Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khắc phục “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khắc phục “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay

Một là, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến toàn Đảng, toàn quân, toàn dân (nhất là thế hệ trẻ)

Sở dĩ cần phải làm như vậy là do, muốn bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân (nhất là thế hệ trẻ - lực lượng nòng cốt kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng), nhận thức được ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị thực tiễn to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ khi hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng những yêu cầu đó, mới tạo được sự hấp dẫn, thu hút ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) tham gia tích cực, tiếp nhận, học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn. Qua đó, họ ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, rõ ràng hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị thực tiễn có ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, tạo được sự thống nhất và thấy rõ hơn trách nhiệm của bản thân, càng tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến toàn Đảng, toàn quân, toàn dân (nhất là thế hệ trẻ) được đẩy mạnh, đạt chất lượng, hiệu quả ngày càng cao, cần phải tạo được bước đột phá trong đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, như Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị khóa XI “Về tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý” đã chỉ rõ là cần phải “Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm, người học tham gia tích cực vào quá trình đào tạo; giúp người học tiếp tục tự học, bổ sung, mở rộng và nâng cao kiến thức, rèn luyện về phương pháp tư duy, khả năng vận dụng, giải quyết tình huống thực tiễn”. Trước hết là phát triển, hoàn thiện, nâng cao năng lực và chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, phải đẩy mạnh đào tạo, phát triển về số lượng và không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tuyên truyền viên,… đủ sức đảm trách ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn, nhiệm vụ truyền đạt, phổ biến, hướng dẫn vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn và tích cực đấu tranh có hiệu quả, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đúng như Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay…”. Quán triệt yêu cầu này trong đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, tuyên truyền viên cần phải làm cho đội ngũ này tinh thông về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và am tường vận dụng vào thực tiễn trong từng nội dung truyền đạt cho người học, làm cho người học thấm thía lời dạy của Bác Hồ: “Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế, chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế” và “Khi học tập, các đồng chí cũng cần liên hệ với những vấn đề thực tế ở trong nước và trên thế giới, những vấn đề và nhiệm vụ cách mạng hiện đang đề ra cho Đảng ta; đem lý luận học được tìm xem đường lối và phương pháp giải quyết các vấn đề đó như thế nào cho đúng; hoặc phân tích các kinh nghiệm công tác đã qua của Đảng và tìm nguyên nhân của những thành công và thất bại của Đảng. Như thế sẽ giúp cho việc củng cố lập trường, nâng cao quan điểm và phương pháp của mình”.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, để làm tốt hơn nữa vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội

Triển khai thực hiện giải pháp này cần gắn kết chặt chẽ, đồng bộ một cách thực chất với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” và Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” nhằm làm cho Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng với Dân như cá với nước, đúng như di huấn của Bác Hồ và niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng.

Muốn đạt được những yêu cầu nêu, trên các tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự Đảng các bộ, ngành và các địa phương từ tỉnh đến huyện ủy, cần tiến hành kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện trong thời gian qua của các cấp thuộc phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo của mình để rút kinh nghiệm và kịp thời uốn nắn, khắc phục trong thời gian tới. Đặc biệt là phải chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt thường kỳ của chi bộ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình trên tình đồng chí nhằm giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết và nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Tuyệt đối tránh tình trạng làm hình thức, qua loa, đại khái. Đồng thời, phải đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, tiến hành kiểm tra sâu sát, thực chất để những Nghị quyết, Chỉ thị và Quy định của Đảng đã nêu trên thực sự có hiệu lực trong lãnh đạo, chỉ đạo, được triển khai thực hiện nghiêm túc, đem lại kết quả có giá trị, góp phần tích cực làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh và là đạo đức, văn minh - nhân tố cơ bản hàng đầu bảo đảm sự tồn tại, phát triển của Đảng, của chế độ và sự phát triển bền vững của đất nước.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả về xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị, làm cho hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, thật sự là “cầu nối” gắn bó máu thịt, sâu rộng giữa Đảng với Dân (nhất là thế hệ trẻ)

Để huy động và phát huy sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, nước ta có một hệ thống chính trị tập hợp xung quanh Đảng từ Trung ương đến địa phương và cơ sở. Đây là lực lượng hùng hậu bảo vệ Đảng và là “cầu nối” gắn bó máu thịt giữa Đảng với Dân, phát huy ảnh hưởng của Đảng một cách sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân trên khắp mọi miền đất nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Nhằm phát huy vai trò to lớn đó của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, nhất là các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, tổ chức Công đoàn và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,... trong các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh vạch trần những âm mưu thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khắc phục tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hiện nay. Để làm tốt vai trò đó, cần phải tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả về xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị, làm cho hệ thống chính trị của nước ta thật sự tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, luôn quan tâm đến dân, biết lắng nghe ý kiến, nguyện vọng chính đáng của dân, có đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất làm tốt nhiệm vụ được nhân dân tin tưởng giao phó, không cửa quyền, sách nhiễu, ức hiếp dân và làm tốt “cầu nối” giữa Đảng với Dân; kịp thời phát hiện những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và nắm bắt những diễn biến tiêu cực về tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để phản ánh với tổ chức Đảng. Đồng thời, tiến hành những giải pháp thích hợp để đấu tranh, phản bác mạnh mẽ đối với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống đối; uốn nắn, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ - lực lượng nòng cốt kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Bốn là, tiến hành mạnh mẽ, sâu rộng, liên tục trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động đấu tranh phản bác, phê phán những luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ âm mưu của các thế lực thù địch để phòng tránh

Nhằm thực hiện giải pháp này một cách hiệu quả, phải nắm rõ âm mưu, thủ đoạn, phương thức tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và lai lịch của những phần tử thù địch cùng mục tiêu hoạt động chống phá của chúng. Đồng thời phải theo sát tình hình diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận xã hội trước những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để xây dựng lực lượng, tiếp tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và tuyên truyền, giáo dục lý luận bảo đảm tính khoa học, sát thực tiễn, có tính thiết thực và hiệu quả. Đặc biệt là trên đài truyền hình, đài phát thanh, báo, tạp chí,... phải thường xuyên có các bài viết, bài thuyết trình của những chuyên gia am tường sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trình bày những nội dung cơ bản, trọng yếu một cách thiết thực, dễ hiểu, làm rõ ý nghĩa thời đại của mỗi nội dung trình bày, liên hệ chặt chẽ và làm rõ giá trị thực tiễn của những nội dung đó. Nói cách khác, những bài thuyết trình, bài viết đó phải có tính chiến đấu sắc bén và tính thuyết phục cao, hấp dẫn thu hút được nhiều người đọc, người nghe nhằm nâng cao năng lực tự bảo vệ của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm được như vậy sẽ góp phần tích cực vào việc đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã đề ra là: “Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

 

Quyết tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay

 Quyết tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, chủ nghĩa Mác -Lênin là chủ nghĩa cộng sản khoa học do C.Mác - Ph.Ăngghen xây dựng trong suốt gần 60 năm, từ những năm 40 cho đến cuối thập niên 90 thế kỷ XIX và V.I.Lênin bổ sung, phát triển trong cả thập niên cuối của thế kỷ XIX và hơn hai thập niên đầu thế kỷ XX, trên cơ sở thực tiễn CNTB đã và đang chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc; phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ, giành được những thắng lợi mang tính bước ngoặt như: Công xã Pari và nhất là cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đưa tới sự ra đời Liên bang Cộng hòa XHCN Xôviết, giải phóng hàng trăm triệu nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư bản. Chủ nghĩa Mác - Lênin là những học thuyết sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực, mà cơ bản, trọng yếu, cốt lõi, nhất là: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

Nói khái quát, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại, liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử thế giới, cùng những dự báo về tương lai. Hệ thống tri thức này là những kiến thức khoa học có tác dụng trực tiếp nâng cao trình độ nhận thức, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên. Nếu mọi cán bộ, đảng viên đều được học tập và chịu khó học tập không ngừng để quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những kiến thức này trong hoạt động thực tiễn sẽ luôn đứng vững trên lập trường của người cộng sản, không bị hoang mang, dao động trước những tuyên truyền xấu độc, xuyên tạc của các thế lực thù địch, vững tin trong mọi hoạt động vì lợi ích chính đáng của nhân dân, bằng những giải pháp có hiệu quả và gặt hái được nhiều thành công, đóng góp tích cực cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Tuy vậy, trong bối cảnh CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã sụp đổ, tan rã, hệ thống XHCN thế giới không còn; quá trình toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra rất nhanh chóng, với sự phát triển siêu tốc của internet, mạng xã hội,... tạo nên “thế giới phẳng”, nhưng thông tin không được kiểm soát, gây nhiều khó khăn cho việc tiếp nhận, phân tích, luận giải để hiểu thấu đáo nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó là sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ của nhiều nước tư bản và những khó khăn, thách thức cùng sự kéo dài của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta với mặt trái của cơ chế thị trường tự do tác động mạnh mẽ, sâu rộng trên nhiều phương diện, dẫn tới tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nạn tham nhũng, hối lộ, “lợi ích nhóm”,... diễn ra rất trầm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm tư, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Lợi dụng bối cảnh đó, những năm qua, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử đối lập, bất mãn chính trị,... ở trong và ngoài nước, ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, vu khống, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của nhân dân ta, nhất là thông qua internet, mạng xã hội, các đài, báo đối lập,... đăng những tin, bài xấu, độc, xuyên tạc, phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước; công kích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Chúng dùng mọi âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng gây hoang mang, dao động về lập trường, tư tưởng và làm phai nhạt lý tưởng XHCN của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Cùng với phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt xuyên tạc, bịa đặt thông tin sai trái liên quan đến những vấn đề nhạy cảm về chính trị, xã hội, công tác tổ chức và đạo đức của cán bộ… để tấn công chia rẽ nội bộ; gây kích động làm cho chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và những sự đố kỵ, ganh tỵ, bất mãn trỗi dậy, dẫn tới tình trạng mất đoàn kết ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và trong nhân dân, gây nên sự “chông chênh” và xa hơn là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nhằm khắc phục thực trạng đó, Đảng ta xác định phải “Tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII khẳng định cần “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Từ những căn nguyên và bối cảnh nêu trên, những nội dung cơ bản, trọng yếu cần phải quán triệt và quyết tâm, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, khắc phục “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay là:

- Bảo vệ sự đúng đắn và giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng với Dân như cá với nước mà Bác Hồ đã căn dặn.

- Bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương và cơ sở để làm tốt vai trò thực sự là “cầu nối” bảo đảm gắn bó máu thịt giữa Đảng với Dân, nhất là đối với thế hệ trẻ.

- Bảo vệ cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thanh, thiếu niên trước sự tấn công tuyên truyền xuyên tạc, kích động nhằm gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ nội bộ và sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, chủ nghĩa cơ hội trục lợi của các thế lực thù địch.

 

THEO DÒNG LỊCH SỬ "AI VỊ THA HƠN ???"


Những kẻ đang xuyên tạc lịch sử, họ cho rằng đây là “cuộc nội chiến”, vậy những người lính Pháp và Mỹ mang bom đạn đến giết nhân dân Việt Nam là cái quái gì? Mấy chục ngàn lính Pháp và Mỹ bỏ mạng tại Việt Nam là đi du lịch à?
Họ cho rằng “kẻ nghèo đi giải phóng người giàu” để mỉa mai phủ định cuộc kháng chiến. Vậy hãy nghĩ xem người dân Việt tay không tất sắt bị người Pháp, người Mỹ và tay sai (những kẻ giàu có) đầy đọa bao năm trời, có đứng lên cầm súng để đánh đuổi quân xâm lăng và tay sai không? Vậy có phải là giải phóng không ? Họ có biết “Kẻ thù buộc ta ôm cây súng” không ?
Hãy nghe câu chuyện này:
Một người Mỹ nói với một người Việt: "Tao không hiểu sao ở đất nước mày lại ôm thù hận lịch sử lâu đến thế. Đến bây giờ tao vẫn gặp nhiều người nói về lịch sử, về chiến tranh, và vẫn coi dân tộc tao là kẻ thù.
Ở đất nước tao lịch sử là lịch sử, dù chiến tranh đẫm máu và tàn khốc bao nhiêu thì bọn tao cũng đem bỏ nó vào một quyển sách rồi cất vào thư viện. Tụi tao không quên, nhưng không không nhắc lại với thù hận nữa. Hãy hướng về tương lai”.
Người Việt trả lời: Mày hãy nhìn tấm hình này đi.
- Nhân dân Mỹ mày đã bao giờ bị đội quân xâm lược nào dí súng, ném bom thảm sát chưa ?
- Mày đã bao giờ tự tay chôn đứa con của mày vì bị trúng bom Mỹ chưa?
- Mày đã từng chứng kiến cảnh cả gia đình gục chết ngay tại mâm cơm khi bị lính Hàn Quốc điên cuồng xả súng.
- Mày đã từng chứng kiến cảnh cả nhà mày bị lính Úc giết từng người chưa ?.
- Mày có chứng kiến con gái mày bị đám lính Mỹ, Thái, Phi đè hiếp rồi ném xác vào đống rác ở đô thành Sài Gòn chưa.
- Bà mợ của tao khi đó mới 10 tuổi phải chứng kiến người mẹ của mình bị trúng đạn pháo của quân Mỹ chúng mày trong cơn mưa rừng lạnh giá, không thể chôn cất mẹ mình và lấy tạm áo mưa đắp lên thi thể mẹ rồi dò dẫm tìm đường về nhà...
- Bao nhiêu sinh viên miền Bắc gác lại ước mơ giảng đường đại học để lên đường vào nam chiến đấu. Mày nghĩ gì về ước muốn của họ được 1 lần ăn cơm mẹ nấu, được quét nhà cho mẹ, được thả diều 1 lần trên triền đê,... rồi chết cũng cam lòng...
- Bạn thân tao, ông ngoại nó theo lính VNCH, cậu út nó đi theo cách mạng. Ông ngoại nó và cậu út về thăm nhà cùng 1 ngày 2 người xách súng chĩa vào nhau. Bà ngoại nó van xin 2 người vì chút tình cha con đừng giết nhau, cậu út nó hạ súng rút lui ra phía ngõ sau... Ông ngoại tử trận ở Tây Nguyên, cậu út cũng thành liệt sĩ,...
- Từ lãnh đạo đến người dân miền Bắc đã khóc như đứa trẻ khi nghe tin đồng bào miền nam bị đám lính chúng mày thảm sát mấy trăm mạng người trong cùng 1 ngày.
Mày thấy không, bao nhiêu năm trời cả dân tộc chịu bao đau thương mà tụi mày và đám lính đánh thuê đã gây ra cho dân tộc tao, buộc chúng tao đứng lên chiến đấu để đánh đuổi quân xâm lược, thống nhất đất nước.
Chúng tao không nuôi lòng hận thù với ai. Tổng thống chúng mày sang cả nước tao cầm cờ chào đón. Người Mỹ, người Hàn chúng mày sang Việt Nam chúng tao được bọn tao yêu quý. Mày thấy người Việt bọn tao giàu lòng vị tha và bao dung không?
Đất nước tao mở rộng vòng tay và làm bạn với các nước, mày thấy người Mỹ và người Việt, ai bao dung, vị tha hơn.
St

Nhận thức đúng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 

Tham nhũng là một thuộc tính trong xã hội có giai cấp. Chống tham nhũng, vì thế, là cuộc đấu tranh lâu dài, cam go và vô cùng phức tạp. Thành bại của cuộc đấu tranh này phụ thuộc vào bản lĩnh của đảng cầm quyền, hiệu lực của hệ thống pháp luật và đặc biệt là sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân.

Nền tảng tư tưởng của Đảng là ánh sáng dẫn đường tạo nên sức mạnh đại đoàn kết đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc

 Nền tảng tư tưởng của Đảng là ánh sáng dẫn đường tạo nên sức mạnh đại đoàn kết đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành bắt nguồn từ người thanh niên yêu nước - Nguyễn Tất Thành - trong quá trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước đã tiếp cận được chủ nghĩa Mác và chính chủ nghĩa Mác đã giác ngộ đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành người đảng viên cộng sản. Tiếp đó, Nguyễn Tất Thành với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận được chủ nghĩa Lênin và tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Từ đó, chính Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam để giác ngộ cách mạng cho nhân dân ta, nhất là cho thanh niên. Đặc biệt, trong quá trình chuẩn bị lực lượng cách mạng nhằm tiến tới thành lập Đảng Cộng sản ở xứ Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã biên soạn tài liệu và truyền dạy cho lớp lớp cán bộ cách mạng về chủ nghĩa Mác - Lênin. Đến năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ngay từ khi ra đời, trong Cương lĩnh của mình đã khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đi theo ánh sáng dẫn đường của nền tảng tư tưởng đó, chỉ sau 15 năm, cách mạng Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang, biến nước ta từ một nước nô lệ dưới sự thống trị, giày xéo tàn khốc của bọn thực dân đế quốc và không có tên trên bản đồ thế giới, trở thành một quốc gia độc lập, tự do. Từ thắng lợi vẻ vang bước đầu này, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh - Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng do Người sáng lập, rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân ta đoàn kết thành một khối thống nhất, đưa cách mạng Việt Nam tiến bước dưới ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Mác - Lênin với sự vận dụng sáng tạo của Đảng đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, với ý chí và quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” đã đánh thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, với những chiến công lẫy lừng như: Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ trên không, Đại thắng Mùa Xuân 1975, giành lại độc lập, tự do, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Từ thực tiễn lịch sử và những thắng lợi vĩ đại, Người đã xác định: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”. Quán triệt chỉ dẫn đó của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, đưa nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

 Từ thực tiễn của tiến trình lịch sử và những thắng lợi vĩ đại đã giành được của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đại hội VII của Đảng năm 1991 đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Qua thực tiễn hơn 35 năm đổi mới và hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, càng khẳng định sự đúng đắn và vai trò to lớn của nền tảng tư tưởng đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” và Hiến pháp của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã luật hóa sự khẳng định đó. Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta trong suốt hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò to lớn của nền tảng tư tưởng mà Đảng ta đã lựa chọn. Do đó, chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phản bác của các thế lực thù địch và bảo vệ, phát huy nền tảng tư tưởng của Đảng một cách mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa.

 

Bản lĩnh Việt Nam và khát vọng hùng cường


    Như con tàu hành trình ra biển lớn, đất nước ta đã đi qua năm 2021 trong cơn bão tố dịch bệnh COVID-19. Đại dịch COVID-19 quét qua toàn cầu đã gây khủng hoảng toàn bộ nền y tế và kinh tế, xã hội toàn thế giới. Đất nước ta không nằm ngoài sự ảnh hưởng của đại dịch. Đến ngày 10-12-2021, nước ta đã có 27.402 đồng bào, cán bộ, chiến sỹ, tử vong, hy sinh. Nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Hoạt động văn hóa, xã hội, giáo dục bị đình trệ. Công cuộc phòng, chống đại dịch COVID-19 cũng đang đặt ra những yêu cầu cấp bách trong đổi mới quản trị đất nước, trong đó có yêu cầu về chuyển đổi kỹ thuật số, xây dựng nền kinh tế số nhằm kịp thời ứng phó với đại dịch và phát triển kinh tế, xã hội. Trạng thái bình thường mới trên toàn thế giới sẽ xác lập những chuẩn mới về sản xuất, quản lý, dịch vụ… Do vậy, đất nước, con người cần phải thay đổi, hoàn thiện mình hơn để thích ứng được với yêu cầu mới của thực tiễn.

    Không ai có thể lường được sức tàn phá của đại dịch tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội lớn đến vậy. Nhưng đó cũng là những thử thách đặt ra đối với Đảng ta và hệ thống chính trị vừa mới được chuyển giao thế hệ qua Đại hội XIII của Đảng; cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Hệ thống chính trị đó nhận được sự đồng thuận, đồng hành, tiếp sức của nhân dân. Sức mạnh nội sinh đó chính là niềm tin để sớm hiện thực hóa khát vọng xây dựng phát triển đất nước.

    Năm 2021 khép lại, nhưng cơn bão COVID-19 vẫn chưa có dấu hiệu giảm sức tàn phá của nó đối với các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc bảo vệ tính mạng con người vẫn là trên hết, trước hết, cùng sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn của toàn quân, toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Bên cạnh những khó khăn, thách thức, đất nước ta luôn có những thời cơ tạo đà cho sự phát triển. Thời cơ ấy do truyền thống anh hùng, do lịch sử đất nước tạo nên. Thời cơ ấy kết tinh từ những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước, tạo ra cho đất nước thế, lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã hội tụ sức mạnh đoàn kết, trí tuệ, niềm tin; xác định những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn của công cuộc đổi mới đưa đất nước đến thịnh vượng, hùng cường. Chúng ta phải nhanh chóng đẩy lùi dịch bệnh, vượt qua thử thách đưa đất nước tiếp tục tiến lên thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc thế giới. Chúng ta sẽ cất cánh với niềm tin đi tới phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường.  

ST

Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

        Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nói chung và của tổ chức cơ sở đảng nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng sinh hoạt chi bộ. Chất lượng sinh chi bộ là thước đo quan trọng để đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên.

Tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ

Sinh hoạt chi bộ là hoạt động thường xuyên của chi bộ đảng. Bác Hồ viết: “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”(1). Chất lượng sinh hoạt chi bộ là một trong những yếu tố quan trong quyết định kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sinh hoạt chi bộ là phương cách để phòng bệnh từ sớm, từ xa; chữa trị bệnh khi căn bệnh đó “còn trong trứng nước”. Sinh hoạt chi bộ là trường học để rèn luyện cấp ủy, rèn luyện bí thư cấp ủy và cũng là trường học để rèn luyện đảng viên. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của mỗi cấp ủy viên, đảng viên đều được biểu hiện và được rèn luyện, chỉnh sửa uốn nắn trong chi bộ. Chi bộ là tổ chức cơ sở, là hạt nhân hệ thống chính trị cơ sở, đồng thời cũng là nơi đảng viên sịnh hoạt nhiều nhất. Thông qua sinh hoạt chi bộ để thực hiện nhiệm vụ chính trị, đồng thời bộc lộ tính cách, sở trường, thế mạnh cũng như thiếu sót, khuyết điểm của đảng viên. Từ chi bộ, đảng viên có điều kiện để rèn luyện, phấn đấu, từng bước giữ gìn, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, lập trường cách mạng.

Còn nhiều băn khoăn

Sinh hoạt chi bộ là công việc định kỳ hằng tháng. Vì cứ mỗi tháng diễn ra một lần và khi so sánh nội dung sinh hoạt giữa các tháng, dường như gần giống nhau nên xuất hiện tình trạng coi nhẹ sinh hoạt chi bộ. Đánh giá chưa đúng mức tầm quan trọng, cũng như tác dụng của sinh hoạt chi bộ không chỉ xuất hiện ở một số đảng viên bình thường mà còn có thể có ở một số cấp ủy viên và đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo trong hệ thống chính trị, từ đó dẫn đến một số tình trạng: Coi trong công tác chuyên môn hơn sinh hoạt chi bộ, từ đó xếp lịch làm việc “ưu tiên” họp chuyên môn trước, họp chi bộ sau, hoặc “tiện thể” lồng ghép công tác đảng sau khi họp chính quyền. Chi ủy chuẩn bị nội dung không chu đáo, cẩn thận, đến khi họp chi bộ điều hành lúng túng, không rõ trọng tâm, chủ đề buổi sinh hoạt. Đảng viên không được thông tin trước về nội dung cụ thể nên không chuẩn bị ý kiến phát biểu, tham luận. Trong hội nghị chi bộ hoặc là không tham gia ý kiến, hoặc là phát biểu qua loa, chiếu lệ, thậm chí lan man không đúng chủ đề.

Tình trạng họp chi bộ không phát biểu ý kiến, “mũ ni che tai”  đang xảy ra ở mức độ rất đáng lo ngại ở một bộ phận đảng viên, nhất là đảng viên mắc bệnh “cơ hội”, đảng viên trẻ tuổi đời, ít tuổi đảng. Tình trạng không được nói (thời gian họp chi bộ không đủ, lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, hách dịch, thiếu dân chủ), không dám nói (người nói sợ mất lòng cấp trên) thì sinh hoạt chi bộ chỉ là hình thức mà không thực chất. Các “sản phẩm” của cuộc họp đầy đủ nhưng không có chất lượng. Nghị quyết thông qua trong phiên họp thiếu dân chủ, không ai dám nói lên ý kiến quan điểm cá nhân của minh, nhất là ý kiến khác với bí thư chi bộ thì văn kiện đó chỉ là sự “hợp thức hóa” ý chí của thiểu số. Đảng viên không dám nói cũng có nghĩa là không dám đấu tranh phê bình và tự phê bình. Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta. Có tự phê bình và phê bình mới tìm ra những căn bệnh đang phá hoại cơ thể của Đảng, bắt đúng bệnh sẽ tìm được đúng thuốc để chữa trị.

Những giải pháp căn bản

Để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xin đề xuất các cấp ủy quan tâm làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kết luận là cần phải ra sức củng cố các chi bộ, để tất cả các chi bộ trở nên thật sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở mọi bộ, mọi ngành, mọi nghề, mọi nơi”(2). Ý thức tốt trong sinh hoạt chi bộ bắt nguồn từ nhận thức về vị trí của chi bộ trong bộ máy tổ chức và cơ chế vận hành của Đảng. Chi bộ là hạt nhân, hạt nhân tốt thì Đảng khỏe mạnh và hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo đất nước. Do đó, cần tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ đảng viên toàn Đảng thấy rõ nghĩa vụ, trách nhiệm trong sinh hoạt chi bộ. Thấy rõ tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ để sẵn sàng tâm thế, chuẩn bị nội dung phát biểu, góp ý thật xác đáng vào các quyết định của chi bộ. Nêu cao tinh thần tự giác và chủ động của cấp uỷ viên cũng như từng đảng viên. Việc nhớ lịch họp, chuẩn bị nội dung phát biểu, cân nhắc để biểu quyết tại hội nghị… là những việc bắt buộc phải nhớ, phải làm trước khi bước vào cuộc họp chi bộ.

Hai là, chuẩn bị tốt nội dung cuộc họp. Trước khi sinh hoạt chi bộ, chi ủy cần họp để chuẩn bị nội dung cho cuộc họp chi bộ, thông qua dự thảo nghị quyết của chi bộ. Phiên họp chi ủy thường chỉ có 3 hoặc 5 chi ủy viên, tất cả có thể “đặt lên bàn”, nói thẳng, nói thật; giải quyết những vướng mắc, những chỗ chưa thống nhất giữa các chi ủy viên. Khi chi ủy đã thống nhất, phát ngôn của chi ủy viên phải tuyệt đối chấp hành ý kiến tập thể chi ủy đã kết luận, không được nói, viết ý kiến cá nhân trái với ý kiến tập thể.

Chủ động thông báo lịch họp và chương trình nghị sự phiên họp. Đối với chi bộ lãnh đạo nhiệm vụ chính trị ở những địa bàn ổn định, đảng viên tập trung, đặc biệt là chi bộ “hưu trí” có thể định kỳ một ngày cố định trong tháng để họp chi bộ. Cố định ngày họp chi bộ để đảng viên chủ động công việc chuyên môn và sinh hoạt gia đình để tham gia đầy đủ, đúng giờ và chuẩn bị nội dung phát biểu chu đáo. Đối với những chi bộ mà đối tượng lãnh đạo là những đơn vị công tác hợp thành bởi nhiều chuyên môn khác nhau, địa bàn trải dài nhiều địa phương, thậm chí ở ngoài nước… thì cần lựa chọn ngày “tối ưu” để đảng số cao nhất, nội dung thảo luận kỹ nhất và quyết nghị chuẩn xác nhất.

Ba là, chú trọng công tác điều hành của người đứng đầu chi bộ, bởi điều hành linh hoạt, giải quyết các phần việc gọn gàng, đúng quy định, khơi gợi được nhiều ý kiến cá nhân, thảo luận kỹ lưỡng, kết luận chuẩn xác và biểu quyết thông qua nghị quyết là những nhân tố quyết định thành công tốt đẹp của một cuộc sinh hoạt chi bộ. Quá trình điều hành sinh hoạt chi bộ cần bảo đảm đúng quy định và hướng dẫn của cấp trên, đúng chương trình nghị sự đã thông báo; đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; các quyết nghị của chi bộ phải đúng trình tự, thủ tục. Người chủ trì cần nắm chắc, vững nguyên tắc, có kiến thức về xây dựng Đảng. Đối với những bí thư chi bộ mới được bầu giữ chức vụ thường chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức về Đảng nên dễ lúng túng, bị động trong điều hành cuộc họp. Theo đó, cần tích cực học tập, nghiên cứu và rèn luyện trong thực tiễn.

Bốn là, phát huy dân chủ, tôn trọng và bảo lưu ý kiến đảng viên và ý kiến thuộc về thiểu số. Nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức, sinh hoạt đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong những nội dung chính yếu của nguyên tắc này có nội dung: “trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình, đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên”(3) . Việc phát biểu ý kiến tại cuộc họp chi bộ vừa quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của đảng viên, nghị quyết của phiên họp, cũng như các quyết định của chi bộ sẽ đúng đắn nhất khi chúng ta phát huy được quyền dân chủ của đảng viên. Chất lượng sinh hoạt chi bộ tốt, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, cộng với tình thương yêu đồng chí lẫn nhau là liều “vắc-xin” hiệu quả để phòng và chống nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong Đảng ta hiện nay.

-------------

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG-ST, H, 2011, tập 13, tr.29.

(2). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG-ST, H, 2011, tập 13, tr.30.

(3). Điều lệ Đảng, Nxb CTQG-ST, H, 2020, tr.18.

THƯỜNG XUYÊN “VUN GỐC, TỈA CÀNH”

    Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Bác còn chỉ rõ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Quán triệt tư tưởng của Người, trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng luôn quan tâm đến công tác cán bộ và xác định việc xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ then chốt của then chốt, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng.

    1. Mỗi kỳ đại hội Đảng toàn quốc, công tác cán bộ luôn là một trong những vấn đề quan trọng được xem xét, bàn thảo kỹ lưỡng, về những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế, yếu kém. Đặc biệt, trên cơ sở tổng kết 10 năm đổi mới, BCH Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh”.

    Những năm gần đây, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận về công tác cán bộ. Trong đó phải kể đến Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 26-NQ/TW (khóa XII) về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

    Sau 23 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển nhiều mặt. Sự trưởng thành, phát triển của đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng đã góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước, giúp đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín lớn mạnh nhất từ trước đến nay.

    Để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, Đảng đã tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, lấy phòng ngừa làm trọng, lấy xây là chính; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu gương mẫu trong cuộc sống với mục đích “trị bệnh cứu người”. Đảng kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, đến sự phát triển của đất nước. Rõ nhất là từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự…

    Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc chuẩn bị đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng” chỉ rõ yêu cầu, nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành. Qua đó khẳng định mục tiêu là phải lựa chọn được những đồng chí thật sự tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn. Đồng thời không để lọt vào BCH Trung ương khóa XIII những người có một trong 6 nhóm khuyết điểm đã được chỉ ra. Đó là những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính…

    Để có được nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, đặc biệt từ khi có Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhiều văn bản của Đảng về công tác cán bộ được ban hành. Trong đó nổi bật là Quy chế đánh giá cán bộ, công chức (ban hành theo Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 8-2-2010 của Bộ Chính trị khóa X). Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đánh giá cán bộ, Bộ Chính trị (khóa XII) có Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Tiêu chuẩn cán bộ và khung tiêu chí đánh giá từng loại cán bộ được ban hành theo Quy định số 89-QĐ/TW, Quy định số 90-QĐ/TW đã thể hiện quyết tâm của Đảng trong đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, đấu tranh không khoan nhượng với tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, lợi ích nhóm trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đây cũng là công cụ để Đảng kiểm soát quyền lực cán bộ, nhân dân giám sát, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên trong việc sử dụng quyền lực được giao.  

    Việc thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và nghị quyết các kỳ đại hội; nghị quyết, quy định của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng không ngừng được kiện toàn, được đào tạo cơ bản và tương đối toàn diện về chính trị cũng như chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt là đã xuất hiện nhiều cán bộ trẻ tài năng, là nguồn kế cận thế hệ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược trong tương lai với tư duy, tầm nhìn mới.

    2. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, công tác cán bộ của Đảng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất. Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh. Năng lực chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp. Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và những mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, một bộ phận cán bộ của Đảng đã bị thoái hóa, biến chất, tình trạng ngại phấn đấu, rèn luyện đã xuất hiện trong số cán bộ trẻ.

    Điều đáng quan tâm là một số cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến mức tha hóa, biến chất, tham nhũng, vi phạm kỷ luật, pháp luật, bị khai trừ Đảng, bị xử lý hình sự những năm qua thật đau xót. Trong đó có những đảng viên 30-40 tuổi đảng, cán bộ cấp Trung ương quản lý, phần đông cán bộ có chức vụ chính quyền và đều tham gia cấp ủy, hoặc đứng đầu cấp ủy. Nhiều người có học hàm giáo sư, phó giáo sư, là tiến sĩ, nhiều người có 2-3 bằng thạc sĩ, cử nhân và phần lớn cán bộ các cấp vi phạm kỷ luật và phạm tội nêu trên đều có trình độ lý luận chính trị cao cấp. Trong đó, vụ việc gần đây khi nhiều cán bộ bị bắt liên quan đến Công ty Việt Á hay các chuyến bay giải cứu công dân trong bối cảnh đại dịch đã gây nhiều bức xúc đối với dư luận…

    Điểm lại như thế để thấy rất rõ không chỉ có số lượng vụ án tham nhũng, mà hành vi tham nhũng và đối tượng tham nhũng ngày càng tinh vi, tập trung vào những người có chức quyền, học thức, đã từng có nhiều đóng góp cho đất nước trên cương vị công tác của bản thân. Điều này một lần nữa giong lên hồi chuông báo động về tình trạng tham nhũng, tiêu cực, cần phải kiên quyết, có biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn.

    Câu chuyện về chống tham nhũng và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xử lý những cán bộ thoái hóa, biến chất đến nay vẫn là bài học kinh nghiệm còn nguyên giá trị. Bác ví von độc đáo, một thân cây đã bị sâu đục những lỗ to, chảy hết nhựa, muốn cứu cái cây phải bắt giết hết những con sâu. Với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng thế, nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo.

    3. Với quyết tâm chính trị cao, vận dụng sáng tạo và hiệu quả tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vào thực tiễn, Đảng đề ra nhiều biện pháp tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

    Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định: "Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Đây là lần đầu tiên nội dung “xây dựng, chỉnh đốn Đảng về cán bộ” được cụ thể, nhắc đến với tư cách là nội dung thứ năm nằm trong mệnh đề về xây dựng Đảng, nhằm tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh hơn nữa vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ. Dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên phát huy năng lực, sở trường trong công tác, ngay đầu nhiệm kỳ XIII, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Điều này một lần nữa khẳng định đây là vấn đề được Đảng rất quan tâm, qua đó giúp cán bộ, đảng viên tự tin hơn, dám bước qua những lối mòn, thách thức, có thêm những cơ hội để cống hiến cho đất nước, nhân dân. Đây chính là sự cụ thể hóa phương hướng của nhiệm kỳ Đại hội XIII là xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Mặt khác, nhằm khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, Kết luận 14-KL/TW nêu vấn đề “khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp. Những định hướng này góp phần tạo niềm tin và động lực để cán bộ, đảng viên dám dấn thân cống hiến vì lợi ích chung. Việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm là giải pháp căn cơ đối với công tác cán bộ, qua đó thúc đẩy sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương và rộng hơn là sự phát triển của cả đất nước. Đây chính là cơ chế tạo động lực cho sự đổi mới, bứt phá, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, của cán bộ.

    Cùng với sự khuyến khích đột phá, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, mở đường cho sự tự sàng lọc cán bộ sát với thực tế hiện nay. Quy định nêu rõ kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức với cán bộ khi có đủ căn cứ. Việc ban hành Quy định số 41-QĐ/TW là một bước hoàn thiện hơn công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng ta, để việc từ chức của những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực trình độ dần trở thành nét "văn hóa" trong hoạt động của Đảng.

    Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong đó tiếp tục xác định cán bộ, công tác cán bộ là vấn đề then chốt của then chốt. Các nghị quyết, quy định, kết luận của Đảng cùng với việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tổ chức luân chuyển rèn luyện thực sự là “công việc gốc của Đảng” thường xuyên “vun gốc, tỉa cành” nhằm xây dựng được một đội ngũ cán bộ “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu” để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.


KIỂU KIẾM ĂN BẤT CHẤP ĐẠO LÝ

 

Trong một clip đăng tải trên kênh YouTube những ngày qua, Nguyễn Văn Đài, đối tượng đang lưu vong tại Cộng hòa Liên bang Đức, với thái độ huênh hoang kiểu “ngụy hàn lâm”, đã lấy hình ảnh rác thải sinh hoạt để “bình loạn” về tình hình chính trị trong nước. Bằng nhận thức của một người bình thường cũng đủ nhận ra, Nguyễn Văn Đài đang cố tình khoe mẽ, muốn chứng tỏ bản thân là người hiểu biết, kiến thức “uyên thâm”, am hiểu thời cuộc. Thực chất, những thông tin cóp nhặt và mớ kiến thức lỗ mỗ ấy không thể che giấu được sự thật là Nguyễn Văn Đài và những thành phần phản động lưu vong đang phải đương đầu với cuộc sống thường nhật nơi xứ người. Người dùng MXH không khỏi bật cười khi xem clip Nguyễn Văn Đài trò chuyện với “Người buôn gió” Bùi Thanh Hiếu. Trong lúc Đài huênh hoang giới thiệu là đã đến xem “các cơ sở sản xuất của Bùi Thanh Hiếu” ở Đức thì “Người buôn gió” mặt ỉu xìu nói rằng, hoàn toàn không có “cơ sở sản xuất” nào cả, mà Hiếu chỉ là người đang đi làm thuê kiếm ăn. Ngay từ khi còn ở trong nước, tính ảo tưởng, thích khoe mẽ, dương dương tự đắc của Nguyễn Văn Đài đã bị dư luận tẩy chay, lên án, cho đến khi đã lưu vong xứ người, Đài vẫn chứng nào tật ấy. Tương tự, những đối tượng như Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Hoài An... cũng luôn huênh hoang khoe mẽ kiểu “ngụy hàn lâm”, thực hiện các clip với thái độ trịch thượng, giễu cợt... để bôi nhọ đất nước.

Ai cũng biết, các đối tượng có tư tưởng phản bội quê hương, cho dù là ai, làm gì, sống ở quốc gia, vùng lãnh thổ nào... cũng đều khó ngẩng đầu lên được. Bởi, khó có một nền văn hóa nào, không một tổ chức tiến bộ nào lại dung túng, dung nạp những kẻ vong ân bội nghĩa với nơi chôn nhau cắt rốn. Trên các nền tảng MXH, nhiều tài khoản đã thẳng thắn lên tiếng rằng, đến quê hương, đất nước mình mà còn chối bỏ thì còn sống được ở đâu? Hiện nay, nhiều người trong số đó, để kiếm tiền mưu sinh, những người này đã lập các tài khoản trên MXH, kiếm ăn bằng công việc chửi bới để “câu view”, bất chấp đạo lý. Một số thì được các thế lực thù địch lợi dụng, tận dụng như những con rối...

“BÌNH LOẠN” KIỂU “ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG”

 

“Tôi thấy bạn nên xóa kênh và đi học lại, nhất là môn Giáo dục công dân đi bạn ơi!...”. Đó là dòng bình luận của tài khoản có tên “Tu Nguyen” ngay bên dưới một clip trên kênh YouTube của đối tượng Đường Văn Thái (còn gọi là Thái Văn Đường) khi đối tượng này “bình luận” việc người dân Việt Nam xuống đường ăn mừng đội tuyển bóng đá U.23 Việt Nam vô địch SEA Games 31. Lấy chuyện ăn mừng chiến thắng của đội U.23 Việt Nam để suy diễn, xuyên tạc tình hình chính trị của đất nước, luận điệu bất mãn của Đường Văn Thái bị công chúng yêu nước gọi là “bình loạn” kiểu “ếch ngồi đáy giếng”. Đáng tiếc, một bộ phận người dùng mạng xã hội (MXH) do thiếu hiểu biết hoặc tò mò, lại hùa theo những luận điệu sai trái đó. Tuy nhiên, với tinh thần xây dựng, đấu tranh, rất nhiều tài khoản MXH đã góp ý, lên tiếng khuyên Đường Văn Thái hãy tỉnh ngộ, sám hối, quay đầu là bờ. Một số người vì quá bức xúc trước hành vi xúc phạm đất nước, chối bỏ quê hương của Thái, đã thẳng thừng gọi đối tượng này là kẻ phản bội, vô ơn, “qua cầu rút ván”...

Đường Văn Thái chỉ là một trong số những đối tượng người Việt bất mãn, cư trú ở nước ngoài, điên cuồng chống phá đất nước trên không gian mạng.
Sau khi khống chế thành công đại dịch Covid-19, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc huy động nguồn lực để phục hồi kinh tế-xã hội, đất nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện chính trị-xã hội quan trọng, được dư luận khu vực và thế giới đánh giá cao. Những sự kiện nổi bật, tiêu biểu thời gian gần đây là chuyến thăm và làm việc của đoàn đại biểu cấp cao do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc; SEA Games 31 tổ chức thành công rực rỡ tại Việt Nam; Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII); điều tra, xử lý các đối tượng tham nhũng liên quan đến Công ty Việt Á... Sự thành công rất tốt đẹp của các sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng đã góp phần củng cố, nâng tầm vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thể hiện lòng tin, niềm tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước trên khắp các lĩnh vực đời sống xã hội. Hình ảnh cả rừng cờ sao xuống đường mừng chiến thắng; người dân Việt Nam thân thiện, nghĩa tình đón tiếp, phục vụ, cổ vũ đoàn vận động viên của các nước trên khắp các khán đài, khắp các địa phương; hai tiếng Việt Nam được xướng lên đầy trân trọng trên truyền thông quốc tế... đã trở thành cảm hứng chủ lưu trên truyền thông và MXH của người dân cả nước.
Tuy nhiên, chính những dấu ấn rất đáng tự hào của dân tộc đã khiến các thế lực thù địch, những đối tượng bất mãn, phản động lưu vong cay cú. Họ tìm mọi cách cắt ghép, bẻ câu, chẻ chữ... để lấy cớ xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, giễu cợt đồng bào (trong đó có cả người thân, gia đình của chính họ), phỉ báng văn hóa dân tộc, vị thế quốc gia... Có khá nhiều thành phần dạng này, trong đó, những đối tượng có hành vi chống phá liên tục thời gian gần đây có thể nhắc đến là: Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Nguyễn Văn Đài, Lê Minh Nguyên, Bùi Thanh Hiếu (Người buôn gió)... Họ lập nhiều tài khoản trên MXH, nhất là YouTube, liên tục thực hiện các video có nội dung thù địch, xuyên tạc, chống phá đất nước. Một trong những nội dung được các đối tượng phản động lưu vong tập trung xuyên tạc nhiều nhất là chuyến thăm và làm việc của đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc. Đáng tiếc là trong dòng thông tin mang tư tưởng thù địch, chống phá đất nước còn có sự tham gia của một số cá nhân người Mỹ gốc Việt đang làm việc trong hệ thống chính quyền và quân đội Hoa Kỳ. Những luận điệu của họ dưới các hình thức gọi là “phỏng vấn”, “hội luận”, “đàm luận”, “phóng sự cộng đồng”... có nội dung phiến diện, quy chụp vô căn cứ đã trở thành đề tài của một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại khai thác. Họ thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc với mưu đồ chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ...

TRÒ LỐ CỦA NHỮNG CON RỐI LƯU VONG



Ngắt câu, cắt ý, chẻ chữ, lên giọng giễu cợt, mỉa mai, ám chỉ, xuyên tạc, suy diễn, dạy đời... là những trò lố của một số đối tượng bất mãn, phản động lưu vong.
Lên internet cóp nhặt thông tin, với mớ kiến thức lỗ mỗ, một số đối tượng cố làm ra vẻ hiểu biết, thực hiện những hình thức gọi là “bình luận”, “phân tích”, “hội luận”, “đánh giá”... tình hình chính trị của đất nước nhằm lòe bịp công chúng. Hành vi sai trái của họ đã bị công chúng yêu nước lật tẩy, lên án... Mọi người cần cảnh giác với những sự LỐ BỊCH....

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng

 Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng

Trên cơ sở khẳng định các phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), trước yêu cầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện phải gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trên nhiều phương diện, trong đó có thể khái quát một số phương thức quan trọng sau đây:

Một là, phải đặc biệt coi trọng công tác cán bộ trong hệ thống chính trị. Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nói đi đôi với làm, cấp trên làm gương cho cấp dưới. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nội bộ đoàn kết, thống nhất, trên dưới một lòng.

Hai là, nâng cao trình độ, năng lực, nhất là năng lực quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của các cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Đặc biệt, Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu mới trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng là ngay sau Đại hội Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các ban, bộ, ngành và các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải bắt tay ngay vào việc cụ thể hóa, xây dựng chương trình hành động và triển khai thực hiện, nhanh chóng đưa nghị quyết vào cuộc sống. Phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết nhất trí, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tổng Bí thư chỉ rõ: “Đây là một phương thức, cách làm mới, bài bản, khoa học, với tinh thần(...) “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng” và “Dọc ngang thông suốt”, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành nhiều thắng lợi mới”. 

Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo đòi hỏi phải đổi mới cơ chế lãnh đạo, do đó phải nhanh chóng hoàn thiện cơ chế, đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy và tổ chức đảng các cấp, thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở. Đồng thời, tiếp tục đổi mới tác phong, lề lối làm việc của các cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu “đúng vai, thuộc bài”. Xây dựng phương pháp, phong cách công tác khoa học, có tinh thần đổi mới, sâu sát thực tế, quyết liệt, hiệu quả, không phô trương, hình thức; tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật đảng. 

Bốn là, đặc biệt là cần phải đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền, phân công, phối hợp, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Chính phủ, chính quyền các địa phương và giữa các cơ quan, đơn vị này với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống các cơ quan tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; “bảo đảm cả hệ thống tổ chức bộ máy luôn luôn vận hành một cách đồng bộ, thống nhất; tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây”. 

Năm là, chú trọng hơn nữa đến việc cải cách hành chính trong Đảng và bộ máy nhà nước, công khai, minh bạch các quy định, quy trình công tác, ứng dụng công nghệ thông tin trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy tổ chức, cán bộ; xây dựng có cơ sở khoa học và tổ chức thực hiện thật tốt các chương trình, kế hoạch công tác, đề cao trách nhiệm tự kiểm tra, kiểm điểm, giải trình của các tập thể, cá nhân. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tập thể, cá nhân lãnh đạo ở các cấp, các ngành cần dành thời gian thỏa đáng cho việc tập trung nghiên cứu, xem xét, xử lý một cách căn cơ, bài bản, dứt điểm, có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề kinh tế - xã hội nổi cộm, tồn đọng kéo dài, tránh phô trương, hình thức hoặc né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

 

ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG CẦN THỰC CHẤT VÀ HIỆU QUẢ

 “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng”. Vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ khó thành công nếu thiếu hoặc coi nhẹ hoạt động kiểm tra, giám sát. Thực tiễn chống tham nhũng vừa qua cho thấy sự cấp thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Ngày 7/6 vừa qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ban hành các quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với ông Chu Ngọc Anh, ông Phạm Công Tạc, ông Nguyễn Thanh Long về những vi phạm khi thực thi công vụ. Việc khởi tố các cán bộ lãnh đạo, quản lý cao nhất cấp Bộ gợi nhớ con số hơn 131.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật trong giai đoạn 2013-2020, trong đó có hơn 110 cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý. Về bản chất, cả ba lãnh đạo nêu trên đều đã "lệch chuẩn" – cụ thể là đã thực hiện những quyết định quản lý trái với quy định của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, đi ngược lại với lợi ích và mong đợi của nhân dân.

Vụ việc này cũng nhắc chúng ta nhớ lại nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị công tác kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ đại hội XII (ngày 27/11/2020). Theo đó, khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên vẫn có nguy cơ gia tăng, phức tạp và nghiêm trọng hơn. Ngày 6/4/2022, trong Kết luận số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Bộ Chính trị đã chỉ ra thực tế là vẫn còn xảy ra những vụ vi phạm nghiêm trọng, có tổ chức, rất tinh vi và phức tạp. Kết luận số 34 của Bộ Chính trị, ban hành ngày 18/4/2022, về "Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030" cũng chỉ ra một trong những yếu tố có liên quan đến số vụ vi phạm gia tăng là hiện tượng cấu kết, bao che, tiếp tay của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Tầm quan trọng của tiếp tục đổi mới hoạt động kiểm tra, giám sát

Khoản 1 Điều 30, Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI, khẳng định "Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng". Điều này có nghĩa vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ khó thành công nếu thiếu hoặc coi nhẹ hoạt động kiểm tra, giám sát. Tuy nhiên, thực tế về những người đứng đầu, thậm chí cả ban lãnh đạo vi phạm, đang đặt ra rất nhiều thách thức cho công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng.

Tại hội nghị tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ đại hội XII, nhận định về nguyên nhân dẫn đến những bất cập thời gian qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra tình trạng "chưa chủ động, thường xuyên, ráo riết, quyết liệt; tiến hành kiểm tra, giám sát còn mang tính hình thức, chiếu lệ, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả thấp, chưa đủ sức răn đe… Công tác kiểm tra, giám sát trong các cơ quan của Nhà nước chưa được coi trọng đúng mức và còn yếu, kết quả chưa rõ". Đặc biệt, một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, giám sát. Hậu quả việc coi nhẹ công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng là đã không kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch lạc, khiến vi phạm từ bé trở thành to, từ ít nghiêm trọng trở thành nghiêm trọng.

Trước những bất cập nêu trên, "Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030" nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục đổi mới mô hình và hoạt động kiểm tra, giám sát. Theo đó, trước hết, chiến lược đề cao ý thức tự kiểm soát của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tuân thủ các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cùng với đó, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát trong nội bộ hệ thống tổ chức Đảng được đặc biệt coi trọng. Chủ trương này thể hiện qua ba đặc điểm nổi bật của các nhiệm vụ và giải pháp được đề ra, bao gồm: i) Đề cao vai trò của cấp ủy và trách nhiệm của người đứng đầu, ii) Coi trọng việc thể chế hóa chủ trương của Đảng về kiểm tra, giám sát; iii) Tinh gọn bộ máy tổ chức và nâng cao chất lượng cán bộ thực hiện kiểm tra, giám sát.

Thách thức lớn nhất từ việc nhấn mạnh vai trò của kiểm soát nội bộ hệ thống trong một cấu trúc quyền lực thống nhất là sự phụ thuộc rất lớn vào chất lượng cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu. Nếu ban lãnh đạo và người đứng đầu nghiêm khắc, công tâm, và trách nhiệm thì công tác kiểm tra, giám sát sẽ được thực hiện tốt. Ngược lại, nếu người đứng đầu hay cả ban lãnh đạo có chất lượng kém, coi nhẹ công tác kiểm tra và giám sát, thậm chí can dự vào các vi phạm thì hoạt động kiểm tra, giám sát rất dễ bị hình thức, chiếu lệ, vô hiệu, thậm chí còn bao che cho sai phạm. Những trường hợp người đứng đầu vi phạm thời gian gần đây cho thấy tình trạng bị vô hiệu hóa của hoạt động kiểm tra, giám sát trong Đảng không còn chỉ là nguy cơ, mà đã xảy ra trên thực tế. Hậu quả là những cá nhân đứng đầu, thậm chí cả tập thể ban lãnh đạo bị kỷ luật. 

Gợi mở điều chỉnh về mô hình và chính sách

Đặc điểm then chốt của hoạt động kiểm tra, giám sát trong Đảng ở nước ta hiện nay là đề cao cơ chế phản ứng theo chiều dọc nội bộ hệ thống cơ quan Đảng, tổ chức theo trật tự thứ bậc. Bất cập lớn nhất của kiểm tra, giám sát theo trục dọc hệ thống là nguy cơ bị chi phối bởi ý chí chủ quan của các cá nhân đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Điều này tạo ra những rủi ro cho hoạt động kiểm tra, giám sát, mà điển hình nhất là tình trạng thực hiện chiếu lệ, hình thức. Nghiêm trọng hơn là tình trạng bao che khi chính bản thân ban lãnh đạo và người đứng đầu can dự vào các vi phạm.

Cũng có nghĩa, gia tăng tính khách quan và độc lập cho công tác giám sát chính là điểm mấu chốt để tạo đột phá về chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng. Nói cách khác, chúng ta cần bổ sung và hoàn thiện thêm cơ chế giám sát theo chiều ngang, tức là các phản ứng đến từ bên ngoài mỗi cơ quan, đơn vị cụ thể. Để thực hiện được điều này, một số định hướng về mô hình tổ chức và chính sách có thể gồm:

Thứ nhất, thành lập cơ quan giám sát liên tổ chức, liên địa phương. Theo đó, những cơ quan, đơn vị liên quan đến nhau hoặc các địa phương trong một vùng có thể thành lập một cơ quan giám sát chung. Sự mở rộng quy mô tổ chức và đa dạng về nhân sự sẽ giúp giảm bớt khả năng chi phối của người đứng đầu và ê kíp lãnh đạo trong mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương, nhờ đó gia tăng tính khách quan cho hoạt động kiểm tra, giám sát.

Thứ hai, thực hiện kiểm tra và giám sát chéo giữa các nhóm cơ quan, đơn vị, địa phương. Việc này nếu được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất dựa trên nhu cầu và chỉ đạo của cấp trên thì sẽ tạo áp lực thường trực lên ban lãnh đạo tại mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Đồng thời, giám sát chéo cũng góp phần giảm bớt nguy cơ hình thức, chiếu lệ trong kiểm tra, giám sát nếu như chỉ thực hiện tại nội bộ cơ quan hay địa phương riêng lẻ.

Thứ ba, hoàn thiện điều kiện thể chế để truyền thông đại chúng, nhất là báo chí, phát huy hơn nữa khả năng giám sát công quyền cũng như tác phong, lối sống của cán bộ, đảng viên. Báo chí cần trở thành diễn đàn công cộng để sớm phát hiện các biểu hiện lạm quyền cũng như những lệch lạc trong quan điểm, thái độ, và cung cách ứng xử của cán bộ, đảng viên ở mọi cấp độ.


Tiếp tục xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ, đảng viên, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực

 Tiếp tục xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ, đảng viên, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực

Xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ, đảng viên và đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là nội dung quan trọng trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư đã nhấn mạnh phải đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đi đôi với việc củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên. 

Đặc biệt, coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ - nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tổng Bí thư chỉ rõ, phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm “đúng vai, thuộc bài”, thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng. 

Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ quản lý, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. 

Nội dung các khâu của công tác cán bộ được Tổng Bí thư đề cập khá toàn diện, sâu sắc trong nhiều bài viết, bài phát biểu với các yêu cầu như: Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ. Chủ động phát hiện nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2025 - 2030 và chuẩn bị cho các nhiệm kỳ tiếp theo, bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, bảo đảm số lượng và cơ cấu hợp lý. Công tác luân chuyển cán bộ phải phù hợp với chức danh quy hoạch; bảo đảm cân đối, hài hòa giữa luân chuyển cán bộ với phát triển nguồn cán bộ tại chỗ; luân chuyển ngang và dọc; tăng cường cán bộ có bản lĩnh, trình độ, năng lực cho địa bàn trọng điểm, lĩnh vực khó khăn, phức tạp; khắc phục tình trạng khép kín trong công tác cán bộ; tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí chức danh lãnh đạo chủ chốt không phải là người địa phương. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ theo hướng thật sự công tâm, khách quan, có tiêu chí rõ ràng và thông qua sản phẩm cụ thể; gắn việc đánh giá cá nhân với đánh giá tập thể, với kết quả thực tế thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế những cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, mắc sai phạm mà không chờ đến hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm. Tuyệt đối chống tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, tiêu cực. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ gắn liền với tăng cường trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu trong công tác cán bộ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ một cách thực chất và hiệu quả; bảo đảm đúng quy định, quy trình, công tâm, khách quan, chặt chẽ, thận trọng trong từng khâu của công tác cán bộ; không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. 

Xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ và đảng viên phải đi đôi với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm cao, thái độ kiên quyết, không khoan nhượng và hành động quyết liệt, thiết thực, hiệu quả. Bởi tham nhũng là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Tổng Bí thư nhấn mạnh: “chống tham nhũng là “chống giặc nội xâm”, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, “không ngừng”, “không nghỉ” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực”, thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm; phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng” và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng”. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực; xử lý đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật hình sự đối với những người vi phạm, bất kể đó là ai. 

Triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực. Kiên quyết thu hồi tài sản tham nhũng; kịp thời xử lý, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực. Từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Đặc biệt, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng thật sự có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch; không chịu bất cứ sức ép không trong sáng nào của tổ chức, cá nhân; bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào của những kẻ phạm tội”.  

 

BÀI HỌC SÂU SẮC KHI BÁC HỒ XUNG PHONG PHÊ BÌNH BÁO CHÍ

 

    Ngày 21 - 6 - 1925, Báo Thanh niên do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đã xuất bản số đầu tiên. Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng nước ta. Nhà báo Hồ Chí Minh vĩ đại cũng chính là người đã giáo dục, rèn luyện đội ngũ các nhà báo cách mạng bằng những tư tưởng, việc làm đúng đắn, thiết thực của cuộc đời làm báo vô cùng phong phú của Người.
    Ngày 8 - 9 - 1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Hồ Chí Minh có bài phát biểu rất sâu sắc. Trong đó, Bác nói: “Sẵn đây, nếu các cô, các chú đồng ý, thì Bác xung phong phê bình các báo”.
    Cụ thể, nội dung phê bình các báo của nhà báo Hồ Chí Minh là: “bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống”, “không phù hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng”. “Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta”. “Đưa tin hấp tấp nhiều khi thiếu thận trọng”. “Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn thì lại viết dài; nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau”. “Lộ bí mật”. “Có khi quá lố bịch”. “Khuyết điểm nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng”.
    Sự phê bình trên của nhà báo Hồ Chí Minh là chính xác, thẳng thắn. Nhiều khuyết điểm của báo chí mà Hồ Chí Minh phê bình từ năm 1962, đến nay báo chí vẫn còn xuất hiện. Như tình trạng viết dài, nói dài; viết, nói một chiều hoặc tô hồng hoặc bôi đen; đưa tin vội vàng, thiếu kiểm chứng dẫn đến sai sót; còn để lộ bí mật…
    Cùng với việc phê bình, nhà báo Hồ Chí Minh cũng chỉ ra các biện pháp phòng tránh, khắc phục những sai sót, khuyết điểm trên. Để khắc phục viết dài, Bác dạy: “Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh” và Người chỉ rõ: “Tôi thiết nghĩ rằng “văn hay chẳng nỡ là dài”, mình nói những lời nên nói, không thừa, không thiếu, ai xem cũng hiểu, cũng động lòng, cũng nghĩ; ấy là văn hay và có cốt cách”. Tránh viết một chiều, Bác chỉ rõ: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt thì phải chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy”.
    Nhà báo Hồ Chí Minh cũng hướng dẫn cách viết: “Viết sao cho giản đơn, dễ hiểu, thiết thực. Sao cho mỗi đồng bào, mỗi chiến sĩ đều đọc được, hiểu được, nhớ được, làm được”. Người còn chỉ rõ cách rèn luyện tính cẩn trọng khi viết báo: “Viết rồi phải thế nào? Viết rồi thì phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ. Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh đọc lại. Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải chữa lại”.
    Cùng với việc phê bình, chỉ ra các biện pháp sửa chữa, khắc phục trên đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nêu rõ những vấn đề chung mang tính cơ bản, cốt yếu mà nhà báo cách mạng cần phải có để thực hiện nhiệm vụ của mình. Bác xác định nhiệm vụ của người làm báo “… là quan trọng và vẻ vang”, do đó Bác yêu cầu các nhà báo: “Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”. Đồng thời, Bác cũng căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, đặc tính của cơ quan báo chí để có những lời dạy phù hợp. Với Đài Tiếng nói Việt Nam, Bác nhắc nhở: “Các cô, các chú phải luôn luôn nhớ mình làm báo nói, chứ không phải là báo in trên giấy trắng mực đen. Báo nói hay báo viết thì cũng phải luôn luôn đặt cho mình câu hỏi: Viết cho ai? Viết nhằm mục đích gì? Viết về cái gì và viết như thế nào? Làm báo nói thì phải chú ý viết như thế nào, nói như thế nào để người nghe thoáng qua lại hiểu được đúng điều mình muốn truyền đạt, làm sao cho người nghe dễ nhớ, dễ làm theo”. Còn với báo Quân đội nhân dân, tờ báo do Bác đặt tên, Bác dạy: “Nói những điều thật thiết thực, đúng đường lối chính trị, ít tếu, viết ngắn, giản dị, vẽ dễ hiểu, trình bày rõ ràng, ít tiếp sang trang khác”
    Thực hiện tư tưởng, sự dạy dỗ và học tập, làm theo tấm gương nhà báo Hồ Chí Minh, 97 năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã không ngừng phấn đấu rèn luyện thực hiện tốt nhiệm vụ vẻ vang của mình trong kháng chiến cũng như trong xây dựng CNXH.
Sự nỗ lực cống hiến của báo chí cách mạng Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước, nhân dân, đông đảo bạn đọc ghi nhận, tin yêu, đánh giá cao. Tại Đại hội lần thứ X Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có sự biểu dương khen ngợi với những đóng góp to lớn của báo chí cách mạng Việt Nam. Tổng Bí thư khẳng định: “Báo chí cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, đã luôn đồng hành cùng những chặng đường đấu tranh kiên cường của Đảng ta, nhân dân ta, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội”. Tổng Bí thư biểu dương cụ thể qua từng thời kỳ: “Trong các cuộc kháng chiến anh dũng chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, báo chí nước ta đã trở thành một binh chủng quan trọng trên mặt trận tư tưởng; nhiều tác phẩm báo chí đã thực sự là “lời hịch cách mạng”, “tiếng gọi non sông” thúc giục đồng bào cả nước cùng ra trận. Từ trong máu lửa chiến tranh, hàng trăm nhà báo - chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, góp phần tô thắm thêm trang sử vẻ vang của báo chí cách mạng và của dân tộc”. Còn trong thời kỳ đổi mới: “Những người làm báo tiếp tục là đội quân chủ lực trong việc định hướng dư luận xã hội, tuyên truyền, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Sự nghiệp đổi mới của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”.
    Thật tự hào, phấn khởi khi hiện nay, báo chí cách mạng Việt Nam đang tiếp tục trưởng thành phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tính đến cuối tháng 12 - 2021, cả nước có hơn 830 cơ quan báo chí, Hội nhà báo Việt Nam có gần 27.500 hội viên, cả nước có hơn 20.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, được đào tạo cơ bản, gần 80% có trình độ đại học trở lên. Đại hội lần thứ XI Hội Nhà báo Việt Nam nhiệm kỳ 2020 - 2025, được tổ chức thành công vào tháng 12 - 2021, đã kêu gọi đội ngũ những người làm báo cách mạng nước ta: “Tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam, chung sức đồng lòng, ra sức phấn đấu xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam giàu tính chiến đấu, nhân văn, chuyên nghiệp, hiện đại, vì lợi ích của đất nước và nhân dân, vì Tổ quốc Việt Nam hùng cường, thịnh vượng”.
    Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta luôn tin tưởng và kỳ vọng báo chí cách mạng Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy cao nhất truyền thống vinh quang, rèn đức, luyện tài, vững bước đi lên dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng, sự đồng hành, hỗ trợ, ủng hộ to lớn của cả hệ thống chính trị, cộng đồng, nhân dân và bạn đọc. Đây vừa là niềm tự hào, là động lực lớn lao và cơ sở vững chắc để báo chí cách mạng Việt Nam cùng cả nước chung sức, đồng lòng thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trong đó có mục tiêu về báo chí: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí truyền thông. Sắp xếp ngành xuất bản, in và phát hành theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiện đại”./.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư góp phần củng cố, tăng cường đoàn kết của giai cấp công nhân

 Cách mạng công nghiệp lần thứ tư góp phần củng cố, tăng cường đoàn kết của giai cấp công nhân

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã khẳng định: “sự phát triển của công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn”. Sự phát triển của các cuộc CMCN, trong đó có CMCN lần thứ tư đã và đang minh chứng cho tính đúng đắn của luận điểm này.

Thứ nhất, tính thống nhất trước hết được dựa trên cơ sở của sự liên kết ngày càng mạnh mẽ trong quá trình lao động. Thực vậy, khi lao động theo phương thức công nghiệp với đặc trưng là tính chất xã hội hoá ngày càng phát triển thì sự phân công lao động cũng ngày càng sâu sắc, từ đó càng tăng cường sự liên kết trong quy trình lao động: giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác. Điều này đã được thể hiện rất rõ qua các cuộc CMCN trước đây. Trên cơ sở những thành tựu trước đó, việc hợp tác kinh tế càng được phát triển mạnh mẽ với sự hình thành và phát triển của các tập đoàn xuyên quốc gia, làm thay đổi bản chất của phân công lao động quốc tế từ chiều dọc sang chiều ngang: lao động của các quốc gia có thể tham gia vào các công đoạn sản xuất một sản phẩm cụ thể của bất cứ tập đoàn kinh tế nào, tức là tham gia vào chuỗi giá trị với một hoạt động cụ thể. Từ đó, việc sản xuất và trao đổi theo các chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVCs) đã trở thành phổ biến trong liên kết quốc tế, cùng với đó là các hình thức liên kết phong phú khác như mạng sản xuất, xuất khẩu lao động tại chỗ, làm việc theo nhóm chuyên gia...

Trên nền tảng đó, CMCN lần thứ tư càng phát huy, kết nối toàn cầu trong sản xuất và dịch vụ. Báo cáo Phát triển chuỗi giá trị toàn cầu năm 2019 của WTO và WEF cho rằng: Ở lĩnh vực nào mà sự ứng dụng công nghệ và trí thức càng cao thì càng phát triển phức tạp chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, chuỗi cung ứng toàn cầu lúc này chuyển thành chuỗi cung ứng 4.0, với việc tổ chức lại các chuỗi cung ứng từ việc thiết kế, lập kế hoạch, sản xuất, phân phối, tiêu thụ, vận chuyển... bằng việc sử dụng thành tựu về công nghệ của 4.0 (IoT, big data, in 3D, robot, cảm biến thông minh, IA, điện toán đám mây...); từ đó, cũng tác động trực tiếp đến phân công và liên kết GCCN toàn cầu.

Thứ hai, tính thống nhất từ một số tác động tiêu cực của CMCN lần thứ tư. Một trong những tác động tiêu cực đó là sự bất bình đẳng xã hội. Đó là khoảng cách thu nhập trong công nhân và bất bình đẳng về giới ngày càng gia tăng trong cuộc cách mạng này. Trong cuốn “The Fourth Industrial Revolution” (năm 2016), tác giả Klaus Schwab - Chủ tịch điều hành Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) nhận định: “Với sự phát triển của CMCN lần thứ tư, nhiều ngành nghề mới xuất hiện..., có thể làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng tách biệt với các phân đoạn tay nghề thấp/lương thấp và tay nghề cao/lương cao..., sẽ dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng và căng thẳng xã hội, trừ khi chúng ta chuẩn bị cho những thay đổi này từ ngày hôm nay”. Hơn nữa, để thích nghi với những thay đổi của công nghệ, công nhân luôn phải nỗ lực về sức lực, thời gian, không có sự cân bằng giữa lao động và các hoạt động tái tạo sức lao động, có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực về tâm lý (hiện tượng “karoshi” ở Nhật Bản).

Như vậy, liên kết ngày càng mạnh mẽ từ tính xã hội hoá ngày càng cao trong lực lượng sản xuất, cùng với những bất ổn xã hội và sự bóc lột từ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo nên bởi CMCN như những điều kiện khách quan tiếp tục quy định và củng cố tính thống nhất, tính chiến đấu của GCCN trong bối cảnh mới. Cũng vì lẽ đó, hiện nay chúng ta đang chứng kiến những hành động mạnh mẽ có tính chất chiến đấu của công nhân, lao động ở một số nước tư bản nhằm chống lại sự bất bình đẳng xã hội (Cuộc “đình công nữ quyền” của 5 triệu công nhân ở Tây Ban Nha năm 2018; biểu tình của công nhân ở Pháp, Anh, Đức đòi quyền bình đẳng và phúc lợi xã hội...) cho thấy các phương thức tổ chức và đấu tranh truyền thống của giai cấp công nhân sẽ phát triển trở lại, ở những hình thức mới và cấp độ cao hơn. Mặc dù đây chưa phải là biểu hiện của tính thống nhất cao nhất - khi giai cấp nhận thức được về lợi ích cùng chung ý thức hệ, “ý thức về điều kiện giải phóng” bởi vai trò của các tổ chức cách mạng chưa thực sự mạnh mẽ để tập hợp công nhân, nhưng đây cũng là những dấu hiệu của “một cuộc đấu tranh phía trước”.

Tính thống nhất (về lợi ích kinh tế và chính trị) là nền tảng cho tinh thần đoàn kết của GCCN ở nhiều cấp độ. Vì vậy, những tác động của CMCN lần thứ tư một lần nữa khẳng định luận điểm của C.Mác: “Sự tiến bộ của công nghiệp mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên”. Những điều kiện khách quan từ cuộc cách mạng đó cùng với những nỗ lực của các đảng cộng sản; phong trào công nhân; phong trào đấu tranh vì dân chủ, tiến bộ, hoà bình; các mục tiêu và hành động của quốc tế phát triển vì con người, vì mục tiêu phát triển bền vững, thống nhất với mục tiêu đấu tranh của giai cấp công nhân... đã, đang và sẽ là những cộng lực thống nhất, tạo nên sức mạnh đoàn kết tổng hợp. Điều này đã góp phần phủ nhận luận điệu cho rằng “những người vô sản trên thế giới ngày càng bị phân tán” nhằm phủ định sức mạnh thống nhất, đoàn kết của GCCN.

Ở các nước phát triển theo con đường XHCN, GCCN “là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản...; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”; “Công nhân sản xuất là lực lượng chủ thể phát huy tác dụng duy trì, chống đỡ trong GCCN, là lực lượng trung kiên sáng tạo ra của cải của xã hội, là lực lượng cốt cán sáng tạo ra động cơ phát triển, là lực lượng hữu sinh thực thi chiến lược xây dựng cường quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới”. CMCN lần thứ tư là một điều kiện khách quan, mang lại những thuận lợi cho quá trình phát triển GCCN về lượng và chất, góp phần tăng thêm sức mạnh cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN trong bối cảnh mới.

Nhìn một cách tổng thể, sự tác động của CMCN lần thứ tư đến GCCN như một bức tranh biện chứng ở nhiều tầng nấc giữa các yếu tố tham gia quá trình sản xuất, nổi bật là giữa người lao động và công cụ lao động. CMCN lần thứ tư là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến bản chất vốn luôn “động” của công cụ lao động hiện đại, làm biến đổi chủ thể lao động một cách biện chứng dưới nhiều khía cạnh. Đó là xu hướng vừa tăng lên về số lượng ở những ngành nghề, công việc mới, vừa giảm về số lượng công nhân ở những ngành, công việc bị máy móc thay thế, nhưng xu hướng tăng lên là chủ đạo và tăng về lao động trí óc, công nhân tri thức. Xu hướng này tiếp tục chứng minh cho một logic lịch sử: Logic của các cuộc CMCN là một quá trình liên tục giải phóng con người thoát khỏi “nỗi cực nhọc cổ truyền của lao động” đã được chứng minh rất rõ qua ba cuộc CMCN trước đó. Sự biện chứng còn thể hiện ở chỗ, CMCN lần thứ tư vừa thúc đẩy tính liên kết, tập trung, vừa tạo ra sự phân hoá tầng lớp trong giai cấp và xu hướng tập trung là chủ đạo, sự phân hóa chỉ là biểu hiện tạm thời và càng làm tăng thêm tính thống nhất.

Bởi vậy, thực tiễn luôn đòi hỏi sự nhìn nhận biện chứng về GCCN, thấy được những biến đổi đều xoay quanh trục bản chất tiến bộ, cách mạng đã được định hình. Từ đó cũng thấy rằng, những quan điểm phủ nhận vai trò, sứ mệnh của GCCN trong bối cảnh phát triển của công nghệ mới chỉ là những cái nhìn bề nổi, hình thức, hiện tượng, đòi hỏi mỗi quốc gia, tổ chức có nhận thức và chính sách phù hợp với bản chất và xu thế khách quan. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về những tác động của CMCN lần thứ tư đến GCCN không chỉ góp phần bảo vệ quan điểm của lý luận Mác - Lênin, chống lại những luận điệu sai trái, mà còn là cơ sở lý luận vận dụng vào phát triển GCCN, trong đó, có GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới. Theo đó, để xây dựng GCCN Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã một lần nữa đặt ra yêu cầu “nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021- 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

 

NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI XÁC ĐỊNH LỊCH SỬ LÀ MÔN HỌC BẮT BUỘC!


Hoan hô Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam! Sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất biến lịch sử là môn học tự chọn, nhân dân Việt Nam có lương tri đã đồng loạt lên tiếng và Quốc hội đã lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Chiều 16/6/2022, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết xác định lịch sử là môn học bắt buộc.
Lịch sử dân tộc ta rất hào hùng, nó được viết bằng máu của các thế hệ người Việt Nam, chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tổ quốc qua các thời kỳ. Là sợi dây kết nối tiếng vọng ngàn xưa với hơi thở của thời đại. Lịch sử sẽ nuôi dưỡng tinh thần yêu nước thương nòi, ý chí tự lực tự cường và khát vọng vươn lên của người Việt Nam. Câu hỏi được đặt ra bây giờ là: tại sao Bộ Giáo dục và Đào tạo lại đặt trọng trách cải cách sách giáo khoa và sự nghiệp giáo dục vào tay Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Ngọc Thống...những kẻ đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam? Rất may là Quốc hội vào cuộc, nếu không thì những đàn sói tha hồ chồm lên cắn vào lịch sử. Khi đó thì chúng ta sẽ là Liên Xô thứ hai. Hoan hô Quốc hội./.