, kỹ năng sư phạm, phương pháp truyền đạt tri thức. Với chương trình CCLLCT mang tính Đảng cao, do đó đòi hỏi đội ngũ giảng viên trước hết phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phải thể hiện rõ là chiến sĩ tiên phong trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Vấn đề đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch sẽ hiệu quả khi lan tỏa rộng rãi ra toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội. Để làm được như vậy thì phải phát huy vai trò của đội ngũ học viên trong quá trình học cũng như sau quá trình học CCLLCT. Đây là đội ngũ đông đảo và có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị.
__________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2021
(*) Gồm các môn: Triết học Mác - Lênin; Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam; Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam; Chính trị học; Giáo dục quốc phòng và an ninh; Quan hệ quốc tế; Kinh tế phát triển; Quản lý kinh tế; Nhà nước và pháp luật; Lý luận và pháp luật về quyền con người; Văn hóa và phát triển; Tôn giáo và tín ngưỡng; Lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam; Xã hội học trong lãnh đạo quản lý; Khoa học lãnh đạo, quản lý; Giới trong lãnh đạo, quản lý.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.270.
TS Đinh Văn Thụy
Học viện Chính trị khu vực IV
Nguồn: lyluanchinhtri.vn
vubao-st2
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH'
1

QUỐC TẾ ĐỀ CAO QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN CỦA VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG


Quan điểm nhất quán của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), tiếp tục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.
Tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông
Trong các cuộc tiếp xúc cấp cao, giới chức nhiều nước đã bày tỏ nhất trí với quan điểm của Việt Nam trong vấn đề này. Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Chủ tịch Quốc hội Singapore Tan Chuan-Jin... trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 5 vừa qua, tại các cuộc hội kiến, hội đàm với các nhà lãnh đạo Việt Nam, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982; thực hiện đầy đủ, toàn diện, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Quan điểm này cũng được nêu rõ khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nhân dịp Thủ tướng tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN - Mỹ, thăm và làm việc tại Mỹ và Liên hợp quốc giữa tháng 5 vừa qua.
Nhiều nước cũng bày tỏ phản đối các hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải tại Biển Đông, như việc Trung Quốc quân sự hóa trên một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa hay ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong hơn 3 tháng (từ ngày 1-5) tại Biển Đông, trong đó có vùng biển của Việt Nam.
Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio và Tổng thống Mỹ Joe Biden hồi tháng 5, hay trong cuộc thảo luận giữa Thủ tướng Đức Olaf Scholz với người đồng cấp Nhật Bản Kishida hồi tháng 4 tại Tokyo, các nhà lãnh đạo đã phản đối mọi nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực ở Biển Đông. Trong tuyên bố chung sau cuộc hội đàm cấp cao Đức-Ấn Độ, Thủ tướng Đức Olaf Scholz và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng khẳng định cần bảo đảm thương mại không bị cản trở và tự do hàng hải phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, ở tất cả các vùng biển, trong đó có Biển Đông.
Đô đốc John Aquilino, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ, cho biết Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn một số đảo đá ở Biển Đông, cụ thể là quần đảo Trường Sa mà Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý, bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền phù hợp với luật pháp quốc tế. Trước đó, tháng 1-2022, Cục Các vấn đề đại dương, môi trường và khoa học quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một tài liệu nghiên cứu với nội dung phản bác “các yêu sách phi pháp” của Trung Quốc ở Biển Đông. Tài liệu nghiên cứu dài 47 trang nêu rõ các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là không có cơ sở theo luật pháp quốc tế, đồng thời khẳng định những yêu sách này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quy định của luật pháp quốc tế được ghi nhận trong UNCLOS năm 1982. Bộ Ngoại giao Mỹ đã kêu gọi Trung Quốc “ngừng các hoạt động trái pháp luật và gây sức ép ở Biển Đông”.
Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế
Dư luận quốc tế cũng đề cao nỗ lực của Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, an ninh, an toàn, tuân thủ luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Trong bài viết mới đây trên trang mạng Infox.ru (Nga) có nhan đề: “Việt Nam - ngọn cờ đầu của ASEAN”, tác giả Grigory Trofimchuk, chuyên gia về chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh, khẳng định lập trường nhất quán và mang tính xây dựng của Việt Nam trong việc thiết lập môi trường hòa bình và ổn định trong toàn bộ khu vực, bao gồm Biển Đông, là yếu tố quan trọng giúp Hà Nội thích nghi với tình hình địa chính trị hiện đại. Chuyên gia Nga đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Việt Nam trong các vấn đề khu vực, khẳng định Việt Nam có uy tín và vị thế ngày càng tăng trên trường quốc tế.
Chia sẻ quan điểm này, chuyên gia Valeria Vershinina của trường Đại học Quan hệ Quốc tế Moskva (MGIMO), Bộ Ngoại giao Nga nêu bật vai trò của Việt Nam trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự để tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông, khởi động đàm phán về COC. Nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của các văn bản pháp lý quốc tế, bao gồm UNCLOS, đối với các tranh chấp ở Biển Đông, cũng như việc thúc đẩy quá trình đàm phán thông qua COC, chuyên gia Anton Viktorovich Bredikhin - Tiến sĩ Lịch sử, thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm Khoa học xã hội “Các vấn đề chính trị - xã hội hình thành EAEU” Viện Hàn lâm khoa học Nga - đánh giá cao chính sách nhất quán của Việt Nam trong nỗ lực tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm kinh tế biển, đặc biệt là ở Biển Đông, với phương châm “hòa bình - hữu nghị, hợp tác - phát triển”.
TTXVN
Việt Nam luôn tuân thủ luật pháp quốc tế, xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình./.
vubao 1-st

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI NHẬN DIỆN ĐÚNG, THAM GIA ĐẤU TRANH HIỆU QUẢ!

         Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, mang bản chất giai cấp của Đảng - bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp của quân đội ta được xác lập ngay từ khi Đảng tổ chức ra quân đội và định hình, phát triển, phát huy trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo quân đội, thể hiện ở việc xác lập hệ tư tưởng, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội. Hệ tư tưởng của quân đội ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc. Bản chất giai cấp công nhân quy định tính tiên tiến, cách mạng của quân đội, xác lập mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội và là cội nguồn để quân đội ta tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Nhờ mang bản chất giai cấp công nhân mà tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội ta được xây dựng, phát triển đúng hướng, được phát huy trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành và là một nguồn lực tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta trong chiến tranh giải phóng cũng như trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
   Cuộc đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hóa quân đội” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu sâu, kỹ các luận điểm gốc của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh, về quân đội. Trên cơ sở nắm chắc và đứng vững trên những luận điểm cơ bản đó để đấu tranh, vạch trần tính chất phi lý, ngụy biện trong các quan điểm chống phá quân đội ta về chính trị của các thế lực thù địch, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự là lực lượng chính trị, công cụ bạo lực trung thành, sắc bén, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.




Yêu nước ST.

MỖI NGÀY CHỌN MỘT TIN VUI...

         Về tỉnh Bình Phước công tác, chúng tôi được một số cán bộ, đảng viên chia sẻ tâm huyết về ý tưởng tận dụng, khai thác tiện ích mạng xã hội (MXH) để lan truyền năng lượng tích cực, do Thành ủy Đồng Xoài phát động.
Theo đồng chí Hà Anh Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Đồng Xoài: Đảng bộ TP Đồng Xoài đã phổ biến, quán triệt chủ trương này đến với đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ ngành tuyên giáo các cấp và sẽ triển khai thực hiện trong toàn Đảng bộ và hệ thống chính trị của thành phố ngay trong tháng 6 này.

Theo đó, Đảng bộ thành phố phát động mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức trong hệ thống chính trị tận dụng các tài khoản cá nhân, mỗi ngày cung cấp, đăng tải hoặc chia sẻ ít nhất một tin vui. Đó là những thông tin tích cực người thật, việc thật tại nơi ở, nơi làm việc hoặc những thông tin tích cực, có ý nghĩa về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở địa phương, đất nước.

“Với tinh thần lấy cái đẹp dẹp cái xấu, chúng tôi muốn xây dựng, hình thành thói quen văn hóa cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị về trách nhiệm, nhu cầu lan tỏa năng lượng tích cực trong môi trường không gian mạng. Khi cái đẹp, cái tốt, cái tích cực trở thành dòng thông tin chủ lưu trên mạng xã hội tự nó sẽ tạo sức mạnh nội sinh đẩy lùi, triệt tiêu thông tin xấu độc, tiêu cực”, đồng chí Hà Anh Dũng nói.

Mỗi ngày chọn một tin vui...
Trung tâm thành phố Đồng Xoài Bình Phước. Ảnh: batdongsan.com.vn 
Thực ra, vấn đề được Thành ủy Đồng Xoài đặt ra không mới. Chúng ta đã bàn nhiều về ý thức sử dụng MXH của cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức. Nhiều tổ chức chính trị-xã hội cũng đã ban hành các bộ quy tắc ứng xử trên MXH cho cán bộ, công chức, người lao động. Tuy nhiên, làm cách nào để tinh thần ấy, chủ trương ấy phát huy hiệu quả thiết thực trong đời sống xã hội thì vẫn cần nhiều hơn những giải pháp, cách làm sáng tạo, mô hình thiết thực từ cơ sở.

Ngày nay, MXH trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức hầu như ai cũng có tài khoản trên các nền tảng MXH. Ngoài chức năng thông tin, giải trí, MXH như là một không gian sống thứ hai của con người. Vì vậy, để thực hiện mưu đồ phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm băng hoại các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc... các thế lực thù địch, phản động luôn coi không gian mạng là môi trường lý tưởng để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền chống phá. Không ít cá nhân trong hệ thống chính trị đã thoái hóa, biến chất, phản bội lại lợi ích quốc gia-dân tộc từ chính môi trường này. Một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến họ suy thoái tư tưởng chính trị là do sự lệch lạc trong sử dụng MXH, trở thành con rối cho các thế lực thù địch giật dây.

Để phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái từ môi trường không gian mạng, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nắm, định hướng, kiểm soát được đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên trên MXH. Bên cạnh thực hiện nghiêm quy định những điều đảng viên không được làm, phải chú ý coi trọng tinh thần, thái độ, văn hóa xây dựng.

Hiện cả nước có khoảng 5,3 triệu đảng viên. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên có ý thức thường xuyên “chăm sóc” cho các tài khoản cá nhân trên MXH của mình bằng thông tin tích cực, coi đó là những yếu tố cấu thành sức mạnh văn hóa tinh thần của Đảng thì nguồn năng lượng tích cực đó sẽ có sức mạnh rất lớn.

Văn hóa Đảng là tinh hoa của văn hóa dân tộc, được cấu thành từ ý thức văn hóa, thái độ văn hóa của mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Khơi nguồn năng lượng tích cực từ mỗi tài khoản cá nhân trên MXH là cách thiết thực để làm đầy thêm, mạnh thêm dòng thông tin chủ lưu mang năng lượng tích cực, đẩy lùi những thông tin độc hại trên không gian mạng.

Việc này không khó, ai cũng có thể làm được và làm hiệu quả! Vấn đề là nó phải được khởi xướng, tổ chức một cách chủ động, tâm huyết từ mỗi tổ chức cơ sở trong cả hệ thống chính trị./.
Yêu nước ST.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH! CON NGƯỜI VĨ ĐẠI TỪ NHỮNG ĐIỀU GIẢN DỊ NHẤT!

Bác vẫn đi kia… giữa cánh đồng
Thǎm từng ruộng lúa, hỏi từng bông
Ghé từng hợp tác, qua thôn xóm
Xem mấy trường tươi, mấy giếng trong…

Bác vẫn về kia… Những sớm trưa
Hỏi lò than, xưởng máy, giàn tơ
Hỏi anh hỏi chị công nhân ấy
Vàng ngọc thi đua được mấy giờ?

Ơi anh bộ đội trên mâm pháo
Mắt lượn trời cao, dõi bóng mây
Có thấy, bốn mùa, quên nắng bão
Bên ta, Bác vẫn thức đêm ngày?

Biết chǎng, hỡi mẹ rất anh hùng
Con mấy lần đi lập chiến công
Hỡi chị hằng trông ngày thắng trận
Bác khuyên thương nhớ vững bền lòng.

Và các em, có hiểu vì sao
Lòng Bác mênh mông vẫn dạt dào
Yêu nụ mầm non, yêu tuổi trẻ?
Biển thường yêu vậy sóng xôn xao…

Vì sao? Trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh
Như một niềm tin, như dũng khí
Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh.

Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha?
Đời vui tiếng Bác ấm muôn nhà
Bác đi… Đâu cũng nghe chân bước
Như gió xuân về, đất nở hoa…

Nếu có hôm nào ta vắng Bác
Chắc là Người bận chuyến đi xa…
Ơi đàn em nhỏ quên ca hát
Hãy lớn ngoan như Bác có nhà!”
Thơ: Tố Hữu!
Yêu nước ST.

CẦN CÓ BỘ QUY CHUẨN SÁCH GIÁO KHOA!

KHÔNG ĐỂ GIẶC GIÁO DỤC TỰ TUNG TỰ TÁC.
Ngày xưa, lúc giặc giáo dục chưa xuất hiện, những nhà làm giáo dục chân chính, họ toàn tâm, toàn ý vì giáo dục, vì tương lai con cháu chúng ta. Sự tin tưởng vào giáo dục là tuyệt đối.
Còn bây giờ, giặc giáo dục có mặt khắp mọi cấp học, từ những bộ trưởng đến biên soạn giáo khoa, từ những giảng viên đại học đến cô giáo trường làng, đâu đâu cũng có những tư tưởng thoái hóa biến chất, thậm chí là thù địch.
Nguyên nhân chính vẫn là sách giáo khoa, từ sách giáo khoa bẩn sinh ra giáo án bẩn, giáo án bẩn thì đương nhiên thầy cô giáo bộ môn đó cũng vô tình hoặc cố tình BẨN. 
Chính vì vậy mà cần có quy chuẩn về sách giáo khoa. (Nghĩa là, Đảng nhà nước định hướng sách giáo khoa XHCN) ở các bâc phổ thông nhất thiết phải là sách giáo khoa XHCN.
Để hòa nhập kinh tế thị trường thì đã đã có các trường đại học, cao đẳng kinh tế, từ đó chúng ta hội nhập kinh tế.
Văn hóa giáo dục thì dù có hội nhập cũng cần có bản sắc dân tộc, văn hoá dân tộc, thậm chí là văn hóa bản sắc vùng miền.
Vì vậy, việc ra bộ quy chuẩn sách giáo khoa là vô cùng cần thiết. Nếu không có quy chuẩn sách giáo khoa thì e rằng các thế hệ con cháu mai sau chỉ là những " con" người thực dụng. Thích hưởng thụ. Họ không còn yêu quê hương đất nước, thậm Chí không còn nhớ bản sắc văn hoá Việt Nam. Họ không còn "uống nước nhớ nguồn" .. vân vân...

QUY CHUẨN SÁCH GIÁO KHOA NHƯ THẾ NÀO?
Việt Nam là một đất nước XHCN thì nhất thiết phải có con người XHCN gắn liền với văn hoá bản sắc, truyền thống dân tộc. Vậy nên sách giáo khoa phải có quy chuẩn bắt buộc theo tỷ lệ, ví dụ như :

Nội dung Sách ngữ văn gồm.

10% nội dung bài vở trong sách giáo khoa nói về học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
10% ca ngợi các anh hùng dân tộc như Kim đồng , chị Võ Thị Sáu, Anh Trỗi, Chị Út Tịch.. vvv... 
20% văn học dân gian (tập trung vào ca dao tục ngữ nói về ca ngợi tình yêu gia đình, yêu quê hương đất nước.)
30% nội dung sách giáo khoa nói về các các lực lượng vũ trang nhân dân như: công an, quân đội, bộ đội biên phòng, công an phòng cháy chữa cháy.. vvv.. 
20% văn xuôi, thơ ca hiện tại. Ưu tiên những nhà thơ cách mạng như Tố Hữu, Chế Lan Viên... vvv..
10% những tấm gương " anh hùng giữa đời thường".

Tương tự như vậy, sách lịch sử cũng tập trung vào lịch sử Việt Nam.

10% chương trình đặc biệt : lịch sử hiện đại giai đoạn 1954-1975. Cần làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và Bác Hồ kính yêu đã lãnh đạo nhân dân cả nước đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân. Khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
20% lịch sử chống Pháp bao gồm những trận đánh tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp.
30% lịch sử chống Mỹ cứu nước, bao gồm những trận đánh tiêu biểu trong kháng chiến chống Mỹ.
10 % lịch sử biên giới phía bắc, bao gồm những trận đánh biên giới phía bắc với Trung Quốc. 
10% lịch sử biên giới Tây nam, bao gồm những trận đánh với KhơMe Đỏ.
10% lịch sử hiện đại.
10% lịch sử thế giới (5% lịch sử Liên Xô và các nước XHCN, 5% lịch sử TBCN).
Đấy là những ví dụ đơn giản mang tính chất bắt buộc định hướng xã hội chủ nghĩa.
Có như vậy mới giữ gìn được văn hóa truyền thống dân tộc mà hiện nay đang xuống cấp do sách giáo khoa không đề cập hoặc ít đề cập.
GIẶC ĐANG PHÁ HOẠI GIÁO DỤC, KHÔNG CÓ QUY CHUẨN SẼ MẤT NƯỚC./.

Yêu nước ST.

NHÌN TƯỢNG PHAN THANH GIẢN, TRƯƠNG VĨNH KÝ BỖNG NHỚ TƯỢNG TẦN CỐI (TRUNG QUỐC)!

         Theo trang của Hoan Bùi “Ngày 20/01/2008, Viện Sử học Việt Nam ra văn bản quyết định công nhận Nguyễn Ánh, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là danh nhân, đại học sỹ yêu nước, có những đóng góp xứng đáng về chính trị, ngoại giao, văn hóa cho đất nước. 
Ngày 24/01/2008 Cục Di sản Văn hoá ra chỉ thị kiểm kê, phục dựng, trùng tu các di tích văn hoá liên quan đến Phan Thanh Giản; cho phép các tỉnh Bến Tre, Đồng tháp lập đền thờ, dựng tượng Phan Thanh Giản,Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Ánh.
Tháng 8/2008 Khánh thành tượng Phan Thanh Giản tại Vĩnh Long. 
Ngày 18/4/2009 hoàn thành và an vị tượng Phan Thanh Giản tại Văn Thánh Miếu.
 Cuối năm 2008 Bến Tre khánh thành tượng Phan Thanh Giản tại Trường THPT Ba Tri.
 Ngày 21/5/2009 Cần Thơ tổ chức Hội thảo trả lại tên trường Phản Thanh Giản Cần Thơ.
Ngày 14/10/2009 Cần Thơ, tổ chức Hội thảo lấy tên Phan Thanh Giản thay cho tên trường Châu Văn Liêm”. 
Đây là một việc làm vội vã, vô lối của Viện Sử học Việt Nam và Cục Di sản Văn hóa; một hành động “lật sử” trắng trợn và lố bịch, biến những tên tội đồ của dân tộc thành danh nhân, người có công với nước.
Về việc này, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị QĐNDVN, cho biết “ về xem xét vai trò của Phan Thanh Giản, ngay khi Bác Hồ còn sống cũng có ý kiến đề nghị nên có đánh giá thống nhất về ông này. Lúc đó BCT đã giao cho đồng chí Trường Chinh chủ trì; cùng dự có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cùng các nhà sử học hàng đầu Việt Nam như ông Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Khắc Viện ... tổ chức Hội thảo đánh giá về con người này, kết luận Hội thảo đã thống nhất Phan Thanh Giản là kẻ có tội với dân, với nước, bán nước cầu vinh ... thế những sau này PHL đã tổ chức một Hội thảo bác bỏ kết luận của TƯ trước đây và rửa tội cho PTG để mở đầu cho âm mưu xét lại lịch sử cho đến hiện nay . Ta cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với luận điệu sai trái nâng công rửa tội cho bọn bán nước, tay sai thực dân, đế quốc”.
Tôi bỗng nhớ đến tượng Tần Cối ở Hàng Châu (Chiết Giang, TQ). Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký khác gì Tần Cối đâu.
Tần Cối (1091 - 1155), thời trẻ là người có tài, học giỏi, sau được trọng dụng cất nhắc dần lên tới chức Tể Tướng thời Nam Tống. Thế nhưng vì thiếu lòng trung với nước, lại có mấy năm bị khiếp sợ do bị phương Bắc bắt giữ mà dần dần bị tha hóa , bán thân cho ngoại bang (nước Kim), cam tâm làm một kẻ tay sai, đại diện cho nước ngoài ngay tại triều đình nước mình.
Thời ấy, có Nhạc Phi xuất thân từ một gia đình nghèo khó, do học giỏi, võ nghệ cao cường, tính tình cương trực mà dần dần trở thành một vị tướng nổi tiếng của triều Tống. Nhạc Phi dẫn binh chống lại quân Kim, được nhân dân cả nước tín nhiệm yêu quý. Vì Nhạc Phi chủ trương kiên quyết kháng Kim, mà ông đã trở thành chướng ngại lớn nhất trong kế hoạch cầu hòa, bán nước của Tần Cối.
Tần Cối đã không từ một thủ đoạn nào để lập mưu hãm hại Nhạc Phi. Hắn không ngừng tấu với vua Cao Tông rằng Nhạc Phi đã xúc phạm tới gia pháp tổ tông của Tống triều. Thấy danh tiếng của Nhạc Phi vượt qua mình, Tần cối căm tức lắm. Hắn tâu lên rằng: thiên hạ bách tính đều biết có Nhạc Phi chứ không biết còn có Hoàng đế…Cuối cùng do âm mưu thâm độc của Tần Cối và vợ là Vương Thị mà Nhạc Phi và con là Nhạc Vân cùng nhiều tướng lĩnh khác bị mang ra xử chém. 
Đến đời Tống Minh Tông, Nhạc Phi được minh oan. Người ta đem hài cốt Nhạc Phi chôn cất trên đồi bên bờ Tây Hồ phong cảnh tươi đẹp, về sau lại dựng Nhạc Miếu ở phía đông ngôi mộ. Trong khuôn viên miếu Nhạc Phi, tượng Tần Cối được đúc bằng gang, cùng vợ là Vương Thị bị còng tay quỳ trước mộ để người đi qua nhổ nước bọt hoặc lấy những thứ dơ bẩn nhét vào mồm.  
Cho đến ngày nay, món bánh giò cháo quẩy của người Hoa được làm bằng bột chiên trong dầu, luôn luôn làm từng cặp dính nhau, đó là tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối bị trói với nhau và ném vào vạc dầu hành tội./.


Yêu nước ST.

RÁC MẠNG

Thời gian qua, dân mạng và báo chí liên tục dành nhiều bình luận lên án những kẻ chống phá đất nước đang lưu vong ở nước ngoài như Nguyễn Văn Đài, Bùi Thanh Hiếu, Lê Xuân Khoa (ở Đức), Đường văn Thái (ở Thái Lan), Trương Quốc Huy (ở Mỹ)... lập ra các kênh youtube, livestream trên mạng xã hội xuyên tạc tình hình trong nước nhằm kích động chống phá chính quyền. Thủ đoạn của những kẻ thừa thời gian, thiếu hiểu biết tình hình trong nước là lên internet, báo chí cóp nhặt thông tin, với mớ kiến thức lỗ mỗ, rồi cố làm ra vẻ hiểu biết, thực hiện những hình thức gọi là “bình luận”, “phân tích”, “hội luận”, “đánh giá”... có nội dung phiến diện, quy chụp vô căn cứ đã trở thành đề tài của một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại khai thác nhằm lòe bịp công chúng. Hành vi sai trái của họ đã bị công chúng yêu nước lật tẩy, lên án...

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ TRONG QUÂN ĐỘI CẦN NÂNG CAO “sức đề kháng” LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

     Cuộc đấu tranh phòng, chống các thông tin sai trái, thù địch trên mạng xã hội đã và đang diễn ra lại nóng bỏng, quyết liệt và cấp bách như hiện nay. Nóng bỏng, quyết liệt và cấp bách là bởi các thế lực thù địch ngày càng gia tăng cường độ và thủ đoạn chống phá, với nhiều chiêu trò và phương thức vừa tinh vi, vừa thâm độc, nguy hiểm, trong khi một bộ phận không nhỏ người dân còn chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, nhận thức chưa đầy đủ tính chất gay gắt, phức tạp của cuộc đấu tranh phòng, chống các thông tin sai trái, thù địch trên mạng xã hội mà các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện trong thời gian gần đây.   
     Để nâng cao “sức đề kháng”, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, CB,CS trong Quân đội cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
     1. Thực hiện nghiêm mọi quy định khi tham gia mạng xã hội, “Bộ quy tắc ứng xử cho mạng xã hội Việt Nam”; nâng cao cảnh giác trước những hành vi lợi dụng mạng xã hội làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc, xâm phạm quyền riêng tư của con người... Tất cả những kẻ lợi dụng mạng xã hội để bịa đặt, xuyên tạc, xúc phạm cá nhân, tổ chức, xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá Đảng, Nhà nước đều phải bị nghiêm trị.
     2. Chủ động cung cấp thông tin chính thống để định hướng dư luận, nâng cao nhận thức và sàng lọc thông tin của người dân; tuyên truyền, giáo dục để mọi người cùng nâng cao lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị, biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin thiết thực, bổ ích.
     3. Tích cực tham gia các bài viết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá của các thế lực thù địch, những thông tin giả mạo, sai lệch.
     4. Tham gia mạng xã hội cần tự trang bị cho mình kiến thức an ninh mạng cơ bản, biết nhận diện những trang thông tin, những diễn đàn trên mạng xã hội đăng tải những thông tin xấu độc, phản động; cảnh giác, thận trọng, sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời có khả năng tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời có khả năng “miễn dịch” với những thông tin xấu, độc, phản động; có ý thức ngăn chặn, phản bác cái xấu một cách có lý, có tình, thuyết phục. Đối với những bài viết, video có nội dung xấu, độc, phản động được phát tán trên mạng xã hội, mỗi cá nhân cần lên tiếng phản bác hoặc hạn chế sự lan truyền của chúng bằng cách lựa chọn ẩn bài viết để quản trị mạng xử lý; không nên nghe, đọc, xem những đài, báo, trang mạng, bài viết, blogs, video của những phần tử chống đối, phản động.
     INTERNET và mạng xã hội là một sản phẩm của văn minh nhân loại. Tham gia mạng xã hội là xu thế tất yếu trong thời đại cách mạng số. Tuy nhiên, trước việc các thế lực thù địch đang lợi dụng mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta ngày càng tinh vi, phức tạp, thì vấn đề tham gia mạng xã hội như thế nào để vừa phục vụ nhu cầu tốt đẹp của cuộc sống hiện đại, nhưng lại không sa vào cạm bẫy của các thế lực thù địch, làm phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, ảnh hưởng đến nhận thức, tâm tư, tình cảm, quan điểm lập trường, niềm tin là việc làm cần thiết đối với mỗi chúng ta khi tham gia mạng xã hội./.




Yêu nước ST.