Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư góp phần củng cố, tăng cường đoàn kết của giai cấp công nhân

 Cách mạng công nghiệp lần thứ tư góp phần củng cố, tăng cường đoàn kết của giai cấp công nhân

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã khẳng định: “sự phát triển của công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn”. Sự phát triển của các cuộc CMCN, trong đó có CMCN lần thứ tư đã và đang minh chứng cho tính đúng đắn của luận điểm này.

Thứ nhất, tính thống nhất trước hết được dựa trên cơ sở của sự liên kết ngày càng mạnh mẽ trong quá trình lao động. Thực vậy, khi lao động theo phương thức công nghiệp với đặc trưng là tính chất xã hội hoá ngày càng phát triển thì sự phân công lao động cũng ngày càng sâu sắc, từ đó càng tăng cường sự liên kết trong quy trình lao động: giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác. Điều này đã được thể hiện rất rõ qua các cuộc CMCN trước đây. Trên cơ sở những thành tựu trước đó, việc hợp tác kinh tế càng được phát triển mạnh mẽ với sự hình thành và phát triển của các tập đoàn xuyên quốc gia, làm thay đổi bản chất của phân công lao động quốc tế từ chiều dọc sang chiều ngang: lao động của các quốc gia có thể tham gia vào các công đoạn sản xuất một sản phẩm cụ thể của bất cứ tập đoàn kinh tế nào, tức là tham gia vào chuỗi giá trị với một hoạt động cụ thể. Từ đó, việc sản xuất và trao đổi theo các chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVCs) đã trở thành phổ biến trong liên kết quốc tế, cùng với đó là các hình thức liên kết phong phú khác như mạng sản xuất, xuất khẩu lao động tại chỗ, làm việc theo nhóm chuyên gia...

Trên nền tảng đó, CMCN lần thứ tư càng phát huy, kết nối toàn cầu trong sản xuất và dịch vụ. Báo cáo Phát triển chuỗi giá trị toàn cầu năm 2019 của WTO và WEF cho rằng: Ở lĩnh vực nào mà sự ứng dụng công nghệ và trí thức càng cao thì càng phát triển phức tạp chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, chuỗi cung ứng toàn cầu lúc này chuyển thành chuỗi cung ứng 4.0, với việc tổ chức lại các chuỗi cung ứng từ việc thiết kế, lập kế hoạch, sản xuất, phân phối, tiêu thụ, vận chuyển... bằng việc sử dụng thành tựu về công nghệ của 4.0 (IoT, big data, in 3D, robot, cảm biến thông minh, IA, điện toán đám mây...); từ đó, cũng tác động trực tiếp đến phân công và liên kết GCCN toàn cầu.

Thứ hai, tính thống nhất từ một số tác động tiêu cực của CMCN lần thứ tư. Một trong những tác động tiêu cực đó là sự bất bình đẳng xã hội. Đó là khoảng cách thu nhập trong công nhân và bất bình đẳng về giới ngày càng gia tăng trong cuộc cách mạng này. Trong cuốn “The Fourth Industrial Revolution” (năm 2016), tác giả Klaus Schwab - Chủ tịch điều hành Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) nhận định: “Với sự phát triển của CMCN lần thứ tư, nhiều ngành nghề mới xuất hiện..., có thể làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng tách biệt với các phân đoạn tay nghề thấp/lương thấp và tay nghề cao/lương cao..., sẽ dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng và căng thẳng xã hội, trừ khi chúng ta chuẩn bị cho những thay đổi này từ ngày hôm nay”. Hơn nữa, để thích nghi với những thay đổi của công nghệ, công nhân luôn phải nỗ lực về sức lực, thời gian, không có sự cân bằng giữa lao động và các hoạt động tái tạo sức lao động, có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực về tâm lý (hiện tượng “karoshi” ở Nhật Bản).

Như vậy, liên kết ngày càng mạnh mẽ từ tính xã hội hoá ngày càng cao trong lực lượng sản xuất, cùng với những bất ổn xã hội và sự bóc lột từ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo nên bởi CMCN như những điều kiện khách quan tiếp tục quy định và củng cố tính thống nhất, tính chiến đấu của GCCN trong bối cảnh mới. Cũng vì lẽ đó, hiện nay chúng ta đang chứng kiến những hành động mạnh mẽ có tính chất chiến đấu của công nhân, lao động ở một số nước tư bản nhằm chống lại sự bất bình đẳng xã hội (Cuộc “đình công nữ quyền” của 5 triệu công nhân ở Tây Ban Nha năm 2018; biểu tình của công nhân ở Pháp, Anh, Đức đòi quyền bình đẳng và phúc lợi xã hội...) cho thấy các phương thức tổ chức và đấu tranh truyền thống của giai cấp công nhân sẽ phát triển trở lại, ở những hình thức mới và cấp độ cao hơn. Mặc dù đây chưa phải là biểu hiện của tính thống nhất cao nhất - khi giai cấp nhận thức được về lợi ích cùng chung ý thức hệ, “ý thức về điều kiện giải phóng” bởi vai trò của các tổ chức cách mạng chưa thực sự mạnh mẽ để tập hợp công nhân, nhưng đây cũng là những dấu hiệu của “một cuộc đấu tranh phía trước”.

Tính thống nhất (về lợi ích kinh tế và chính trị) là nền tảng cho tinh thần đoàn kết của GCCN ở nhiều cấp độ. Vì vậy, những tác động của CMCN lần thứ tư một lần nữa khẳng định luận điểm của C.Mác: “Sự tiến bộ của công nghiệp mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên”. Những điều kiện khách quan từ cuộc cách mạng đó cùng với những nỗ lực của các đảng cộng sản; phong trào công nhân; phong trào đấu tranh vì dân chủ, tiến bộ, hoà bình; các mục tiêu và hành động của quốc tế phát triển vì con người, vì mục tiêu phát triển bền vững, thống nhất với mục tiêu đấu tranh của giai cấp công nhân... đã, đang và sẽ là những cộng lực thống nhất, tạo nên sức mạnh đoàn kết tổng hợp. Điều này đã góp phần phủ nhận luận điệu cho rằng “những người vô sản trên thế giới ngày càng bị phân tán” nhằm phủ định sức mạnh thống nhất, đoàn kết của GCCN.

Ở các nước phát triển theo con đường XHCN, GCCN “là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản...; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”; “Công nhân sản xuất là lực lượng chủ thể phát huy tác dụng duy trì, chống đỡ trong GCCN, là lực lượng trung kiên sáng tạo ra của cải của xã hội, là lực lượng cốt cán sáng tạo ra động cơ phát triển, là lực lượng hữu sinh thực thi chiến lược xây dựng cường quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới”. CMCN lần thứ tư là một điều kiện khách quan, mang lại những thuận lợi cho quá trình phát triển GCCN về lượng và chất, góp phần tăng thêm sức mạnh cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN trong bối cảnh mới.

Nhìn một cách tổng thể, sự tác động của CMCN lần thứ tư đến GCCN như một bức tranh biện chứng ở nhiều tầng nấc giữa các yếu tố tham gia quá trình sản xuất, nổi bật là giữa người lao động và công cụ lao động. CMCN lần thứ tư là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến bản chất vốn luôn “động” của công cụ lao động hiện đại, làm biến đổi chủ thể lao động một cách biện chứng dưới nhiều khía cạnh. Đó là xu hướng vừa tăng lên về số lượng ở những ngành nghề, công việc mới, vừa giảm về số lượng công nhân ở những ngành, công việc bị máy móc thay thế, nhưng xu hướng tăng lên là chủ đạo và tăng về lao động trí óc, công nhân tri thức. Xu hướng này tiếp tục chứng minh cho một logic lịch sử: Logic của các cuộc CMCN là một quá trình liên tục giải phóng con người thoát khỏi “nỗi cực nhọc cổ truyền của lao động” đã được chứng minh rất rõ qua ba cuộc CMCN trước đó. Sự biện chứng còn thể hiện ở chỗ, CMCN lần thứ tư vừa thúc đẩy tính liên kết, tập trung, vừa tạo ra sự phân hoá tầng lớp trong giai cấp và xu hướng tập trung là chủ đạo, sự phân hóa chỉ là biểu hiện tạm thời và càng làm tăng thêm tính thống nhất.

Bởi vậy, thực tiễn luôn đòi hỏi sự nhìn nhận biện chứng về GCCN, thấy được những biến đổi đều xoay quanh trục bản chất tiến bộ, cách mạng đã được định hình. Từ đó cũng thấy rằng, những quan điểm phủ nhận vai trò, sứ mệnh của GCCN trong bối cảnh phát triển của công nghệ mới chỉ là những cái nhìn bề nổi, hình thức, hiện tượng, đòi hỏi mỗi quốc gia, tổ chức có nhận thức và chính sách phù hợp với bản chất và xu thế khách quan. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về những tác động của CMCN lần thứ tư đến GCCN không chỉ góp phần bảo vệ quan điểm của lý luận Mác - Lênin, chống lại những luận điệu sai trái, mà còn là cơ sở lý luận vận dụng vào phát triển GCCN, trong đó, có GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới. Theo đó, để xây dựng GCCN Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã một lần nữa đặt ra yêu cầu “nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021- 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét