“Kiểm tra, giám
sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng”. Vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ khó
thành công nếu thiếu hoặc coi nhẹ hoạt động kiểm tra, giám sát. Thực tiễn chống
tham nhũng vừa qua cho thấy sự cấp thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng công
tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
Ngày
7/6 vừa qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ban hành các quyết định
khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với ông Chu Ngọc
Anh, ông Phạm Công Tạc, ông Nguyễn Thanh Long về những vi phạm khi thực thi
công vụ. Việc khởi tố các cán bộ lãnh đạo, quản lý cao nhất cấp Bộ gợi nhớ con
số hơn 131.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật trong giai đoạn 2013-2020, trong
đó có hơn 110 cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý. Về bản chất, cả ba
lãnh đạo nêu trên đều đã "lệch chuẩn" – cụ thể là đã thực hiện những
quyết định quản lý trái với quy định của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước,
đi ngược lại với lợi ích và mong đợi của nhân dân.
Vụ
việc này cũng nhắc chúng ta nhớ lại nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
tại hội nghị công tác kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ đại hội XII (ngày
27/11/2020). Theo đó, khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên vẫn có
nguy cơ gia tăng, phức tạp và nghiêm trọng hơn. Ngày 6/4/2022, trong Kết luận
số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực, Bộ Chính trị đã chỉ ra thực tế là vẫn còn xảy ra
những vụ vi phạm nghiêm trọng, có tổ chức, rất tinh vi và phức tạp. Kết luận số
34 của Bộ Chính trị, ban hành ngày 18/4/2022, về "Chiến lược công tác kiểm
tra, giám sát của Đảng đến năm 2030" cũng chỉ ra một trong những yếu tố có
liên quan đến số vụ vi phạm gia tăng là hiện tượng cấu kết, bao che, tiếp tay
của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Tầm quan trọng của tiếp tục đổi mới hoạt
động kiểm tra, giám sát
Khoản
1 Điều 30, Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua tại Đại hội toàn quốc lần
thứ XI, khẳng định "Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của
Đảng". Điều này có nghĩa vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ khó thành công nếu
thiếu hoặc coi nhẹ hoạt động kiểm tra, giám sát. Tuy nhiên, thực tế về những
người đứng đầu, thậm chí cả ban lãnh đạo vi phạm, đang đặt ra rất nhiều thách
thức cho công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng.
Tại
hội nghị tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ đại hội XII, nhận
định về nguyên nhân dẫn đến những bất cập thời gian qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng chỉ ra tình trạng "chưa chủ động, thường xuyên, ráo riết, quyết
liệt; tiến hành kiểm tra, giám sát còn mang tính hình thức, chiếu lệ, dẫn đến
hiệu lực, hiệu quả thấp, chưa đủ sức răn đe… Công tác kiểm tra, giám sát trong
các cơ quan của Nhà nước chưa được coi trọng đúng mức và còn yếu, kết quả chưa
rõ". Đặc biệt, một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa coi
trọng đúng mức công tác kiểm tra, giám sát. Hậu quả việc coi nhẹ công tác kiểm
tra, giám sát trong Đảng là đã không kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch
lạc, khiến vi phạm từ bé trở thành to, từ ít nghiêm trọng trở thành nghiêm
trọng.
Trước
những bất cập nêu trên, "Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
đến năm 2030" nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục đổi mới mô hình
và hoạt động kiểm tra, giám sát. Theo đó, trước hết, chiến lược đề cao ý thức
tự kiểm soát của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tuân thủ các quy định của
Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cùng với đó, vai trò của công tác kiểm tra,
giám sát trong nội bộ hệ thống tổ chức Đảng được đặc biệt coi trọng. Chủ trương
này thể hiện qua ba đặc điểm nổi bật của các nhiệm vụ và giải pháp được đề ra,
bao gồm: i) Đề cao vai trò của cấp ủy và trách nhiệm của người đứng đầu, ii)
Coi trọng việc thể chế hóa chủ trương của Đảng về kiểm tra, giám sát; iii) Tinh
gọn bộ máy tổ chức và nâng cao chất lượng cán bộ thực hiện kiểm tra, giám sát.
Thách
thức lớn nhất từ việc nhấn mạnh vai trò của kiểm soát nội bộ hệ thống trong một
cấu trúc quyền lực thống nhất là sự phụ thuộc rất lớn vào chất lượng cán bộ
lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu. Nếu ban lãnh đạo và người đứng đầu nghiêm
khắc, công tâm, và trách nhiệm thì công tác kiểm tra, giám sát sẽ được thực
hiện tốt. Ngược lại, nếu người đứng đầu hay cả ban lãnh đạo có chất lượng kém,
coi nhẹ công tác kiểm tra và giám sát, thậm chí can dự vào các vi phạm thì hoạt
động kiểm tra, giám sát rất dễ bị hình thức, chiếu lệ, vô hiệu, thậm chí còn
bao che cho sai phạm. Những trường hợp người đứng đầu vi phạm thời gian gần đây
cho thấy tình trạng bị vô hiệu hóa của hoạt động kiểm tra, giám sát trong Đảng
không còn chỉ là nguy cơ, mà đã xảy ra trên thực tế. Hậu quả là những cá nhân
đứng đầu, thậm chí cả tập thể ban lãnh đạo bị kỷ luật.
Gợi mở điều chỉnh về mô hình và chính
sách
Đặc
điểm then chốt của hoạt động kiểm tra, giám sát trong Đảng ở nước ta hiện nay
là đề cao cơ chế phản ứng theo chiều dọc nội bộ hệ thống cơ quan Đảng, tổ chức
theo trật tự thứ bậc. Bất cập lớn nhất của kiểm tra, giám sát theo trục dọc hệ
thống là nguy cơ bị chi phối bởi ý chí chủ quan của các cá nhân đứng đầu mỗi cơ
quan, đơn vị, địa phương. Điều này tạo ra những rủi ro cho hoạt động kiểm tra,
giám sát, mà điển hình nhất là tình trạng thực hiện chiếu lệ, hình thức. Nghiêm
trọng hơn là tình trạng bao che khi chính bản thân ban lãnh đạo và người đứng
đầu can dự vào các vi phạm.
Cũng
có nghĩa, gia tăng tính khách quan và độc lập cho công tác giám sát chính là
điểm mấu chốt để tạo đột phá về chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm tra,
giám sát trong Đảng. Nói cách khác, chúng ta cần bổ sung và hoàn thiện thêm cơ
chế giám sát theo chiều ngang, tức là các phản ứng đến từ bên ngoài mỗi cơ
quan, đơn vị cụ thể. Để thực hiện được điều này, một số định hướng về mô hình
tổ chức và chính sách có thể gồm:
Thứ
nhất, thành lập cơ quan giám sát liên tổ chức, liên địa phương. Theo đó, những
cơ quan, đơn vị liên quan đến nhau hoặc các địa phương trong một vùng có thể
thành lập một cơ quan giám sát chung. Sự mở rộng quy mô tổ chức và đa dạng về
nhân sự sẽ giúp giảm bớt khả năng chi phối của người đứng đầu và ê kíp lãnh đạo
trong mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương, nhờ đó gia tăng tính khách quan cho hoạt
động kiểm tra, giám sát.
Thứ
hai, thực hiện kiểm tra và giám sát chéo giữa các nhóm cơ quan, đơn vị, địa
phương. Việc này nếu được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất dựa trên nhu cầu và
chỉ đạo của cấp trên thì sẽ tạo áp lực thường trực lên ban lãnh đạo tại mỗi cơ
quan, đơn vị, địa phương. Đồng thời, giám sát chéo cũng góp phần giảm bớt nguy
cơ hình thức, chiếu lệ trong kiểm tra, giám sát nếu như chỉ thực hiện tại nội
bộ cơ quan hay địa phương riêng lẻ.
Thứ
ba, hoàn thiện điều kiện thể chế để truyền thông đại chúng, nhất là báo chí,
phát huy hơn nữa khả năng giám sát công quyền cũng như tác phong, lối sống của
cán bộ, đảng viên. Báo chí cần trở thành diễn đàn công cộng để sớm phát hiện
các biểu hiện lạm quyền cũng như những lệch lạc trong quan điểm, thái độ, và
cung cách ứng xử của cán bộ, đảng viên ở mọi cấp độ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét