Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

Bài học kinh nghiệm đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta

 


Ở Việt Nam, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là cốt, là gốc, là nền tảng tư tưởng của Đảng. Đến Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Luận điểm này đã tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện qua các kỳ đại hội của Đảng. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII nêu rõ: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”.

Đi lên CNXH là sự lựa chọn sáng suốt của Đảng phù hợp với khát vọng của người dân Việt Nam vươn tới ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích giai cấp và lợi ích cá nhân của không ít phần tử suy thoái, bất mãn, đã chống đối lại con đường tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển mà Đảng, Bác và nhân dân ta lựa chọn. Họ đã không từ thủ đoạn nào hòng làm chuyển hướng, làm thất bại công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Và đương nhiên, họ tập trung công kích, xuyên tạc, phủ định cái gốc của Đảng - nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo nhân dân thực hiện các cuộc trường chinh kháng chiến và công cuộc xây dựng CNXH ngày nay.

Như vậy trên con đường xây dựng xã hội mới, chúng ta phải thường xuyên, liên tục đấu tranh chống lại các hoạt động cả trên bình diện lý luận và thực tiễn để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động có sứ mệnh xây dựng thành công xã hội mới, điều đó cũng có nghĩa cuộc đấu tranh này là liên tục, gắn liền với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ liên tục về thời gian, mà còn liên tục về không gian, có nghĩa rằng cuộc đấu tranh này không chỉ trên phạm vi quốc gia mà cả trên bình diện quốc tế. Điều này gắn liền với sự vận động của xã hội loài người đang quá độ lên CNXH. Phủ định học thuyết Mác – Lênin chính là sự phủ định xu hướng vận động khách quan của sự quá độ lên CNXH trên phạm vi thế giới, là sự phủ định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Cũng chính vì vậy, cuộc đấu tranh này luôn quyết liệt, phức tạp, là cuộc đấu tranh mất còn với thế lực thù địch phản động của những người cộng sản đi theo con đường mà các nhà kinh điển Macxit đã chỉ ra.

          Tính quyết liệt và phức tạp của cuộc đấu tranh ngày nay còn gắn liền với sự lợi dụng những bước tiến trình độ lực lượng sản xuất, biểu hiện tập trung ở sự phát triển của khoa học công nghệ. Việc lợi dụng thành tựu khoa học công nghệ để tạo ra bước phát triển mới của CNTB, cũng như lợi dụng thành tựu công nghệ để chống phá với những phương thức ngày càng tinh vi, với mục tiêu không bao giờ thay đổi là phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định con đường XHCN, luôn được các thế lực thù địch khai thác triệt để.

Bên cạnh đó quá trình hội nhập và mở cửa các nền kinh tế quốc gia dân tộc một mặt là điều kiện cho quá trình hợp tác phát triển, mở rộng sự hiểu biết, giao lưu văn hóa, gắn kết cộng đồng vì sự phát triển chung, đồng thời cũng là không gian cho các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh các hoạt động chống phá cả trên phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại và an ninh quốc phòng.

T3.

 

 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ rõ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là con đường tất yếu, đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho con người. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBNC) là một giai đoạn trong tiến trình vận động của xã hội loài người, và với những điều kiện mới ngày nay, các nước, các dân tộc hoàn toàn có thể đi lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN. Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, và tiếp đó sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, sự thành công của cách mạng Trung Quốc với sự thiết lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, và đặc biệt là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là minh chứng cho dự báo thiên tài của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin về sự ra đời và phát triển của CNXH.

Tuy nhiên, trên bước đường phát triển “zíc zắc” của xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, CNXH cũng có những thăng trầm, có những hạn chế, sai lầm do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên xô và Đông Âu, được xem như “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Vin vào sự kiện này cùng những hạn chế, sai lầm trên bước đường phát triển của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), các lực lượng chống đối CNXH hội luôn giọng điệu phủ nhận con đường phát triển XHCN, xem đây là con đường bế tắc, không có tương lai…Họ cho rằng sự sụp đổ của mô hình CNXH là do “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”. Nhưng thực tiễn phát triển đã và đang minh chứng cho con đường tất yếu này. Sự cải cách, đổi mới thành công của một số nước đi theo con đường XHCN trong hơn 3 thập niên qua được cả thế giới thừa nhận, tiếp tục khẳng định tương lai phát triển của CNXH. Thành công này khẳng định tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự sáng tạo của các Đảng Cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bên cạnh sự đổi mới, cải cách phát triển của CNXH, trước những thay đổi của điều kiện phát triển, CNTB cũng đã buộc phải điều chỉnh, lợi dụng các thành tựu của khoa hoc công nghệ tạo ra bước phát triển nhất định, song vẫn không thể khắc phục được các mâu thuẫn cơ bản vốn có trong lòng CNTB. Chính những mâu thuẫn trong mô hình phát triển đã đẩy CNTB tiếp tục lâm vào các cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ cũng như các cuộc khủng hoảng cơ cấu trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội như: khủng hoảng y tế, chính trị, môi trường… “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu”. Những điều đó cho thấy CNTB không phải là tương lai của xã hội loài người./.

T3.

 

Một số giải pháp đấu tranh trên mạng xã hội

 

 


Thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc đã ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo, tổ thư ký, nhóm chuyên gia, nhóm cộng tác viên, thành lập các trang, nhóm Facebook phục vụ đấu tranh, phản bác. Hầu hết các huyện, thành ủy đã thành lập ban chỉ đạo, lập trang, nhóm trên mạng Facebook triển khai nhiệm vụ đấu tranh, phản bác... Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, nhất là Facebook, thời gian tới, xin đề xuất một số giải pháp như sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Trong đó, chú trọng tuyên truyền Luật An ninh mạng; các quy tắc ứng xử trên môi trường mạng xã hội.

Hai là, thường xuyên cung cấp thông tin có định hướng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân qua kênh báo cáo viên, tuyên truyền miệng, báo chí, truyền thông, sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng.

Ba là, tập huấn định kỳ hoặc đột xuất cho cán bộ tuyên giáo, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, nhất là các đồng chí trực tiếp tham gia Ban Chỉ đạo 35 các cấp; các đồng chí tham gia quản trị, biên tập tin, bài của các trang, nhóm trên Facebook…; cập nhật tình hình mới về các hoạt động chống phá, nâng cao kỹ năng, trình độ quản trị.

Bốn là, đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội theo hướng giảm tính “hàn lâm, kinh viện”, tăng tính “thường thức”, gần gũi, dễ tiếp cận với đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để tăng tính tương tác, khắc phục tình trạng “chủ yếu nội bộ đảng viên”, hoặc “lực lượng chuyên trách” tương tác với nhau, đối tượng cần được “giác ngộ” thì chưa được tiếp cận nhiều.

Năm là, khi xuất hiện các vụ việc, sự kiện “nóng, nhạy cảm” cần tích cực, khẩn trương, chỉ đạo thống nhất, đồng loạt công tác đấu tranh phản bác trên mạng xã hội và các công cụ truyền thông, gần đây có thể kể đến: Công tác phòng, chống dịch COVID-19, vấn đề tiêm vaccine, vấn đề phức tạp liên quan đến tình hình ở Cu Ba…

Sáu là, kịp thời phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ giỏi, có năng lực tham gia viết bài đấu tranh, phản bác có hiệu quả cao trên mạng xã hội.

Bảy là, hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý về mạng xã hội phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc và văn hóa, luật pháp của Việt Nam./.

T3.

 

Nhận thức đúng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ, internet và các nền tảng mạng xã hội; các thế lực thù địch luôn có các chiêu thức, thủ đoạn mới để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhất là trên môi trường mạng xã hội.

Do đó, cần nhận thức đầy đủ về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; các thế lực thù địch; âm mưu, thủ đoạn; từ đó có giải pháp phòng, chống hiệu quả. Theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Hướng tới mục tiêu: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại./.

T3.

 

Về chủ nghĩa dân túy

 


Chủ nghĩa dân túy là hiện tượng phức tạp, được chú ý nhiều trong đời sống chính trị trên thế giới hiện nay. Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù nó chưa trở thành trào lưu điển hình và chưa chi phối đời sống chính trị - xã hội nhưng đã xuất hiện và có nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời.

Tư tưởng dân túy có từ xa xưa trong lịch sử, nhưng đến các thế kỷ XVII, XVIII và XIX mới phát triển mạnh mẽ trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân, tìm mọi cách chống lại sự phát triển của sở hữu lớn tư bản chủ nghĩa, chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản, hướng đến những phong trào đấu tranh mang tính không tưởng (không lấy chính sự phát triển hiện tại của những quan hệ kinh tế và xã hội, như cách nói của V.I. Lê-nin, làm tiêu chuẩn cho lý luận của mình, như ở các nước phương Tây, nhất là ở Anh, Mỹ, Pháp và sau đó ở Nga,...).

Chủ nghĩa dân túy, theo F. Phu-ku-y-a-ma, là thuật ngữ được sử dụng rất lỏng lẻo, nhằm mô tả một loạt các hiện tượng không nhất thiết dung hợp với nhau. Chủ nghĩa dân túy có các đặc điểm chính là: (1)- Là chế độ chính trị theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ trong một giai đoạn ngắn; (2)- Là việc lấy một số nhóm sắc tộc hoặc chủng tộc được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh của chế độ; (3)- Là phong cách của các nhà lãnh đạo, cầm quyền tự xưng là người đại diện trực tiếp của nhân dân, hướng niềm hy vọng (và cả sự phản kháng) của người dân vào những hành động tức thời.
Còn theo Rô-nan F. Inh-gơ-hát (Ronald F. Inglehart) và N. Pi-pa No-rít (N. Pippa Norris), chủ nghĩa dân túy hiện nay có ba yếu tố chủ yếu: (1)- Sự minh triết của nhân dân với tư cách số đông người; (2)- Sự ưa thích các nhà lãnh đạo độc đoán; (3)- Đề cao tinh thần bài ngoại, ưu tiên người bản địa.

Ngày nay, thậm chí đã xuất hiện những hình thức biểu hiện của chủ nghĩa dân túy mới, như chủ nghĩa dân tộc dân túy (populist nationalism), chủ nghĩa dân túy mới (neo-populism), với những thủ đoạn chính trị mang tính chất mị dân của một số giới chính trị tác động vào quan điểm, tâm lý của đám đông người dân (cử tri) để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ quần chúng, giúp nhiều nhà dân túy giành được quyền lực, tạo ra những thay đổi lớn về tương quan lực lượng có lợi cho mình trên chính trường và làm thay đổi chính sách. 
Với tính cách là phong trào chính trị, phong trào dân túy thường nhấn mạnh đến đặc điểm văn hóa, tình cảm tự phát và nhất là lợi ích thường nhật, trước mắt của người dân./.

T3.

 

Một số giải pháp sau bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên không gian mạng

 


Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”.

Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. 

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Bốn là, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trong nước xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các trang mạng phản động./. 

T3.

 

Phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa

 


Báo cáo chính trị Đại hội XII, trong phần phương hướng nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định: “Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta bổ sung, nhấn mạnh: “Phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”.

Như vậy, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ giữ trọng trách trong Đảng và hệ thống chính trị của đất nước, chính là một trong những yếu tố bất lợi, yếu tố gây nguy cơ đột biến ngay từ bên trong. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong các bài viết, bài phát biểu liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập, nhấn mạnh việc chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Tổng Bí thư cho rằng, bên cạnh “pháp trị” phải coi trọng “đức trị”; bên cạnh “pháp lý” phải đề cao “đạo lý”... “Đức trị”, “đạo lý” là cái gốc, là nền tảng để thực hiện hiệu quả “pháp lý”, “pháp trị”... Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, công tác kiểm tra phải chủ động đi trước một bước. Phải kiểm tra thường xuyên kết hợp với kiểm tra khi đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm.

Để “vũ trang” cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... trên cơ sở Điều lệ Đảng, gắn với đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động. Đó là cơ sở, nền tảng để chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Muốn phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị từ sớm, từ xa, cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải lấy yếu tố văn hóa Đảng làm trọng, đặt đạo đức của Đảng lên hàng đầu.

Sinh thời, Bác Hồ dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là vì thế. Khi cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ trì các cấp có đầy đủ văn hóa, đạo đức của Đảng, sẽ có nguồn lực nội sinh đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa.../.

          T3.

Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan

 

 

Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.

Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.

Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...

Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.

Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.

T3.


 

Suy thoái không trừ một ai

 

          Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...

Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.

Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.

Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.

Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.

Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.

T3.


 

Về mặt tổ chức đội ngũ chuyên gia và xây dựng tuyến bài tập trung có chất lượng

 

 

Kinh nghiệm cho thấy, đi liền với tuyên truyền, nghiên cứu phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận không chỉ đông về lượng mà phải bảo đảm chất lượng, đủ tầm trí tuệ và bản lĩnh để có những bài viết chất lượng. Hiện nay đội ngũ lý luận của chúng ta còn thiếu và còn không ít hạn chế. Cần tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Nên có chính sách đặc thù thu hút, ưu tiên đào tạo và sử dụng đội ngũ này. Bên cạnh đó, nghiên cứu đổi mới hình thúc và gia tăng thời lượng giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống nhà trường, nhất là ở bậc đại học. Cần có cơ chế bồi dưỡng đối với những người học tốt nghiệp các cấp học ở nước ngoài về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ nội dung, chương trình, giáo trình và phương pháp giảng dạy lý luận chính trị trong hệ thống các nhà trường phù hợp với đối tượng và cấp học; truyền thụ đầy đủ những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật những nội dung mới, phù hợp tình hình hiện nay, làm cơ sở cho việc vận dụng trong chỉ đạo thực tiễn.

Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức, trên cơ sở phát huy hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo 35 các cấp làm lực lượng lòng cốt trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thu hút các cộng tác viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia. Các cơ quan báo chí truyền thông cần tiếp tục nâng cao chất lượng trong xây dựng các chuyên trang, chuyên mục với hệ thống các tuyến bài đấu tranh sắc sảo với các quan điểm sai trái, có tính toán liều lượng và thời điểm hợp lý, bảo đảm tính liên tục, có trọng tâm. Kết hợp chặt chẽ những giải pháp về mặt tư tưởng với quy định mang tính pháp luật, cùng giải pháp công nghệ và chế tài xử phạt nghiêm minh, đủ sức răn đe đối với những thế lực, phần tử thực hiện các hoạt động hướng đến phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng./.

T3.

 

 

Cần tập trung vào trọng điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường mạng

 


Thực tế, các thế lực thù địch, cơ hội, thoái hóa biến chất thường lợi dụng các phương thức khác nhau để liên kết, phát tán thông tin chống phá, hòng phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng thường thông qua các phương thức: 1-Gửi đơn thư góp ý, khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan Đảng, chính quyền, cơ quan dân cử và các cơ quan ngôn luận; 2- Thông qua các quan hệ, các tổ chức dưới dạng các tài liệu, sách truyền tay, thông tin truyền miệng; 3- Thông qua các hội nghị, hội thảo, tổ chức các sự kiện chuyên đề; 4- Thông qua lập các trang Web của các tổ chức, hoặc của các cá nhân để đăng thông tin; 5- Thông qua mạng xã hội phát tán các thông tin và liên kết tạo thành đợt tấn công theo chuyên đề, theo các sự kiện. Chính vì vậy, đòi hỏi chúng ta cũng phải vận dụng các phương thức thông tin để phản bác lại các quan điểm xuyên tạc, phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong các phương thức trên, cần đặc biệt chú ý phương thức thông qua môi trường mạng.

Mạng xã hội là thành quả của cách mạng khoa học kỹ thuật, toàn thế giới áp dụng. Tuy nhiên, cả thế giới cũng đang đứng trước những thách thức lớn trong quản lý mạng xã hội, đối phó với mặt trái của mạng xã hội. Chúng ta đi sau, nhưng chúng ta phải quản lý, định hướng mạng xã hội vì mục đích của chúng ta. Vì vậy, cần tiếp tục bảo đảm sự thống nhất cao về tầm quan trọng của cuộc đấu tranh trên không gian mạng hiện nay, từ đó xây dựng và phát triển mạnh mẽ lực lượng đấu tranh trên mặt trận này, ngăn chặn và triệt phá kịp thời mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; chủ động kịp thời định hướng thông tin, đưa thông tin chính thống đến người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm môi trường ổn định cho phát triển. Để làm tốt việc đó, một trong những giải pháp là đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực thông tin truyền thông, cần xem thông tin truyền thông là một trong những lĩnh vực cần có ưu tiên cùng với 8 lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số: Y tế, Giáo dục, Tài chính - Ngân hàng, Nông nghiệp, Giao thông vận tải và logistics, Năng lượng, Tài nguyên và Môi trường, Sản xuất công nghiệp, đã được Chính phủ thông qua.

          T3.

 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chí tập trung trực diện vào các nội dung trong học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

  


Trong mục tiêu xuyên tạc phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực phản động cơ hội, thoái hóa biến chất không chỉ trực diện hướng tới phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng mà chúng con thông qua hình thức, biện pháp gián tiếp để thực hiện ý đồ của mình. Bên cạnh mưu toan phủ định trực tiếp chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn tập trung phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi xấu lãnh đạo, phủ định đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, xuyên tạc quan hệ đối ngoại, bịa đặt vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người, đàn áp tôn giáo… Bên cạnh đó ca ngợi, tuyên truyền về các giá trị dân chủ, nhân quyền, văn hóa theo lối sống phương Tây…Tất cả những chiêu bài đó nhằm cố minh chứng việc chúng ta lựa chọn sai con đường, sai mô hình do xuất phát từ học thuyết và tư tưởng lỗi thời, ảo tưởng. Thực chất mục tiêu suy cho cùng là phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng, kêu gọi theo con đường mới, từ bỏ vai trò của Đảng, vai trò của lực lượng vũ trang.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là bảo vệ trực diện nội dung các quan điểm, nguyên lý cụ thể của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhh, mà còn chính là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều cần chú ý là, những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị bền vững nằm trong một hệ thống và bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ tính hệ thống, toàn vẹn của những nguyên lý lý luận. Cần phản bác khuynh hướng tách rời, trích dẫn cắt xén các luận điểm và luận giải không phù hợp với bối cảnh lịch sử./.

          T3.

 

 

 

 

Cần chủ động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Đi liền   nhận diện các luận điểm họ chống phá để đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm, chúng ta cần chủ động tuyên truyền, luận giải tính khoa học và cách mạng của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bấy lâu nay chúng ta đã quyết liệt đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử thoái hóa biến chất nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc nhận diện diện rõ các thế lực và các quan điểm của họ để phản bác khá thuyết phục. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới hiện nay, các thế lực chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng khá đa dạng. Ngoài các thế lực như chúng ta chỉ rõ như: “1- Nhóm đối lập về mặt hệ tư tưởng; 2- Các thế lực thù địch về chính trị, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta; 3- Là những người vốn là cán bộ đảng viên nhưng không chịu tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng đạo đức cách mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phai nhạt lý tưởng, mà Đảng ta đã chỉ rõ là “tự chuyển hóa, tự diễn biến” trong nội bộ”, còn không ít thế lực dưới những vỏ bọc khác nhau. Chẳng hạn, cùng phối hợp hay phụ họa các thế lực này là sự xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, chúng tác động làm suy yếu các tổ chức từ bên trong, chúng đã và đang xuất hiện cũng hết sức tinh vi. Ph.Ăngghen đã nói rằng chủ nghĩa cơ hội biến chủ nghĩa Mác thành một thứ “chủ nghĩa Mác” bị xuyên tạc méo mó”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”. Bên cạnh chủ nghĩa cơ hội là thế lực cũng rất nguy hại, tuy không ra mặt phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng giải thích, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo mục tiêu, lợi ích của họ. Đây chính là những thế lực không muốn Việt Nam phát triển, mà muốn Việt Nam phụ thuộc, hỗ trợ cho lợi ích của họ. Họ cho rằng chúng ta không vận dụng đúng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tổn hại trong quan hệ quốc tế, ảnh hưởng đến môi trường và sự phát triển của chính Việt Nam.

Chính vì vậy để đấu tranh phản bác cùng với nhận rõ các luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội, suy thoái, biến chất, chúng ta cần chủ động giáo dục tuyên truyền và nghiên cứu, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tưởng Hồ Chí Minh. Làm rõ bản chất cách mạng, khoa học, như chính các nhà kinh điển chỉ ra. V.I.Lênin đã không ít lần nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Trong quá trình nghiên cứu phát triển cần làm rõ những luận điểm nào có giá trị bền vững, mang tính phổ quát, những luận điểm nào phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể, và kể cả những luận điểm nào không còn phù hợp do điều kiện lịch sử hiện nay đã thay đổi. Phát triển lý luận Mác-Lênin là trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp nhau, của những người mácxít chân chính. Ngay bản thân các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình nghiên cứu và hoạt động trong phong trào công nhân cũng đã điều chỉnh một số luận điểm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói:  “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”.

Như vậy đẩy mạnh việc tuyên truyền làm rõ bản chất cách mạng và khoa học, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái là phương cách tất yếu và cần luôn được quán triệt, gắn bó chặt chẽ nhằm bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

T3.

 

 

Đấu tranh trên phương diện lý luận cần gắn chặt hơn nữa với đấu tranh trong hoạt động thực tiễn.

 


Điều cần thấy là, các thế lực thù địch và cơ hội luôn tìm mọi thủ đoạn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên phương diện lý luận chúng hướng đến phủ định các nguyên lý triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó tập trung vào xuyên tạc, phủ định học thuyết hình thái kinh tế xã hội, về chuyên chính vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phủ định học thuyết giá trị thặng dư, phủ định lý luận về sự quá độ lên CNXH…Cùng với đó là phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt tư tưởng Hồ Chí minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng không chỉ cố luận chứng trên phương diện lý luận mà còn thông qua các hoạt động thực tiễn minh chứng sự phát triển vượt trội của chủ nghĩa tư bản. Lấy sự đổ vỡ mô hình CNXH ở Liên xô cũ và các nước Đông Âu để luận giải tính không hợp lý của CNXH hội cũng như hướng vào phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin.

Ngay ở Việt Nam, không chỉ xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh trên phương diện lý luận, chúng còn xuyên tạc rằng, việc Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam là gượng ép, sai lầm, và vì vậy đây chính là nguyên nhân đẩy đến các cuộc chiến tranh hao người tốn của, làm kìm hãm sự phát triển của đất nước. Trên thực tế, họ lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên để làm minh chứng, từ đó xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là không phù hợp, là lỗi thời với xu thế phát triển chung của thế giới.

Chính thực tế đó đòi hỏi trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chúng ta phải gắn chặt hơn nữa đấu tranh trên phương diện lý luận với đấu tranh trong hoạt động thực tiễn. Thông qua các kết quả thực tiễn để minh chứng sự đúng đắn đường lối của Đảng, của lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời công khai những hạn chế, sai lầm do các nguyên nhân chủ quan và khách quan trong quá trình xây dựng xã hội mới. Muốn vậy phải có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ hơn nữa của các lực lượng tham gia đấu tranh lý luận với công tác tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế xã hội, với đấu tranh phòng chống sự suy thoái tư tưởng đạo đức, lối sống cũng như phòng chống tham nhũng.

          T3.

Phát huy sức mạnh của Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng

Chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cần phải phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh đó. Hiện nay, công nghệ thông tin, không gian mạng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Chúng thiết lập các trang website, blog, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”, phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc để chống phá. Thủ đoạn chính của chúng là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết Quân đội với nhân dân, v.v. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và Quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại đạo đức xã hội. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quân đội là một trong những đối tượng chúng chống phá quyết liệt, vì đây là lực lượng chủ yếu, nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của chúng là “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất công cụ bạo lực sắc bén, không còn giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Nhận thức đúng tình hình đó, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp trong toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cùng với đó, toàn quân đã làm tốt công tác giáo dục, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng; huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng và thường xuyên đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh mạng được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Những kết quả quan trọng đó đã khẳng định Quân đội ta luôn xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng thời gian qua còn có những hạn chế, như: lực lượng chuyên trách của một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo; một số sự việc đã bị kẻ xấu lợi dụng, lan truyền nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; hình thức tiến hành chủ yếu vẫn là chia sẻ các bài viết có sẵn trên mạng; tần suất những bài viết, thông tin có chiều sâu về lý luận và thực tiễn mang tính định hướng, tính chiến đấu để đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch chưa nhiều, nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong công tác quan trọng này. Trước hết, cần xác định: đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, diễn biến phức tạp, quyết liệt, thường xuyên và lâu dài. Vì vậy, để thống nhất nhận thức và hành động, cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm và sự cần thiết phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh không khoan nhượng này. Thực hiện tốt Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; đưa nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ hoặc chuyên đề của cấp ủy đảng và nội dung sinh hoạt của tổ chức đảng, sát với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cấp ủy các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá phù hợp với nhận thức từng đối tượng cụ thể cần tuyên truyền, đấu tranh. Đồng thời, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình trong từng thời kỳ; không giáo điều, rập khuôn máy móc. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đề cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định phát ngôn,... nắm chắc tình hình trên mạng xã hội qua blog, facebook,… của những quân nhân có biểu hiện dao động, suy thoái về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để có biện pháp giáo dục; trường hợp cố tình vi phạm những quy định phải cương quyết xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hai là, đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Muốn đấu tranh có hiệu quả, cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ trì các cấp phải có bản lĩnh chính trị vững vàng và hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để làm được điều này, các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các học viện, nhà trường nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, nghiên cứu lý luận chính trị, cốt lõi là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn trong quan điểm của Đảng về quân sự quốc phòng; luận giải thuyết phục, thấu đáo những vấn đề mới nảy sinh. Đồng thời, kết hợp đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới. Nắm chắc, hiểu rõ về tính hai mặt của không gian mạng cũng như âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch; tạo khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước các thông tin xấu độc, cũng như tăng cường sức “đề kháng” để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Ba là, chủ động cung cấp thông tin, định hướng nhận thức tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Hiện nay, Việt Nam có hơn 58 triệu người đã sử dụng tài khoản facebook và tiếp nhận rất nhiều thông tin qua mạng xã hội này. Thế nhưng, những nguồn thông tin chính thống và có thẩm quyền từ các cơ quan chức năng trên các trang mạng xã hội lại rất ít. Khi có sự việc nhạy cảm xảy ra thường phản ứng chậm, hình thức thông tin chưa phù hợp,... khiến cho tin giả, tin bịa đặt, tin suy diễn xuất hiện tràn lan, không có nguồn để xác thực, kiểm chứng tính đúng sai, thật giả lẫn lộn, gây xáo trộn, hoang mang dư luận công chúng. Vì vậy, các cơ quan chức năng phải nhạy bén, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin theo Luật An ninh mạng và Quy chế phát ngôn, nhất là các vấn đề có liên quan đến Quân đội. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần chỉ đạo cơ quan chức năng bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị và nhân dân trên địa bàn đơn vị đóng quân. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 các cấp tập trung biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo,… làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng cho lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Ở từng cấp, cần duy trì tốt nền nếp chế độ hội ý cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp đấu tranh. Trong đó, cần chỉ rõ mục tiêu, luận điểm chống phá của các thế lực thù địch trong các tin, bài; cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác từ hệ thống ngân hàng đã được biên soạn sẵn, làm cơ sở cho lực lượng viết bài tham gia đấu tranh. Bốn là, tích cực ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng, đặc biệt là Bộ Tư lệnh 86, theo chức năng, nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Hoàn thiện, đưa vào khai thác, sử dụng các phần mềm quản lý kết quả đấu tranh và hỗ trợ các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng, thực hiện các chiến dịch truyền thông chủ động. Nghiên cứu, đề xuất việc sử dụng phần mềm Mocha Viettel, sản xuất điện thoại di động nội bộ, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí bảo đảm an toàn, vừa góp phần quản lý tình hình tư tưởng, dư luận và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ Quân đội trên không gian mạng. Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, các đơn vị Quân đội cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. diễn biến hòa bình,không gian mạng

Sự nguy hại của "bới lông tìm vết" với thái độ và dụng ý xấu của các thế lực thù địch để chống phá đất nước, chế độ ta

Ông bà ta có câu thành ngữ “bới lông tìm vết” hàm nghĩa chỉ những người có tính soi mói, cố tìm điểm yếu của người khác để phê phán, công kích bằng thái độ và dụng ý xấu. Nếu nghiêm túc tìm hiểu, thẳng thắn chỉ ra công khai những khuyết điểm nhằm góp ý giúp người khác sửa chữa, tiến bộ thì cần được hoan nghênh, nhưng "bới lông tìm vết" thì lại khác. Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số cá nhân chuyên tìm những thiếu sót, sơ hở, vi phạm của cán bộ, đảng viên, công chức, chính quyền, rồi thổi phồng, "xâu chuỗi", đẩy lên thành vấn đề "nóng" với ý đồ xấu. Những đối tượng này thường có ảnh hưởng nhất định trên mạng xã hội, tự lấy danh nghĩa là đại diện cho dư luận để phán xét. Nhưng kỳ thực, cái gọi là “dư luận” mà chúng vỗ ngực đại diện ấy chỉ là một bộ phận nhỏ người sử dụng mạng xã hội có quan điểm trái chiều, cổ xúy, tung hê cho nhau. Trước mỗi sự việc thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm trong bộ máy chính quyền, chúng lại "bới lông tìm vết", thậm chí còn theo kiểu "thầy bói xem voi". Khi các cơ quan chức năng đang tiến hành làm rõ sự việc thì những đối tượng này đã tự thêm thắt nhiều thông tin lượm lặt không chính thống, rồi thêu dệt và ra “phán quyết miệng” trên trang mạng xã hội nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ của chúng. Điều nguy hiểm nhất là chúng lục tìm, tập hợp thông tin có chủ đích, sai sự thật hòng làm thay đổi bản chất vụ việc để từ công kích cá nhân đẩy lên lu loa, phê phán bộ máy công quyền với luận điệu rằng chính quyền tắc trách, sơ hở, bao che cho nhau cùng sai phạm... Từ đây, chúng lợi dụng mạng xã hội và những nhóm người có tư tưởng trái chiều để bẻ lái dư luận, hạ thấp uy tín của cá nhân lãnh đạo và bộ máy chính quyền. Xa hơn, chúng công kích thể chế nhà nước, nói xấu chế độ ta. Kiểu “bới lông tìm vết” mà các thế lực thù địch, bất mãn thường dùng để chống phá đất nước, chế độ ta là cực kỳ thâm độc, nham hiểm. Mỗi chúng ta cần cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, đấu tranh.

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Chúng ta đều biết, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đã trở thành khoa học. Lần đầu tiên, giai cấp vô sản có một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường; chủ nghĩa Mác từ “một bóng ma ám ảnh châu Âu” đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, có uy tín, vị thế và chiếm vị trí thống trị phong trào công nhân từ những năm 40 của thế kỷ XIX. Đảng Cộng sản – Bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp vô sản, theo đó cũng đã ra đời, là sản phẩm của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận khoa học và phong trào công nhân quốc tế. Điểm vượt trội của chủ nghĩa Mác so với các học thuyết của các bậc tiền bối và đương thời là ở chỗ: Chủ nghĩa Mác là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, lực lượng, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công, thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và giải phóng nhân loại; đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Cho đến ngày nay và mai sau, mãi mãi vẫn sẽ là như vậy, không có học thuyết nào, chủ nghĩa nào có thể vượt qua chủ nghĩa Mác – Lênin bởi giá trị, ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân đạo của nó. Kẻ thù “lớn và nhỏ” của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt và tàn ác đã và đang thực hiện nhiều chiêu trò “ma quỷ” từ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, đến thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa”, “dân chủ hóa” lực lượng vũ trang nhằm mục đích cuối cùng là hạ bệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội ta. Làm việc sai trái đó, chính các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã thừa nhận sự yếu thế, hoang mang và hoảng loạn tinh thần của chúng và trên thực tế là thừa nhận sự nguy hiểm, sự đe dọa của một học thuyết khoa học, cách mạng và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa cá nhân" căn bệnh đặc biệt nguy hại không thể xem nhẹ với mỗi cán bộ, đảng viên

Chủ nghĩa cá nhân (CNCN), có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ là nhất-hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”. CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN. Nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy... Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng. Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên.

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2022

Mỹ mong muốn nâng tầm quan hệ với Việt Nam khi điều kiện phù hợp

 

Mỹ mong muốn nâng tầm quan hệ với Việt Nam khi điều kiện phù hợp

Thông tin được Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Wendy Sherman đưa ra trong cuộc gặp Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn ngày 13/6 tại Hà Nội, theo thông cáo hôm nay của Bộ Ngoại giao. Bà Sherman khẳng định Mỹ ủng hộ một Việt Nam giàu mạnh và thịnh vượng.

Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ đánh giá chuyến thăm và làm việc tại Mỹ của Thủ tướng Phạm Minh Chính thu được nhiều kết quả và tạo động lực cho quan hệ hai nước tiếp tục phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư.

Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn (phải) bắt tay Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Wendy Sherman ngày 13/6. Ảnh: Bộ Ngoại giao.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh Việt Nam coi Mỹ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu, sẵn sàng cùng Mỹ "thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau".

Bà Sherman đánh giá Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN - Mỹ có những kết quả tích cực cả về song phương và đa phương và Mỹ sẽ đẩy mạnh hơn nữa hợp tác với các nước thành viên ASEAN để khai thác hiệu quả dư địa trong quan hệ.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn và Thứ trưởng Sherman trao đổi về các biện pháp thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực song phương như trao đổi đoàn cấp cao, phòng chống dịch bệnh, phục hồi kinh tế - xã hội sau đại dịch, thương mại - đầu tư, khắc phục hậu quả chiến tranh, vấn đề đất xây dựng trụ sở cơ quan đại diện.

Trong cuộc gặp bà Sherman cùng ngày, Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc đề nghị người đồng cấp Mỹ phối hợp thúc đẩy triển khai các kết quả chuyến thăm và làm việc tại Mỹ của Thủ tướng Phạm Minh Chính, tiếp tục quan tâm thúc đẩy các nội dung ưu tiên trong quan hệ hai nước.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc (trái) bắt tay Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Wendy Sherman ngày 13/6. Ảnh: Bộ Ngoại giao.

Ông cũng đề nghị Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, chuyển đổi năng lượng sạch, cũng như trao đổi, chia sẻ thông tin với Việt Nam về các sáng kiến khu vực.

Bà Sherman bày tỏ vui mừng khi hai bên từng bước nối lại các hoạt động trực tiếp và trao đổi đoàn sau Covid-19. Bà mong muốn Việt Nam sẽ tích cực tham gia thảo luận về Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, cùng các nước khu vực góp phần định hình các tiêu chuẩn và luật chơi chung đối với các lĩnh vực hợp tác nhiều triển vọng tại khu vực như kinh tế số, chuyển đổi năng lượng sạch, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế.

Thứ trưởng Sherman khẳng định Mỹ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam thực hiện các cam kết về cắt giảm khí thải tại COP26, khắc phục hậu quả chiến tranh.

 

XIN ĐỪNG VÔ ƠN VÀ CŨNG ĐỪNG LÃNG QUÊN!

         Hơn 40 năm trước những người con Xô Viết (nước Nga hiện nay) giúp Việt Nam chinh phục dòng Sông Đà hung dữ, xây dựng nhà máy thủy điện ngăn lũ cho đồng bằng Bắc Bộ. Hơn 40 năm trôi qua, bây giờ Liên Xô cũng không còn, những kỹ sư Liên Xô trên đại công trường Thủy điện Hòa Bình ngày đó nếu còn cũng đã tới tuổi "Thất thập cổ lai hi". Không biết ai còn nhớ tới họ, nhớ tới những công trình cao cả của những người anh em Cộng sản không nhỉ?

Và bây giờ lớp trẻ sau này họ ca thán "giá như đừng đuổi đi một nền văn minh của Pháp, hay như đừng đánh Mỹ thì Việt Nam giàu ngang Hàn, Nhật". Quê mình năm 1996 có điện, đúng sau 2 năm khi tổ máy cuối cùng của Thủy điện Hòa Bình đi vào hoạt động, chấm dứt một thời kỳ đèn dầu mà mỗi lúc ngồi vào bàn học cay xè nước mắt.
Mùa thu năm 1971, miền Bắc trải qua trận đại hồng thủy: "250 năm mới gặp một lần". 400 km đê vỡ, 500 nghìn ha lúa mất trắng. Nước sông Hồng dâng xấp xỉ mặt cầu Long Biên. Ngành giao thông phải điều một đoàn tàu chở đá hộc lên trấn giữ mặt cầu để không bị lũ cuốn phăng.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi đó đưa đoàn đại biểu cấp cao Liên Xô đi thị sát lụt ở Hà Bắc. Đứng trên triền đê nhìn ra mênh mông nước, ông mong muốn Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng một công trình để cắt lũ cho đồng bằng sông Hồng.
Cũng chính từ đây công trình Thủy điện Hòa Bình manh nha hình thành và dần đi vào hiện thực. Có thể nói rằng lịch sử thường rất công tâm nếu không có người Nga chúng ta có lẽ chưa biết bao giờ có dòng điện quốc gia đầu tiên của cả nước. Mà trước đó người Pháp từng tuyên bố "Sông Đà bất trị". 
Và ngược lại nếu không có người Mỹ thì chúng ta sẽ không bị chia cắt 20 năm, không có hàng triệu tấn bom đạn trút trên làng mạc ruộng đồng người Việt, không có những em bé da cam mà dù hơn 40 năm trôi qua hậu quả còn dai dắng nặng nề. Nhìn lại lịch sử để xem ai là bạn là thù để có cái nhìn công tâm đối với lịch sử.

Nếu nhiều người hỏi Liên Xô được gì ở đất nước này? Không gì cả, nuôi cho Việt Nam biết bao nhiêu du học sinh, tạo cho hàng ngàn lao động ở Đông Âu mà nhiều người nhờ đó giàu sụ lên trong khi đất nước còn khốn khó, ngay như tỷ phú của Việt Nam bây giờ Phạm Nhật Vượng cũng được nuôi dưỡng bằng bánh mỳ của nước Nga, giờ thành đạt ông luôn chân thành biết ơn và trân trọng nơi đã chắp cánh cho ông được thành đạt như hôm nay.
Nhưng cũng có một số người giờ thì sao? Đám đi Liên Xô tầm 8x chúng chửi Liên Xô không ra gì... đó là sự vong ơn bội nghĩa.

Còn người Mỹ để lại gì cho đất nước này qua hơn 20 năm cai trị Miền Nam?
Không gì cả, lòng người ly tán phân tranh, ngoài bom đạn và những nghĩa trang đầy ắp ngôi mộ. Và ngay bây giờ chúng vẫn đang thò cây gậy "nhân quyền" vào đất nước chúng ta, điều mà hơn 40 năm trước chúng chưa bao giờ làm được, chỉ thay đổi phương thức từ s*úng đạn sang đồng đô la mà thôi./.

Yêu nước ST.