Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

Về quan điểm sai trái, thù địch cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin du nhập vào Việt Nam là sai lầm lịch sử

 

Về quan điểm sai trái, thù địch cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin du nhập vào Việt Nam là sai lầm lịch sử

Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Có quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là “ngoại lai”, “ngoại nhập” từ phương Tây, không phù hợp với Việt Nam là một xã hội phương Đông, kinh tế lạc hậu; thậm chí có ý kiến nói “du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử”, do đó “cần phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin”.

Đây là quan điểm sai lầm, cố tình hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vì không hiểu được sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa của lý luận Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là lý luận khoa học nên cũng giống như các khoa học khác (kể cả khoa học tự nhiên) có giá trị phổ quát, vượt biên giới quốc gia - dân tộc, còn khi áp dụng nó đương nhiên phải chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia - dân tộc để tránh giáo điều, máy móc. Mặc dù chủ nghĩa Mác có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ các nước phương Tây, như Đức (về triết học), Anh (về kinh tế chính trị), Pháp (về lý luận chủ nghĩa xã hội), nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, không thể cấm bổ sung chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông. Nhưng khi nói vậy, Người vẫn khẳng định “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”- tức ở phương Đông. Những quy luật của chủ nghĩa Mác vạch ra không chỉ đúng với các nước phát triển mà còn đúng cả với các nước kém phát triển. Vì, về mặt phương pháp luận như C.  Mác đã từng chỉ ra, trong cái phát triển cao chứa đựng cái phát triển ở trình độ thấp hơn dưới dạng lọc bỏ.

Mặt khác, nếu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý thì những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ khi chủ nghĩa Mác  - Lê-nin được truyền bá vào Việt Nam - một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lạc hậu, kém phát triển nhưng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều đổi mới về tư duy lý luận, đã nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin theo tinh thần khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới trên một loạt vấn đề, như mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản của xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,... đó là những vấn đề không có sẵn trong di sản kinh điển mác-xít. Không có sự vận dụng, phát triển sáng tạo đó thì không có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân Việt Nam đạt được trong 35 năm đổi mới toàn diện đất nước./.

 

Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch đối lập chủ nghĩa nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

 

Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch đối lập chủ nghĩa nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Có quan điểm sai lầm đem đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác lẫn chủ nghĩa Lê-nin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung. Họ viện dẫn ra sự “đối lập” là C. Mác và Ph.Ăng-ghen cho rằng, cách mạng vô sản phải nổ ra đồng thời trong các nước tư bản, ít ra là trong các nước tư bản phát triển, còn V.I. Lê-nin lại cho rằng cách mạng XHCN có thể nổ ra và thành công ở một số nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, còn lạc hậu, còn nhiều tàn tích của chế độ nông nô như nước Nga.

Lịch sử nhân loại đã ghi nhận thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 – cuộc cách mạng đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm và phương pháp của V.I. Lê-nin. Sự đối lập giữa C. Mác với V.I.Lê-nin mà họ dựng lên là giả tạo, bịa đặt. V.I. Lê-nin là người mác-xít, ông đã tự nhận mình là học trò của Mác: Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lê-nin thống nhất với nhau về bản chất. Chủ nghĩa Lê-nin là chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản. C.Mác và V.I.Lê-nin sống ở hai thời đại khác nhau, C.Mác sống ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh, còn đến V.I. Lê-nin chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi đó cách mạng vô sản, phong trào giải phóng dân tộc nổi lên, mỗi ông phải giải quyết những nhiệm vụ do thời đại của mình đặt ra. V.I. Lê-nin không thể máy móc, giáo điều ngồi chờ cho cách mạng vô sản nổ ra đồng thời ở các nước tư bản phát triển được, mà phải chủ động nhận thức thời cơ, tình thế cách mạng và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. V.I.Lê-nin trung thành với chủ nghĩa Mác trong bản chất cách mạng, khoa học, biện chứng, chứ không phải trung thành một cách máy móc bởi vì học thuyết của các ông không phải giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động.

Chúng đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác - Lê-nin lẫn tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là sai lầm cả về lịch sử và lô-gic. Về mặt lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn và được hình thành từ việc tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là nguồn gốc lý luận quan trọng nhất, là cơ sở chủ yếu nhất để hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Thông qua hoạt động trí tuệ và thực tiễn sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu thực tiễn và tìm ra con đường cách mạng Việt Nam, vượt lên trước những nhà yêu nước đương thời, khắc phục được sự khủng hoảng về con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện lịch sử mới. Như vậy, về mặt lô-gic, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin chứ không có sự đối lập như một số người tưởng tượng ra. Và do đó cũng không có cái gọi là “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin” từ năm 1930 đến nay ở Việt Nam như có người nhận định. Một số người nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Họ nói tư tưởng Hồ Chí Minh mới là sản phẩm của Việt Nam, có nguồn gốc Việt Nam, còn chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “ngoại lai”, “ngoại nhập”, không phù hợp với Việt Nam, thậm chí có người muốn đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh (!). Quan điểm đó nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất, trực tiếp và gián tiếp chính là nhằm phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đảng ta xác định nền tảng tư tưởng của Đảng gồm chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là rất đúng đắn, phù hợp, thể hiện mối quan hệ biện chứng, thống nhất, gắn bó giữa hai bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng./.

 

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW về tăng cường đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW về tăng cường đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có giá trị rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trước sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường đã tạo cơ hội cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng ta đã khẳng định, nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng đó. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và nhiều văn kiện các kỳ Đại hội Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Sự khẳng định đó phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam qua 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ đó đến nay, cùng với việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối chính trị, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Xem đây là một nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta diễn ra trong bối cảnh và yêu cầu mới, phức tạp và quyết liệt hơn. Đặc biệt, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, các thế lực thù địch trong và ngoài nước cùng với những người bất mãn  chính trị không ngừng xuyên tạc, công kích nhằm đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần đây, khi Đảng, Nhà nước ta chủ động tiến hành đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng và xã hội, các thế lực thù địch đã sử dụng mọi biện pháp, thủ đoạn để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc, thậm chí phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chúng lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

Chúng ta bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vì đây là một học thuyết mang bản chất cách mạng và khoa học, là kim chỉ nam cho hành động. Đối với cách mạng Việt Nam, vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được khẳng định qua 90 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta nhờ kết hợp được chủ nghĩa Mác  - Lê-nin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”. Theo Người: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lê-nin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta”. Nhờ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cũng chính quá trình này đã giúp Đảng ta tích lũy và đúc rút được nhiều bài học quý báu, hun đúc nên những truyền thống vẻ vang mà hôm nay chúng ta có trách nhiệm giữ gìn và phát huy.

Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Nghị quyết 35). Nghị quyết khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Nghị quyết cũng chỉ ra rằng: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay, trước hết là trong xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị”. Nghị quyết đề ra bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là: Tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao.

Thực hiện Nghị quyết 35, các bộ, ngành, địa phương đã thành lập Ban Chỉ đạo 35 nhằm triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bước đầu kết hợp hài hòa các biện pháp kỹ thuật, pháp lý, kinh tế và tuyên truyền giáo dục để ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, dịch vụ vi phạm pháp luật Việt Nam trên in-tơ-nét, mạng xã hội. Các cơ quan báo chí, như Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân Dân, Báo Quân đội Nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam..., đã có loạt bài chính luận có tính đấu tranh cao, hiệu quả trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đồng thời, Nghị quyết cũng chỉ rõ: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Hội nghị nhấn mạnh: “Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Trong quân đội, cùng với thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW cần đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 823-CT/QUTW, ngày 10-9-2017 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội”. Kiện toàn tổ chức, phát huy tốt vai trò của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 trong chủ động đấu tranh, phản bác, vạch rõ thực chất của những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; làm cho cán bộ, chiến sĩ có sức đề kháng tốt, không nghe, không theo những thông tin xấu độc, trái chiều. Qua đó, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao về tư tưởng trong Quân đội, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội với Nhân dân của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ tốt trận địa tư tưởng của Đảng trong xã hội và trong Quân đội.

Giáo dục nâng cao cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo, bộ phận chuyên sâu, tổ thư ký, cơ quan giúp việc cấp ủy các cấp và lực lượng nòng cốt đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Các cơ quan báo chí, xuất bản, các học viện, nhà trường, trực tiếp là đội ngũ cán bộ cơ quan chiến lược, cán bộ nghiên cứu khoa học, phóng viên, biên tập viên trong toàn quân tiếp tục nêu cao trách nhiệm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Chủ động phản bác những quan điểm, tư tưởng sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và những phần tử phản động, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, duy trì nghiêm quy định về bảo mật thông tin, quy chế người phát ngôn, cucng cấp thông tin…, quy chế tuyển chọn, bố trí cán bộ, nhân viên, nhất là đối với các cơ quan cơ mật, trọng yếu; không để sơ hở, thiếu sót, vi phạm để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Trong “xây”, cần chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm; đẩy mạnh tuyên truyền gương “người tốt, việc tốt”, nhân rộng điển hình, những cái hay, cái đẹp, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong từng đơn vị và toàn quân; giáo dục ý thức chấp hành nghiêm quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí, sử dụng intetnet, tham gia mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ. Trong “chống”, cần chủ động, nhạy bén và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, phương tiện, nhất là lực lượng nòng cốt trong các đơn vị, các cơ quan báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật; đồng thời, tích cực ứng dụng khoa học - công nghệ, triển khai các giải pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.

 

 

Đấu tranh chống quan điểm cho rằng sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin

 

Đấu tranh chống quan điểm cho rằng sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin

Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có giá trị rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trước sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, phản động, vấn đề nhận diện và đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang trở lên cấp thiết.

Đặc biệt, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, các thế lực thù địch trong và ngoài nước cùng với những người bất mãn  chính trị không ngừng xuyên tạc, công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin. Chúng lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

Chúng ta thấy rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội  - mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp, hành chính, mệnh lệnh, xa rời quần chúng nhân dân với nhiều khuyết tật, chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung. Sự sụp đổ ấy có nguyên nhân khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, sâu xa và trực tiếp. Chính những khuyết tật của mô hình chủ nghĩa xã hội đó không được phát hiện và khắc phục kịp thời, tồn tại kéo dài, tích tụ lại đã đẩy xã hội Xô-viết đến sự sụp đổ. Sự sai lầm về đường lối cải tổ của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô trước đây - cả đường lối kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đối ngoại, sự phản bội lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa của một số lãnh đạo cao nhất trong Đảng cùng với âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, sự chống phá của các thế lực thù địch là những nguyên nhân trực tiếp.

Vì thế, không thể quy sự sụp đổ của Liên Xô vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chính sự nhận thức sai, vận dụng sai, sự phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin của một số người cao nhất trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô là nguyên nhân chủ yếu. Vì vậy, quyết không được đồng nhất những sai lầm đó với bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Tại sao công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc, công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam lại đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng? Cải tổ sẽ không thất bại nếu Đảng Cộng sản Liên Xô có đường lối cải tổ đúng đắn, trung thành và sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có bản lĩnh chính trị vững vàng, cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực đế quốc thù địch, nếu xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh, trong sạch, gắn bó mật thiết với nhân dân, chống được quan liêu, tham nhũng... Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô nay đã trải qua gần 30 năm song vẫn là lời cảnh báo thường xuyên đối với các đảng cộng sản đang cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa để tránh đi vào “vết xe đổ” của Liên Xô./.

 

Đội Công binh số 1 với trọng trách tái thiết hòa bình tại châu Phi

 

Đội Công binh số 1 với trọng trách tái thiết hòa bình tại châu Phi

Vượt qua những khó khăn, trở ngại, Đội Công binh số 1 Cục Gìn giữ hòa bình (GGHB) Việt Nam đã đến Abyei, châu Phi an toàn. Những hoạt động của Đội sẽ góp phần cung cấp các hoạt động hỗ trợ nhân đạo, giúp các phái bộ GGHB Liên Hợp quốc (LHQ) thực hiện nhiệm vụ gìn giữ và tái thiết hòa bình, đem lại cuộc sống bình an cho người dân các quốc gia châu Phi.

Trung tá Nguyễn Quang Tuyển, Bí thư Đảng ủy Đội Công binh số 1 cho biết, để ổn định tư tưởng cho cán bộ, nhân viên Đội Công binh số 1 Việt Nam lên đường thực hiện nhiệm vụ GGHB LHQ, ngoài việc bảo đảm đúng đủ, kịp thời các chế độ chính sách cho cán bộ, nhân viên trong đơn vị theo quy định, Đội Công binh còn chủ động rà soát, tổ chức thăm hỏi những gia đình có điều kiện hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gia đình có thân nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

Qua rà soát đơn vị đã phối hợp với các cơ quan chức năng của Cục GGHB Việt Nam, cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức thăm hỏi 18 gia đình có điều kiện hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gia đình có thân nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

Ít ai biết rằng, những người lính lên đường làm nhiệm vụ tại LHQ với cờ hoa rực rỡ nhưng ở phía trước, nhiệm vụ của người lính công binh rất vất vả, sau lưng họ là gia đình với nhiều lo toan, kinh tế khó khăn, có thể không gặp được người thân vì bệnh trở nặng. Nhưng vì nhiệm vụ, các anh chị vẫn quyết tâm lên đường, hoàn thành sứ mệnh GGHB LHQ.

Cuộc hành quân qua 6 quốc gia, vượt 10 nghìn km

Ngày 12/6/2022, Đội Công binh số 1 đã lên đường làm nhiệm vụ tại Phái bộ GGHB LHQ ở Abyei (Phái bộ UNISFA), khu vực Abyei, châu Phi. Vào lúc 14 giờ (giờ địa phương) ngày 15/6/2022 chuyến Trực thăng thứ 9 đã đưa những thành viên cuối cùng thuộc Thê đội 2 Đội Công binh số 1 từ Kadougli (Sudan) về đến sân bay Dã chiến của Phái bộ Abyei, kết thúc 4 ngày đêm hành quân của 156 cán bộ, nhân viên Đội Công binh số 1 tham gia sứ mệnh GGHB LHQ.

Trung tá Tuyến cho biết, đây là một cuộc hành quân lớn nhất, với quãng đường hành quân dài nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam qua 6 quốc gia và vùng lãnh thổ đã vượt qua hơn 10 nghìn km. Quá trình di chuyển, Thê đội phải di chuyển bằng cả đường bộ và đường hàng không, đội hình hành quân liên tục thay đổi do khả năng vận chuyển của từng loại phương tiện. Đặc biệt, khi di chuyển bằng đường hàng không, Đội Công binh số 1 đã phải đi trên 3 loại máy bay.

Từ Sân bay quốc tế Nội Bài đến Entebbe (Uganda) toàn đội và hành lý di chuyển bằng chuyên cơ thương mại của hãng hàng không Ethiopian Airlines, quá cảnh tại New Delhi (Ấn Độ) và Addis Ababa (Ethiopian). Sau đó, Đội di chuyển đến Entebbe (Uganda). Tại đây, toàn đội đã lưu trú để làm thẻ ID của LHQ, nhận thêm vật chất hậu cần và làm các thủ tục hành chính cho hai chặng đường tiếp theo.

Đặc biệt là tại Entebbe (Uganda), Đội đã vinh dự được đón Ngài Thiếu tướng Benjamin Olufemi Sawyerr, Tư lệnh Phái bộ UNISFA tới thăm, gặp gỡ, động viên, thể hiện sự quan tâm của Tư lệnh Phái bộ cũng như những tình cảm đặc biệt với Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sáng 14/6, toàn đội chia thành 3 bộ phận để hành quân trên 3 chuyến máy bay cánh cứng từ Entebbe (Uganda) đến Kadougli (Sudan). Trong nhật ký hành trình của Đội ghi rõ, khi tới Kadougli (Sudan), do thời tiết tại Abyei có mưa rất to nên toàn đội đã phải nghỉ lại Kadougli (Sudan) một đêm. Sáng ngày 15/6, toàn đội hình tiếp tục 9 chuyến hành quân bằng máy bay trực thăng của LHQ, hạ cánh an toàn xuống Abyei. Hình ảnh Bộ đội Việt Nam, Bộ đội Cụ Hồ, đi đến đâu cũng được nhân dân các nước chào đón bằng những nụ cười, những cái vẫy chào nồng nhiệt.

Trước đó, ngày 5/5, các thành viên Đoàn tiền trạm (gồm 28 người) Đội Công binh số 1 đã triển khai thành công đến Phái bộ UNISFA, an toàn về người và trang thiết bị, sau hành trình 3 ngày hành quân từ Việt Nam đến Phái bộ.

Đội Công binh số 1 của Việt Nam với biên chế 184 người (trong đó có 21 nữ quân nhân) sẽ góp phần cung cấp các hoạt động hỗ trợ nhân đạo, giúp các phái bộ GGHB LHQ thực hiện nhiệm vụ gìn giữ và tái thiết hòa bình, đem lại cuộc sống bình an cho người dân các quốc gia châu Phi.

Đội Công binh số 1 của Việt Nam được biên chế 112 phương tiện khác nhau, bao gồm các phương tiện cải hoán và nhập khẩu nguyên chiếc theo yêu cầu của LHQ. Ngoài các phương tiện và máy móc, Đội Công binh số 1 còn được biên chế 62 container để chứa hàng hóa trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của đội tại Phái bộ.

Các nhiệm vụ chính của Đội công binh số 1 tại Phái bộ UNISFA bao gồm: Khảo sát, bảo dưỡng, sửa chữa và nâng cấp các tuyến đường vận tải, đường băng dã chiến, các tuyến đường kết nối các căn cứ, xây dựng bãi đỗ trực thăng; kiểm tra, khắc phục sự cố giao thông, đảm bảo thông tuyến cho các đoàn xe của LHQ và vận tải cứu trợ; sửa chữa, nâng cấp căn cứ LHQ; phục hồi và sửa chữa các cấu trúc khu vực trú ẩn an toàn của các căn cứ, hệ thống hào bảo vệ, đê chắn đạn...

Đơn vị cũng làm nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo cộng đồng địa phương (xây dựng nhà cộng đồng, trường học, các cơ sở công cộng…) và thực hiện các nhiệm vụ do lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Cục GGHB Việt Nam giao.

 

iệt Nam-Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác song phương hiệu quả và thực chất

 

Việt Nam-Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác song phương hiệu quả và thực chất

Hai bên nhất trí cần triển khai các biện pháp tăng cường hơn nữa quan hệ mọi mặt, nâng kim ngạch thương mại song phương đạt mục tiêu 15 tỷ USD ngay trong 2022, đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực.

Ngày 17/6, trong dịp dự Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Ấn Độ, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu của phía Ấn Độ dành cho đoàn Việt Nam, chúc mừng Ấn Độ đã tổ chức thành công Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Ấn Độ và Đối thoại Delhi lần thứ 12.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đánh giá cao và chúc Ấn Độ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Bộ trưởng bày tỏ vui mừng trước sự phát triển mạnh mẽ, hiệu quả của mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Nhân dịp này, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cảm ơn sự hỗ trợ quý báu của Ấn Độ dành cho Việt Nam trong phòng chống dịch COVID-19 đúng vào thời điểm Việt Nam còn khó khăn.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng đề nghị phía Ấn Độ phối hợp chuẩn bị cho những chuyến thăm cấp cao sắp tới, đồng thời trân trọng mời Bộ trưởng Ngoại giao S. Jaishankar thăm Việt Nam và đồng chủ trì Kỳ họp Ủy ban hỗn hợp Việt Nam-Ấn Độ về hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ lần thứ 18 dự kiến diễn ra tại Hà Nội vào nửa cuối năm 2022.

Về thương mại-đầu tư, Bộ trưởng đề nghị Ấn Độ tạo điều kiện cho nông sản của Việt Nam, trong đó có chôm chôm, nhãn, sầu riêng tiếp cận thị trường Ấn Độ; khuyến khích doanh nghiệp Ấn Độ đầu tư vào các lĩnh vực Ấn Độ có thế mạnh, Việt Nam có nhu cầu như đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp dược…

Về phần mình, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ S. Jaishankar chào mừng Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đến Ấn Độ, đồng thời chúc mừng Việt Nam đã vượt qua dịch COVID-19, từng bước phục hồi nền kinh tế và trở thành điểm sáng trong khu vực về thu hút đầu tư và du lịch.

Bộ trưởng nhất trí với đề xuất của Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn tiếp tục phối hợp chặt chẽ tổ chức hiệu quả các hoạt động nhằm kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1972-2022); đồng thời khẳng định Ấn Độ luôn coi Việt Nam là trụ cột quan trọng trong chính sách “Hành động hướng Đông;" cam kết phối hợp thúc đẩy hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước trong thời gian tới, đáp ứng nhu cầu và lợi ích của hai bên.

Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ bày tỏ vui mừng trước việc nối lại đường bay thẳng giúp tạo điều kiện giao lưu nhân dân và du lịch giữa hai nước.

Hai Bộ trưởng hài lòng trước sự phát triển quan hệ hai nước, kể cả trong bối cảnh dịch COVID-19 vừa qua, nhất trí đánh giá mối quan hệ truyền thống giữa hai nước vốn được các thế hệ lãnh đạo dày công vun đắp đang phát triển ngày càng hiệu quả, thực chất, mang lại lợi ích cho chính phủ và nhân dân hai nước.

Hai bên nhất trí cần triển khai các biện pháp tăng cường hơn nữa quan hệ mọi mặt, nâng kim ngạch thương mại song phương đạt mục tiêu 15 tỷ USD ngay trong năm 2022, đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực khác như văn hóa, giao lưu nhân dân, khoa học công nghệ, năng lượng, giáo dục-đào tạo… một cách hiệu quả và thực chất hơn; tháo gỡ vướng mắc trong các dự án hợp tác đầu tư cũng như thương mại hướng tới thương mại bền vững và lành mạnh.

Nhân dịp này, hai Bộ trưởng cũng đã trao đổi về những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên bày tỏ hài lòng, nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là tại Liên hợp quốc và trong khuôn khổ hợp tác ASEAN-Ấn Độ.

Hai Bộ trưởng nhất trí về sự cần thiết của việc duy trì an ninh an toàn, tự do hàng không, hàng hải trên các vùng biển và đại dương phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật Biển (UNCLOS).

Sau buổi gặp, hai Bộ trưởng đã chứng kiến lễ trao Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng giữa Trung tâm ứng cứu khẩn cấp không gian mạng, Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam và Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Ấn Độ, Bộ Điện tử và Công nghệ thông tin Ấn Độ.

Trước đó, tại cuộc tiếp đoàn Ủy ban Đoàn kết Ấn Độ-Việt Nam ở bang Tây Belgan do bà Kusum Jain, Chủ tịch Ủy ban làm Trưởng đoàn, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn bày tỏ cảm ơn chân thành về những nỗ lực, đóng góp của bà nói riêng cũng như của Ủy ban nói chung trong việc vun đắp và nuôi dưỡng tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, khẳng định Việt Nam luôn trân trọng tình cảm thủy chung của nhiều thế hệ bạn bè Ấn Độ đã dành cho Việt Nam.

Bộ trưởng mong bà Chủ tịch và Ủy ban tiếp tục đóng vai trò là cầu nối thân tình giữa các tầng lớp nhân dân hai nước, đóng góp thiết thực trong việc củng cố quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Ấn Độ trên cả ba trụ cột chính trị, kinh tế và văn hóa. Bà Kusum Jain xúc động được gặp Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn và đoàn Việt Nam đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; khẳng định Ủy ban sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào mối quan hệ và giao lưu nhân dân giữa hai nước.

Tối cùng ngày, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đã cùng Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ S. Jaishankar đã đồng chủ trì Lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước tại Trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ.

Tham dự lễ kỷ niệm còn có Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Phạm Sanh Châu, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Ấn Độ phụ trách đối ngoại và giáo dục Rajkumar Ranjan Singh, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cùng 200 quan khách, bạn bè Ấn Độ có đóng góp trong lịch sử quan hệ song phương.

Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn khẳng định chặng đường 50 năm vừa qua của mối quan hệ Việt Nam-Ấn Độ chứng kiến nhiều thành tựu hợp tác hết sức quan trọng và đáng tự hào; nhấn mạnh việc hai nước luôn ủng hộ lẫn nhau trong quá trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước trước đây, cũng như xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.

Bộ trưởng bày tỏ tin tưởng, với quyết tâm cao của Lãnh đạo và sự ủng hộ của nhân dân hai nước, quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Ấn Độ sẽ ngày càng phát triển thực chất, hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân hai nước và vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển phồn vinh ở khu vực và trên thế giới.

Cũng trong buổi lễ, hai Bộ trưởng đã cùng công bố Logo đại diện cho năm kỷ niệm 50 năm quan hệ. Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ cũng công chiếu bộ phim tài liệu "Sự hội tụ" về lịch sử quan hệ song phương./.

 

Xây dựng lực lượng công an thực sự trong sạch, vững mạnh

 

Xây dựng lực lượng công an thực sự trong sạch, vững mạnh

Xây dựng lực lượng công an thật sự trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân.

Ngày 17-6, Bộ Chính trị đã tổ chức hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 12.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thường trực Ban bí thư Võ Văn Thưởng đồng chủ trì hội nghị. Cùng dự có các ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban bí thư, ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các cơ quan, bộ, ngành, trung ương và địa phương.

“Đánh đúng, đánh trúng” nhiều tổ chức, cá nhân phạm tội

Trước đó, ngày 16-3, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 12-NQ/TW về “đẩy mạnh xây dựng lực lượng công an nhân dân (CAND) thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”. Và ngay sau khi Quốc hội bế mạc kỳ họp thứ ba, Bộ Chính trị triển khai nghị quyết trên.

Khẳng định tính “Nhân dân” của lực lượng công an - nòng cốt trong bảo vệ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, trong bài phát biểu của mình, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao lực lượng công an chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban bí thư, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Công an đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp, Ban Nội chính Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước “đánh đúng, đánh trúng” nhiều tổ chức và cá nhân phạm tội, tạo sức cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Tuy nhiên, người đứng đầu Đảng cũng lưu ý rằng công tác xây dựng lực lượng, tổ chức bộ máy và hoạt động của công an còn một số hạn chế, bất cập.

Trong các hạn chế ấy có một bộ phận cán bộ, chiến sĩ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu gương mẫu; giảm sút ý chí chiến đấu, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm pháp luật đến mức phải bị xử lý.

Dự báo thời gian tới tình hình thế giới còn diễn biến phức tạp, trong nước còn đối mặt không ít khó khăn như tệ nạn tham nhũng, tiêu cực chưa được giải quyết triệt để; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi; vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn chưa được ngăn chặn có hiệu quả... Trong bối cảnh ấy, Bộ Chính trị thấy cần thiết phải ban hành một nghị quyết để đẩy mạnh xây dựng lực lượng CAND.

“Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước để lực lượng CAND thật sự liêm chính, thật sự trong sạch, thật sự vững mạnh; không được, tuyệt đối không được cậy quyền, cậy thế, lợi dụng cương vị và nghiệp vụ công tác để làm những việc bất chính” - Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh.

Hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân

Về nội dung cốt lõi của Nghị quyết 12, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết Bộ Chính trị nhấn mạnh về mặt nhận thức, phải kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt với CAND.

Ở đâu có tổ chức và hoạt động của công an thì ở đó phải có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Trong đó, nội dung lãnh đạo được nhấn mạnh, có tầm quan trọng đặc biệt trong nghị quyết lần này là xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân.

“Đây là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu, có tính nguyên tắc và cũng là lý do tồn tại của lực lượng công an” - Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý.

Với tinh thần ấy, Nghị quyết 12 xác định mục tiêu tổng quát là phải tạo chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện trong xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Trong đó, mục tiêu đến năm 2025 là CAND cơ bản phải tinh, gọn, mạnh; các lực lượng tình báo, cơ yếu, an ninh, cảnh sát cơ động, kỹ thuật nghiệp vụ, an ninh mạng và đấu tranh phòng chống tội phạm công nghệ cao tiến thẳng lên hiện đại. Phấn đấu đến năm 2030 lực lượng CAND chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Để đạt được các mục tiêu trên, phần nhiệm vụ giải pháp, Nghị quyết 12 đề ra bảy nhóm vấn đề, trong đó số 1 là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự giám sát của Nhân dân đối với lực lượng CAND; nâng cao hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng CAND.

Để triển khai có hiệu quả nghị quyết, Tổng bí thư yêu cầu phải xác định rõ xây dựng lực lượng CAND là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị. Nhận thức thật đúng và tăng cường quan hệ gắn bó giữa công an với các ngành, các cấp, các tổ chức, đoàn thể và Nhân dân. Phải củng cố mối quan hệ giữa CAND - quân đội nhân dân, là hai lực lượng nòng cốt bảo vệ, giữ gìn hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.

Giữ mình trong sạch, không bị sa ngã

Nhắc lại yêu cầu tu dưỡng theo sáu điều Bác Hồ dạy lực lượng CAND, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: Phải coi đây là việc làm thường xuyên, rất hệ trọng, trở thành tiềm thức trong trái tim, khối óc và hành động thực tế trong công tác, chiến đấu hằng ngày của mình.

Luôn luôn giữ mình cho thật trong sạch, thật vững vàng, không bị sa ngã trước bất cứ sự mua chuộc, lôi kéo nào của các phần tử xấu, lợi ích nhóm.

“Không bị cám dỗ bởi những danh lợi tầm thường; không lợi dụng cương vị công tác của mình để làm những việc ti tiện, đớn hèn, làm phương hại đến lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và lợi ích chính đáng của Nhân dân” - Tổng bí thư nhấn mạnh.

Theo Tổng bí thư, để được như vậy, CAND cần đặc biệt chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong chính lực lượng mình. Đảng ủy, Đảng bộ Công an Trung ương phải gương mẫu, đi đầu, tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết của Trung ương về công tác xây dựng Đảng. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt hơn nữa, hiệu quả hơn nữa, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trước hết và ngay trong chính lực lượng công an.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải thường xuyên tự soi, tự sửa, tự tu dưỡng, rèn luyện theo sáu điều Bác Hồ đã dạy lực lượng CAND:

Đối với tự mình phải: Cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự phải: Thân ái giúp đỡ.

Đối với Đảng, Chính phủ phải: Tuyệt đối trung thành.

Đối với Nhân dân phải: Kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc phải: Tận tụy.

Đối với địch phải: Cương quyết, khôn khéo.

 

Việt Nam gửi thông điệp hòa bình, hợp tác tới Hội nghị ASEAN-Ấn Độ

 

Việt Nam gửi thông điệp hòa bình, hợp tác tới Hội nghị ASEAN-Ấn Độ

Sau khi kết thúc Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Ấn Độ tại thủ đô New Delhi, Phóng viên TTXVN tại Ấn Độ ngày 17/6 đã có cuộc phỏng vấn Đại sứ Vũ Hồ, Quyền trưởng SOM ASEAN của Việt Nam về kết quả hội nghị.

Theo Đại sứ Vũ Hồ, Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Ấn Độ lần này mang rất nhiều ý nghĩa đặc biệt. Trước hết, đây là hội nghị đánh dấu kỷ niệm 30 năm thành lập quan hệ đối tác ASEAN-Ấn Độ. Thứ hai, đây là hội nghị đầu tiên giữa ASEAN và Ấn Độ được tổ chức trực tiếp sau quãng thời gian gián đoạn do dịch COVID-19. Thứ ba, hội nghị cũng là dịp để các bên đánh giá tình hình quốc tế, khu vực và các biến động phức tạp hiện nay, để cùng đưa ra các định hướng tương lai cho hợp tác giữa ASEAN và Ấn Độ thời gian tới. Thứ tư, với ý nghĩa hết sức quan trọng, thông qua hội nghị lần này, Việt Nam đã gửi đi thông điệp về hòa bình, ổn định, hợp tác, đối thoại, tới tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế và khu vực.

Với những ý nghĩa đó, Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Ấn Độ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng khác nhau. Một trong những kết quả đầu tiên chính là hai bên đều thấy rõ các giá trị của hòa bình và ổn định, giá trị của hợp tác, giá trị của đối thoại, cùng phấn đấu vì hòa bình, ổn định và phồn vinh ở khu vực.

Kết quả thứ hai là dựa trên truyền thống quan hệ lâu đời giữa Đông Nam Á và Ấn Độ, có thể thấy hai bên đều mong muốn nâng quan hệ ASEAN-Ấn Độ lên một tầm cao mới. Hiện ASEAN và Ấn Độ đang là Đối tác chiến lược của nhau. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực đang diễn biến phức tạp, tinh thần đối thoại và hợp tác phải được duy trì. Đây chính là thông điệp được gửi đi qua hội nghị lần này.

Kết quả thứ ba là các bên đã đánh giá lại tất cả những hoạt động hợp tác thời gian qua, đặc biệt là giai đoạn đứt gãy do dịch COVID-19. Các định hướng của hợp tác ASEAN-Ấn Độ trong thời gian tới sẽ tập trung vào tận dụng tất cả những thành quả đã đạt được cũng như tiềm năng to lớn của cả hai bên. Ví dụ như thị trường của ASEAN-Ấn Độ gần 2 tỷ người dân, với tổng GDP gần 6.000 tỷ. Đây là một trong những tiềm năng lớn trong hợp tác kinh tế và thương mại giữa ASEAN và Ấn Độ.

Kết quả thứ tư là quyết tâm của các nước duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực thông qua đối thoại, đàm phán và xây dựng lòng tin. Có thể thấy tất cả những tranh chấp, những bất đồng trong khu vực vẫn thường xuyên diễn ra, kể cả những vận động giữa các nước lớn hay những tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải giữa các quốc gia. Trong bối cảnh đó, ASEAN cũng như Ấn Độ đều cam kết sẽ dựa trên đối thoại, hợp tác để giảm bớt bất đồng, mâu thuẫn trong quan hệ giữa các nước, các quốc gia.

Tóm lại, Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Ấn Độ lần này chuyển đi thông điệp về đối thoại thẳng thắn, hợp tác chân thành, và hài hòa trong tất cả các lợi ích.

Về đóng góp cụ thể của Việt Nam đối với thành công của hội nghị lần này, Đại sứ Vũ Hồ nêu rõ, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã tham gia hết sức tích cực và chủ động trong tất cả các hoạt động của hội nghị, mang đến hội nghị tinh thần của Việt Nam, và mang đến cho Ấn Độ tinh thần của 50 năm quan hệ Việt Nam-Ấn Độ.

Phát biểu của Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn tập trung nhiều tới thúc đẩy mối quan hệ gắn kết giữa Ấn Độ và ASEAN, cũng như với Việt Nam trong tất cả các vấn đề của khu vực, trong tận dụng những kết quả đã có được, phát huy tiềm năng giữa ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng với Ấn Độ để thúc đẩy mối quan hệ này lên một tầm cao mới.

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đã khẳng định rất rõ tất cả những quan điểm, lập trường của Việt Nam về các vấn đề quốc tế và khu vực, về các tranh chấp, cạnh tranh giữa các nước lớn, cũng như các vấn đề đang nảy sinh trong khu vực như vấn đề Biển Đông, vấn đề Myanmar, hay thậm chí cả những vấn đề xung đột ở các khu vực khác trên thế giới cũng được đề cập tới.

Theo Đại sứ Vũ Hồ, đóng góp của Việt Nam, ngoài đóng góp cho thành công của hội nghị, còn là sự truyền tải thông điệp của Đảng và Nhà nước ta sau thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIII đến các giới Ấn Độ, nhất là khi Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn tham gia Đối thoại Delhi lần thứ 12, là Đối thoại quan trọng của khu vực Nam Á về các vấn đề chính sách, bên cạnh Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Ấn Độ. Ông tin rằng, những đóng góp của Việt Nam cho thành công của hội nghị lần này sẽ tiếp tục được phát huy, thúc đẩy trong thời gian tới. Những đề cập, những đề xuất của Việt Nam nêu ra tại Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Ấn Độ sẽ trở thành tài sản chung trong hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ thời gian sau này.

 

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI THAM GIA ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA!

     Đấu tranh trên không gian mạng hiện nay là gay gắt trên mặt trận tư tưởng lý luận. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam.
     Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta không để tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng. Đồng thời, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò, trách nhiệm của mình, chủ động tham mưu cho cơ quan, đơn vị mình công tác phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các bài viết, hình ảnh, clip có nội dung xấu, phản động nhằm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng ta./.





Yêu nước ST.

NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI XÁC ĐỊNH LỊCH SỬ LÀ MÔN HỌC BẮT BUỘC!

         Hoan hô Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam! Sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất biến lịch sử là môn học tự chọn, nhân dân Việt Nam có lương tri đã đồng loạt lên tiếng và Quốc hội đã lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Chiều 16/6/2022, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết xác định lịch sử là môn học bắt buộc. 

Lịch sử dân tộc ta rất hào hùng, nó được viết bằng máu của các thế hệ người Việt Nam, chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tổ quốc qua các thời kỳ. Là sợi dây kết nối tiếng vọng ngàn xưa với hơi thở của thời đại. Lịch sử sẽ nuôi dưỡng tinh thần yêu nước thương nòi, ý chí tự lực tự cường và khát vọng vươn lên của người Việt Nam. Câu hỏi được đặt ra bây giờ là: tại sao Bộ Giáo dục và Đào tạo lại đặt trọng trách cải cách sách giáo khoa và sự nghiệp giáo dục vào tay Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Ngọc Thống...những kẻ đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam? Rất may là Quốc hội vào cuộc, nếu không thì những đàn sói tha hồ chồm lên cắn vào lịch sử. Khi đó thì chúng ta sẽ là Liên Xô thứ hai. Hoan hô Quốc hội./.

Môi trường ST.

HƠN CẢ SỰ VĨ ĐẠI.

Người trong ảnh là mẹ Việt Nam anh hùng Trần Thị Mít. Mẹ đã mất chồng, sáu con trai, một con dâu và cháu nội cho cuộc trường chinh kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Con thứ tư của mẹ, anh Nguyễn Năng Phàn, sau một nhiệm vụ, anh bị địch bắt, anh nhất quyết không hé răng nửa chữ. Anh bị phân xác ra làm nhiều mảnh và vứt ở ngoài đường. Lòng mẹ như đứt ra từng khúc khi không thể đưa anh về chôn cất, vì tụi nó sẽ đến và gây khó dễ, ngôi nhà của mẹ sẽ không che chở cho bộ đội được nữa.

Con gái út của mẹ Mít tên là Nguyễn Thị Tiếp là người hy sinh tiếp theo. Năm 19 tuổi, cô gái Nguyễn Thị Tiếp trở thành một o du kích. Trong một lần tiếp tế cho bộ đội, o Tiếp bị giặc phát hiện, chúng cưỡng bức o, buộc dây xích vào người rồi kéo đi học đường. Mẹ Mít nhìn con gái bị hành hạ, mẹ vẫn phải lặng im và khóc thầm lặng lẽ.

Con trai và con dâu thứ sáu của mẹ Mít tiếp tục hy sinh. Lần này thì mẹ không được khóc nữa vì mẹ còn phải dành sức nuôi hai đứa cháu nhỏ. Khi nhận giấy báo tử của con trai thứ sáu, tóc mẹ bạc trắng chỉ sau một đêm...

Trong khi chồng con vắng nhà tham gia chiến đấu, người mẹ chỉ cao hơn 1,4m và nặng khoảng 35kg hồi ấy đã canh tác hai mẫu ruộng bằng bàn tay và tấm lưng trần để hỗ trợ bộ đội. Đêm về, mẹ thức đào hầm. Mẹ bị chúng bắt và tra tấn. Mẹ thầm nghĩ rằng: “Mẹ không thể gục xuống khi đất nước chưa về một mối và còn rất nhiều người đang chiến đấu.

Con trai thứ ba của mẹ là anh Nguyễn Văn Ban cũng tham gia chiến đấu và bị tra tấn nát bấy hết da thịt. Con trai anh Nguyễn Văn Ban là chiến sĩ Nguyễn Năng Thành cùng gia nhập quân Giải phóng. Anh Thành cũng hy sinh…

Sau ngày Giải phóng, mẹ đứng lặng nhìn bàn thờ và khóc: “Các con hy sinh vì đất nước, mẹ tự hào bao nhiêu thì mẹ cũng đau khổ bấy nhiêu. Bao công lao nuôi nấng con khôn lớn mà đến lúc con chết mẹ cũng không được nhìn mặt lần cuối”.

Chồng và những người con của mẹ Mít hy sinh, có người còn chưa tìm được thi hài, có người còn không có lấy ảnh thờ mặt thật… Nỗi đau một mình mẹ chịu, khuôn mặt con một mình mẹ nhớ.

Những năm cuối đời, mẹ có một ước nguyện là tìm được thi hài người con út Nguyễn Thành đã hy sinh ở chiến khu Ba Lòng, Đakrông, Quảng Trị. Gia đình, đồng đội đã cố gắng hết sức nhưng cho đến khi mẹ mất, ước nguyện này vẫn không thể thành.

Di nguyện của mẹ Mít là sau khi mất, được thờ cùng chồng và các con tại chính ngôi nhà của mẹ. Mẹ Mít và hàng chục ngàn mẹ Việt Nam anh hùng, họ là minh chứng rằng dân tộc Việt Nam đã tồn tại những điều hơn cả sự vĩ đại….

Nhiều người cứ bảo rằng, tại sao cứ phải nhắc lại lịch sử làm gì? Tại sao không để vết thương qua mau?

Nhưng, vết thương bình thường còn để lại sẹo trên da thịt nữa là vết thương trong lòng. Trị những vết sẹo, người ta có thể bôi nghệ hay thẩm mỹ để lành. Còn những vết thương trong lòng thì không có thứ gì xóa tan được, chúng âm thầm tồn tại trong trái tim những người còn sống, chúng để lại một “vết sẹo” không bao giờ lành trong tâm trí, chúng khắc ghi một thời khói lửa bão tố không gì mô tả được… 

Nhắc lại những vết thương ấy, để tránh vô vàn những vết thương khác có thể sẽ đến thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta. Nhắc lại những vết thương ấy để trân trọng và chống lãng quên.

Chúng ta, những người không chịu những vết thương ấy, thì không bao giờ hiểu được.

TK-ST

CHIÊU TRÒ TẨY TRẮNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ĐỒNG ĐÔ LA NHƠ NHỚP, BẨN THỈU.!.!.!.

         Mới đây nhiều tờ báo ca ngợi em Tăng Vân Khanh, học sinh lớp 12 Văn, trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi, Hải Dương vừa đỗ 7 trường Đại học Mỹ danh giá và được cấp các mức học bổng với tổng trị giá lên đến hơn 25 tỷ đồng từ một bài luận 650 từ viết về người Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là em đã tư duy theo cách gọi của người Mỹ về "cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam" là “Cuộc chiến tranh Việt Nam". Tôi cứ đặt câu hỏi ai đã dạy em cách gọi ấy và không biết gia đình, dòng họ em có ai hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không nhưng rõ ràng đây là một chiêu trò tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của người Mỹ khi họ chọn chủ đề du học là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam!

Rõ ràng là, 21 năm Mỹ xâm lược Việt Nam, chia đôi đất nước để dễ bề thôn tính, hàng triệu người Việt Nam đã đổ máu để đổi lấy thống nhất, độc lập trước 1 đội quân đế quốc xâm lược. Thế mà, không biết tự bao giờ mà một bộ phận giới trẻ Việt Nam hôm nay như Tăng Vân Khanh lại có thể gọi là "Cuộc chiến tranh Việt Nam? rồi ngày mai, ngày kia những đứa con của Tăng Vân Khanh có tiếp tục được chính người mẹ các cháu có dạy cho các cháu như vây không. Nếu đúng như thế thì thật là đau buồn! 

Tôi còn nhớ, Cách đây 27 năm, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; rạng sáng ngày 12/7/1995 (giờ Việt Nam), Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Đây là kết quả của một hành trình dài với những nỗ lực bền bỉ của cả hai bên quyết tâm gác lại quá khứ hướng tới tương lai, từ một cựu thù đến nay hai nước đã trở thành đối tác toàn diện. 

Tuy nhiên, sau 27 năm bình thường hóa quan hệ, những gì Mỹ mong muốn ở Việt Nam đang nằm ngoài sức tưởng tượng của đa số người Việt Nam bởi trước mắt chúng ta, những người dân Việt Nam chỉ nhìn thấy bức tranh kinh tế của nó nhưng sẽ không hiểu hết đằng sau đó Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam. 

Đầu tiên chúng ta hãy nhớ lại, sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam, giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố: 30 năm sau người Mỹ sẽ trở lại Việt Nam không phải bằng bom đạn mà bằng Dollas và người Việt Nam sẽ phải chào đón họ như những người anh hùng...

Trong một lần sang thăm Việt Nam, Tổng thống Binclinton cũng từng nhắc lại ý định này trước hàng nghìn sinh viên các trường Đại học Việt Nam rằng "những gì mà người Mỹ trước đây chưa thực hiện được ở Việt Nam thì chính những thế hệ người Việt Nam sau này sẽ thay họ thực hiện nó..." Vậy thì những gì họ chưa thực hiện được mà họ mong muốn những thế hệ người Việt thay họ thực hiện??? 

Mỹ đã từng xâm lược Việt Nam và họ đã thất bại, những người đã từng làm tay sai tiếp tay cho Mỹ cũng thất bại và đó cũng là điều mà họ muốn một bộ phận người Việt Nam hôm nay và mai sau tiếp tục làm tay sai cho họ lần nữa. Muốn đạt được mục đích đó không có con đường nào duy nhất ngoài việc tác động chuyển hóa tư tưởng bằng đầu tư giáo dục, về lâu dài những con người ấy sẽ nắm giữ các vị trí quan trọng trong Đảng, Nhà nước họ có thể dưới sự điều khiển, dật dây của Mỹ làm chuyển hóa toàn bộ hệ tư tưởng hiện nay của chúng ta.

Để thực hiện mục tiêu này, Năm 2016, Đại học Fulbright Việt Nam được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên khi tiến hành các hoạt động giáo dục họ đã cương quyết không đưa các môn Lý luận Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình dạy học đồng thời mở ra các ngành, chuyên ngành đào tạo theo hơi hướng giá trị thực dụng phương tây, xã hội dân sự... Thực chất là nhằm tới phá vỡ nền tảng XHCN đưa một thế hệ người Việt theo học mang nặng tư duy sùng bái Mỹ, thậm chí có tư tưởng chống lại chế độ hoặc ngấm ngầm hoặc công khai.

Hàng năm, Mỹ chi tới 5 triệu USD/năm từ cái gọi là "Quỹ Sáng kiến Thủ lĩnh Trẻ Đông Nam Á" (Yseali) để thành lập Học viện Yseali tại Việt Nam. Quỹ này trong chuỗi hoạt động của cựu Tổng thống Barack Obama "nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo và kết nối trong ASEAN" nhưng nó chỉ là vỏ bọc để tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo mầm mống cho cái gọi là các nhà dân chủ và các tổ chức "xã hội dân sự" - mầm mống của những cuộc cách mạng màu mà nó đã từng diễn ra ở các nước Liên Xô, Đông Âu và đã lật đổ thành công CNXH ở đây, điển hình của sự bất ổn hiện nay như Tunisia, Ucraina và nhiều nước trên thế giới. Trong suốt quá trình bình thường hóa quan hệ, Mỹ luôn tìm mọi cách can thiệp vào lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo của Việt Nam, thậm chí luôn dung túng những kẻ bất mãn chống lại nhà nước Việt Nam thì câu hỏi đặt ra Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam đã quá rõ. Hiện chúng ta có trên dưới 30.000 sinh viên đang học tập tại Mỹ và rất có thể các em lại là những phương tiện, tai sai đắc lực cho Mỹ mà việc đầu tiên là tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam băng chính những đồng USD dơ bẩn/.
Yêu nước ST.