Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

Đằng sau tấm khiên phòng vệ của NATO

 

MISTEN - Chính những tính toán sai lầm của phương Tây đã mở đường cho chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine. Trong khi Ukraine đang phải trả giá cho sai lầm này, NATO cũng phải đối mặt với một thất bại thảm họa khác.

Một tấm khiên có thể ngăn chặn kẻ thù và thể hiện sự quyết tâm. Đó cũng là thứ để ẩn nấp đằng sau và tránh một cuộc chiến. Kể từ khi Nga phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine, tấm khiên NATO đã được các chính trị gia Mỹ và châu Âu sử dụng cho cả 2 mục đích với các mức độ khác nhau.

Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu tấm khiên bị rạn nứt hoặc vỡ vụn? Các nước phương Tây có thể sắp tìm ra câu trả lời. Hội nghị thượng đỉnh của NATO tại Madrid (Tây Ban Nha) dự kiến tổ chức vào cuối tháng 6 được coi là cuộc họp mang tính “thay đổi” nhiều nhất kể từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Họ có thể sẽ tự chúc mừng chính mình về cách liên minh 30 quốc gia đã đoàn kết để bảo vệ “thế giới tự do” chống lại Nga. Tuy nhiên, câu hỏi lớn vẫn còn bỏ ngỏ.

Đằng sau tấm khiên là sự yếu kém và chia rẽ

Phát biểu tại Ba Lan vào tháng 3/2022, Tổng thống Mỹ Joe Biden, người được xem là lãnh đạo trên thực tế của NATO, đã đưa ra quan điểm mạnh mẽ. Ông tuyên bố sẽ bảo vệ “từng tấc lãnh thổ NATO bằng toàn bộ sức mạnh tập thể” đồng thời tránh để liên minh rơi vào một cuộc chiến. Tuy nhiên, kết quả về dài hạn vẫn rất mơ hồ.

Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace đã nhắc lại tuyên bố này vào tuần trước ở Iceland. Ông Wallace cảnh báo, Nga có thể nhắm mục tiêu tới Litva, Latvia và Estonia như đã làm với Ukraine. Nhưng cũng giống như Mỹ, Anh không có kế hoạch rõ ràng nào để đảm bảo rằng một Ukraine độc lập có thể tồn tại.

Trong khi một số thành viên đứng ra gánh vác, vẫn có một số thành viên châu Âu quan trọng trong NATO thu mình lại phía sau liên minh. Họ tận dụng liên minh để tránh đưa ra các cam kết tốn kém với Kiev và có thể khiến Moscow tức giận.

Kỳ vọng về quyền tự chủ chiến lược của EU nhưng Tổng thống Pháp Emmanuel Macron dường như nói nhiều hơn làm. Thủ tướng Đức Olaf Scholz của Đức được xem là ví dụ điển hình của sự lung lay và chậm trễ. Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, người thường phản đối các lệnh trừng phạt của EU nhằm vào Nga, bị cho là nghiêng về phía Moscow.

Trong khi đó, việc thành viên “gây rối” Thổ Nhĩ Kỳ phản đối nỗ lực gia nhập liên minh quân sự của Phần Lan và Thụy Điển cũng làm suy yếu một mặt trận thống nhất của NATO.

Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg sẽ tìm cách hàn gắn những rạn nứt này. Ba Lan và các quốc gia “tiền tuyến” khác muốn có một cách tiếp cận cứng rắn hơn, bao gồm việc bố trí thêm quân thường trực, vũ khí hạng nặng và máy bay ở biên giới với Nga. Đáp lại, các quan chức NATO hứa hẹn sẽ có những quyết định “mạnh mẽ và mang tính lịch sử”.

Ukraine đang phải gánh chịu hậu quả

Đối với Ukraine, nước này gần như đã từ bỏ việc gia nhập NATO, điều từng được hứa hẹn tại hội nghị thượng đỉnh Bucharest năm 2008 của NATO. Kiev cũng không còn kêu gọi NATO can thiệp quân sự trực tiếp như trước đây.

“Tất nhiên, chúng tôi vẫn sẽ nghe những lời ủng hộ… chúng tôi rất biết ơn vì điều đó”, Ngoại trưởng Ukraine Dmytro Kuleba nói. Từng cáo buộc NATO “không làm gì cả”, ông Kuleba không mong đợi kết quả cụ thể ở Hội nghị thượng đỉnh Madrid về việc Kiev có thể gia nhập liên minh, thậm chí về vấn đề “an ninh Biển Đen”.

Nhận xét của ông Kuleba đề cập đến thất bại của Mỹ và châu Âu trong việc phá thế phong tỏa đối với các cảng của Ukraine ở Biển Đen, mở đường để Kiev xuất khẩu lương thực ra thế giới.

Theo ông Simon Tisdall, bình luận viên vấn đề quốc tế của Guardian, đó là một trong nhiều vấn đề NATO có thể và cần phải gây áp lực lớn hơn đối với Nga, để buộc Moscow chấm dứt chiến dịch quân sự hiện nay.

Vậy tại sao NATO không làm nhiều hơn nữa? Tất cả các lý do và lời biện hộ cho sự thụ động và không hành động đã tạo ra một bức tranh về một liên minh kém đoàn kết, kém mạnh mẽ và có tổ chức yếu kém hơn đáng kể so với kỳ vọng.

Ban đầu, sự ủng hộ đối với Ukraine đã tạo động lực cho NATO. Uy tín của liên minh đã tăng từ mức thấp sau cuộc khủng hoảng rút quân ở Afghanistan năm 2021.

Nhưng nếu xung đột Nga-Ukraine tiếp diễn, nếu bế tắc ngoại giao ngày càng sâu sắc, và nếu nguy cơ xung đột ngày càng lan rộng tăng lên, thì những điểm yếu và lỗ hổng chưa được khắc phục từ lâu của NATO sẽ trở nên rõ ràng hơn và nguy hiểm hơn cho những người đang nấp sau lá chắn.

Đã đến lúc NATO thừa nhận sai lầm trong quá khứ

Ông Tisdall nhận định, sẽ không thực tế nếu mong đợi sự nhất trí chính trị liền mạch trong một tổ chức lớn như NATO. Nhưng thực tế mỗi thành viên đều có tiếng nói bình đẳng đang cản trở việc đưa ra quyết định nhanh chóng và táo bạo. Ví dụ, một hành động khiêu khích hạt nhân hoặc hóa học của Nga có thể gây ra sự xung đột trong NATO và Nga chắc chắn biết rõ điều đó.

NATO có sự phụ thuộc quá lớn vào Mỹ, một siêu cường quân sự mà nếu không có cái gật đầu của Washington thì sẽ chẳng có gì xảy ra. Đằng sau sức mạnh của Washington là những thành viên muốn ẩn sau lá chắn và không muốn gánh vác trách nhiệm của mình.

Mặt khác, NATO cũng ngày càng bị kéo căng quá mức, bị kẹt giữa mối đe dọa của Nga ở khu vực Châu Âu-Đại Tây Dương và những thách thức từ Trung Quốc ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

NATO dự kiến sẽ công bố “khái niệm chiến lược” kéo dài 10 năm về cách đối phó với tất cả các mối đe dọa kể trên, cộng với chủ nghĩa khủng bố xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu gây mất ổn định, chiến tranh mạng... Tuy nhiên, đó là mục tiêu quá tầm với.

Chiến lược an ninh quốc gia mới tập trung vào châu Á của chính quyền Tổng thống Biden cũng không còn phù hợp và đã phải nhanh chóng điều chỉnh lại sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng phát.

Ông Tisdall cho rằng, chính các nước phương Tây đã vô tình mở đường cho cuộc xung đột hiện nay bằng việc để Ukraine trong tình trạng lấp lửng về tư cách thành viên trong khi không trừng phạt Nga đủ mạnh vì vấn đề Chechnya và Syria hay việc Nga sáp nhập Crimea năm 2014. Nếu muốn giải quyết một cách hiệu quả các thách thức chiến lược trên nhiều mặt trận, NATO cần phải nhìn lại, thừa nhận những sai lầm trong quá khứ và nhận phần nào trách nhiệm về cuộc khủng hoảng hiện tại.

                                                                                                                                                     vov.vn

Nguyên nhân khiến phương Tây chia rẽ trong việc ủng hộ Ukraine đối phó Nga

 MISTEN - Hơn 100 ngày kể từ khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine, những rạn nứt giữa các nước phương Tây ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong việc ủng hộ Ukraine và chống lại Nga.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron trở thành nhân vật mới nhất gây ra sự chỉ trích vì một phát biểu về Nga, trong bối cảnh xung đột ở Ukraine đã bước sang tháng thứ tư.

Phát biểu trước truyền thông Pháp hôm 4/6, Tổng thống Macron nói rằng: “Chúng ta không được làm bẽ mặt Nga, để khi chiến sự ngừng lại, chúng ta có thể xây dựng lối thoát thông qua các biện pháp ngoại giao”.

Ông Macron tin rằng nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin cần được trao một lối thoát ra khỏi cái mà ông gọi là “sai lầm lịch sử” khi phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine.

Phát biểu của ông Macron làm dấy lên căng thẳng mới với Kiev trong bối cảnh Tổng thống Zelensky hoài nghi về việc ông Macron cố gắng thuyết phục ông Putin chấm dứt chiến dịch quân sự. 

Khác biệt trong cách tiếp cận với Nga

Sau những thành công ban đầu trong việc thể hiện đoàn kết và ủng hộ Ukraine, sự chia rẽ giữa các nước phương Tây ngày càng trở nên rõ ràng.

Sự chia rẽ đó nói lên nhiều điều về những vết sẹo tâm lý từ một thế kỷ chiến tranh trên lục địa già cũng như về cuộc xung đột hiện tại. Nó cũng cho thấy những câu hỏi chưa được trả lời về việc chiến sự sẽ kết thúc ra sao khi giao tranh đã kéo dài sang tháng thứ tư với thế trận giằng co ở miền Đông Ukraine.

Một bên là Pháp, Đức và Italy, những nước ủng hộ đàm phán và kêu gọi ngừng bắn hơn là hỗ trợ quân sự vô điều kiện cho Ukraine. Những nước này bị cáo buộc do dự trong việc gửi vũ khí cho Kiev hoặc quá lo lắng về những gì có thể xảy ra sau khi xung đột Nga-Ukraine kết thúc.

Theo một số quan chức, bằng cách cố gắng đóng vai trò trung gian đáng tin cậy, những nước này đang tạo sự thỏa hiệp sai lầm trong một cuộc chiến với Nga – động thái có thể khiến Moscow nghĩ rằng quyết tâm của phương Tây đang dao động.

Nhà phân tích người Pháp Fabrice Pothier, cựu quan chức phụ trách hoạch định chính sách của NATO, cho biết: “Đức, Pháp và Italy đều đang phải vật lộn với cái bóng của quá khứ”.

Mong muốn “không làm bẽ mặt nước Nga” của ông Macron được cho là ám chỉ đến những hình phạt nghiêm khắc từng áp dụng đối với Đức sau Thế chiến thứ nhất, mà một số nhà sử học cho rằng đã tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của Đức Quốc xã và dẫn đến Thế chiến thứ hai.

Trong khi đó, Đức cũng luôn nghiêng về chủ nghĩa hòa bình, xuất phát từ lịch sử của nước này từ Thế chiến thứ hai.

Khác với Pháp, Đức và Italy, các nước Đông Âu, trong đó có cả các nước từng thuộc Liên Xô trước đây, có cách tiếp cận “bằng mọi giá” đối với sự thống nhất của Ukraine. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, quan điểm của họ có thể dẫn đến một “cuộc chiến mãi mãi” ở châu Âu và leo thang căng thẳng với nước Nga.

Ông John C. Kornblum, Đại sứ Mỹ tại Đức thời chính quyền Tổng thống Bill Clinton cho biết: “Cho đến nay, chúng ta đã làm rất tốt, nhưng tôi không lạc quan về những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Với thanh kiếm hạt nhân, Nga đã khiến phương Tây lo sợ”.

Theo ông Kornblum, những gì Mỹ và châu Âu đã làm tốt cho đến nay là các lệnh trừng phạt, cấm vận đối với Nga, cũng như việc Phần Lan và Thụy Điển chính thức nộp đơn xin gia nhập NATO.

Dù vậy, các rạn nứt đang hiện hữu ngày càng rõ. Lệnh cấm vận dầu mỏ của Liên minh châu Âu (EU) vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của một số nước, đặc biệt là Thủ tướng Hungary Viktor Orban. Cơ hội mở rộng tới Bắc Âu của NATO cũng bị Thổ Nhĩ Kỳ cản trở.

Chia rẽ trong việc cung cấp vũ khí cho Ukraine

Sự chia rẽ rõ ràng nhất giữa các nước phương Tây là việc cung cấp vũ khí cho Ukraine.

Chính phủ Italy hiện đang chia rẽ trong việc gửi nhiều vũ khí hơn cho Ukraine. Một trong những nhân vật phản đối mạnh mẽ nhất là ông Matteo Salvini, lãnh đạo đảng Liên đoàn cực hữu, người từng ký thỏa thuận hợp tác với đảng của Tổng thống Nga Putin.

Tuần trước, Đức tuyên bố sẽ cung cấp cho Ukraine các hệ thống radar và phòng không tối tân. Tuy nhiên, Thủ tướng Đức Olaf Scholz vẫn bị chỉ trích vì chậm bàn giao vũ khí cho Kiev và từ chối thừa nhận “Ukraine phải chiến thắng”.

Khi được hỏi về sự miễn cưỡng của mình, ông Scholz nói rằng ông chỉ cố gắng “hành động một cách khôn ngoan với cái đầu tỉnh táo”.

Phần lớn các nước Đông Âu đã đi đầu trong việc chuyển vũ khí cho Ukraine. Những quốc gia này lo ngại họ có thể trở thành mục tiêu tiếp theo sau Ukraine.

Cùng với Anh, Mỹ gần đây đã đồng ý cung cấp cho Ukraine các hệ thống tên lửa tiên tiến. Điều đáng chú ý là Tổng thống Joe Biden đặt ra điều kiện vũ khí Mỹ không được sử dụng để tấn công vào lãnh thổ Nga.

Điều kiện đảm bảo lãnh thổ Nga không bị tấn công bằng vũ khí của Mỹ là một động thái khôn ngoan để ngăn chặn leo thang. Tuy nhiên, một số người xem đây là dấu hiệu rõ ràng gửi tới Tổng thống Nga rằng ông đã khiến phương Tây lo ngại.

Theo một số nhà quan sát châu Âu, điều kiện của Mỹ dễ dàng được chấp nhận hơn so với Đức hay Pháp, bởi Ukraine cho rằng Berlin và Paris vẫn  làm chưa đủ.

Ông Gustav Gressel, cựu quan chức Bộ Quốc phòng Áo, hiện là thành viên chính sách cấp cao tại Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu, cho rằng, nếu điều kiện như ông Biden đưa ra đến từ các nước châu Âu đó, chắc chắn “sẽ có một cơn giận dữ”.

“Nếu Thủ tướng Đức Scholz cũng đưa ra điều kiện tương tự, điều đó sẽ gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự xoa dịu [đối với Nga]”, ông Gressel nhận định.

                                                                                                                                                     vov.vn

Vì sao Mỹ không có sự ủng hộ của Trung Đông trong cuộc chiến Nga-Ukraine?

 MISTEN - Sự “im hơi lặng tiếng” của nhiều nước Trung Đông giống như “gáo nước lạnh” dội vào các nỗ lực của Mỹ nhằm vận động đồng minh và đối tác ủng hộ cho Ukraine.

Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) muốn Saudi Arabia bơm thêm dầu mỏ ra thị trường, còn Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) ngừng giúp đỡ giới tài phiệt Nga tránh biện pháp trừng phạt mà phương Tây áp đặt. Nhưng những quốc gia này vẫn không có bất cứ động tĩnh gì.

Ngay sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine, các quan chức Mỹ được cho là đã cố gắng dàn xếp một cuộc điện đàm giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thái tử Saudi Arabia Mohammed bin Salman. Nhưng UAE đã từ chối đề nghị này. Sau đó, ông Mohammed bin Salman đã có cuộc trò chuyện với Tổng thống Nga Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Đây là ví dụ mới nhất trong thời kỳ lạnh giá trong quan hệ giữa Mỹ với một số nước xuất khẩu dầu mỏ hàng đầu ở Trung Đông. Trước đó, Tổng thống Biden từng gọi Saudi Arabia là “một quốc gia bị bài xích” và tuyên bố sẽ trừng phạt nước này do liên quan vụ sát hại nhà báo Jamal Khashoggi.

Trung Đông cảm thấy bị bỏ rơi

Cuộc chiến Nga-Ukraine khiến Mỹ nhận ra rằng, họ cần phải củng cố quan hệ với Saudi Arabia và các quốc gia khác ở Trung Đông thêm một lần nữa. Mỹ và châu Âu muốn các đối tác ở Trung Đông bơm thêm dầu mỏ ra thị trường để hạ giá năng lượng toàn cầu cũng như ủng hộ nghị quyết của Liên Hợp Quốc phản đối cuộc tấn công của Nga vào Ukraine và ủng hộ các lệnh trừng phạt Nga.

Nhưng Trung Đông không đưa ra bất cứ cam kết nào. Những quốc gia dầu mỏ như Saudi Arabia và UAE vẫn tuân theo giới hạn về sản lượng dầu thô theo thỏa thuận đã được nhóm OPEC + thông qua. Họ cũng lo ngại việc tăng sản lượng dầu sẽ khiến giá dầu thô giảm và ảnh hưởng tới doanh thu của các nhà sản xuất.

Trong khi hàng loạt quốc gia siết chặt trừng phạt Nga thì UAE lại chào đón các nhà tài phiệt Nga, cho phép họ chuyển tài sản từ châu Âu sang Dubai. Các nước khác trong khu vực, như Iraq, Jordan và Israel đã từ chối bỏ phiếu chống lại Nga tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.  

Vậy, điều gì khiến Mỹ - một quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn ở Trung Đông trong nhiều thập kỷ qua không thể thuyết phục các đồng minh và đối tác trong khu vực đứng về phía họ trong cuộc xung đột Ukraine?

Kể từ khi Thế chiến 2 kết thúc, Washington đã đánh đổi sự đảm bảo về quân sự để có được sự đảm bảo an ninh năng lượng từ khu vực. Tuy nhiên, khi Mỹ bắt đầu tự khai thác dầu ở trong nước kể từ năm 2019, nước này đã xuất khẩu nhiều xăng dầu hơn là nhập khẩu, do đó vai trò của các nhà sản xuất dầu mỏ tại Trung Đông đối với Mỹ ít quan trọng hơn.

Báo cáo của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Châu Âu (ECFR) công bố vào tháng 4 vừa qua chỉ ra rằng, Mỹ vẫn là “nhà đảm bảo an ninh và nhà xuất khẩu vũ khí chiếm ưu thế trong khu vực”. Washington có nhiều căn cứ quân sự lớn ở khắp Trung Đông, với khoảng 45.000 đến 60.000 nhân viên. Nhưng sự hiện diện quân sự của nước này trong khu vực đang giảm dần và điều đó tạo cơ hội cho các quốc gia khác lấp chỗ trống, ECFR lưu ý.

Ông Aaron D. Miller – thành viên cấp cao của Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế cho rằng: “Trong hơn 20 năm qua, dù Mỹ không rút hoàn toàn khỏi khu vực, nhưng các ưu tiên của nước này đã thay đổi”.

Hy vọng hàn gắn quan hệ

Chuyên gia Aaron D. Miller cho rằng, Trung Đông vẫn là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ song vai trò của họ không còn quá quan trọng như trước. “Trong bối cảnh đó, các đối tác trong khu vực dường như cảm nhận được rằng người bảo trợ an ninh – một khách hàng quen thuộc đang ít chú ý đến họ hơn. Do vậy, họ đã tìm cách tiếp cận với những bên khác”.

Trung Quốc đang là nhà nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới. Trong năm 2020, 47% số dầu thô nhập khẩu vào nước này đến từ Trung Đông. Saudi Arabia đứng đầu danh sách quốc gia bán nhiều dầu thô nhất cho Trung Quốc. 

Quốc gia châu Á này cũng nỗ lực củng cố các mối quan hệ của họ với Trung Đông, chẳng hạn như hỗ trợ Saudi Arabia phát triển tên lửa đạn đạo, mua lại các cơ sở sản xuất dầu của Iraq và đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Iraq.

Ông Bilal Saab, Giám đốc Chương trình Quốc phòng và An ninh tại Viện Trung Đông ở Washington, lưu ý: “Các nước Trung Đông cũng có những lợi ích riêng và Mỹ không phải là người chơi duy nhất trong sân chơi này. Họ có những lựa chọn khác. Dù lựa chọn này có thể không tốt bằng Mỹ, nhưng luôn sẵn có”.

Tuy nhiên, khi cuộc xung đột Nga-Ukraine tiếp diễn và tình hình kinh tế toàn cầu xấu đi (một phần do giá xăng dầu tăng cao), Mỹ đang cố gắng giành lại nền tảng mà họ đã mất vào tay các bên khác, chẳng hạn như Trung Quốc, Nga.

Tháng 5 vừa qua, phái đoàn cấp cao do Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris dẫn đầu, đã đến thăm UAE và gặp gỡ Tổng thống Mohammed bin Zayed Al Nahyan. Tuần này, truyền thông Mỹ đưa tin, Tổng thống Mỹ sẽ thăm Saudia Arabia vào giữa tháng 7 tới để gặp Thái tử Saudi Arabia Mohammed bin Salman - điều mà trước đây ông Biden luôn ngần ngại.

Nhiều chuyên gia cho rằng, để có thể thuyết phục các nước Trung Đông đứng về phía Mỹ trong việc hỗ trợ Ukraine và trừng phạt Nga, Washington cần đưa ra những đề xuất hợp tác cùng có lợi. Nhà phân tích Bilal Saab nhấn mạnh, “một trong những lĩnh vực hợp tác tiềm năng là phát triển hệ thống phòng không và tên lửa”. Đây là điều mà các quốc gia như Saudi và UAE cần để đối phó với các cuộc tấn công tên lửa từ lực lượng Houthi tại Yemen từng làm gián đoạn nghiêm trọng việc khai thác dầu mỏ của Saudi Arabia.

“Nhưng nếu họ muốn mua lại tên lửa của các nước khác hoặc phát triển tên lửa đạn đạo dưới sự giúp đỡ của Trung Quốc thì đề xuất mà Mỹ đưa ra có thể vô ích”, ông Bilal Saab lưu ý.

                                                                                                                                                      vov.vn

Nguy cơ thảm hoạ kép do sai lầm ở Ukraine, Mỹ tìm kiếm lối thoát

MISTEN - Nguy cơ khủng hoảng kép - chiến lược và kinh tế - đang thúc đẩy Mỹ tìm kiếm lối thoát khỏi xung đột Ukraine.

Theo tờ Asia Times, chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden có nguy cơ đối mặt với một thảm họa kép khi tính toán sai lầm ở Ukraine, đó là sự suy thoái của kinh tế Mỹ và sự bẽ mặt về chiến lược thứ hai trong vòng một năm.

Nền kinh tế Mỹ gần như chắc chắn đang suy thoái, trong khi giá dầu thúc đẩy lạm phát đã làm giảm lương thực tế của người lao động khoảng 6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Những lời tuyên bố trước đó của Washington về việc đẩy Tổng thống Putin khỏi quyền lực, làm suy yếu khả năng gây chiến của Moskva và giảm một nửa quy mô nền kinh tế Nga giờ đây đã trở thành vô nghĩa.

Nền kinh tế thế giới đang quay cuồng với những cú sốc về nguồn cung năng lượng và lương thực do các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga. Các chính sách tiền tệ chỉ có thể giảm lạm phát bằng cách buộc người tiêu dùng ngừng mua sắm, điều này buộc các nhà bán lẻ phải thanh lý hàng tồn kho với giá thấp hơn và làm giảm nhu cầu về nguyên liệu thô - một phương pháp chữa trị còn tệ hơn chính căn bệnh này.

Trong khi đó, Nga kiếm được kỷ lục 93 tỷ euro từ xuất khẩu năng lượng trong 100 ngày đầu tiên của cuộc chiến – theo một nghiên cứu của Phần Lan. Trung Quốc và Ấn Độ, hai nước từ chối tham gia các lệnh trừng phạt của G-7 đối với Nga, được cho là đang mua dầu với mức chiết khấu từ 30 đến 40 USD / thùng, trong khi người tiêu dùng Mỹ và châu Âu thì đang phải trả đủ mức giá đã vọt cao.

Giá năng lượng trở thành động lực chính của lạm phát tại các nước G-7. Theo một nghiên cứu của trang Asia Times, những thay đổi về giá dầu kéo dài 1 đến 4 tháng giải thích 70% sự thay đổi hàng tháng của chỉ số CPI (Chỉ số giá tiêu dùng). Hơn nữa, cùng nghiên cứu này cho thấy, độ nhạy của CPI Mỹ đối với giá dầu cao gấp đôi trong khoảng thời gian từ tháng 2/2020 đến tháng 5/2022 so với 15 năm trước đó.

GDP của Mỹ giảm ở mức 1,9% /năm trong quý đầu tiên. Sự sụt giảm bất ngờ doanh số bán lẻ tháng 5 vừa được Bộ Thương mại báo cáo vào ngày 15/6 và mức giảm 14,4% so với tháng trước của giá nhà ở Mỹ được báo cáo vào ngày 16/6 – báo hiệu sự suy thoái theo đúng tiêu chuẩn. Điều đó gây ra thảm họa cho Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử Hạ viện vào tháng 11 tới.

Nhưng khủng khiếp hơn một cuộc suy thoái ở Mỹ là nguy cơ xảy ra thảm họa tài chính ở các nền kinh tế G-7 yếu hơn.

Đồng yen của Nhật Bản đã rơi tự do khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thắt chặt tín dụng. Nợ chính phủ là 270% GDP, và một nửa trong số đó thuộc sở hữu của ngân hàng trung ương Nhật Bản, tăng mạnh so với khoảng 5% vào năm 2011. Chi phí bảo hiểm rủi ro trái phiếu chính phủ Nhật Bản trong tuần này đã tăng vọt lên mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Italy, nền kinh tế yếu nhất châu Âu, phải chịu rủi ro nợ chính phủ tăng vọt nghiêm trọng. Ngày 15/6, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp để giải quyết tình trạng xấu đi của các thành viên yếu và hứa hẹn các biện pháp chưa được cụ thể hóa để ngăn chặn sự "phân mảnh" của Liên minh châu Âu.

Giới chuyên gia cho rằng chính quyền Tổng thống Biden đã đánh giá thấp tác động lạm phát của gói kích thích trong dịch COVID-19 trị giá 6 nghìn tỷ USD, bắt đầu dưới thời Chính quyền Tổng thống Trump nhưng đã tăng gấp đôi dưới thời ông Biden.

Họ cũng đánh giá thấp khả năng phục hồi của nền kinh tế Nga và khả năng của quân đội Nga.

Việc trèo xuống từ mỏm đá này sẽ không dễ dàng. Ông Biden từng cáo buộc đồng cấp Putin là tội phạm chiến tranh, cho rằng lãnh đạo Nga không thể được phép tiếp tục tại vị và tuyên bố các lệnh trừng phạt của Mỹ sẽ cắt giảm một nửa nền kinh tế Nga. Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin cũng khẳng định Mỹ sẽ phá hủy năng lực gây chiến của Nga.

Lúc này một thỏa hiệp ở Ukraine với những nhượng bộ đáng kể về lãnh thổ cho Nga - cách duy nhất có thể hình dung để kết thúc chiến tranh – có thể sẽ khiến Washington bẽ mặt.

Tuy nhiên, một giải pháp thương lượng cho cuộc chiến Ukraine không phải là không thể. Washington có thể tiếp tục thể hiện mình là người bảo vệ chủ quyền của Ukraine trong khi khuyến khích các nhà lãnh đạo châu Âu buộc Ukraine phải đàm phán với Moskva.

Một gợi ý khả thi về hướng này được đưa ra vào ngày 14/6 từ Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ về Chính sách Colin H. Kahl. Ông Kahl tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không nói với người Ukraine cách đàm phán, đàm phán cái gì và đàm phán khi nào. Họ sẽ đặt ra những điều khoản đó cho chính mình”.

                                                                                                                                            baotintuc.vn

Những việc cơ bản, lâu dài và cấp bách phải làm ngay để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Thứ nhất, ra sức xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức, cán bộ và tập trung xây dựng Đảng về văn hóa. Cần phải làm cho tiềm lực về mọi mặt của Đảng trở thành niềm tin cậy của toàn dân, kích hoạt mạnh mẽ để nuôi dưỡng và phát triển nguồn trữ năng tinh thần của cả xã hội. Đó là nền móng vững chắc chống lại mọi kẻ thù phá hoại.

Thứ hai, đổi mới đồng bộ, xây dựng toàn diện đất nước phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thành công các đột phá chiến lược. Đó là sức khỏe vật chất, tinh thần của chế độ trên nền tảng đại đoàn kết, đồng thuận xã hội, dân chủ và thực hành dân chủ để phát triển.

Thứ ba, làm lành mạnh môi trường xã hội, giải quyết tình trạng suy thoái đạo đức trong xã hội, nhất là trong Đảng, đặc biệt là đấu tranh chống tham nhũng, đổi mới mạnh mẽ thể chế phát triển. Đó là sức đề kháng mạnh mẽ của Đảng, của xã hội chống lại các vi rút gây bệnh bởi sự phá hoại của kẻ thù.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xây dựng đội ngũ chuyên gia tài năng làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Thứ năm, phát triển mạnh mẽ dư luận xã hội tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Quản lý tốt về thông tin, công nghệ thông tin, xử lý nghiêm minh theo pháp luật mọi sự vi phạm, lợi dụng các phương tiện truyền thông để gieo rắc luồng thông tin xấu độc, phản cảm, gây hậu quả tiêu cực trong xã hội./.                            

Một số vấn đề cốt yếu để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung nỗ lực, sinh lực của chúng ta vào việc nâng cao nhận thức khoa học và bác bỏ những gì phản khoa học, giả danh khoa học

Một là, luận chứng và khẳng định bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó bác bỏ luận điệu của kẻ thù rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, là phá sản, là đã cáo chung cùng với sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là “bản sao” của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự lựa chọn con đường của Hồ Chí Minh là sai lầm, là sự nhầm đường của Việt Nam, phải theo một lý luận khác, con đường khác mà thực chất là đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là điều tệ hại, nguy hiểm nhất mà chúng ta phải vạch trần và phê phán, để giữ vững niềm tin vào lý tưởng.

Hai là, luận chứng và khẳng định sứ mệnh và trách nhiệm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và nhân dân chống lại sự xuyên tạc thâm độc của kẻ thù muốn hạ thấp và phủ nhận vai trò của Đảng, tấn công vào địa vị duy nhất cầm quyền của Đảng, coi Đảng là có tham vọng quyền lực, độc đoán, chuyên chế, độc tài, kìm hãm tự do, dân chủ, cản trở phát triển Việt Nam tới văn minh, hiện đại theo trào lưu thế giới tiên tiến mà Mỹ và hệ giá trị Mỹ là tiêu biểu. Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, kích động và mị dân, nhất là tiêm nhiễm nọc độc vào lớp trẻ, trong thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ trẻ. Chúng cố tình che giấu sự thật về Đảng lãnh đạo, cầm quyền là chính danh, chính đáng và xứng đáng theo sự ủy thác của dân tộc và nhân dân, là hợp hiến, hợp pháp. Chúng thổi phồng những khuyết điểm, xuyên tạc nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là mắt xích xung yếu trong nhận thức và hành động của chúng ta hiện nay.

Ba là, phải luận chứng khoa học để làm sáng tỏ lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam, lý luận đổi mới, hội nhập, phát triển, hiện đại hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI. Từ đó củng cố niềm tin khoa học trong Đảng, trong dân về tính tất yếu lịch sử, bản chất ưu việt, triển vọng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ động tiến công, bác bỏ mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù muốn Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ lý tưởng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, đi theo chủ nghĩa tư bản phương Tây theo các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây. Chúng ta cần đặc biệt khai thác giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về chủ đề quan trọng này. Các tác phẩm lý luận của Tổng Bí thư gần đây cung cấp cho chúng ta những luận cứ quan trọng đó cần chú trọng nhận thức và truyền bá sâu rộng.

Bốn là, vạch trần và bác bỏ những sự ngụy tạo, giả dối mà kẻ thù rêu rao hiện nay, muốn phủ nhận các giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống đạo đức, cho rằng, trong thời đại chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ, thông tin là tất cả, tối ưu, không cần hệ tư tưởng, giải thể ý thức hệ để hòa nhập, hội nhập, không có rào cản. Đây lại là một thủ đoạn thâm độc khác và vô cùng nguy hiểm, rất dễ thâm nhập vào lớp trẻ và trong nhiều giai tầng xã hội. Đề cao lợi ích vật chất, tuyên truyền lối sống hưởng thụ, khuynh hướng kỹ trị, cuối cùng vẫn là phủ nhận chủ nghĩa xã hội. Phải khẳng định các giá trị tinh thần, phải coi trọng đạo đức và văn hóa, phải giữ vững niềm tin để xã hội, con người không chệch hướng, ngăn chặn sự phát triển xấu, hoang dã, bản năng, phản phát triển.

Năm là, vạch trần thủ đoạn ly gián giữa Đảng với nhân dân và Quân đội, sự xuyên tạc tình hình phát triển của xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vừa qua. Chính là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc ta, phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam đã là sức mạnh và động lực giúp cho Việt Nam vượt qua thảm họa, tất cả vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân, tạo nên sức sống, đà tăng trưởng khởi sắc của Việt Nam. Đó là năm vấn đề cốt yếu phải quan tâm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như thế nào?

Trước hết, cần có sự hiểu biết khoa học, thấu đáo về lý luận và lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Muốn vậy phải nghiên cứu công phu, có hệ thống, trên quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển, kết hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành để nắm được bản chất, đặc điểm và các giá trị bền vững trong di sản kinh điển mácxít. Riêng với tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh cũng phải nghiên cứu các văn phẩm lý luận và hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú của Người trong hơn sáu thập kỷ hoạt động với tư cách một nhà tư tưởng mácxít sáng tạo ở tầm vóc một nhà kinh điển của cách mạng Việt Nam. Cống hiến vô giá của Hồ Chí Minh đối với lịch sử là ở chỗ, Người không chỉ vận dụng sáng tạo mà còn phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam. Những phát hiện mang tầm vóc thời đại của Hồ Chí Minh chẳng những làm sáng tỏ quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là quy luật ra đời và phát triển của Đảng ta, lý luận và phương pháp xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam; lý luận về chiến tranh nhân dân, đặt nền móng cho khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Việt Nam; lý luận (ở tầm học thuyết) về giải phóng và phát triển Việt Nam mà hạt nhân là lý luận về sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh còn đề ra lý luận về đạo đức cách mạng và thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, trong dân như một mẫu mực.

Người còn dày công xây dựng đường lối chính trị, tìm ra bí quyết của mọi thành công của cách mạng. Người có tầm nhìn chiến lược về con người và văn hóa, về đổi mới và hội nhập để hiện đại hóa đất nước, để thực hiện hoài bão và khát vọng phát triển. Bằng những đóng góp đó, Hồ Chí Minh với thiên tài tư tưởng và tổ chức, chẳng những đã tìm đường, chọn đường, nhận đường, trở thành người dẫn đường của cách mạng Việt Nam mà còn làm phong phú, sâu sắc, mới mẻ và hiện đại chủ nghĩa Mác - Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Người xứng đáng được thừa nhận là một tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhiều luận điểm của Người mang tầm kinh điển với phong cách và bản lĩnh đặc sắc riêng có của Người. Không hàn lâm bác học, giản dị mà sâu sắc, “chạm” vào chân lý, trở thành chân lý, quy luật của muôn đời. Không giáo điều, không biệt phái, tư duy khoáng đạt, cởi mở, kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại thông qua tiếp biến để phát triển, trung thành một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để làm giàu sức sống chủ nghĩa đó trong thời đại mới, trong thế giới hiện đại ngày nay. Đó là đặc điểm tạo nên chân giá trị và tầm ảnh hưởng của tư tưởng, của di sản Hồ Chí Minh ở trong nước và trên thế giới. Làm rõ những vấn đề cốt lõi lý luận đó, chứng minh được giá trị, sức sống và ý nghĩa từ những cống hiến đó của Người trong thực tiễn cách mạng thế kỷ XX, hiện nay cũng như sau này. Đó là hướng đích của chúng ta trong việc bảo vệ sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, triển vọng và sức sống của chủ nghĩa xã hội, là cách bảo vệ tốt nhất nền tảng tư tưởng của Đảng, là thái độ và phương pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay.

Điều đó có nghĩa là, thấm nhuần, tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, nắm vững thế giới quan cách mạng và khoa học, phép biện chứng duy vật, tuân theo chỉ dẫn của V.I.Lênin “phân tích cụ thể, một tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác”. Muốn bảo vệ giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác thì những người mácxit phải không ngừng bổ sung, phát triển lý luận đó nếu không muốn trở thành lạc hậu so với sự phát triển, biến đổi không ngừng của thực tiễn. Sức sống của chủ nghĩa Mác phải được chứng minh bằng thực tiễn cách mạng, sáng tạo trong nhận thức và cải tạo thế giới đúng quy luật, phải vượt lên chủ nghĩa kinh nghiệm thực dụng, phải khắc phục triệt để bệnh giáo điều, sao chép máy móc hoặc chủ quan duy ý chí, làm cho chủ nghĩa Mác bị sơ cứng, không phát triển, trở nên lạc hậu, ngưng đọng, xa lạ với bản chất của nó. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là bản chất, là nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta cho rằng, “chân lý là cụ thể nên cách mạng phải sáng tạo”. Độc lập sáng tạo trong tiếp thu, vận dụng lý luận, phương pháp Mác - Lênin thì cách mạng sẽ phát triển thuận lợi và thành công, ngược lại giáo điều, máy móc thì cách mạng sẽ thất bại.

Cho nên, để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì phải nghiên cứu, nắm vững, làm chủ lý luận tiên phong, chống bệnh chủ quan, máy móc, chống giáo điều, chống hẹp hòi, biệt phái, chống chủ nghĩa kinh nghiệm, đổi mới tư duy lý luận, nắm vững thực chất, tinh thần và phương pháp Mác - Lênin như Hồ Chí Minh nói để độc lập tìm ra những vấn đề của chính mình và giải quyết nó trong thực tiễn bằng quan điểm và giải pháp khoa học.

Có nắm vững những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin mới có cơ sở khoa học để bảo vệ và phát triển nó, để nhận diện đúng những sự xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch từ động cơ, mục đích đến các thủ đoạn tinh vi, thâm độc, cả những thủ thuật tầm thường, lừa bịp, mỵ dân, kích động mà kẻ thù của cách mạng thường tạo dựng, khai thác để hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm lung lay, suy giảm niềm tin của chúng ta đối với ý thức hệ của Đảng ta và của mỗi chúng ta.

Phải bảo vệ cái đúng, cái chân lý, cái bản chất của chủ nghĩa, học thuyết mà chúng ta tin theo. Phải phê phán, bác bỏ cái sai, cái xấu độc hại mà kẻ thù gieo rắc, tấn công vào niềm tin của chúng ta, lung lạc tư tưởng, làm suy yếu tinh thần và làm lệch lạc phương hướng của cách mạng. Kẻ thù cũng thường nhân danh cái khách quan - khoa học, nhân danh cách mạng và đổi mới để làm lẫn lộn thật - giả, chính - tà, bản chất - hiện tượng, đối lập giả tạo và khiên cưỡng giữa C.Mác -Ph.Ăngghen với V.I.Lênin, đối lập V.I.Lênin với Hồ Chí Minh, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, đồng nhất sự sụp đổ mô hình, thể chế lạc hậu đã bị thực tiễn vượt qua ở Liên Xô, Đông Âu với chủ nghĩa xã hội, coi chủ nghĩa Mác - Lênin đã hết vai trò lịch sử và chủ nghĩa xã hội đã cáo chung, tuyên truyền về địa vị và sức mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại, rằng chỉ có chủ nghĩa tư bản mới là sự lựa chọn đúng và có triển vọng. Chúng bác bỏ vô cớ sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đạo đức, lối sống, đời tư của Hồ Chí Minh, gây hoang mang, chia rẽ trong các tầng lớp nhân dân, mưu toan đầu độc tinh thần của lớp trẻ để cuối cùng lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, thay đổi chế độ ở Việt Nam. Những sự xuyên tạc, sai trái, thù địch đó trên thực tế đã lừa bịp, lôi kéo được một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết hoặc có động cơ không trong sáng, hoặc thiếu bản lĩnh mà ngả nghiêng dao động, từ bỏ lý tưởng, niềm tin, trở nên chống đối gây phương hại tới sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Sinh thời, C.Mác từng làm rõ những “giả tượng” (biểu tượng giả) xuyên tạc, đánh lừa bản chất. V.I.Lênin với thái độ cách mạng và khoa học, kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác đã từng vạch rõ, trên thực tế, những kẻ phê phán, phỉ báng và chống đối Mác quyết liệt nhất, lại là những kẻ hiểu biết về Mác tồi nhất.

Những người cách mạng, Đảng cách mạng trong những thời điểm thử thách, bước ngoặt mà rơi vào tình trạng dao động, mất phương hướng thì sẽ đưa cả sự nghiệp và phong trào tới thất bại, tổn thất khôn lường, coi như một hành vi tự sát.

Điều đó thức tỉnh mọi người rằng, không một kẻ thù nào, thế lực nào có thể phá hoại được sự nghiệp của chúng ta, trừ khi chúng ta tự phá hủy sự nghiệp của chúng ta. Lời cảnh báo đó vẫn không mất đi tính thời sự của nó. Hồ Chí Minh thường gắn liền khoa học với chính trị và đạo đức. Người thường xuyên nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất, nó phá từ trong phá ra. Xét đến cùng, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, muốn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thì phải kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân tinh vi, thâm độc trong mỗi con người, nhất là trong cán bộ, đảng viên, trong đội ngũ những người làm lý luận, làm công tác tư tưởng của Đảng./.

Nhiên liệu hạt nhân – "vũ khí" của Nga khiến Mỹ và phương Tây lo ngại

 

MISTEN - Sau dầu mỏ và khí đốt, các nước phương Tây đang tìm cách cấm vận urani của Nga. Tuy nhiên, chính họ cũng đang dựa vào dịch vụ và vật liệu của Moscow để vận hành các lò phản ứng điện hạt nhân của mình.

Những tác động mà các nước phương Tây đang phải đối mặt do sự thống trị của Nga trên thị trường dầu mỏ và khí đốt tự nhiên toàn cầu là một thực tế được nhắc đến rất nhiều, dù cho tới nay việc tìm ra giải pháp vẫn là thách thức lớn. Tuy nhiên, vẫn còn một rủi ro khác về năng lượng nhưng ít được chú ý hơn: đó là thị phần đáng kể của Nga trên thị trường điện hạt nhân toàn cầu.

Cú sốc tiềm tàng từ điện hạt nhân

Điện hạt nhân là một bộ phận quan trọng trong lưới điện của nhiều quốc gia. Các nước châu Âu phụ thuộc nhiều vào năng lượng hạt nhân, trong đó Pháp sử dụng 69% nguồn cung là từ điện hạt nhân; Ukraine 51%, Hungary 46%, Phần Lan 34% và Thụy Điển 31%. Ở Mỹ, các lò phản ứng hạt nhân tạo ra 20% điện năng của quốc gia.

Tuy nhiên, ảnh hưởng kinh tế từ xung đột ở Ukraine có thể gây gián đoạn nguồn cung nhiên liệu cho ngành công nghiệp điện hạt nhân toàn cầu, bởi Nga cũng đóng vai trò đáng kể trong lĩnh vực này.

Theo các chuyên gia Matt Bowen và Paul Dabbar tại Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu, các nước phương Tây cần đánh giá lại mức độ phụ thuộc vào Nga trong lĩnh vực điện hạt nhân đồng thời tìm giải pháp thay thế, nếu không chính họ sẽ phải đối mặt với một cú sốc năng lượng khác.

Trong chuỗi giá trị hạt nhân thương mại, có một số phân đoạn mà ở đó một nhà cung cấp của Nga cũng có thể tác động đến khả năng hoạt động của các lò phản ứng tại phương Tây trong việc sản xuất điện.

Đối với nhiên liệu hạt nhân, các phân đoạn này bao gồm khai thác và nghiền mịn urani, chuyển đổi nhiên liệu urani và làm giàu urani.

Đối với các lò phản ứng do Nga thiết kế, chúng bao gồm các dịch vụ và phụ tùng thay thế mà chỉ nhà sản xuất thiết bị gốc mới có.

Nga chiếm thị phần đáng kể trong nhiều phần của chuỗi cung ứng hạt nhân thông qua Tập đoàn năng lượng nguyên tử quốc gia Rosatom. Vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Mỹ, đang rơi vào tình thế đầy thách thức.  

Nếu cấm vận urani Nga, phương Tây tự đánh vào chân mình

Để gia tăng sức ép trừng phạt Nga, các nước phương Tây có thể muốn hạn chế ngân sách mua nguồn nhiên liệu hạt nhân từ Rosatom để giảm rủi ro chuỗi cung ứng và ngừng gửi tiền đến Nga, nhưng đồng thời, chính họ cũng đang dựa vào dịch vụ và vật liệu của Nga để vận hành các lò phản ứng của mình.

Không chỉ Mỹ, nhiều đồng minh và đối tác của Washington như Phần Lan, Cộng hòa Séc, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine cũng đang vận hành các lò phản ứng điện hạt nhân công nghệ Nga. Nguy cơ đối với những quốc gia này là các lò phản ứng do Nga xây dựng sẽ gặp khó khăn trong vận hành hoặc thậm chí ngừng hoạt động vì không có vật liệu, thiết bị và dịch vụ để duy trì.

Theo thời gian, các công ty của phương Tây có thể bắt đầu sản xuất sản phẩm thay thế để bù lại nguồn cung thiếu hụt từ Nga. Về chuỗi cung ứng nhiên liệu urani, do Nga chỉ khai thác 6% urani trên thế giới, các quốc gia và chủ sở hữu nhà máy điện hạt nhân vẫn có thể tìm nguồn quặng urani khác trên toàn cầu.

Tuy nhiên, Nga kiểm soát tới 40% thị trường chuyển đổi nhiên liệu urani toàn cầu, trong đó “bánh vàng” urani oxide được chuyển thành urani hexafluoride - một dạng khí cần thiết cho quá trình làm giàu. Urani tự nhiên có hàm lượng đồng vị Urani-235 là 0,7% và quá trình chuyển đổi sẽ làm tăng hàm lượng U-235 lên 3-5% cần thiết để vận hành các lò phản ứng hạt nhân.

Nga cũng nắm giữ 46% năng lực làm giàu urani toàn cầu. Phần lớn trong số 439 lò phản ứng trên khắp thế giới, bao gồm tất cả các lò phản ứng của Mỹ, đòi hỏi phải có nhiên liệu urani được làm giàu. Mặc dù mỗi lò phản ứng có mức độ phụ thuộc khác nhau vào các dịch vụ của Nga, nhưng về tổng thể vấn đề vẫn nằm ở sự phụ thuộc vào vật liệu của Nga.

Một thực tế rõ ràng, nếu Nga ngừng cung cấp urani đã làm giàu cho các công ty điện lực của Mỹ, Washington có thể nhận thấy tác động đối với hoạt động của lò phản ứng ngay trong năm nay hoặc năm sau. Điều đó có thể dẫn đến sự cố ngừng hoạt động của các lò phản ứng, và do năng lượng hạt nhân chiếm hơn 20% công suất phát điện ở các khu vực của Mỹ, giá điện sẽ còn tăng cao hơn mức lạm phát giá điện hiện nay. Thậm chí ở sản lượng điện có thể sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu.

Cần có giải pháp ngay từ bây giờ

Nếu có bất kỳ câu hỏi nào về việc Nga có sử dụng quân bài xuất khẩu năng lượng phục vụ cho các mục đích chính trị hay không, điều này đã được làm rõ khi Moscow ngừng cung cấp khí đốt tự nhiên cho Ba Lan, Bulgaria và Phần Lan hồi tháng 5.

Theo các chuyên gia Matt Bowen và Paul Dabbar, Mỹ cần các chính sách chủ động và thúc đẩy hành động để thoát khỏi sự phụ thuộc vào Nga về nhiên liệu urani. Ví dụ, một cơ sở chuyển đổi nhiên liệu urani có trụ sở tại Mỹ đã ngừng hoạt động trong nhiều năm, hiện có kế hoạch tái khởi động vào năm 2023. Dù chỉ hoạt động với một nửa công suất thiết kế, nhưng cơ sở này vẫn có thể thay thế một lượng lớn các dịch vụ chuyển đổi nhiên liệu của Nga với sự hỗ trợ từ chính sách của chính phủ Mỹ cũng như đơn đặt hàng từ các công ty điện lực tư nhân.

Về việc làm giàu urani, chính phủ Mỹ và các công ty điện lực tư nhân có thể xem xét chiến lược mở rộng sản xuất và sử dụng công nghệ của Mỹ để thay thế nguồn cung của Nga càng sớm càng tốt.

Hiện nay, có 3 công ty lớn có thể mở rộng sản xuất là công ty tư nhân Centrus của Mỹ, công ty Urenco thuộc sở hữu của Vương quốc Anh-Hà Lan-Đức và công ty Orano thuộc sở hữu của Pháp. Ngoài ra, Mỹ cần một chuỗi nhiên liệu urani 100% công nghệ Mỹ cho vũ khí hạt nhân và phục vụ các lò phản ứng hạt nhân của Hải quân Mỹ.

Mỹ đã mất năng lực làm giàu urani bằng công nghệ trong nước vào năm 2013 khi nhà máy cuối cùng đóng cửa và Washington phải dựa vào lượng hàng tồn kho để sử dụng cho các mục đích quân sự.

Việc Nga thống trị các mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng hạt nhân là một rủi ro tiềm ẩn của ngành năng lượng toàn cầu. Chính sách và đầu tư của khu vực tư nhân cũng là yếu tố cần thiết để giải quyết thách thức này.

Xung đột Nga-Ukraine có thể còn lâu mới kết thúc. Việc Moscow sử dụng năng lượng như một vũ khí uy lực để “giáng đòn” vào các đồng minh của Ukraine cũng có thể mới chỉ ở giai đoạn đầu. Các nước phương Tây cần giải pháp ngay từ bây giờ để thoát khỏi sự phụ thuộc vào Nga trong chuỗi cung ứng năng lượng hạt nhân, cứu nền kinh tế của họ khỏi những cú sốc năng lượng lớn hơn sau này.

vov.vn

Nhận thức chung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề nguyên tắc, là một trong những quan điểm cơ bản, trọng yếu, xuyên suốt và bao trùm trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, liên quan trực tiếp đến hệ tư tưởng của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Vai trò, tầm quan trọng của tư tưởng, lý luận đã được Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định từ đầu trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời, năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh, “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, “Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt” và chủ nghĩa chân chính, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin”. Không giữ vững chủ nghĩa thì không thể có phương hướng chính trị đúng, không thể vạch rõ đường lối và phương pháp cách mạng, chiến lược và sách lược cách mạng để tập hợp lực lượng, gây dựng phong trào, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đấu tranh thực hiện lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề hệ trọng đầu tiên để giữ vững bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, liên quan trực tiếp, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Cách đây hơn 35 năm, khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới tại Đại hội VI (1986), Đảng ta đã xác định: Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là đổi mới có nguyên tắc, là kiên định con đường đã lựa chọn - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng ta nêu rõ, nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải ra sức bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh kiên quyết, phản bác sự xuyên tạc, truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối và phản động ở trong và ngoài nước nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Phải kiên trì lý tưởng và mục tiêu, kiên định con đường đã lựa chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản, bất luận trong hoàn cảnh và tình huống nào.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là hai mặt không tách rời của cùng một vấn đề mục tiêu: giữ vững niềm tin khoa học, tiếp tục đổi mới sáng tạo, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân. Muốn thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc, cường thịnh, trường tồn thì phải ra sức tăng cường tiềm lực tư tưởng, trí tuệ của Đảng, sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và trong dân, nêu cao quyết tâm, tín tâm và đồng tâm từ trong Đảng đến ngoài xã hội, “cách mạng phải có sức mạnh tự bảo vệ” (V.I.Lênin), “cách mạng lấy sức mạnh từ trong nhân dân” (Hồ Chí Minh). Bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng thì tự nó đã có đủ sức mạnh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để giữ vững niềm tin, củng cố đức tin, thúc đẩy hành động sáng tạo vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đấu tranh có hiệu quả để vạch trần và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là thái độ và hành động tích cực, chủ động để khẳng định giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo phương châm của Hồ Chí Minh, xây đi liền với chống. Tác phẩm lý luận quan trọng của Bác vào lúc cuối đời “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” có ý nghĩa sâu xa là vì vậy. Muốn bảo vệ thì phải trung thành, muốn trung thành thì phải vận dụng đúng và phát triển sáng tạo học thuyết, chủ nghĩa mà chúng ta theo đuổi. Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng đòi hỏi Đảng, mọi cán bộ đảng viên, chiến sĩ và nhân dân không chỉ nâng cao nhận thức khoa học, trau dồi lập trường quan điểm chính trị và bản lĩnh chính trị vững vàng “không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” như Đảng ta đã nhấn mạnh mà còn rất cần đến phẩm chất đạo đức trong sáng của mỗi người.

Từ nhận thức phải dẫn đến hành động, từ giác ngộ lý luận phải dẫn đến thực hành lý luận, lý luận gắn liền với thực tiễn. Cùng với sức mạnh của khoa học, chính kết quả của hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, biến khát vọng thành hiện thực, làm cho nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, một nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ này, làm cho Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cả nước đồng lòng, nhân dân tin tưởng, gắn bó mật thiết với Đảng, với chế độ và Quân đội ta “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như Bác Hồ chỉ dẫn… thì đó là sức mạnh tổng hợp để mọi quan điểm sai trái, thù địch không còn có thể nhiễm độc trong đời sống tinh thần của con người và xã hội. Cho nên, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Sự nghiệp của Đảng, của dân càng thu được những thành tựu to lớn, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng cao thì đó sẽ là minh chứng thực tiễn có sức thuyết phục lớn nhất, bền vững nhất về bản chất khoa học - cách mạng - nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng của Đảng ta./.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải chỉ có bộ phận thường trực, lực lượng nòng cốt mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, các cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, chính quyền địa phương và của toàn dân. Thực hiện tốt giải pháp này, sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp nhằm đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm sai trái, thù địch. Các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị trong tỉnh nghiên cứu nắm vững âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, tham mưu cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp lãnh đạo, chỉ đạo xử trí tốt các tình huống khẩn cấp về quốc phòng, an ninh. Giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần phát huy tính chiến đấu khi tham gia mạng xã hội “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh”; “lấy số đông tích cực, đẩy lùi số ít tiêu cực” và “phủ xanh thông tin tích cực”.

Đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đây không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.