Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

NHÌN LẠI LỊCH SỬ "CHIẾN DỊCH RẢI CHẤT ĐỘC HÓA HỌC-OPERATION RANCH HAND CỦA MỸ TRONG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM".

 

Chiến dịch Operation Ranch Hand kéo dài từ năm 1962 đến năm 1971 đã phun khoảng 76.000m3 thuốc diệt cỏ và thuốc làm rụng lá cây ở các vùng nông thôn miền Nam Việt Nam trong nỗ lực nhằm hủy hoại nguồn cung cấp thực phẩm và các vùng rừng núi là nơi quân Giải Phóng làm nơi trú ẩn. Các khu vực khác của Lào và Campuchia cũng bị phun thuốc này nhưng với nồng độ thấp hơn.
Trong suốt 10 năm của chiến dịch phun thuốc diệt cỏ hoặc rụng lá cây nằm trong chiến dịch Ranch Hand, đã có khoảng 20.000km2 rừng ở Việt Nam đã bị rải chất khai quang với khoảng 2.000km2 rừng bị tàn phá nặng nề hoặc bị hủy diệt hoàn toàn và khoảng 20% diện tích rừng ở Việt Nam bị rải chất khai quang ít nhất một lần.
Thuốc diệt cỏ hay thuốc làm rụng lá cây được dùng trong chiến dịch Operation Ranch Hand cao hơn gấp 50 lần so với tỉ lệ dùng trong nông nghiệp và phần lớn thuốc này chứa nhóm TDCC có công thức hóa học là 2,3,7,8-TC DD – 2,3,7,8 Tetrachlorodibenzo-p-dioxin hay còn gọi là Dioxin là độc nhất.
Chất độc da cam là một chất lỏng trong suốt, nó còn được gọi là “chất da cam” – Agent Orange vì những thùng phuy dùng để vận chuyển nó được vẽ các sọc có màu da cam. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất diệt cỏ được dùng trong thời kỳ này: “chất xanh” (Agent Blue, cacodylic acid), “chất trắng” (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), “chất tím” (Agent Purple) và “chất hồng” (Agent Pink) và chất độc da cam có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ.
Trong chiến dịch Pink Rose – Operation Pink Rose vào tháng năm 1967 ở khu vực Tây Ninh và An Lộc, quân đội Mỹ đã sử dụng máy bay C-123 Provider phun chất làm rụng lá cây 2 lần và chất làm khô 1 lần. Sau đó dùng 10 tốp máy bay B-52, mỗi tốp 3 chiếc mang 42 quả bom chùm M-35 và ném vào khu vực , những quả bom này phát nổ sẽ gây cháy khủng khiếp, đốt trụi và phá hủy mọi thứ kể cả những công sự ngầm của quân Giải Phóng.
Với mức độ dùng là 35 lít /10.000m2, Các dấu hiệu về lá cây sẽ xuất hiện chỉ vài ngày ở khu vực bị rải thuốc, và trong 2 tuần sau đó, lá sẽ chuyển sang vàng úa và bắt đầu rụng. Trong 2-4 tháng sau, toàn bộ khu vực sẽ trở nên hoàn toàn cằn cõi và trụi lá. Tuy nhiên quân đội Mỹ đã dùng với liều lượng đến 60 lít / 10.000m2 để đẩy nhanh tốc độ phá hủy cây cối.
Đầu tháng 11 năm 1961, bộ chỉ huy Không Quân Mỹ đã cấp 6 chiếc máy bay C-123 Provider để bắt đầu tiến hành chiến dịch phun chất khai quang với tên gọi là Operation Ranch Hand, các phi hành đoàn và chuyên viên được đào tạo tại Phi Đội 4400–4400th Combat Crew Training Squadron. 3 máy bay đầu tiên đến sân bay Tân Sơn Nhất ngày 7 tháng 1 năm 1962.
Ngày 10 tháng 1 đã tiến hành chuyến phun thử đầu tiên và ngày 13 tháng 1 đã tiến hành nhiệm vụ chính thức đầu tiên.
Tháng 12 năm 1963, chiến dịch Operation Ranch Hand bắt đầu tiến hành thử nghiệm các chuyến bay rải thuốc vào ban đêm nhằm tránh hỏa lực phòng không của quân Giải Phóng.
Tháng 7 năm 1964, Ranch Hand được giao cho phi đội biệt kích số 309 thuộc nhóm vận tải 315 – 309th Air Commando Squadron, 315th Troop Carrier Group. Tháng 12 năm 1965, Ranch Hand được chuyển từ Tân Sơn Nhất đến sân bay Biên Hòa và phạm vi hoạt động được mở rộng đến tận Lào. Tháng 5 năm 1966, số lượng máy bay C-123 được tăng thêm 11 chiếc để làm nhiệm vụ rải chất độc.
Tháng 6 năm 1966 đã ghi nhận máy bay của chiến dịch Operation Ranch Hand bị bắn hạ lần đầu tiên ở Quảng Trị nhưng 3 người thuộc phi hành đoàn đã được trực thăng cứu thoát. Ngày 15 tháng 10 năm 1966, Ranch Hand trở thành phi đội biệt kích số 12.
Trong năm 1967, chiến dịch Ranch Hand tiến hành 18-27 phi vụ mỗi ngày với 3-4 máy cho mỗi nhiệm vụ. Mỗi máy bay mang thùng phi chứ 3.785 lít chất độc được nối với vòi phun dưới cánh và đuôi. Máy bay bay chậm và thấp nhất có thể, mỗi máy bay phun ra làn hơi chiều ngang hơn 8m và dài đến gần 20km. Mỗi máy bay có phi hành đoàn 3-4 người và 1 người Việt Nam làm nhiệm vụ quan sát.
Ngày 1 tháng 8 năn 1968, Ranch Hand được đổi tên thành phi đội đặc biệt số 12 – 12th special Operations Squadron (12 SOS) và từ tháng 2 năm 1969 đã chuyển từ sân bay Biên Hòa đến Phan Rang và đến tháng 5, Ranch Hand bắt đầu nhận những chiếc máy bay UC-123K được trang bị thêm 2 động cơ phụ làm nhiệm vụ phun thuốc.
Năm 1969, Operation Ranch Hand áp dụng chiến thuật mới với việc sử dụng thêm máy bay A-1 Skyraiders làm nhiệm vụ hộ tống và máy bay F-4 lãnh nhiệm vụ tấn công sau khi tiến hành phun thuốc. Chiến thuật này đã làm giảm sự thiệt hại do máy bay phun thuốc bị bắn từ dưới đất. Trung bình mỗi tháng trong tháng 9, Ranch Hand tiến hành 400 phi vụ mỗi tháng và giảm dần chỉ còn 43 phi vụ mỗi tháng trong năm 1970.
Ngày 7 tháng 1 năm 1971, chiến dịch phun thuốc làm rụng lá cây Operation Ranch Hand tiến hành phi vụ cuối cùng và chính thức giải tán vào tháng 2 năm 1971.
Chiến dịch Operation Ranch Hand không chỉ làm ảnh hưởng đến môi trường, con người ở Việt Nam mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các binh lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam.Đến nay ở Việt Nam vẫn còn hàng triệu nạn nhân đang chịu sự dày vò của chất độc da cam, hàng trăm nghìn trẻ em bị dị tật với bao cuộc đời bất hạnh. Như các cựu binh lính Mỹ đang là nạn nhân của chất độc da cam đã viết : “Tôi đã bị giết trong chiến tranh Việt Nam nhưng đến giờ vẫn chưa chết được."
Theo công bố trên tạp chí Nature thì chiến dịch phun chất độc hóa học ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới.Trong thời gian 10 năm đó, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã rải 76,9 triệu lít hóa chất xuống rừng núi và đồng ruộng Việt Nam. Trong số này có 64% là chất độc da cam, 27% là chất màu trắng, 8,7% chất màu xanh và 0,6% chất màu tím. Tổng lượng Dioxin vào khoảng 370Kg. Cần lưu ý rằng một nghiên cứu năm 2002 của trường đại học Colombia đã tính rằng chỉ 80 gram Dioxin pha vào nước uống sẽ giết sạch người dân của cả 1 thành phố với 8 triệu dân.
Các cơ quan y tế ở Việt Nam ước tính khoảng 400.000 người đã bị giết hoặc tàn tật, khoảng 500.000 trẻ em sinh ra bị dị dạng, dị tật bởi chất độc hóa học này. Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam ước lượng khoảng 1 triệu nạn nhân Việt Nam đã bị tàn phế hoặc bệnh tật vì chất độc da cam.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng đâu đó sau những ngôi nhà hay những lũy tre làng xanh ngắt, những cánh đồng bát ngát vẫn còn biết bao người lính Việt Nam cũng như gia đình họ đang phải âm thầm chịu đựng những mất mát, những di chứng của cuộc chiến tranh “hóa học” mà đế quốc Mỹ đã gây ra.Vẫn mãi còn đó những nỗi đau mang tên da cam...
Ảnh : Đại đội hóa chất số 184 thuộc sư đoàn 1 Không Vận bơm thuốc diệt cỏ cho trực thăng Uh-1B Huey tiến hành phun ở thị trấn Phước Vĩnh ngày 20 tháng 3 năm 1970 trong chiến tranh Việt Nam.
Linh Chi
Có thể là hình ảnh về 1 người
Thích
Bình luận
Chia sẻ

VÌ SAO ÔNG HUN SEN QUYẾT ĐỊNH CHỌN VIỆT NAM ĐỂ KÊU GỌI SỰ GIÚP ĐỠ?


Ông Samdech Hun Sen quyết định chọn Việt Nam để kêu gọi sự giúp đỡ trong hoàn cảnh khó khăn nhất, gian nguy nhất. Lịch sử đã chứng minh rằng quyết định của ông Hun Sen hoàn toàn đúng đắn
Cách đây 45 năm, (20/6/1977-20/06/2022), Thủ tướng Campuchia Hun Sen, lúc đó là Trung tá trong hàng ngũ của Pol Pot cùng với một số đồng đội đã buông súng, băng rừng, vượt suối sang Việt Nam, với ước vọng đánh tan chế độ diệt chủng Pol Pot, cứu người dân Campuchia đang đứng bên bờ vực của diệt chủng. Nhờ sự giúp đỡ chí cốt, chí tình của quân và dân Việt Nam, ông Hun Sen cùng với các đồng đội đã từng bước xây dựng lực lượng vũ trang trong nước và cùng quân tình nguyện Việt Nam lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot ngày 07/01/1979, cứu hàng triệu người dân Campuchia thoát khỏi “lưỡi hái của tử thần”, mang lại hòa bình và thịnh vượng cho Campuchia như ngày hôm nay.
Nhân dịp này, phóng viên VOV thường trú tại Campuchia đã có cuộc trò chuyện với ông Long Dany, Giám đốc trung tâm tư liệu Koh Thmor, Trung tâm tư liệu quốc gia Campuchia về ý nghĩa lịch sử của sự kiện Thủ tướng Hun Sen ra đi tìm đường cứu nước.
PV: Ông có thể cho biết về ý nghĩa của hành trình tìm đường cứu nước của Thủ tướng Hun Sen cách đây 45 năm (20/6/1977-20/06/2022)?
Ông Long Dany: Theo tôi, đây là một sự kiện rất quan trọng, đánh dấu thời điểm bắt đầu quá trình chiến đấu, hi sinh đầy gian khổ của Samdech Hun Sen và các nhà lãnh đạo khác vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đánh đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ.
Đó cũng là dấu mốc lịch sử quan trọng khi ông Samdech Hun Sen quyết định chọn Việt Nam để kêu gọi sự giúp đỡ trong hoàn cảnh khó khăn nhất, gian nguy nhất. Lịch sử đã chứng minh rằng quyết định của ông Hun Sen hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt khi đặt niềm tin vào những người bạn Việt Nam, những người đã giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng dưới ách thống trị bạo tàn của bè lũ Pol Pot.
Ông Hun Sen từng khẳng định rằng, ông sẵn sàng lấy sinh mạng của mình để làm vốn chiến đấu lật đổ chế độ Pol Pot, mang lại sự sống cho cả dân tộc Campuchia.
PV: Ông có đánh giá như thế nào về sự giúp đỡ của những người bạn Việt Nam trong thời điểm lịch sử quan trọng này ?
Ông Long Dany: Trong quá trình giải phóng Campuchia, cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, Việt Nam giữ vai trò hết sức quan trọng. Nếu như không có những người lính tình nguyện Việt Nam xuất hiện, không có sự giúp đỡ từ Việt Nam thì quân giải phóng Campuchia khi đó còn non nớt, lực lượng mỏng, yếu, rất khó có thể đánh đổ được chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Mặc dù đất nước Việt Nam khi đó cũng vừa mới bước ra từ một cuộc chiến tranh, nhưng đã bất chấp khó khăn, hy sinh cả xương máu để giúp đỡ Campuchia, nhân dân Campuchia luôn luôn ghi nhớ công lao này.
Việc lật đổ chế độ Pol Pot có giá trị vô cùng to lớn và không gì có thể so sánh được, bởi việc này đã cứu giúp hơn 5 triệu người dân Campuchia còn lại được sống. Cũng từ đây mà đất nước Campuchia đã được hồi sinh và phát triển như ngày nay
PV: Lịch sử 45 năm qua đã chứng minh, từ những nền móng đầu tiên mà Thủ tướng Hun Sen đã tạo lập, quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam – Campuchia đang ngày càng phát triển. Vậy theo ông, các lớp thế hệ sau này cần làm gì để tiếp tục gìn giữ và phát huy mối quan hệ ấy?
Ông Long Dany: Với tư cách là một nhà nghiên cứu, tôi thấy rằng sự thật lịch sử luôn giữ một vai trò quan trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu về lịch sử sẽ giúp cho các thế hệ trẻ hiểu biết và có những suy nghĩ, nhận xét chính xác của mình. Việc nghiên cứu và giáo dục về tội ác của chế độ diệt chủng là hết sức quan trọng. Nếu chúng ta hiểu rõ về tội ác của Pol Pot, chúng ta sẽ biết đánh giá, biết tìm cách ngăn chặn không cho những hành động bạo tàn này quay trở lại Campuchia, ASEAN hay bất kỳ đất nước nào trên thế giới.
Cùng với đó, chúng ta cần phải tăng cường nghiên cứu, học tập lịch sử, đặc biệt là mối quan hệ keo sơn giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Campuchia. Nếu như thế hệ trẻ hai nước hiểu về lịch sử thì sẽ càng hiểu nhau hơn, gần gũi nhau hơn và mối quan hệ giữa nhân dân hai nước Campuchia – Việt Nam sẽ ngày càng phát triển bền chặt hơn nữa.

LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM 21/6



Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21/6 là ngày kỷ niệm, tri ân các nhà báo đã cống hiến trí tuệ, sự nhiệt thành, đôi khi là cả máu và nước mắt, để độc giả có những tác phẩm báo chí hay, những thông tin kịp thời, chính xác...
Báo chí cách mạng đã góp phần không nhỏ trong việc phát huy tinh thần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam, từ năm 1860 đã có một số tờ báo lần lượt ra đời tại Sài Gòn, Hà Nội và một vài địa phương khác. Những năm đầu thế kỷ XX, hàng loạt tờ báo của người Việt Nam được xuất bản, tập hợp nhiều nhà văn, nhà báo, nhà trí thức theo từng nhóm nhỏ nhưng có các khuynh hướng chính trị khác nhau, nên không thể tập hợp vào chung một tổ chức thống nhất.
Đến ngày 21/6/1925, tại số nhà 13 đường Văn Minh, Quảng Châu (Trung Quốc), báo “Thanh niên” do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, ra mắt số đầu tiên thì dòng báo chí cách mạng Việt Nam mới bắt đầu hình thành. Tại đây, báo được chuyển về nước bằng nhiều con đường bí mật và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam; về sau Báo Thanh niên được coi là Cơ quan ngôn luận của tổ chức “Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội).
Ngày 02/6/1950, Chính phủ chính thức quyết định cho thành lập Hội “Những người viết báo Việt Nam” (Hội Nhà Báo Việt Nam ngày nay).
Đến tháng 7/1950, Tổ chức Báo chí quốc tế (OIJ) nhóm họp ở Phần Lan đã công nhận Hội những người viết báo Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức. Năm 1951, báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng bắt đầu xuất bản, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Sinh hoạt nội bộ, Báo Quân đội Nhân dân ra đời.
Tháng 02/1985, theo đề nghị của Hội Nhà báo Việt Nam, Ban Bí thư Trung ương Ðảng ra Quyết định số 52 - QĐ/TW, ngày 05/02/1985 lấy ngày ra số đầu tiên của báo Thanh Niên làm ngày Báo chí Việt Nam (21/6/1925); nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm xã hội của báo chí, thắt chặt mối quan hệ giữa báo chí với công chúng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí.
Ngày 21/6/1985, lần đầu tiên giới báo chí cả nước tổ chức Lễ kỷ niệm ngày Báo chí Việt Nam và kỷ niệm 60 năm Báo Thanh Niên xuất bản số đầu tiên. Ðây là ngày lễ không chỉ của riêng giới báo chí mà là ngày lễ của nhân dân cả nước, vì báo chí cách mạng là sự nghiệp của toàn dân.
Ngày 21/6/2000, nhân kỉ niệm 75 năm ngày Báo chí Việt Nam, theo đề nghị của Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đồng ý gọi ngày Báo chí Việt Nam là “Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam”. Từ đó, với nhiều người, ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6 có ý nghĩa quan trọng và to lớn.
Suốt chặng đường lịch sử cách mạng của Đảng và Dân tộc ta, 97 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Báo chí cách mạng luôn là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trên mặt trận tư tưởng – văn hóa ; là công cụ sắc bén góp phần quan trọng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân và phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền, kịp thời lan tỏa để mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước sớm đi vào cuộc sống, kịp thời đưa tin, phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, phát huy những giá trị tốt đẹp, nhân tố mới, mô hình hiệu quả, cách làm hay, biểu dương gương người tốt, việc tốt, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, tiêu cực, góp phần tích cực đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; đấu tranh và phê phán những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Qua đó cùng tạo sự đồng thuận trong nhân dân, góp phần để xây dựng và bảo vệ tổ quốc./.

BÁO CHÍ QUÂN ĐỘI VỚI VAI TRÒ GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


Nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân đang đặt ra yêu cầu cấp bách về phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí cách mạng nói chung, báo chí quân đội nói riêng trong bối cảnh mới. Đây là vấn đề thời sự cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với tất cả các loại hình báo chí cách mạng, là lương tâm, danh dự và trách nhiệm của mỗi nhà báo đối với việc không để báo chí cách mạng “phai màu”, “chệch hướng” xã hội chủ nghĩa.
Báo chí quân đội là một bộ phận quan trọng của báo chí cách mạng, là mạch máu trong cơ thể Đảng ta. Cùng với sự lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, báo chí quân đội không ngừng phát triển, lớn mạnh và trưởng thành. Quy mô, tổ chức, lực lượng, loại hình, phương thức hoạt động đều có chuyển biến tích cực; ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa - xã hội và đời sống bộ đội. Hiện nay, trong quân đội có 49 cơ quan báo chí được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động, bao gồm các loại hình: Báo in, báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình) và báo điện tử. Trong đó, nhiều cơ quan báo chí có bề dày truyền thống, có uy tín lớn, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng trong toàn quân, toàn quốc, đó là: Báo Quân đội nhân dân; Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội... Cùng với đó, hệ thống cơ quan báo chí trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng là báo đài của các quân khu; quân chủng, binh chủng, học viện, nhà trường và các tạp chí trực thuộc một số đầu mối đơn vị lớn, đặc thù.
Trong những năm qua, báo chí quân đội đã làm tốt vai trò giám sát và phản biện biện xã hội trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, có những đóng góp tích cực trên mặt trận chính trị, tư tưởng - văn hóa, quân sự, quốc phòng, an ninh và đối ngoại quốc phòng, góp phần động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ toàn quân và nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng... Các đơn vị báo chí quân đội đa phương tiện, đa ngôn ngữ (tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Lào, tiếng Khơ me…) đã đăng tải nhiều tin bài, hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam, giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ đường lối đối nội, đối ngoại và chính sách quốc phòng, an ninh, nhất là chính sách “bốn không” của Đảng, Nhà nước ta, không để xảy ra sai sót, sai lệch chuẩn mực, vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội.
Để hoàn thành sứ mệnh của mình, báo chí quân đội cần tập trung làm tốt những vấn đề chính sau đây:
Thứ nhất, khai thác hiệu quả thế mạnh về hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị chuyên ngành đã được trang bị, sử dụng một cách khoa học các phương tiện tuyên truyền hiện có và mạng xã hội để thông tin, định hướng dư luận, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, chống “phi đảng báo chí cách mạng”, “phi chính trị hóa” quân đội.
Lực lượng báo chí quân đội vừa là nhà báo, vừa là quân nhân cách mạng nên trách nhiệm giám sát và phản biện xã hội - quân sự rất cao, mỗi phát ngôn, lời nói, bài viết phải chuẩn mực, hiệu quả bởi nó luôn luôn đúng, trúng, có sức thuyết phục cao, sự cảm hóa lớn. Uy tín, vị thế, bản lĩnh, phẩm chất nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện sâu sắc ở thái độ, trách nhiệm giám sát và phản biện xã hội trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của nhà báo.
Mỗi thông tin đưa lên mặt báo, các phương tiện thông tin đại chúng là lương tâm, trách nhiệm của “Bộ đội Cụ Hồ”. Nó không còn là sản phẩm cá nhân, của riêng tác giả, mà là thái độ, quan điểm, sản phẩm của tập thể, của cơ quan báo chí, suy rộng ra, nó là quan điểm của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, là hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.
Thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục, trình độ lý luận chính trị sắc bén, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, tác phong quân sự cho cán bộ, phóng viên, biên tập viên và những người làm việc trong quy trình tạo ra các sản phẩm báo chí, góp phần thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội hội trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đúng tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng.
Cùng với việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; giám sát và phản biện xã hội - quân sự là đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý, rèn luyện đội ngũ phóng viên, biên tập viên; có cơ chế bảo vệ những nhà báo có ý tưởng sáng tạo, có tư duy phản biện khoa học sắc sảo, dám xung kích, dấn thân vào việc khó, không ngừng thi đua sáng tạo để tìm ra phương pháp, cách làm hay, có chiều sâu trong giáo dục, tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ; làm cho công tác này có tính thuyết phục cao, ăn sâu, bám rễ và đọng lại những điều tốt đẹp trong công chúng và bộ đội; đồng thời, thức tỉnh, cảnh báo, răn đe các đối tượng thiếu thiện chí, bất mãn, thù địch.
Thứ ba, hình thành thói quen phát triển tư duy phản biện khoa học, nâng cao nhận thức lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội - quân sự và định hướng chính trị.
Báo chí quân đội tuyệt đối vững vàng trong mọi tình huống, trước hết là vững vàng về chính trị, tư tưởng và đạo đức. Tích cực, tự giác nghiên cứu, học tập, trau dồi lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn của nhà báo. Nó không chỉ là yêu cầu, nhiệm vụ mà còn là tư cách nhà báo - chiến sĩ trong đội hình báo chí cách mạng hiện nay.
Thứ tư, báo chí quân đội cần có cách nhìn mới, cách làm hay, bao quát, toàn diện trong thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội về các vấn đề quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc gắn với thực tiễn xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là một trong những phương cách hữu hiệu nhất để phân biệt rõ đúng sai, phải trái, tốt xấu; qua đó khơi dậy niềm tự hào dân tộc, khát vọng, tầm nhìn, hệ giá trị văn hóa con người Việt Nam và phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.
Trong khi thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, báo chí quân đội phải đồng thời làm tốt hơn nữa vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với chính bản thân mình trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đúng tinh thần “tự phê bình”, “tự soi, tự sửa” để tiến bộ; tuyệt đói không để chệch hướng chính trị của Đảng.
Thứ năm, phát huy vai trò thực hiện giám sát và phản biện xã hội trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, báo chí quân đội cần đổi mới nội dung, hình thức các chuyên trang, chuyên mục, phấn đấu để nội dung, hình thức thông tin, tuyên truyền ngày càng thêm phong phú, sinh động, giàu sức sống.
Uy tín, vị thế của nhà báo là ở đó; giá trị của từng bài viết là ở đó!.
Phát huy phẩm chất, vai trò tiên phong của đội ngũ nhà báo - chiến sĩ - “Bộ đội Cụ Hồ” trong thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là điều kiện tốt để nhà báo “tự soi, tự sửa”, có “tâm sáng, lòng trong, bút sắc”, không bị lây nhiễm bởi các loại “vi rút độc hại” của thời kinh tế thị trường, bị gục ngã, hy sinh bởi “viên đạn bọc đường”, mất danh, mất giá, mất niềm tin yêu. Nhờ đó, báo chí quân đội tiếp tục phát triển theo hướng cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, có đóng góp thiết thực vào sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam, góp phần xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh” tiến lên hiện đại; xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân./.
NHÂN VĂN

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TÍNH ĐẢNG TRONG NỀN BÁO CHÍ CÁCH MẠNG !


Nhiều học giả tư sản cho rằng, muốn có tự do báo chí, tự do ngôn luận thì không những phải cho báo chí tư nhân hoạt động, mà không để báo chí bị chi phối, ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị.
Thậm chí họ cho rằng, sở dĩ Việt Nam không có tự do báo chí, tự do ngôn luận bởi xuất phát từ nền chính trị nhất nguyên, bởi "chế độ độc đảng" can thiệp vào hoạt động báo chí. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, vô căn cứ. Bởi lẽ, không có một nền báo chí nào hoàn toàn đứng ngoài chính trị, vô chính trị như các luận điệu thù địch xuyên tạc, rêu rao.
Tính đảng trong thông tin báo chí là hiển nhiên
Trong giao tiếp hằng ngày, khi chúng ta nghe lại câu chuyện từ ai đó, thì người kể câu chuyện đều có thái độ rõ ràng, khen hay chê, đồng tình hay phản đối, cho dù thái độ ấy có thể không bộc lộ trực tiếp, nhưng các chi tiết câu chuyện thì bộc lộ rõ ràng chủ định của người kể. Nhà văn sáng tạo tác phẩm cũng vậy, hình tượng nhân vật cùng hệ thống chi tiết trong tác phẩm biểu hiện thái độ, quan điểm của tác giả. Nhưng trong văn học lại có chuyện, khi nhân vật-hình tượng nghệ thuật đã “trưởng thành” thì có thể tự “phát tác” mà nhà văn khó "quản trị" được. Còn trong sáng tạo tác phẩm báo chí, toàn bộ chi tiết, số liệu, nhân vật, kể cả ngôn từ, giọng điệu... đều được nhà báo “quản trị” chặt chẽ. Cái đó người ta gọi là tính khuynh hướng. Tính khuynh hướng hình thành một cách tự nhiên trong phản ánh cuộc sống, trong thông tin thực tế về những gì đã và đang diễn ra.
Trong báo chí, phản ánh thực tế bao giờ cũng có những thuộc tính vốn có của nó. Đó là, phản ánh cái khách quan và phản ánh luôn mang tính mục đích, vì lợi ích nào đó; và tất nhiên là người phản ánh, đưa ra thông tin không thể làm hại đến lợi ích của bản thân mình. Phản ánh do đó có tính chọn lọc. Việc chọn lọc này vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và thể hiện năng lực của chủ thể sáng tạo, tức là “gói được” bức tranh hiện thực trong phạm vi phản ánh và làm nổi bật bản chất sự kiện, vấn đề thông tin.
Những thuộc tính vốn có này, xét cho cùng, cũng trả lời câu hỏi: Phản ánh, thông tin để làm gì, vì lợi ích của ai? Vậy nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các nhà báo, khi cầm bút, phải tự trả lời được mấy câu hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Và cuối cùng mới viết như thế nào? Đây là những câu hỏi nằm lòng mà các nhà báo luôn ghi nhớ, bất kỳ anh ta làm việc ở cơ quan báo chí nào.
Bản chất hoạt động báo chí là hoạt động truyền thông đại chúng, hướng tới và phục vụ đông đảo công chúng, xã hội và vì lợi ích cộng đồng. Mỗi cộng đồng, xã hội đều do một giai cấp, một chính đảng thống trị/cầm quyền/lãnh đạo; sự vận động, phát triển xã hội ấy chịu sự chi phối quan điểm, chính sách của đảng cầm quyền. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, quan điểm/chính sách thời ông D.Trump làm tổng thống khác với thời ông J.Biden làm tổng thống, thậm chí có chính sách bài trừ nhau, mặc dù đều là do giai cấp tư sản thống trị. Báo chí Hoa Kỳ, về cơ bản thông tin theo định hướng chính sách của đảng cầm quyền thông qua quyết sách của tổng thống.
Như vậy, báo chí ý thức tự giác được quá trình thông tin đứng trên lập trường của đảng phái nào, thông tin vì lợi ích giai cấp nào, cái đó người ta gọi là tính giai cấp của báo chí. Khi báo chí nhận thức được rằng, thông tin phục vụ lợi ích của đội tiền phong và đại biểu lợi ích trung thành của giai cấp, của chính đảng-đó gọi là tính đảng. Như vậy, tính đảng là sự biểu hiện tập trung nhất, đậm đặc nhất, tinh túy nhất của tính giai cấp. Đó là nhìn từ phương diện tư tưởng-chính trị.
Còn về lợi ích dân sinh, cần phải xem, lợi ích đó có đáp ứng nhu cầu lợi ích cơ bản, cấp bách của đông đảo nhân dân hay không. Vậy nên, dòng thông tin báo chí thể hiện sâu sắc tính đảng, nếu gắn chặt với tính nhân dân, tính dân tộc, thì báo chí sẽ quy tụ và thể hiện được sức mạnh thực tế. Lợi ích căn bản và cấp bách của nhóm xã hội lớn, được báo chí ủng hộ và bảo vệ, đồng thời báo chí sẽ khơi nguồn, hình thành dư luận xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng là lực lượng cầm quyền, lãnh đạo toàn dân xây dựng, phát triển đất nước theo cương lĩnh, đường lối và chính sách được hoạch định. Do đó, báo chí thông tin, tuyên truyền cho toàn dân hiểu và thực hiện, để biến quan điểm, chính sách ấy thành hiện thực cuộc sống; đồng thời, báo chí đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng vì nó làm phương hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của nhân dân, đất nước.
Trên cơ sở nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam công khai thừa nhận tính đảng trong báo chí và đã thiết lập các quan điểm nền tảng cho báo chí hoạt động; đồng thời thiết kế một nền báo chí cách mạng mà cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của tổ chức trong hệ thống chính trị. Đó là quan điểm nhất quán và là nền tảng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.
Báo chí cách mạng Việt Nam là một nền báo chí thể hiện rõ tính đảng, đồng thời mang đậm tính nhân dân, vì Đảng lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phục vụ nhân dân, vì sự phát triển của dân tộc. Đó cũng là nền báo chí thấm đẫm tính nhân văn, vì quyền và lợi ích chính đáng của công dân, vì sự phát triển con người. Đó cũng là nền báo chí thể hiện đạo đức cao cả, vì hệ giá trị dân tộc và chuẩn mực đạo đức cộng đồng, vì lợi ích công.
Với nhận thức như thế, làm sao có thể phủ nhận tính đảng của báo chí? Mặc dù không ít quan điểm từ phương Tây cho rằng, báo chí của họ đứng ngoài chính trị, đứng trên giai cấp và không can thiệp vào cuộc đấu tranh tư tưởng, nhưng thực tế thì ngược lại. Thậm chí ở Hoa Kỳ, cơ quan báo chí hay hãng truyền thông nào “thân cận” với đảng phái nào thì định hướng thông tin theo và phục vụ lợi ích chính trị của đảng ấy. Trong cuốn “Một nền báo chí không có tự do của chúng ta-100 năm phê bình truyền thông”, các tác giả đã đấu tranh, chỉ trích nhau và từ đó bộc lộ rõ thêm bản chất nền báo chí Hoa Kỳ. Trong thực tế, rất dễ nhận biết, báo chí Hoa Kỳ và báo chí phương Tây nói chung, khuynh hướng chính trị rất rõ ràng, phục vụ đường lối chính trị của giai cấp thống trị rất quyết liệt.
Một số biểu hiện cơ bản của tính đảng trong thông tin báo chí
Trước hết, về nội dung, yêu cầu của tính đảng trong hoạt động báo chí, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản đề cập, tựu trung lại có mấy vấn đề quan trọng: Một là, tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hai là, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước. Ba là, tuyên truyền, giáo dục tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đấu tranh bảo vệ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bốn là, đấu tranh chống những biểu hiện bảo thủ, lạc hậu, những thói hư tật xấu trong cộng đồng, những rào cản văn hóa trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
Trong bất kỳ thể chế xã hội nào, báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp, là phương tiện và phương thức đi đầu trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng; do đó, báo chí trong môi trường truyền thông số luôn phải thể hiện là phương tiện và phương thức siêu kết nối công chúng-xã hội, tức là tận dụng khả năng siêu kết nối của nền tảng số để kết nối nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của nhân dân vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích cộng đồng. Đó là quá trình báo chí, truyền thông đại chúng tham gia can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội đã và đang đặt ra. Trong quá trình này, lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước luôn được thể hiện như sợi chỉ đỏ, có tính nguyên tắc. Sức mạnh chính trị, lợi ích chính trị của Đảng, trước hết thể hiện ở niềm tin chính trị của nhân dân. Do đó, báo chí cách mạng cần phải đề cao trách nhiệm chính trị trong xây dựng, kết nối niềm tin từ công chúng và nhân dân. Đảng, Nhà nước đã nêu rõ quan điểm xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Cần tiếp tục nêu cao tính đảng trong thông tin báo chí
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định, phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng Đảng, vấn đề căn cốt là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, chống lạm dụng quyền lực, bởi lạm dụng quyền lực thì sẽ tha hóa quyền lực và dẫn đến tha hóa chế độ xã hội. Vậy nên, nêu cao tính đảng của báo chí trước hết là trách nhiệm chính trị của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Tất cả bộ máy trong hệ thống chính trị không được ngăn cản báo chí thực hiện vai trò giám sát xã hội, trong thực hiện chính sách công, trong thực thi công vụ và trong đấu tranh chống lợi ích nhóm dưới mọi hình thức. Mọi biểu hiện coi nhẹ, buông lỏng hoặc ngăn chặn vấn đề này, đều là suy giảm tính đảng của báo chí cách mạng.
Mặt khác, đội ngũ nhà báo cách mạng, trước hết là người đứng đầu cơ quan báo chí, cần không ngừng học hỏi nâng cao trình độ và giác ngộ chính trị, cập nhật kiến thức và kỹ năng làm nghề, kỹ năng quản trị cơ quan báo chí trong tình hình mới. Cùng với đó, cần quan tâm đào tạo, phát triển và có chính sách thích đáng cho đội ngũ nhà báo chính luận, để họ đủ năng lực và chuyên tâm viết những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự trên các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội. Thực tế cho thấy, luồng báo chí thông tin sự kiện trên báo chí chúng ta cập nhật khá tốt, nhưng luồng những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự góp phần đấu tranh tư tưởng, hướng dẫn dư luận xã hội cần phải nhanh nhạy, sắc bén, kịp thời, thuyết phục hơn nữa.
Khi có chính sách phù hợp, chúng ta sẽ có được đội ngũ nhà báo chính luận ngang tầm, góp phần tiếp tục nêu cao tính đảng hơn nữa của báo chí và qua đó góp phần xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng, hiện đại, chuyên nghiệp và nhân văn.

TÊN PHẢN ĐỘNG BĂNG HOẠI ĐẠO ĐỨC, TAY NHANH HƠN NÃO - HÀ SĨ PHU

 

Với tham vọng và hợm hĩnh đến mù quáng, Hà Sĩ Phu trở thành kẻ có mắt không tròng khi cho rằng Đảng không bao giờ tập hợp được trí thức, nhưng lại có vô vàn những cây đại thụ như Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng, Hoàng Minh Giám, Phạm Ngọc Thạch, Lương Đình Của, Vũ Khiêu, Nguyễn Văn Hiệu… Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ở miền Nam Việt Nam có luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, luật sư Trịnh Đình Thảo, các văn nghệ sĩ tài ba như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Cù Huy Cận, Trần Hoàn, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Xuân Hồng, Giang Nam… đã theo cách mạng, cống hiến suốt đời cho Tổ quốc, không ai vỗ ngực mình “trí thức”, chỉ những loại dở ông, dở thằng mới khoe khoang hợm hĩnh rồi đòi “Trí thức mới là nhân tố của tiến hóa, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo đất nước” như Hà Sĩ Phu rêu rao. Hàng ngàn, hàng vạn trí thức chân chính suốt gần 80 năm qua đã miệt mài làm việc vì dân, vì nước. Không có trí thức làm sao Đảng ta vạch ra được đường lối kháng chiến khôn ngoan, tài giỏi, “lấy ít đánh nhiều”, “lấy yếu địch mạnh” và cuối cùng đánh đuổi được mọi đội quân xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, kể cả những cuộc đọ sức gay cấn nhất như đánh B52 trên bầu trời Hà Nội, ngoài lòng dũng cảm còn phải có trí thức, mưu lược, trí tuệ.
Hà Sĩ Phu bênh vực tư bản, cho rằng họ xứng đáng được sống trên mồ hôi nước mắt xương máu của thợ thuyền, vậy y có biết nước Mỹ giàu nhất thế giới nhưng hiện vẫn có trên 16 triệu trẻ em đói ăn hàng ngày, hơn 2,5 triệu trẻ vô gia cư, mỗi năm 200.000 trẻ bị ngược đãi, 140.000 em thương tích, 1.500 em chết, 1.500.000 trẻ bị cha mẹ bỏ rơi, 500.000 trẻ bị tù đày, 120.000 phụ nữ bị giam; hằng năm trên 2.000 trẻ ra đời trong các nhà tù; khoảng 10.000 trẻ em và 30.000 người lớn chết vì súng đạn mỗi năm nhưng không thể cấm sở hữu súng vì nó đụng tới túi tiền của các nhà tư bản. Chỉ có ~1% người giàu sở hữu 99% của cải xã hội, 99% còn lại là những con rô-bốt bằng xương, bằng thịt chỉ hưởng ~1% để tồn tại. Thế mà Hà Sĩ Phu đòi đi theo tư bản để được “Phân phối hợp lý, công bằng” thì chỉ là giấc mơ trong lòng đất. Chính giáo sư người Mỹ Paul Mishler trường đại học bang Indiana đã viết: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học đều do lỗi hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”.
Hà Sĩ Phu còn vu cáo “Cộng sản gây nội chiến tang thương”. Vậy thử hỏi, trong 9 năm “1945-1954” Pháp đưa 445.000 quân Lê Dương vào quyết cướp nước ta một lần nữa, buộc toàn dân ta phải kháng chiến đến khi thực dân Pháp thua, phải trả lại độc lập cho Việt Nam là “nội chiến” hay sao? Đế quốc Mỹ thay chân Pháp đưa 55 vạn quân, bằng 77% lục quân, 66% thủy quân lục chiến và không quân, 14% hải quân, 6,5 triệu lượt binh sĩ sang xâm lược Việt Nam suốt 21 năm, riêng lính Mỹ bị tiêu diệt hơn 58.000 tên, 304.000 tên bị thương mà cũng là “nội chiến” hay sao? Chính đại tướng, Tổng tham mưu trưởng ngụy quyền Sài Gòn Cao Văn Viên cũng nói: “Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh, trách nhiệm chiến đấu ở đây là người Mỹ. Chúng ta chỉ theo họ thôi”. Hà Sĩ Phu là kẻ bất lương, đã xúc phạm vong linh hơn 1.146.250 liệt sĩ hy sinh vì nước, xúc phạm cả dân tộc khi nói các cuộc kháng chiến cứu nước của Nhân dân ta là “nội chiến”. Ngay cả Liên Hiệp Quốc cũng vinh danh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”, vậy nếu không có kẻ xâm lược làm sao phải giải phóng dân tộc?
Hà Sĩ Phu vu khống Đảng chỉ cốt “giành lấy Phú, Địa, Hào” là sự vu cáo trắng trợn, đê tiện bất chấp lẽ phải và sự thật. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy mô nền kinh tế của Việt Nam năm 1989 có 6,3 tỷ USD đến năm 2021 đã đạt 340 tỷ USD, GDP 230USD/người năm 1985 đã lên 3.743USD năm 2021; 45 triệu người Việt Nam đã thoát nghèo trong giai đoạn 1985 – 2018, tỷ lệ hộ nghèo từ 60% năm 1985 đến 2021 chỉ còn 3% theo chuẩn đa chiều.
Từ năm 2016 đến nay xe hơi chật cứng đường đi, trên 30% gia đình nông thôn ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu… sở hữu xe hơi và biệt thự. Từ nước nghèo nhất thế giới Việt Nam đã thành nước thu nhập trung bình khá. Việt Nam hiện là nền kinh tế lớn thứ 36/200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hiện nay đã có 19.500 triệu phú USD, đến năm 2025 có thể lên 25.000 triệu phú đô-la. Những sự thật đó là cái tát thẳng mặt Hà Sĩ Phu, để “Con cá sấu” phản phúc vô ơn ấy tha hồ mà “rơi lệ”.
Người ta nói: “Ch.ó sủa một đời không thành người, người nói ba câu thành c.hó”! Hà Sĩ Phu ơi, có biết câu đó không?

TRẦN VĂN "MÀY" ĐỪNG BẦY TRÒ NỮA


Quốc hội họp thường kỳ. Một sinh hoạt chính trị khá quan trọng của đất nước. Thế nhưng, một số “nhà quan sát” bằng thủ đoạn “cắt cúp” thường thấy đã xuyên tạc, biến tấu, quy chụp rồi chê bai Quốc hội nước nhà.
Trân Văn, một cái tên quá quen thuộc trong giới “dân chủ” với thủ đoạn đặc trưng là một số bài viết tổng hợp thông tin từ nhiều báo chí, mạng xã hội. Sau đó hắn lồng ghép đưa vào đó những nhận định cá nhân mang đậm chất chủ quan nhưng lại rất cực đoan. Ý đồ và mong muốn của Trân Văn và những thành phần cơ hội chính trị, chống phá đưa ra là tìm mọi cách, mọi lý do để khiêu khích, chê bai hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Việt Nam. Lần này, Quốc hội họp kỳ thứ ba với nhiều chủ đề quan trọng với những phiên chất vấn “nảy lửa” với nhiều nội dung liên quan đến phát triển kinh tế xã hội và đời sống dân sinh. Phần đặt câu hỏi và phần trả lời chất vấn của các đại biểu đều sâu sắc, có chất lượng, đi vào thực tiễn, được đông đảo người dân theo dõi và đánh giá cao. Nhưng với Trân Văn và “đồng bọn” thì chúng xem rằng đó là “màn tấu hài”.
Hãy xem những luận điệu vô cùng phản cảm và thể hiện thái độ lố lăng, tráo trở của Trân Văn: “Quốc hội diễn hài quá hay với dàn diễn viên xuất sắc. Hoài Linh không có cửa để so bì. Mỗi kỳ họp, Quốc hội lại cung cấp cho dân chúng những tràng cười thoải mái bất tận, giúp họ quên đi mọi thứ lo toan trong cuộc sống…”. Đúng là những thông tin rất bậy bạ, xỏ xiên thô bỉ một cách vô lối và thiếu văn hóa của kẻ gần đất xa trời mà bệnh hoạn có tên Trân Văn này.
Thực tế là gì? với 4 nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài chính, giao thông vận tải và ngân hàng, phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ ba, Quốc hội Khóa XV đã có tới 131 đại biểu Quốc hội chất vấn trực tiếp và 25 lượt đại biểu tranh luận với các bộ trưởng, trưởng ngành.
Sinh hoạt Quốc hội nói chung, hoạt động chất vấn nói riêng ngày càng phát huy cao tính dân chủ, minh bạch nên cử tri được cung cấp nhiều thông tin bổ ích, lý thú. Thậm chí có những thông tin, nếu không có thảo luận kinh tế – xã hội hay hoạt động chất vấn truyền đi trên các phương tiện thông tin đại chúng thì người dân cũng khó tìm hiểu cho được. Đánh giá về điều này, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu rõ, Phiên chất vấn diễn ra trong không khí dân chủ, thẳng thắn, sôi nổi, thu hút được sự quan tâm, chú ý rộng rãi của Nhân dân và cử tri cả nước.
Bên cạnh hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, các ĐBQH còn thảo luận cho ý kiến về các luật, dự thảo luật và dự án luật. Đó là các dự thảo luật liên quan mật thiết đến đời sống hàng ngày của người dân chẳng hạn dự thảo luật phòng chống bạo hành gia đình. Để góp ý những dự thảo, dự án này cần những góc nhìn trực quan, sôi nổi, sinh động từ cuộc sống. Cũng một phần do báo chí, giật tít câu view, cắt cúp lời các đại biểu quốc hội nên nhiều người dân đặc biêt là cộng đồng mạng hiểu không đầy đủ rồi chế thành hình ảnh lan tỏa khắp nơi. Ví dụ như khi thảo luận tại dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) có đại biểu cho rằng hành vi “khen vợ hàng xóm xinh đẹp” cũng là một dạng bạo hành tinh thần nhưng về yếu tố tâm lý. Thực ra, đại biểu đó có bài phát biểu dài, đưa ra những nhận định, dẫn chứng khoa học đồng thời nêu ví dụ trên để minh chứng cho loại bạo hành mang tính tâm lý. Nhưng báo chí nhà ta thấy câu nói hay bèn giật tít và thế là những kẻ phản động lợi dụng như Trân Văn cứ thế mà lu loa lên rằng “Quốc hội tấu hài”. Thật là không công bằng và thiếu cái nhìn khách quan, toàn diện khi đánh giá phát biểu của các đại biểu tại nghị trường Quốc hội.
Trân Văn dẫn ra cái nhìn cay độc của một San vẩu (Trương Huy San), người thường xuyên có những bài viết, phát ngôn đả phá chính sách, bôi bác chế độ ở trên mạng rằng các đại biểu Quốc hội đang “tập làm văn”. Không những thế tên này còn dẫn dắt một loạt ví dụ của “mấy đồng bọn” rồi “ngậm ngùi” kết luận: sinh hoạt Quốc hội của ta thảm hại! Chắc là mấy ông dân chủ này chưa đọc và chưa biết các đại biểu Quốc hội của chúng ta dù tranh luận căng thẳng đến đâu cũng luôn thể hiện thái độ tôn trọng, lắng nghe và cầu thị. Một không khí phản biện sôi nổi văn minh và ứng xử mực thước.
Trân Văn hãy nhìn ra thế giới mà xem chứ đừng có ngồi một góc xó nào đó rồi tự bịt mắt mà cào bàn phím viết bậy bạ. Báo chí đã nhiều lần viết về tình trạng các nước được gọi là “văn minh” khi các đại biểu quốc hội chửi bới, thóa mạ thậm chí ẩu đả lẫn nhau tại nơi nghị trường, thông tin bài viết rồi clip trên mạng vẫn còn đó sao ông không viện dẫn ra đây mà cố tình lờ đi? Tại sao lại có tiêu chuẩn kép ở đây, nước ngoài thậm chí ẩu đả, chửi bới nhau thì coi là tự do dân chủ. Trong khi đó Quốc hội Việt Nam đàng hoàng mực thước, tất thảy đại biểu đều tôn trọng lẫn nhau và cùng chung mục tiêu vì dân, vì đất nước, vì sự trường tồn của dân tộc để thảo luận, tranh biện rồi đưa ra chủ trương, giải pháp phát triển quốc gia, bảo vệ lợi ích cho nhân dân thì bị các ông coi là “tấu hài”, “thảm hại”. Đúng là Trân Văn và đám vong nô phản quốc cứ thích đu bám theo những tiêu chuẩn, chuẩn mực vớ vẩn của phương Tây rồi quay lại chê bai nước nhà. Thật hết chỗ nói với Trân Văn và đám vong nô, trở cờ đã không làm được điều gì tử tế mà lại bất nhân là theo đuôi bọn phản động hành nghề tung tin xuyên tạc bậy bạ, nhố nhăng để chống phá đất nước này!

BỊA ĐẶT VÀ XUYÊN TẠC LÀ BỆNH “CUỒNG DÂN CHỦ TƯ SẢN”


Cả Đỗ Ngà trong bài viết “Nên dẹp bỏ Quốc hội” ngày 4/6/2022 đăng http://xn--trnbaotiengdan-rkb.com/ và Nguyễn Đình Cống trong “Phản biện ý kiến của ông Đỗ Ngà” đăng trên Tiếng Dân News ngày 4/6/2022 đều xuyên tạc bản chất của Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cả Đỗ Ngà và Nguyễn Đình Cống đều suy diễn để bôi đen sự thật khi cho rằng Quốc hội Việt Nam hiện nay “vô dụng”, nên cần “dẹp bỏ ngay”.
Sự thật thì cả Đỗ Ngà và Nguyễn Đình Cống đều không ít lần tung tin xấu độc chống phá Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội. Lần này, nói Quốc hội được nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của nhân dân; là cơ quan thể chế ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành luật, thành các quy định chung mang tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội là “vô dụng, là nên “dẹp bỏ đi”, thì có nghĩa là hai ông Ngà và Cống đều không thừa nhận ở Việt Nam “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước”. Điều đó cũng có nghĩa là cả 2 ông này đều không thừa nhận Quốc hội gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân; thể hiện rõ nhất của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho trí tuệ của nhân dân cả nước; do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
1. Xuất phát từ việc một vài đại biểu phát biểu tại nghị trường, Đỗ Ngà liền quy kết rằng đó là những ý kiến “ngây ngô” của các ông bà nghị. Cũng theo Đỗ Ngà, nó ngây ngô bởi chất lượng đại biểu kém, bởi họ đều là cán bộ, đảng viên- họ đại diện cho Đảng chứ không phải là “đại diện cho nhân dân”; họ không phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Trong quá trình hoạt động với tư cách đại biểu Quốc hội, họ đều “phát hiện ra lỗ hổng của luật pháp” nhưng người biết thì “im lặng”, còn người không biết luật thì phát biểu ngây ngô (ví dụ khi bàn về Luật biểu tình; khi bàn về thay đổi Luật đất đai…). Họ im lặng là vì họ phải bảo vệ “quyền lợi, bổng lộc của Đảng”, vì thế bầu họ “chỉ tốn tiền dân”.
Cũng theo Đỗ Ngà, “nhà nước CS chả khác nào nhà nước phong kiến” và “nhà nước phong kiến thì chả cần Quốc hội họ vẫn điều hành đất nước theo cách của họ. Nhà nước CS cố lập ra ‘Quốc hội’ để làm gì? Chỉ để cho có vẻ khác phong kiến…”. Nếu Quốc hội “vô dụng” như vậy thì “nên dẹp bỏ ngay”. Vì rằng, trong tư tưởng của Đỗ Ngà thì chỉ có các nước phương Tây và Mỹ, chỉ có thực thi nền dân chủ tư sản thì Quốc hội mới được bầu một cách dân chủ; Quốc hội mới là cơ quan đại diện và thực thi quyền lực của nhân dân. Có điều mà Đỗ Ngà không chịu hiểu và cố tình không hiểu rằng, với các nhiệm kỳ Quốc hội nói chung và Quốc hội khóa XV nói riêng, có thể thấy: Bầu cử Quốc hội luôn là một ngày để cử tri cả nước thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của mình.
Với Quốc hội khóa XV, dù bị muôn trùng khó khăn bủa vây, nhưng vượt qua trở ngại bằng tinh thần, ý chí, trách nhiệm cao với tương lai của đất nước, các địa phương trong cả nước đã tổ chức tốt cuộc bầu cử với tỷ lệ cử tri đi bầu cao, đặc biệt đảm bảo an toàn phòng, chống dịch bệnh. Dù trong dịch bệnh (nhiều cử tri phải cách ly, đang nằm trên giường bệnh điều trị Covid-19…), nhưng với tinh thần và trách nhiệm của một cư tri khi được thụ hưởng quyền công dân, mỗi người ở những hoàn cảnh khác nhau đều hướng đến cuộc bầu cử, sẵn sàng tham gia bầu cử bằng tấm lòng, niềm tin và tinh thần trách nhiệm cao. Đó chính là vì sao, nếu không phải là cử tri cả nước đã thể hiện sự tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; đã vì tương lai của chính mình và đất nước mà hân hoan lựa chọn những đại biểu mình tin tưởng để bầu vào các cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất tại Trung ương và địa phương hả Đỗ Ngà?. Sự xuyên tạc vô hạn độ của ông đã nói lên tâm địa của một kẻ bội phản khi bôi đen, bẻ cong sự thật về đất nước mà ông đang sống!
2. Hùa theo giọng điệu phản động của Đỗ Ngà, Nguyễn Đình Cống cũng cho rằng việc “dẹp bỏ Quốc hội” là “một ý kiến hay, thể hiện một cái nhìn và đánh giá đúng về Quốc hội, đưa ra một đề xuất dũng cảm”. Suy thoái đến tận cùng, Nguyễn Đình Cống còn bồi thêm sự phản động của mình bằng câu dẫn chuyện “Tôi đồng ý với ông Đỗ Ngà là Quốc hội hiện nay vô dụng, nhưng chỉ vô dụng đối với dân và đất nước, nhưng lại hữu dụng đối với Đảng thống trị”.
Đuôi cáo của Nguyễn Đình Cống lộ ra ngay phía sau khi cho rằng Quốc hội Việt Nam không được bầu một cách dân chủ như ý ông ta muốn, như nhiều lần ông đã tung lên fb cá nhân và viết dưới danh nghĩa thư ngỏ. Ông ta cũng cho rằng, Quốc hội Việt Nam “gồm những đại biểu được cơ cấu”, đó là những “nghị gật- một phần gồm những kẻ ngây ngô”, nên “chỉ tiêu tốn tiền của dân một cách quá lãng phí”. Cũng theo thiển ý của Nguyễn Đình Cống thì các đại biểu Quốc hội đương nhiệm được giói thiệu, bỏ phiếu bầu theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 là những “nghị gật”. Ông ta đã phủ nhận toàn bộ công tác chuẩn bị bầu cử; tổ chức bầu cử được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, chuyên nghiệp từ Trung ương đến địa phương. Dù quá trình đó không chỉ được thực hiện đúng theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn được thể hiện linh hoạt và sáng tạo trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật.
Thâm độc hơn, Nguyễn Đình Cống không chỉ dừng lại ở việc đồng ý với Đỗ Ngà khi nhận định “nhà nước cộng sản và nhà nước quân chủ, phong kiến có cùng bản chất” là “độc tài, có toàn quyền cai trị” và ca ngợi rằng “nhà nước quân chủ có Chính danh, họ cai trị với phương châm Quang minh chính đại” mà ông ta còn xuyên tạc sự thật khi quy chụp, bôi đen chế độ khi cho rằng “Cộng sản có cùng bản chất với chuyên chế nhưng lại tìm mọi cách che đậy, mà một trong những cách đó là tạo nên nền dân chủ hình thức, giả hiệu bằng những biện pháp giả danh, dối trá”, nhằm thực hiện “mưu đồ dối trá, lừa phỉnh rằng “Ta đây dân chủ gấp nhiều lần bọn tư bản””. Với việc nhận định này, ông ta không chỉ là một kẻ suy thoái, trở cờ đáng khinh mà thê thảm hơn là ông ta đã là một kẻ ngáo cái thứ dân chủ tư sản mà trước đó ông ta cũng đã từng phê phán.
Sau đó, ông ta không chỉ hỏi “dân tộc, đất nước có còn cần dân chủ hóa hay không?” mà còn tự trả lời rằng, “nếu không cần thì xóa bỏ Quốc hội bù nhìn là xong một chuyện. Khi mà dân chủ hóa vẫn còn là nguyện vọng, vẫn còn là yêu cầu của nhân dân thì sau khi xóa bỏ được Quốc hội bù nhìn phải làm sao bầu chọn ra được một Quốc hội đủ năng lực”. Tuy nhiên, thế nào là “một Quốc hội đủ năng lực”, thì ông ta cũng không thể chỉ ra, mà có chăng nếu chỉ ra được – thì lại là gồm những đại biểu như ông ta/những người “có năng lực và xứng đáng” như đã tự ngộ nhận. Là ông tự huyễn hoặc nền dân chủ tư sản và tự ngáo về năng lực của bản thân mà quên mất rằng ông không đủ điều kiện, thậm chí không có uy tín để được vào danh sách ứng cử chứ đừng nói là được nhân dân tín nhiệm, lựa chọn và bầu làm đại biểu Quốc hội.
Cuối cùng, có thể khẳng định rằng, Đỗ Ngà và Nguyễn Đình Cống, một kẻ tung ra vấn đề, một kẻ hứng vào để không chỉ hùa theo mà còn cố tình bôi nhọ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội do nhân dân lựa chọn và bầu ra. Không chỉ tìm mọi cách, tung lên fb cá nhân và các trang mạng xã hội các thông tin sai lệch mà 2 kẻ cơ hội này còn xuyên tạc bản chất của Quốc hội, của chế độ xã hội chủ nghĩa, để từ đó chống phá và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Việc cả Đỗ Ngà và Nguyễn Đình Cống đều bịa đặt, tung tin sai sự thật về Quốc hội và cho rằng “nên dẹp ngày Quốc hội” vì hoạt động của Quốc hội chỉ là “bù nhìn” khi tiêu tốn hàng tỷ đô la mỗi ngày tính theo giá hiện thời… chính là một trong những chiêu trò gây nhiễu loạn, hoang mang, hoài nghi trong nhân dân. Sự kích động, kêu gọi “dân chủ hóa” của 2 kẻ này không chỉ chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ mà còn gieo giắc nghi ngờ để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Có điều, chắc chắn âm mưu và thủ đoạn của Đỗ Ngà và Nguyễn Đình Cống nhất định thất bại trước lòng Dân tin Đảng, hướng về Đảng!.