Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

THỦ ĐOẠN CỦA THẾ LỰC ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA Tham nhũng đang là một vấn nạn chung của toàn cầu, không riêng một quốc gia nào. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước của Nhân dân ta. Với thủ đoạn lợi dụng những vụ án tham nhũng liên quan đến cán bộ, đảng viên đã và đang xảy ra hoặc những sự việc tiêu cực trong xã hội. Bằng những bài viết mang nặng sự suy diễn chủ quan, tô vẽ, thổi phồng, thậm chí xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, quy kết và thổi phồng cho “tham nhũng” là tình trạng “phổ biến”, “bản chất” của chế độ xã hội chủ nghĩa, một “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo, do “năng lực quản lý yếu kém” của Nhà nước, có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí” của lãnh đạo, chính quyền các cấp, vu khống, bôi nhọ về đời tư, sự minh bạch của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Mục đích của chúng nhằm vẽ lên một bức tranh với gam màu xám về thực trạng xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ đảng viên với quần chúng Nhân dân. Đảng, Nhà nước ta không phủ nhận tham nhũng đã và đang tồn tại ở Việt Nam; Đảng ta đã khẳng định đây là vấn đề nhức nhối, là một trong những nguy cơ của cách mạng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với xã hội, trực tiếp phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, dẫn đến nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Bằng trách nhiệm chính trị, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh loại trừ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng và loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, không để tham nhũng cản trở công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn công tác phòng chống tham nhũng hiện nay là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, chủ quan, thù địch để thực hiện mục đích, ý đồ xấu./. ST
Trò lố của những tên phản động lưu vong. Sau khi khống chế thành công đại dịch Covid-19, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc huy động nguồn lực để phục hồi kinh tế-xã hội, đất nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện chính trị-xã hội quan trọng, được dư luận khu vực và thế giới đánh giá cao. Những sự kiện nổi bật, tiêu biểu thời gian gần đây là chuyến thăm và làm việc của đoàn đại biểu cấp cao do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc; SEA Games 31 tổ chức thành công rực rỡ tại Việt Nam; Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII); điều tra, xử lý các đối tượng tham nhũng liên quan đến Công ty Việt Á... Sự thành công rất tốt đẹp của các sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng đã góp phần củng cố, nâng tầm vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thể hiện lòng tin, niềm tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước trên khắp các lĩnh vực đời sống xã hội. Hình ảnh cả rừng cờ sao xuống đường mừng chiến thắng; người dân Việt Nam thân thiện, nghĩa tình đón tiếp, phục vụ, cổ vũ đoàn vận động viên của các nước trên khắp các khán đài, khắp các địa phương; hai tiếng Việt Nam được xướng lên đầy trân trọng trên truyền thông quốc tế... đã trở thành cảm hứng chủ lưu trên truyền thông và MXH của người dân cả nước. Tuy nhiên, chính những dấu ấn rất đáng tự hào của dân tộc đã khiến các thế lực thù địch, những đối tượng bất mãn, phản động lưu vong cay cú. Họ tìm mọi cách cắt ghép, bẻ câu, chẻ chữ... để lấy cớ xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, giễu cợt đồng bào (trong đó có cả người thân, gia đình của chính họ), phỉ báng văn hóa dân tộc, vị thế quốc gia... Có khá nhiều thành phần dạng này, trong đó, những đối tượng có hành vi chống phá liên tục thời gian gần đây có thể nhắc đến là: Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Nguyễn Văn Đài, Lê Minh Nguyên, Bùi Thanh Hiếu (Người buôn gió)... Họ lập nhiều tài khoản trên MXH, nhất là YouTube, liên tục thực hiện các video có nội dung thù địch, xuyên tạc, chống phá đất nước. Một trong những nội dung được các đối tượng phản động lưu vong tập trung xuyên tạc nhiều nhất là chuyến thăm và làm việc của đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc. Đáng tiếc là trong dòng thông tin mang tư tưởng thù địch, chống phá đất nước còn có sự tham gia của một số cá nhân người Mỹ gốc Việt đang làm việc trong hệ thống chính quyền và quân đội Hoa Kỳ. Những luận điệu của họ dưới các hình thức gọi là “phỏng vấn”, “hội luận”, “đàm luận”, “phóng sự cộng đồng”... có nội dung phiến diện, quy chụp vô căn cứ đã trở thành đề tài của một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại khai thác. Họ thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc với mưu đồ chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ... Trong một clip đăng tải trên kênh YouTube những ngày qua, Nguyễn Văn Đài, đối tượng đang lưu vong tại Cộng hòa Liên bang Đức, với thái độ huênh hoang kiểu “ngụy hàn lâm”, đã lấy hình ảnh rác thải sinh hoạt để “bình loạn” về tình hình chính trị trong nước. Bằng nhận thức của một người bình thường cũng đủ nhận ra, Nguyễn Văn Đài đang cố tình khoe mẽ, muốn chứng tỏ bản thân là người hiểu biết, kiến thức “uyên thâm”, am hiểu thời cuộc. Thực chất, những thông tin cóp nhặt và mớ kiến thức lỗ mỗ ấy không thể che giấu được sự thật là Nguyễn Văn Đài và những thành phần phản động lưu vong đang phải đương đầu với cuộc sống thường nhật nơi xứ người. Người dùng MXH không khỏi bật cười khi xem clip Nguyễn Văn Đài trò chuyện với “Người buôn gió” Bùi Thanh Hiếu. Trong lúc Đài huênh hoang giới thiệu là đã đến xem “các cơ sở sản xuất của Bùi Thanh Hiếu” ở Đức thì “Người buôn gió” mặt ỉu xìu nói rằng, hoàn toàn không có “cơ sở sản xuất” nào cả, mà Hiếu chỉ là người đang đi làm thuê kiếm ăn. Ngay từ khi còn ở trong nước, tính ảo tưởng, thích khoe mẽ, dương dương tự đắc của Nguyễn Văn Đài đã bị dư luận tẩy chay, lên án, cho đến khi đã lưu vong xứ người, Đài vẫn chứng nào tật ấy. Tương tự, những đối tượng như Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Hoài An... cũng luôn huênh hoang khoe mẽ kiểu “ngụy hàn lâm”, thực hiện các clip với thái độ trịch thượng, giễu cợt... để bôi nhọ đất nước. Ai cũng biết, các đối tượng có tư tưởng phản bội quê hương, cho dù là ai, làm gì, sống ở quốc gia, vùng lãnh thổ nào... cũng đều khó ngẩng đầu lên được. Bởi, khó có một nền văn hóa nào, không một tổ chức tiến bộ nào lại dung túng, dung nạp những kẻ vong ân bội nghĩa với nơi chôn nhau cắt rốn. Trên các nền tảng MXH, nhiều tài khoản đã thẳng thắn lên tiếng rằng, đến quê hương, đất nước mình mà còn chối bỏ thì còn sống được ở đâu? Hiện nay, nhiều người trong số đó, để kiếm tiền mưu sinh, những người này đã lập các tài khoản trên MXH, kiếm ăn bằng công việc chửi bới để “câu view”, bất chấp đạo lý. Một số thì được các thế lực thù địch lợi dụng, tận dụng như những con rối...
VIỆT NAM KHÔNG CẦN ĐA ĐẢNG Vừa qua, trên trang mạng xã hội, đăng tải bài viết: “Sự ngụy biện của đám tuyên giáo” của Phạm Nhật Bình. Trong suốt bài viết, Bình “khéo tìm cách” tung tin, nói xấu những người làm công tác tuyên giáo, ngụy tạo các sự kiện lịch sử, công kích chế độ nhất nguyên chính trị; đồng thời tuyên truyền và đòi “đa đảng” ở Việt Nam. Thực chất, đây cũng chỉ là chiêu trò cũ rích – phủ nhận nhận thành tựu cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, hòng gây sự phân tâm trong xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ, bởi: Một là, từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Mặt Trận Việt Minh đã lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành chính quyền mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội – đó chính là công lao to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai là, thời kỳ 1945-1975, một lần nữa lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và thực tế, với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1946 – 1954 và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975 thắng lợi đã chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc và thống nhất nước nhà, mở ra bước ngoặt vĩ đại thiết lập quyền làm chủ của nhân dân trên toàn bộ đất nước, đưa đất nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, đây là minh chứng rõ nét nhất về vai trò hoạch định chủ trương, đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba là, thực tế sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc đổi mới đất nước đã chứng minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Đất nước Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu, chịu hậu quả tàn khốc của hai cuộc chiến tranh, đời sống khó khăn, bị bao vây cấm vận đã tiến hành đổi mới thành công, trở thành nước có thu nhập trung bình, nền kinh tế đang phát triển năng động, tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được đảm bảo, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Như vậy, cái mà Phạm Nhật Bình gọi là “độc đảng” đưa đất nước “không ngóc đầu lên được” – mới thực sự là sự xuyên tạc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, đạt được tiêu chí cao nhất đối với một đảng cầm quyền đó là: Chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, văn hoá, xã hội phát triển bền vững, an sinh xã hội được bảo đảm. Đúng như, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn” và “Ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng”./.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TÍNH ĐẢNG TRONG NỀN BÁO CHÍ CÁCH MẠNG

 

Nhiều học giả tư sản cho rằng, muốn có tự do báo chí, tự do ngôn luận thì không những phải cho báo chí tư nhân hoạt động, mà không để báo chí bị chi phối, ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị.

Thậm chí họ cho rằng, sở dĩ Việt Nam không có tự do báo chí, tự do ngôn luận bởi xuất phát từ nền chính trị nhất nguyên, bởi "chế độ độc đảng" can thiệp vào hoạt động báo chí. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, vô căn cứ. Bởi lẽ, không có một nền báo chí nào hoàn toàn đứng ngoài chính trị, vô chính trị như các luận điệu thù địch xuyên tạc, rêu rao.

Tính đảng trong thông tin báo chí là hiển nhiên

Trong giao tiếp hằng ngày, khi chúng ta nghe lại câu chuyện từ ai đó, thì người kể câu chuyện đều có thái độ rõ ràng, khen hay chê, đồng tình hay phản đối, cho dù thái độ ấy có thể không bộc lộ trực tiếp, nhưng các chi tiết câu chuyện thì bộc lộ rõ ràng chủ định của người kể. Nhà văn sáng tạo tác phẩm cũng vậy, hình tượng nhân vật cùng hệ thống chi tiết trong tác phẩm biểu hiện thái độ, quan điểm của tác giả. Nhưng trong văn học lại có chuyện, khi nhân vật-hình tượng nghệ thuật đã “trưởng thành” thì có thể tự “phát tác” mà nhà văn khó "quản trị" được. Còn trong sáng tạo tác phẩm báo chí, toàn bộ chi tiết, số liệu, nhân vật, kể cả ngôn từ, giọng điệu... đều được nhà báo “quản trị” chặt chẽ. Cái đó người ta gọi là tính khuynh hướng. Tính khuynh hướng hình thành một cách tự nhiên trong phản ánh cuộc sống, trong thông tin thực tế về những gì đã và đang diễn ra.

Trong báo chí, phản ánh thực tế bao giờ cũng có những thuộc tính vốn có của nó. Đó là, phản ánh cái khách quan và phản ánh luôn mang tính mục đích, vì lợi ích nào đó; và tất nhiên là người phản ánh, đưa ra thông tin không thể làm hại đến lợi ích của bản thân mình. Phản ánh do đó có tính chọn lọc. Việc chọn lọc này vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và thể hiện năng lực của chủ thể sáng tạo, tức là “gói được” bức tranh hiện thực trong phạm vi phản ánh và làm nổi bật bản chất sự kiện, vấn đề thông tin.

Những thuộc tính vốn có này, xét cho cùng, cũng trả lời câu hỏi: Phản ánh, thông tin để làm gì, vì lợi ích của ai? Vậy nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các nhà báo, khi cầm bút, phải tự trả lời được mấy câu hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Và cuối cùng mới viết như thế nào? Đây là những câu hỏi nằm lòng mà các nhà báo luôn ghi nhớ, bất kỳ anh ta làm việc ở cơ quan báo chí nào.

Bản chất hoạt động báo chí là hoạt động truyền thông đại chúng, hướng tới và phục vụ đông đảo công chúng, xã hội và vì lợi ích cộng đồng. Mỗi cộng đồng, xã hội đều do một giai cấp, một chính đảng thống trị/cầm quyền/lãnh đạo; sự vận động, phát triển xã hội ấy chịu sự chi phối quan điểm, chính sách của đảng cầm quyền. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, quan điểm/chính sách thời ông D.Trump làm tổng thống khác với thời ông J.Biden làm tổng thống, thậm chí có chính sách bài trừ nhau, mặc dù đều là do giai cấp tư sản thống trị. Báo chí Hoa Kỳ, về cơ bản thông tin theo định hướng chính sách của đảng cầm quyền thông qua quyết sách của tổng thống.

Như vậy, báo chí ý thức tự giác được quá trình thông tin đứng trên lập trường của đảng phái nào, thông tin vì lợi ích giai cấp nào, cái đó người ta gọi là tính giai cấp của báo chí. Khi báo chí nhận thức được rằng, thông tin phục vụ lợi ích của đội tiền phong và đại biểu lợi ích trung thành của giai cấp, của chính đảng-đó gọi là tính đảng. Như vậy, tính đảng là sự biểu hiện tập trung nhất, đậm đặc nhất, tinh túy nhất của tính giai cấp. Đó là nhìn từ phương diện tư tưởng-chính trị.

Còn về lợi ích dân sinh, cần phải xem, lợi ích đó có đáp ứng nhu cầu lợi ích cơ bản, cấp bách của đông đảo nhân dân hay không. Vậy nên, dòng thông tin báo chí thể hiện sâu sắc tính đảng, nếu gắn chặt với tính nhân dân, tính dân tộc, thì báo chí sẽ quy tụ và thể hiện được sức mạnh thực tế. Lợi ích căn bản và cấp bách của nhóm xã hội lớn, được báo chí ủng hộ và bảo vệ, đồng thời báo chí sẽ khơi nguồn, hình thành dư luận xã hội.

Báo chí cách mạng Việt Nam thể hiện tính đảng, tính nhân dân sâu sắc

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng là lực lượng cầm quyền, lãnh đạo toàn dân xây dựng, phát triển đất nước theo cương lĩnh, đường lối và chính sách được hoạch định. Do đó, báo chí thông tin, tuyên truyền cho toàn dân hiểu và thực hiện, để biến quan điểm, chính sách ấy thành hiện thực cuộc sống; đồng thời, báo chí đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng vì nó làm phương hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của nhân dân, đất nước.

Trên cơ sở nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam công khai thừa nhận tính đảng trong báo chí và đã thiết lập các quan điểm nền tảng cho báo chí hoạt động; đồng thời thiết kế một nền báo chí cách mạng mà cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của tổ chức trong hệ thống chính trị. Đó là quan điểm nhất quán và là nền tảng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

Báo chí cách mạng Việt Nam là một nền báo chí thể hiện rõ tính đảng, đồng thời mang đậm tính nhân dân, vì Đảng lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phục vụ nhân dân, vì sự phát triển của dân tộc. Đó cũng là nền báo chí thấm đẫm tính nhân văn, vì quyền và lợi ích chính đáng của công dân, vì sự phát triển con người. Đó cũng là nền báo chí thể hiện đạo đức cao cả, vì hệ giá trị dân tộc và chuẩn mực đạo đức cộng đồng, vì lợi ích công.

Với nhận thức như thế, làm sao có thể phủ nhận tính đảng của báo chí? Mặc dù không ít quan điểm từ phương Tây cho rằng, báo chí của họ đứng ngoài chính trị, đứng trên giai cấp và không can thiệp vào cuộc đấu tranh tư tưởng, nhưng thực tế thì ngược lại. Thậm chí ở Hoa Kỳ, cơ quan báo chí hay hãng truyền thông nào “thân cận” với đảng phái nào thì định hướng thông tin theo và phục vụ lợi ích chính trị của đảng ấy. Trong cuốn “Một nền báo chí không có tự do của chúng ta-100 năm phê bình truyền thông”, các tác giả đã đấu tranh, chỉ trích nhau và từ đó bộc lộ rõ thêm bản chất nền báo chí Hoa Kỳ. Trong thực tế, rất dễ nhận biết, báo chí Hoa Kỳ và báo chí phương Tây nói chung, khuynh hướng chính trị rất rõ ràng, phục vụ đường lối chính trị của giai cấp thống trị rất quyết liệt.

Một số biểu hiện cơ bản của tính đảng trong thông tin báo chí

Trước hết, về nội dung, yêu cầu của tính đảng trong hoạt động báo chí, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản đề cập, tựu trung lại có mấy vấn đề quan trọng: Một là, tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hai là, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước. Ba là, tuyên truyền, giáo dục tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đấu tranh bảo vệ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bốn là, đấu tranh chống những biểu hiện bảo thủ, lạc hậu, những thói hư tật xấu trong cộng đồng, những rào cản văn hóa trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong bất kỳ thể chế xã hội nào, báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp, là phương tiện và phương thức đi đầu trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng; do đó, báo chí trong môi trường truyền thông số luôn phải thể hiện là phương tiện và phương thức siêu kết nối công chúng-xã hội, tức là tận dụng khả năng siêu kết nối của nền tảng số để kết nối nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của nhân dân vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích cộng đồng. Đó là quá trình báo chí, truyền thông đại chúng tham gia can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội đã và đang đặt ra. Trong quá trình này, lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước luôn được thể hiện như sợi chỉ đỏ, có tính nguyên tắc. Sức mạnh chính trị, lợi ích chính trị của Đảng, trước hết thể hiện ở niềm tin chính trị của nhân dân. Do đó, báo chí cách mạng cần phải đề cao trách nhiệm chính trị trong xây dựng, kết nối niềm tin từ công chúng và nhân dân. Đảng, Nhà nước đã nêu rõ quan điểm xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Cần tiếp tục nêu cao tính đảng trong thông tin báo chí

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định, phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng Đảng, vấn đề căn cốt là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, chống lạm dụng quyền lực, bởi lạm dụng quyền lực thì sẽ tha hóa quyền lực và dẫn đến tha hóa chế độ xã hội. Vậy nên, nêu cao tính đảng của báo chí trước hết là trách nhiệm chính trị của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Tất cả bộ máy trong hệ thống chính trị không được ngăn cản báo chí thực hiện vai trò giám sát xã hội, trong thực hiện chính sách công, trong thực thi công vụ và trong đấu tranh chống lợi ích nhóm dưới mọi hình thức. Mọi biểu hiện coi nhẹ, buông lỏng hoặc ngăn chặn vấn đề này, đều là suy giảm tính đảng của báo chí cách mạng.

Mặt khác, đội ngũ nhà báo cách mạng, trước hết là người đứng đầu cơ quan báo chí, cần không ngừng học hỏi nâng cao trình độ và giác ngộ chính trị, cập nhật kiến thức và kỹ năng làm nghề, kỹ năng quản trị cơ quan báo chí trong tình hình mới. Cùng với đó, cần quan tâm đào tạo, phát triển và có chính sách thích đáng cho đội ngũ nhà báo chính luận, để họ đủ năng lực và chuyên tâm viết những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự trên các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội. Thực tế cho thấy, luồng báo chí thông tin sự kiện trên báo chí chúng ta cập nhật khá tốt, nhưng luồng những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự góp phần đấu tranh tư tưởng, hướng dẫn dư luận xã hội cần phải nhanh nhạy, sắc bén, kịp thời, thuyết phục hơn nữa.

Khi có chính sách phù hợp, chúng ta sẽ có được đội ngũ nhà báo chính luận ngang tầm, góp phần tiếp tục nêu cao tính đảng hơn nữa của báo chí và qua đó góp phần xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng, hiện đại, chuyên nghiệp và nhân văn.

TUẦN BÁO VĂN NGHỆ TPHCM LUẬN VỀ TRƯƠNG VĨNH KÝ.!!!

Trương Vĩnh Ký
Những bài viết về ông thì nhiều. Tất nhiên thời lệ thuộc ngoại bang, phương tiện truyền thông chính thống mặc sức tôn vinh như “bậc vĩ nhân” không chỉ của một vùng lãnh thổ Nam kỳ, mà còn là của toàn nhân loại. Trong khi dư luận của người dân bản xứ thì dè bỉu khinh khi: “Hay tám vạn tư mặc kệ / Không Quân-Thần-Phụ-Tử đếch ra người”! Khi nước nhà giành lại được độc lập chủ quyền, thì sự thật về con người này được phanh phui. Bà Hiệu trưởng có ngộ nhận không khi đưa ra ý kiến trên?

Tư liệu về họ Trương còn lưu nhiều, đặc biệt trong thư khố Pháp quốc. Công luận dù có trái chiều nhau, tựu trung không thể xóa được án phê là con người vong bản. Xin nêu ra vài dẫn chứng:

a/ Trương Vĩnh Ký là “bậc vĩ nhân”?

- Thầy dòng trẻ Pétrus Ky 22 tuổi vừa từ trường Dòng Penang chân ướt chân ráo về quê chịu tang mẹ viết ngay bức thư gửi viên trung tá J.B. Jaureguiberry đang giữ thành Gia Định: “Tôi nhân danh là người đại diện cho tín hữu Kitô kính dâng lên Ngài lời cầu xin của chúng tôi… Tất cả chúng tôi chắc sẽ chịu chết nếu Ngài không kịp đánh đuổi kẻ thù của chúng ta”. Tất nhiên “kẻ thù của chúng ta” đây là quân của triều đình An Nam và “chúng tôi” là số giáo dân mê muội biến thành tay sai của số giáo sỹ phương Tây, đến nỗi viên tướng Genouille – Tư lệnh quân viễn chinh, cũng phải thốt lên: “Không một nền cai trị nào dù là phục vụ đạo Kitô lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên, ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ”.

- “Ngay từ đầu Trương đã dấn thân, nhận cộng tác với Pháp một cách hình như không đắn đo, không day dứt, không hối tiếc, vẫn luôn luôn đi tới, là điều hết sức quý giá đối với người Pháp bởi vì họ từ xa tới, lạ đất, lạ người. Nếu không có người cộng tác từ bên trong thì khó mà xâm lược được Việt Nam” (Linh mục Trương Bá Cần). Đúng như Tổng Giám mục bề trên Pugignier nói toạc ra: “Không có các giáo sỹ và giáo dân thì quân đội Pháp như con cua bị bẻ hết cả chân, càng”!

- Là bề dưới, Trương chẳng cần che đậy: “Không một người Việt Nam nào theo Kitô giáo lại ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp. Ông vua Việt Nam không theo đạo (Kitô), không phải là vua của họ”! Bà con ở phía Nam ta còn nhớ, sau khi lật đổ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam. Một số nhân sỹ hân hoan yết kiến, thỉnh nguyện xin được dựng đền thờ tưởng nhớ Quốc Tổ Hùng Vương, thì ngài Tân Tổng thống tỉnh bơ đáp: “Tổ của các ông chớ đâu phải là Tổ của tui!”. Dòng dõi vua Đavít ở mãi đâu mà dám mang nước Nam đã “rành rành định phận tại sách Trời” này dâng cho kẻ khác, thì sao tồn tại được?

- Nhiều lần Trương bộc lộ gan ruột mình ra với ông chủ thực dân: “Tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng để trở thành người Pháp thực sự”… “Tôi càng phải tỏ ra biết ơn nước Cộng hòa (Pháp) không những đã công nhận tôi là đứa con nuôi mà thôi, lại còn cho tôi nhiều vinh dự, và nhất là đã tin cẩn tôi lắm lắm!”… “Nước Pháp mà tôi phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó”… “Tôi sẽ không bao giờ còn lợi ích cho nước Pháp mà tôi phục vụ và gắn bó. Bởi vì nếu nhập tịch tôi sẽ mất hết uy tín, mất hết ảnh hưởng, từ đó không còn sự tin tưởng của nhà vua, của triều đình và của dân chúng An Nam”… “Khi trở lại đời sống tư, lòng tôi luôn luôn thuộc về nước Pháp, và những công việc phục vụ nhỏ mọn của tôi cũng thuộc về nước Pháp”…

Dù rất thông cảm với những người tài phải sống trong hoàn cảnh éo le của lịch sử: “… Khi đã không có một minh chủ, một lãnh tụ có khả năng tập hợp và tổ chức, thì người dân bình thường, kể cả kẻ sỹ, vẫn phải chấp nhận thực tế để tiếp tục sống và làm cái gì đó có ích cho đời” (Linh mục Trương Bá Cần). Nhưng đọc những lời trao qua đổi lại trong thư Trương Vĩnh Ký, người ta không khó nhận ra đó là “khẩu khí của kẻ tay sai” hay là “nguyên khí của bậc hiền tài”:

- “Tôi xin nhắc lại ngài cái dự án bình định với những phương tiện hành động đã được mật ước, để tiến tới thành quả mà chúng ta có thể phô trương. Về phần tôi, ngài có thể luôn luôn cậy vào sự giúp sức nhỏ yếu của tôi, vì dù sao những cảm tình của giờ phút đầu tiên đã trở thành một mối nhiệt tâm chân thành đối với ngài”.

- “Về phần tôi, xâm nhập vào Cơ mật viện của nhà vua, vai trò của tôi là làm cho nhà vua và triều thần hiểu được ý tốt của chính phủ Pháp cũng như điều động chính sách của chính phủ An Nam đi gần với chính sách của nước Pháp”.

- “Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (là người có tư tưởng chống Pháp), sẽ bao vây lấy nhà vua. Tôi cũng sẽ gom những người thật sự có khả năng cho Viện cơ mật”.

- “Bọn phiến loạn (nghĩa quân Cần vương) không đáng sợ; họ chỉ có những khí giới cổ lỗ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua lại được của bọn buôn lậu Trung Hoa”.

- “Tất cả quý vị (sỹ phu Bắc kỳ) đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý muốn xâm chiếm xứ này, họ có thể làm việc đó từ lâu một cách dễ dàng, không cần bàn cãi gì cả. Quý vị phải hiểu rằng quý vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy” và “Tin chắc rằng nếu nước Pháp muốn lấy xứ này, có thể làm mà không phải mất nhiều khó khăn, tốn kém” (Thư Trương gửi từ Bắc kỳ về Sài Gòn).

- “Xứ Viễn đông xa xôi và cô tịch thành ra già cỗi đủ thứ nên đã đến cái lúc phải cải cách làm cho chúng tái sinh. Thượng đế đã tin cẩn giao cho nước Pháp cái quyền ủy nhiệm ấy và tôi lấy thế làm hoan hỷ lắm… Tôi chỉ còn đợi sự bình định để bước vào vai trò đặc biệt thích hợp với tôi và sẽ được việc cho cả hai nước”.

b/ Trương đóng góp gì vào sự nghiệp văn hóa của dân tộc?

Nhiều công trình nghiên cứu về giá trị học thuật trong các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký của nhiều học giả, không ít vị từng sống ở miền Nam trước đây, hiện đang định cư ở nước ngoài. Sơ lược nêu ra vài ý để bạn đọc tham khảo:

- “Bảo rằng Petrus Ky là “nhà bác học kỳ tài đa năng, đa diện trên nhiều lãnh vực” nhưng không đưa ra bất cứ tác phẩm khoa học, văn chương tiêu biểu nào của Petrus Ky? Không tìm được tổ chức nào đã liệt Petrus Ky vào hàng “thế giới thập bát văn hào”, thậm chí đứng hàng đầu các danh nhân thế giới?” và: “Pétrus Ký thậm chí được tôn vinh vào hàng vĩ nhân là ý đồ của giới chức cầm quyền thực dân và giáo hội Công giáo. Chỉ những người thiếu hiểu biết mới dễ tin thôi!” (TS Trần Chung Ngọc).

- “Trong suốt 28 năm sáng tác, Trương Vĩnh Ký cho ra đời 121 tác phẩm Việt có, Pháp có. Hầu hết các tác phẩm của ông đều phục vụ cho quyền lợi của nhà nước thuộc địa và chính ông cũng đã công khai nhìn nhận chủ đích này” (Phạm Long Điền).

Khi cầm bút hay khi đứng trên bục giảng, Petrus Ký luôn tâm niệm một điều là: “Về phương diện chính trị và kinh tế, người Pháp là kẻ đi đồng hóa, còn người An Nam là kẻ chịu đồng hóa. Người yếu cần dựa vào người mạnh để đưa mình lên bằng người khỏe. Đó chính là mục đích cần phải theo đuổi và đạt tới. Bằng cách nào? Bằng cách đồng hóa. Và đồng hóa chỉ có thể thực hiện được bằng giáo dục và học vấn”. Thật sự là suốt đời ông ta tận tâm tận tụy “chưa bao giờ đi lệch mục tiêu đã định sẵn. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam” (Thư ngày 12/1/1882 gửi Hội đồng thuộc địa để xin tiền in sách).

Đúng là Trương hăng hái đi đầu trong việc dùng Quốc ngữ nhưng không nhằm mục đích thức tỉnh đám dân bản xứ “mọi rợ”, nâng cao dân trí, mà chỉ nhằm mau chóng “đồng hóa” đồng bào mình, phục vụ mưu đồ sâu xa của kẻ “đi đồng hóa” là quan thầy thực dân và bậc chủ chăn bề trên của nhà thờ Công giáo. Trên các văn tự còn lưu, rõ ra điều ấy:

- “Tất cả những gì ông (Trương Vĩnh Ký) đã dịch từ Hán ra chữ Quốc ngữ đều không có mục đích nào khác là làm cho người Nam chấp nhận mẫu tự La tinh và giảm bớt dùng chữ Hán… Việc đó ông Trương Vĩnh Ký đáp ứng đúng với yêu cầu của các vị Đô đốc – Thống đốc đã từng bày tỏ ngay từ lúc Pháp mới chinh phục Nam kỳ” (Sử gia Jean Bouchot).

- “Ngày nào còn sỹ phu, ngày đó ta còn lo sợ vì họ là những người yêu nước, làm sao chấp nhận được sự đô hộ của ta?” (Quan cai trị Lanessan).

- “Thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm cô lập các giáo hữu. Những người này cũng không thể thư từ gì được với bất cứ sỹ phu Tàu hay Ta nào, các thầy giảng người bản xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng Quốc ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần túy tôn giáo” (Giám mục Puginier).

Mặc dù Trương biết “trong con mắt của đồng bào tôi, tôi đã bị lên án nặng nề” và hơn thế là “có nhiều người ganh ghét tôi, ngu ngốc thậm chí là hung ác, họ có thể và biết cách hãm hại tôi”. Nhưng bởi “người bề tôi tận tâm và vâng lời” ấy luôn trung thành với chủ tới mức: “Tôi xả thân làm bốn mảnh vì ngài và vì sự thành công của nhiệm vụ cao cả của ngài” (Thư gửi Paul Bert)…

Mời bạn đọc xem vài dòng các quan thuộc địa trao đổi với nhau về kẻ bầy tôi của họ:

- “Tôi nhận thấy ở Huế, ông Trương Vĩnh Ký đã tận lực làm tròn sứ mạng công việc trong triều đình và ít nhiều ảnh hưởng trên nhà vua. Trong những điều kiện đó, tôi tin rằng sẽ có lợi cho người Pháp hiện thời nếu giữ ông ta ở lại Huế trong một thời gian tôi không dám xác định, nhưng chắc chắc cũng khá lâu” (Thư Toàn quyền Paul Bert gởi Thống đốc Nam kỳ ngày 20/5/1886).

- “Petrus Ký có nhiệm vụ thuyết phục nhà vua và triều đình hợp tác một cách thẳng thắn và trung thành với Pháp. Petrus Ký hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cực kỳ tinh tế này và hòa bình yên ổn được thiết lập ở An Nam trong vòng 60 năm”… “Trương Vĩnh Ký, người đồng hành với Phan Thanh Giản trong suốt cuộc hành trình trên, người đã chia sẻ những điều sâu kín với quan đại thần này, có cùng suy nghĩ như ông” (Pierre Vieillard)./.
Yêu nước ST.

MẮC MƯU NGỤY SỬ, ĐỘI GIẶC LÊN ĐẦU!

     "Gia Định báo có mục đích chủ yếu là công cụ thông tin của thực dân Pháp ở Đông Dương với tư cách là một tờ công báo chuyên đăng các công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền thực dân Pháp".

Nói thẳng ra tờ báo này là công cụ mà kẻ Việt gian Trương Vĩnh Ký đẻ ra làm công cụ giúp Thực dân Pháp cai trị con dân đất Việt. Mốc son cách mạng cái gì???????????????????




Yêu nước ST.

CHỐNG LỢI DỤNG PHẢN BIỆN … ĐỂ PHẢN BỘI!

         Phản biện xã hội là kênh quan trọng giúp đường lối, chủ trương, chính sách ban hành được đúng đắn và đi nhanh vào cuộc sống. Thế nhưng, cũng có không ít người đã lợi dụng phản biện để tạo mâu thuẫn, gây rối, thậm chí chuyển thành phản bội đồng chí, đồng đội; phản bội Tổ quốc; phản bội nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc kiểm soát quyền lực, “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” là hết sức cần thiết. Để giám sát và kiểm soát quyền lực, Đảng ta luôn tạo thuận lợi nhất để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và người dân giám sát, phản biện xã hội. Pháp luật Việt Nam cũng tạo những cơ sở pháp lý quan trọng để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia phản biện xã hội trước những quyết sách quan trọng của quốc gia. Tất cả các đạo luật trước khi được Quốc hội thông qua đều được đưa ra công khai xin ý kiến đóng góp, phản biện của nhân dân.
Thực tế thời gian qua, đa số các ý kiến phản biện của đảng viên và nhân dân đã được Đảng, Nhà nước trân trọng tiếp thu. Tuy nhiên, vẫn còn có những ý kiến phản biện không mang tính chất xây dựng mà là suy diễn, quy chụp, lợi dụng phản biện để xuyên tạc, bôi nhọ đồng chí, đồng đội; nói xấu Đảng, Nhà nước.

Cuộc sinh hoạt chi bộ khu dân cư X mới đây để chuẩn bị cho Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2022-2025 đã biến thành “diễn đàn kể tội cán bộ” sau khi một đảng viên khơi mào “phản biện” và kêu gọi các đảng viên khác phát biểu góp ý. Đảng viên này đưa ra hàng loạt các “nghi vấn” về tiêu cực, tham nhũng của đội ngũ cán bộ phường, quận rồi phê phán kịch liệt chủ trương của phường trong việc lập lại trật tự xây dựng đô thị. Thế nhưng, các “bằng chứng” đưa ra đều là “nghe nói”, “quần chúng phản ánh”… Rất may, ý kiến này được một đảng viên là cựu chiến binh chặn lại, sau khi chất vấn.

Trước đó, trong dịp đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tại một số địa phương cũng đã có những “ý kiến phản biện”, “thư góp ý”, “thư phản ánh”, “ý kiến tâm huyết”, “tâm thư”, "bản kiến nghị"... của đảng viên và quần chúng gửi đến các cơ quan chức năng bày tỏ băn khoăn về ứng cử viên này, ứng cử viên nọ. Đáng chú ý, đã có nhiều thư góp ý thông tin không đúng sự thật. Điều đáng tiếc là một số người nhẹ dạ cả tin đã vô tình mắc vào “bẫy” này. Lợi dụng quyền dân chủ trong các cuộc họp, trong việc góp ý với các tổ chức Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, không ít người thổi phồng, xuyên tạc, bịa đặt nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của đồng chí, đồng đội, lãnh đạo các cấp, các cơ quan, tổ chức Đảng, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp; gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
Nguy hiểm hơn, một số đối tượng vì tư lợi hẹp hòi, động cơ chính trị lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để gieo rắc thù hận và chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa phản biện, các cá nhân đã đưa lên báo chí hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường cho cá nhân, tập thể, địa phương.

Đặc biệt, gần đây đã xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để châm chọc, đả kích đường lối, chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Có cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất lợi dụng việc phản biện để đưa lên mạng xã hội những thông tin lệch lạc, trái với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Từ phản biện chuyển thành phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân là vấn đề đáng báo động.

Để ngăn chặn tình trạng phản biện chuyển hóa thành phản bội, trước hết, các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục. Cần công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị mình, nhất là về những chủ trương, chính sách trong giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Không nên để những thông tin giả, tin đồn thất thiệt lan truyền và hoành hành trong cộng đồng rồi mới tìm cách khắc phục theo kiểu “chạy theo”.

Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra thông tin tuyên truyền chống phá, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, giúp người dân tránh trở thành “con rối”, tiếp tay cho kẻ xấu trục lợi, thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.  

Đã đến lúc phải xây dựng cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện phản biện xã hội một cách đúng đắn. Phản biện xã hội là điều bắt buộc phải thực hiện một cách nghiêm túc, công khai đối với các dự án pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm cao và tinh thần khoa học, để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển của đất nước.

Mang danh phản biện xã hội để đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận được. Vì vậy, rất cần có chế tài xử lý nghiêm việc lợi dụng phản biện để gây rối xã hội, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân./.
Yêu nước ST.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài của người cán bộ, đảng viên

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài của người cán bộ, đảng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đào tạo họ trở thành những cán bộ có nhân cách phát triển toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. 

Những phẩm chất nhân cách đó của người cán bộ, đảng viên được Người khái quát ngắn gọn trong hai chữ “đức” và “tài”. Đây là chuẩn mực để mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, đồng thời là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá, sử dụng  cán bộ của Đảng.

1. Người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng là người có tài, đức, hồng thắm, chuyên sâu. Người chỉ rõ: “Có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nhà nước. Có đức không có tài, như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”. Đức của người cán bộ, đảng viên là đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức cách mạng là “nền tảng”, là “cái gốc” của người cán bộ. Đức của người cán bộ cách mạng thể hiện ở phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN; là trình độ giác ngộ mục tiêu, lý tưởng XHCN, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó. Đức được thể hiện ở sự trong sáng, thành thật, trung thực, không cơ hội, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục tùng lợi ích tập thể, lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với quần chúng, gương mẫu gắn bó với nhân dân, khiêm tốn học hỏi, thực sự cầu thị. Có tinh thần đoàn kết, thương yêu, tương thân, tương ái lẫn nhau. Đức là cái gốc giúp người cán bộ cách mạng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Người nói: “cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đạo đức cách mạng tạo nên uy tín của cán bộ, đảng viên. Đó là cơ sở để giáo dục, thuyết phục và lãnh đạo quần chúng nhân dân, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. 

Tài của người cán bộ là trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất. Tài được thể hiện ở trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, khả năng nhận thức đúng các quy luật, sáng tạo trong giải quyết công việc; luôn làm chủ được tri thức khoa học và có khả năng hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chuyên môn của mình. Bác nói: “Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn; chính trị là đức, chuyên môn là tài”. “Tài” còn là khả năng hoạt động thực tiễn, kỹ năng và hiệu quả thực hành các công việc được giao. Người cán bộ cách mạng phải có năng lực trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn, có trình độ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng hoạt động tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Dù hoạt động trên bất kỳ lĩnh vực nào thì người có “Tài” phải là người có sự hiểu biết thấu đáo và thực hành thành thạo các công việc mà mình đảm nhiệm. Người chỉ rõ: “Ngày nay, Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thành thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. "Tài” của người cán bộ phải được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có tài và bố trí phù hợp với yêu cầu sử dụng của từng nhiệm vụ. Người căn dặn: “không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng người”. 

2. Đức và tài của người cán bộ, đảng viên trong Tư tưởng Hồ Chí Minh phải luôn kết hợp chặt chẽ với nhau. Tài và đức của người cán bộ, đảng viên là hai mặt không tách rời mà hoà quyện với nhau, là cơ sở, điều kiện, tiền đề của nhau, thúc đẩy lẫn nhau để hoàn thiện hình thành nhân cách người cán bộ cách mạng. Tài năng của người cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng để họ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đạt chất lượng và hiệu quả cao trong công việc. Người cán bộ có tài sẽ đem lại kết quả hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo cho họ trên cơ sở hành động theo quy luật khách quan. Nhưng tài năng đó phải được hiện diện trong hệ thống phẩm chất, năng lực và trong tính hiệu quả hoạt động thực tiễn của người cán bộ, đảng viên. Người cán bộ cách mạng phải là người có năng lực trí tuệ cao, tức là có trình độ hiểu biết toàn diện, sâu sắc với một hệ thống tri thức tổng hợp bao quát được nhiều lĩnh vực, có phương pháp tư duy khoa học để nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, có năng lực thực tiễn tốt để đạt hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. 

Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức cách mạng là tiêu chí hàng đầu, là "gốc" của người cán bộ, nâng cao đạo đức cũng có nghĩa là củng cố vững chắc hơn cơ sở định hướng cho sự phát triển tài năng của người cán bộ, vì lợi ích chung của Đảng, của giai cấp và của dân tộc. Đạo đức của người cán bộ, đảng viên được nâng cao càng tăng thêm động lực tinh thần thôi thúc người cán bộ vượt lên mọi khó khăn thử thách để nâng cao trình độ trí tuệ của mình. Đạo đức là sự thể hiện quan hệ ứng xử và hành vi của con người, đem lại lợi ích cho người khác và cho xã hội. Đạo đức của người cán bộ cách mạng còn là nền tảng và là cơ sở để người cán bộ, đảng viên phát huy tài năng, trí tuệ và các phẩm chất khác, hướng năng lực của họ vào hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng. Vì vậy, theo Người, cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức luôn luôn là động lực của tình cảm và hành vi của người cán bộ, tài là cơ sở để làm cho đức của người cán bộ cách mạng càng cao, càng lớn hơn. 

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đức - Tài của người cán bộ là di huấn vô giá Người để lại cho Đảng và nhân dân ta về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội  XI của Đảng chỉ rõ: “Không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa”. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay phải là kiên trì Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước; không tham nhũng và cương quyết đấu tranh chống tham nhũng; có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với nhân dân, gương mẫu và gắn bó với quần chúng. Đặc biệt, người cán bộ cách mạng phải biết trăn trở trước cuộc sống nghèo khổ của quần chúng nhân dân và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế của đất nước so với thế giới; phải suy nghĩ và hành động, đem hết tài năng, tâm sức cống hiến cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay phải là nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều; phải biết thể hiện bằng hành động, bằng những việc làm cụ thể, bằng nê gương để thuyết phục, quy tụ mọi người. 

Tài là năng lực chuyên môn, khả năng công tác để bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; tài là tầm tư tưởng, trí tuệ của người cán bộ, đảng viên trong tiến hành công việc một cách độc lập, sáng tạo, mang lại hiệu quả tối ưu. Tài  phải được thể hiện ở trình độ, năng lực tư duy phát triển; có tư duy biện chứng, lôgíc, có tầm hiểu biết sâu rộng và phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, đủ sức cắt nghĩa và tìm được những câu trả lời thuyết phục trước những biến động phức tạp và mau lẹ của thực tiễn. Phải có năng lực trí tuệ phát triển cao, có trình độ ngoại ngữ và tin học để làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin; có năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực cạnh tranh khoa học và công nghệ, có khả năng tiếp nhận và quản lý được công nghệ kỹ thuật mới. 

Đức và tài là một thể thống nhất, không thể tách rời. Vì vậy, không thể chỉ có đức mà không cần tài, càng không thể coi trọng tài mà xem nhẹ đức. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay không chỉ như đạo đức công dân mà còn bao hàm cả đạo đức của người lãnh đạo, chỉ huy. Trung thành nhưng phải có bản lĩnh, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, không thụ động, bảo thủ trì trệ, né tránh khó khăn, gian khổ. Trung thành nhưng không phải là “gọi dạ, bảo vâng”, cơ hội, không có chủ kiến, không dám đấu tranh, tuỳ thời vì mục đích quyền lực và tiền tài. Tài của người cán bộ hiện nay cần phải được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có tài phù hợp với yêu cầu sử dụng. Nghĩa là khi chọn người tài phải dựa vào thế mạnh và sở trường của họ, vào tài năng thực tế của người cán bộ, đảng viên, không hoàn toàn dựa vào bằng cấp để bố trí công việc, xác định cương vị; có vậy mới giúp cán bộ, đảng viên phát huy được ưu thế, sở trường, dốc tâm lực vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. 
Hiện nay, vấn đề đào tạo, sử dụng, đánh giá cán bộ phải được gắn với đức - tài được hiểu một cách khoa học, đầy đủ. Đức và tài của người cán bộ hiện nay cần phải cụ thể hoá bằng tiêu chuẩn chức danh đối với mỗi chức vụ, cương vị công tác, nhất là các tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Đức và tài của người cán bộ đạt đến trình độ nào thì phải lựa chọn bố trí họ ở cấp và vị trí tương xứng. Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc cần khẳng định là, đã là người cán bộ cách mạng thì phải có đủ đức, đủ tài tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, không thể châm chước bất cứ một tiêu chuẩn nào. Nếu quan điểm đức-tài không rõ ràng, lẫn lộn, chỉ nhìn hình thức bề ngoài mà không thấy bản chất bên trong của con người thì kết quả là sẽ chọn ra những kẻ bất tài, vô dụng, làm hại đến sự nghiệp cách mạng. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ, đảng viên vào xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng trong tình hình hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. 

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho sự ra đời và xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam; là người tuyên truyền, người cổ động và tổ chức tập thể với tinh thần chiến đấu, thấm nhuần tính đảng và tính nhân dân sâu sắc.

Về tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam: Từ xuất phát điểm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”, suy rộng ra là phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đóng góp tích cực cho hòa bình thế giới vì mục tiêu của thời đại là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Theo Người, đề tài xuyên suốt và nguồn cảm hứng vô tận để báo chí cách mạng Việt Nam khai thác và tuyên truyền đó là: “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Do đó, báo chí của ta phải có đường lối chính trị đúng, vì có đường lối chính trị đúng thì các nội dung và hình thức thể hiện của báo chí mới đúng và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc được.

Về vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh coi người hoạt động báo chí là một chiến sĩ cách mạng, vì “nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí”. Đối với người làm báo cách mạng, theo Người, “cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”, do đó “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng”. Người căn dặn: “Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”.

Người cho rằng, nhiệm vụ báo chí cách mạng là phải đi tiên phong trong đấu tranh không khoan nhượng với những gì đi ngược lại quy luật của lịch sử, vạch trần tính chất phản động, giả dối, bịp bợm của kẻ thù của dân tộc: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”. Tính chiến đấu không chỉ nhằm tiến công vào kẻ thù của cách mạng, mà còn biểu dương những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu và lao động để cổ vũ mọi người hăng hái tham gia cách mạng. Một mặt, Người yêu cầu “Các báo chí và văn nghệ phải điều tra tuyên truyền, khen ngợi những ưu điểm và phê bình những khuyết điểm trong việc phổ biến sáng kiến và kinh nghiệm. Đó là một nhiệm vụ vẻ vang của báo chí và văn nghệ thiết thực góp phần vào phong trào thi đua ái quốc”. Mặt khác, Người đề nghị báo nên có mục “ý kiến bạn đọc”, coi ý kiến bạn đọc là những ý kiến đấu tranh. Cái mới đấu tranh với cái cũ, cái tốt đấu tranh với cái không tốt. Trong biểu dương, phải rút ra được kinh nghiệm có ý nghĩa phổ biến, phê bình phải cụ thể, rõ ràng. Phê bình và tự phê bình là biện pháp tăng cường tính chiến đấu, vì “Phê bình và tự phê bình là vũ khí rất cần thiết và rất sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm. Vì khéo lợi dụng nó mà Đảng ta và dân ta ngày càng tiến bộ. Đối với báo chí cũng vậy”.

Về tính Đảng của báo chí cách mạng Việt Nam: Đây là điều căn cốt nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam, là cơ sở để phân biệt báo chí cách mạng với báo chí phản cách mạng. Người cho rằng, báo chí chỉ đúng về chính trị khi nó được lãnh đạo của một đảng, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, một đảng mang bản chất của giai cấp công nhân và gắn bó mật thiết với dân tộc, với nhân dân. Người luôn nhấn mạnh: Báo chí phục vụ ai? Đằng sau lời chỉ dẫn của Người: báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ cho đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho hoà bình thế giới là nguyên tắc: Đảng phải lãnh đạo báo chí. Ngay từ rất sớm Người khẳng định nguyên tắc bất di, bất dịch ấy: “Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị”. Theo đó, Người yêu cầu “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. 

Để nâng cao tính Đảng, trong “Thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng”, Người huấn thị: “Tờ báo của chúng ta có mấy điểm chính: 1. Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích chung. 2. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì: 3. Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Vì vậy: 4. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là tờ báo của mình, thì: 5. Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và: 6. Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa. Hiện nay, các báo ta thường có những khuyết điểm sau đây: Về mặt tuyên truyền thì không kịp thời và chính trị suông quá nhiều”.

Về xây dựng đội ngũ nhà báo vừa “hồng”, vừa “chuyên”: Từ tôn chỉ, mục đích hoạt động của nền báo chí cách mạng Việt Nam, từ vị trí và vai trò của nhà báo và hoạt động báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu những người làm báo phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, trau dồi tư tưởng, học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động, phải luôn nâng cao trình độ văn hoá, rèn giũa nghiệp vụ, mài sắc ngòi bút của mình; nhất là phải trau dồi lập trường chính trị vững chắc: “Chính vì thế cho nên, tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở những người làm báo, khi viết phải trả lời rõ: “Thế thì viết cái gì? Trong vấn đề này cũng phải có lập trường vững vàng: ta, bạn, thù thì viết mới đúng”. Những câu hỏi Người đặt ra chính là đòi hỏi báo chí phải xác định rõ đối tượng tiếp nhận thông tin. Việc xác định đó nhằm hình thành phương pháp sáng tạo phù hợp cho nhà báo.

Người chỉ rõ: “đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng”. Vì vậy, cách viết bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, ngôn ngữ phải trong sáng, tránh dùng từ nước ngoài; viết “phục vụ nhân dân” thì nhất định phải chọn cái gì có lợi cho dân và phục vụ cách mạng. Vì vậy, Người nhắc nhở: “Bác biết các chú văn hay chữ tốt, nhưng dù sao, nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn. Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Báo chí vì cách mạng, vì Đảng, vì nhân dân - đó vừa là mục đích, vừa là điều kiện, vừa là tiêu chuẩn đạo đức trong hoạt động báo chí; đó cũng là tính đảng của báo chí, là biểu hiện sự trung thành của báo chí đối với Đảng, là cống hiến của báo chí vào sự nghiệp vĩ đại của Đảng. Về phần mình, hướng dẫn để báo chí và đội ngũ các nhà báo thực hiện đắc lực cho cách mạng, phục vụ tốt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân tức là Đảng đã làm tốt vai trò lãnh đạo báo chí.

 

ĐẤU TRANH NGĂN NGỪA NHỮNG BIỂU HIỆN CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa dân túy trên thế giới đã trở thành trào lưu điển hình chi phối đời sống chính trị - xã hội ở nhiều nước, nhưng ở Việt Nam mới chỉ biểu hiện ở những phát ngôn và hành động của một số người. Tuy nhiên, những biểu hiện đó, đã, đang có tác động xấu và nguy cơ tạo ra những hậu quả tiêu cực nếu chúng ta không nhận diện và đấu tranh ngăn ngừa kịp thời.

Tư tưởng dân túy xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, nhưng nó phát triển mạnh mẽ và trở thành chủ nghĩa - chủ nghĩa dân túy vào khoảng thế kỷ XIX trong các phong trào nông dân, thể hiện sự ủng hộ hoặc nhân danh nông dân chống lại giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng tư sản. Hiện nay, sự nổi lên mang tính toàn cầu của chủ nghĩa dân túy ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, với diện mạo mới và những diễn biến phức tạp; nội hàm của nó đã được mở rộng hơn, không chỉ thuần túy là việc “nhân danh nông dân”. Đặc biệt, việc nhiều nhà dân túy giành được vị trí lãnh đạo ở một số nước, đã tạo nên những thay đổi, làm cho vấn đề càng trở nên phức tạp hơn.

Ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nhưng trước sự tác động từ những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị quốc tế, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy xuất hiện và có xu hướng phát triển. Dễ nhận thấy, thực chất chủ nghĩa dân túy là những lời nói và hành động mang tính chất mị dân, lợi dụng, kích động nhân dân, lấy một số nhóm được coi là “nhân dân” làm nền tảng cho tính chính danh, phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế,… của cá nhân, nhóm, phe phái nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, những biểu hiện chủ nghĩa dân túy cũng khác nhau cả về đặc điểm và sắc thái, tuy chúng vẫn cùng bản chất và tính chất. Vì thế, cần tiếp cận với các góc độ khác nhau để nhận diện những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

1. Những biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng viên, cá nhân và nhóm lợi ích. Những người có biểu hiện này thường “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng nhân dân, “lấy lòng” quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các vấn đề thuộc về nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Họ thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức” cho con đường công danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để trục lợi. Tuy đây là cấp độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt niềm tin, lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

2. Lợi dụng tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường nhật của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng. Trước những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của xã hội, của địa phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa mãn” nhu cầu trước mắt nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân phản ứng với dụng ý xấu, động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm dụng các quyền tự do, dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực sự đã suy thoái về chính trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; niềm tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này “còn có lợi” cho họ để có thể “đục nước béo cò”.

3. Giương cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. Những người có biểu hiện này đã thể hiện rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm một cách trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn được họ thể hiện bằng cách này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông phục vụ cho ý đồ của họ, tạo cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

4. Những biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù địch. Họ nhân danh “vì nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự phát triển đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân chúng hướng đến những hành động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ xã hội. Ở những người này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay đổi về chất, đã biến chất về chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước không chỉ bằng tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn bằng cả hành động; họ đã “trở cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và họ thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các thế lực thù địch, phản động.

Những biểu hiện trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của tình hình, song, đó là những dạng biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện nay, đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ, ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng như trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy để những biểu hiện đó không phát triển, trở thành “vi rút độc” gây ô nhiễm đời sống chính trị đất nước; những người mang nó không chuyển hẳn sang phía bên kia, chống lại Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và Nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc và phương pháp luận quan trọng. Để đấu tranh ngăn ngừa, phải thực hiện tổng thể nhiều giải pháp, trước hết, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận diện đúng những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay; thấy rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của nó đến đời sống tinh thần xã hội, đến nền tảng tư tưởng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đến sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy đảng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm, có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, v.v. Qua đó, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những “tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những sai trái”1. Trên cơ sở đó, tạo sự vững vàng và nhạy bén về chính trị; sự “miễn dịch” cần thiết, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng đấu tranh ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và tác động của những biểu hiện chủ nghĩa dân túy.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy. Theo đó, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến chi bộ về đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với sự lãnh đạo, chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, hiệu quả hơn theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quan tâm hơn nữa đến vấn đề đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy; khắc phục mọi biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm nhằm tăng hiệu quả đấu tranh. Đồng thời, có cơ chế, chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, triệt tiêu mầm mống nảy sinh, phát triển suy thoái, tham nhũng và tiêu cực; phát hiện từ sớm, từ đầu những biểu hiện dân túy, gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, “phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”2. Khắc phục mọi biểu hiện hình thức, cá nhân chủ nghĩa, “mị dân”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đằng làm một nẻo”.

Ba là, chủ động đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy, gắn với đấu tranh khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và phòng, chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đây vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản, vừa là biện pháp quan trọng trong đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở nước ta hiện nay. Theo đó, các cấp ủy đảng cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội”3, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phê phán mạnh mẽ tính chất mị dân, lừa phỉnh của những người có biểu hiện dân túy, gắn với việc làm rõ quan điểm lấy dân làm gốc, tất cả vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân của Đảng. Thực hiện tốt phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”, để phê phán những biểu hiện chủ nghĩa dân túy và phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở ngăn ngừa, loại trừ những biểu hiện chủ nghĩa dân túy từ cơ sở. Cấp ủy các cấp cần nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ quản lý tư tưởng với quản lý kỷ luật, giáo dục thuyết phục với các biện pháp hành chính. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng; duy trì nghiêm quy định, quy chế phát ngôn; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán quan điểm dân túy, kích động, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân./.

“BẤT TUÂN DÂN SỰ” - MỘT THỦ ĐOẠN ĐẦY NGUY HIỂM

 Nhận diện bản chất

Thứ nhất, mặc dù “bất tuân dân sự” được coi là phương thức bất bạo động, ôn hòa, nhưng qua lịch sử, vận động và biến tướng của phương thức này diễn ra ở một số nước trên thế giới và ở nước ta có thể khẳng định rằng ranh giới giữa bất bạo động, phi vũ trang với bạo động có vũ trang là rất mong manh (thể hiện tính chất nguy hiểm). Bởi lẽ, các thế lực phản động, thù địch thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình tư bản chủ nghĩa. Có điều để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những hình thức khác nhau, như: tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa”, “phản kháng bất bạo động”. Do vậy, hình thức của “bất tuân dân sự” là phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác, nhưng cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, những người “bất tuân dân sự” quan niệm, hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là rất mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường chuyển sang đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã chuẩn bị đủ điều kiện để “châm ngòi” xung đột.

Cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng. Đối với các hiện tượng cụ thể, có thể ở mức độ thấp, không ảnh hưởng xấu nhiều tới cộng đồng, nhưng ở mức độ cao, khi hướng tới mục tiêu chính trị bằng các hình thức đấu tranh trực tiếp gây tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự của đất nước, của địa phương thì cần phải có giải pháp phù hợp.

Thứ hai, trên thực tế, các hành động thực hiện “bất tuân dân dân sự” và “bất hợp tác” có những điểm giống nhau và khác nhau. Điểm chung giống nhau của hai phương thức này là đều vô hiệu hóa chủ trương, chính sách của nhà nước. Điểm khác nhau là “bất hợp tác” từ chối hợp tác với chính phủ trong khi “bất tuân dân sự” đề cập đến việc từ chối tuân theo luật pháp của nhà nước. Về hình thức biểu hiện, “bất hợp tác” từ chối một việc làm, một hành động nằm trong chủ trương, chính sách của nhà nước trong khi “bất tuân dân sự” đi đến tẩy chay, biểu tình, thậm chí chuyển hóa thành bạo lực.

Một số biến tướng

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Đi cùng với đó, chiêu bài “bất tuân dân sự” được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng, từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Các cuộc “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Cộng hòa Dân chủ Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX; các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước trong không gian hậu Xô-viết; “cách mạng hoa nhài” (Mùa xuân Ả-rập) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bolivar ở Venezuela (từ năm 2014 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2014, năm 2019 và 2020… đều có dấu ấn của thủ đoạn kích động bất tuân dân sự, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý, gây ra những hiểm họa khôn lường, thậm chí khủng hoảng toàn diện, sâu sắc cho nhiều vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới.

Ở nước ta, hoạt động “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời.

Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự”, như: “bất tuân cưỡng chế” của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai…; “bất tuân” quy định về thành lập hội (nhóm) đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như: Hội anh em dân chủ, Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam, Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam, Hội văn đoàn độc lập Việt Nam, Hội nhà báo độc lập Việt Nam, mạng lưới Blogger Việt Nam…; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội (năm 2014), Dự án Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, Luật An ninh mạng (năm 2018)… Các hình thức như: kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài…cũng có nhiều vụ việc bị lợi dụng, biến tướng.

“Bất tuân dân sự” có tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền.

Tổ chức đấu tranh

Để ngăn chặn, làm thất bại thủ đoạn “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chủ động tập trung vạch trần bản chất thủ đoạn “bất tuân dân sự”, làm cho người dân hiểu rõ đây là một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và lực lượng phản động quốc tế, nhằm phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước của nhân dân ta. Đồng thời tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa “thượng tôn pháp luật” cho mội công dân.

Điều quan trọng là tiếp tục đẩy mạnh công tác tư tưởng ở cơ sở, trong đó chú trọng đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, ban, ngành, đoàn thể ở địa phương để bám, nắm cơ sở; sớm phát hiện và đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng lôi kéo người dân thực hiện “bất tuân dân sự” ngay khi mới manh nha.

Khi xảy ra vụ việc “bất tuân dân sự”, cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo… 

Nhận diện các biểu hiện lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong điều kiện hiện nay. Thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, sẽ góp phần quan trọng làm thất bại mưu toan kích động “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam.

NHÂN DÂN LÀ TAI MẮT CỦA ĐẢNG


Trong Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ tình trạng: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Cùng với đó, Đảng ta cũng nhận định, cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, diễn ra rất khó khăn, phức tạp, thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chúng ta phải làm nhiều việc. Đặc biệt, cần thấy rõ vai trò rất quan trọng của “tai mắt” nhân dân trong cuộc đấu tranh này.

Bàn về mục tiêu lý tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, muốn hoàn thành mục tiêu lý tưởng của mình, muốn trường tồn và phát triển vững mạnh, Đảng phải gắn bó máu thịt với dân. Đảng phải biết dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân.

 V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Quan điểm ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Chính phong trào đấu tranh của nhân dân là cái nôi mà Đảng ta sinh ra và tôi luyện để Đảng ta phát triển. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, chính nhờ được nhân dân chở che, đùm bọc, bảo vệ và hiến kế mà Đảng ta ngày càng trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dân tộc Việt Nam ta đã đánh bại những kẻ xâm lược hung bạo nhất, lập nên những chiến thắng lừng lẫy, những mốc son chói lọi, viết nên những trang sử hào hùng. Yếu tố quyết định để có điều ấy là Đảng ta đã quy tụ và phát huy được sức mạnh của lòng dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. 

Những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được trong hơn 35 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước càng chứng minh rõ vai trò to lớn của nhân dân. Một trong những bài học sâu sắc, quý báu mà Đảng ta rút ra từ sự nghiệp đổi mới là: Ðổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc...

Công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa những năm gần đây càng thêm khẳng định vai trò của nhân dân. Tâm tư, nguyện vọng; những kiến nghị, đề xuất; những phát minh, sáng kiến nảy sinh từ thực tiễn lao động sản xuất và chiến đấu của nhân dân là yếu tố quan trọng góp phần hình thành, hoàn thiện đường lối, chủ trương, quyết sách của Ðảng. Không chỉ góp phần hình thành, hoàn thiện mà chính nhân dân còn là nguồn lực, sức mạnh để biến những chủ trương, quyết sách của Đảng đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực. 

Cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Đảng ta những năm qua đạt được nhiều kết quả quan trọng. Không ít biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là nhiều hiện tượng tiêu cực, hành vi tham nhũng của cán bộ, đảng viên đã được phát hiện qua tai mắt nhân dân. Một yếu tố rất quan trọng tạo nên những kết quả ấy là Đảng ta đã biết phát huy tai mắt của nhân dân.

Từ thực tiễn, có thể khẳng định rằng: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, mà là trách nhiệm của toàn dân, của toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát và khẳng định: “Nhân dân là tai mắt của Đảng”. Đặc biệt, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện nói chung, trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nói riêng, nhân dân đóng vai trò rất quan trọng. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Đúng như lời Người đã dạy dù khó khăn, phức tạp mấy có nhân dân giúp đỡ, được nhân dân đồng tình, ủng hộ nhất định Đảng ta sẽ vượt qua và cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất định sẽ đạt được mục tiêu đề ra./.

CHIÊU TRÒ TẨY TRẮNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ĐỒNG ĐÔ LA DƠ BẨN

 Mới đây nhiều tờ báo ca ngợi em Tăng Vân Khanh, học sinh lớp 12 Văn, trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi, Hải Dương vừa đỗ 7 trường Đại học Mỹ danh giá và được cấp các mức học bổng với tổng trị giá lên đến hơn 25 tỷ đồng từ một bài luận 650 từ viết về người Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là em đã tư duy theo cách gọi của người Mỹ về "cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam" là “Cuộc chiến tranh Việt Nam". Tôi cứ đặt câu hỏi ai đã dạy em cách gọi ấy và không biết gia đình, dòng họ em có ai hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không nhưng rõ ràng đây là một chiêu trò tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của người Mỹ khi họ chọn chủ đề du học là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam!

Rõ ràng là, 21 năm Mỹ xâm lược Việt Nam, chia đôi đất nước để dễ bề thôn tính, hàng triệu người Việt Nam đã đổ máu để đổi lấy thống nhất, độc lập trước 1 đội quân đế quốc xâm lược. Thế mà, không biết tự bao giờ mà một bộ phận giới trẻ Việt Nam hôm nay như Tăng Vân Khanh lại có thể gọi là "Cuộc chiến tranh Việt Nam? rồi ngày mai, ngày kia những đứa con của Tăng Vân Khanh có tiếp tục được chính người mẹ các cháu có dạy cho các cháu như vây không. Nếu đúng như thế thì thật là đau buồn!
Tôi còn nhớ, Cách đây 27 năm, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; rạng sáng ngày 12/7/1995 (giờ Việt Nam), Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Đây là kết quả của một hành trình dài với những nỗ lực bền bỉ của cả hai bên quyết tâm gác lại quá khứ hướng tới tương lai, từ một cựu thù đến nay hai nước đã trở thành đối tác toàn diện.
Tuy nhiên, sau 27 năm bình thường hóa quan hệ, những gì Mỹ mong muốn ở Việt Nam đang nằm ngoài sức tưởng tượng của đa số người Việt Nam bởi trước mắt chúng ta, những người dân Việt Nam chỉ nhìn thấy bức tranh kinh tế của nó nhưng sẽ không hiểu hết đằng sau đó Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam.
Đầu tiên chúng ta hãy nhớ lại, sau khi Mỹ rút quân khỏi miền Nam, giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố: 30 năm sau người Mỹ sẽ trở lại Việt Nam không phải bằng bom đạn mà bằng Dollas và người Việt Nam sẽ phải chào đón họ như những người anh hùng...
Trong một lần sang thăm Việt Nam, Tổng thống Binclinton cũng từng nhắc lại ý định này trước hàng nghìn sinh viên các trường Đại học Việt Nam rằng "những gì mà người Mỹ trước đây chưa thực hiện được ở Việt Nam thì chính những thế hệ người Việt Nam sau này sẽ thay họ thực hiện nó..." Vậy thì những gì họ chưa thực hiện được mà họ mong muốn những thế hệ người Việt thay họ thực hiện???
Mỹ đã từng xâm lược Việt Nam và họ đã thất bại, những người đã từng làm tay sai tiếp tay cho Mỹ cũng thất bại và đó cũng là điều mà họ muốn một bộ phận người Việt Nam hôm nay và mai sau tiếp tục làm tay sai cho họ lần nữa. Muốn đạt được mục đích đó không có con đường nào duy nhất ngoài việc tác động chuyển hóa tư tưởng bằng đầu tư giáo dục, về lâu dài những con người ấy sẽ nắm giữ các vị trí quan trọng trong Đảng, Nhà nước họ có thể dưới sự điều khiển, dật dây của Mỹ làm chuyển hóa toàn bộ hệ tư tưởng hiện nay của chúng ta.
Để thực hiện mục tiêu này, Năm 2016, Đại học Fulbright Việt Nam được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên khi tiến hành các hoạt động giáo dục họ đã cương quyết không đưa các môn Lý luận Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình dạy học đồng thời mở ra các ngành, chuyên ngành đào tạo theo hơi hướng giá trị thực dụng phương tây, xã hội dân sự... Thực chất là nhằm tới phá vỡ nền tảng XHCN đưa một thế hệ người Việt theo học mang nặng tư duy sùng bái Mỹ, thậm chí có tư tưởng chống lại chế độ hoặc ngấm ngầm hoặc công khai.
Hàng năm, Mỹ chi tới 5 triệu USD/năm từ cái gọi là "Quỹ Sáng kiến Thủ lĩnh Trẻ Đông Nam Á" (Yseali) để thành lập Học viện Yseali tại Việt Nam. Quỹ này trong chuỗi hoạt động của cựu Tổng thống Barack Obama "nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo và kết nối trong ASEAN" nhưng nó chỉ là vỏ bọc để tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo mầm mống cho cái gọi là các nhà dân chủ và các tổ chức "xã hội dân sự" - mầm mống của những cuộc cách mạng màu mà nó đã từng diễn ra ở các nước Liên Xô, Đông Âu và đã lật đổ thành công CNXH ở đây, điển hình của sự bất ổn hiện nay như Tunisia, Ucraina và nhiều nước trên thế giới. Trong suốt quá trình bình thường hóa quan hệ, Mỹ luôn tìm mọi cách can thiệp vào lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo của Việt Nam, thậm chí luôn dung túng những kẻ bất mãn chống lại nhà nước Việt Nam thì câu hỏi đặt ra Mỹ đang muốn gì ở Việt Nam đã quá rõ. Hiện chúng ta có trên dưới 30.000 sinh viên đang học tập tại Mỹ và rất có thể các em lại là những phương tiện, tai sai đắc lực cho Mỹ mà việc đầu tiên là tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam băng chính những đồng USD dơ bẩn