Trương Vĩnh Ký
Những bài viết về ông thì nhiều. Tất nhiên thời lệ thuộc ngoại bang, phương tiện truyền thông chính thống mặc sức tôn vinh như “bậc vĩ nhân” không chỉ của một vùng lãnh thổ Nam kỳ, mà còn là của toàn nhân loại. Trong khi dư luận của người dân bản xứ thì dè bỉu khinh khi: “Hay tám vạn tư mặc kệ / Không Quân-Thần-Phụ-Tử đếch ra người”! Khi nước nhà giành lại được độc lập chủ quyền, thì sự thật về con người này được phanh phui. Bà Hiệu trưởng có ngộ nhận không khi đưa ra ý kiến trên?
Tư liệu về họ Trương còn lưu nhiều, đặc biệt trong thư khố Pháp quốc. Công luận dù có trái chiều nhau, tựu trung không thể xóa được án phê là con người vong bản. Xin nêu ra vài dẫn chứng:
a/ Trương Vĩnh Ký là “bậc vĩ nhân”?
- Thầy dòng trẻ Pétrus Ky 22 tuổi vừa từ trường Dòng Penang chân ướt chân ráo về quê chịu tang mẹ viết ngay bức thư gửi viên trung tá J.B. Jaureguiberry đang giữ thành Gia Định: “Tôi nhân danh là người đại diện cho tín hữu Kitô kính dâng lên Ngài lời cầu xin của chúng tôi… Tất cả chúng tôi chắc sẽ chịu chết nếu Ngài không kịp đánh đuổi kẻ thù của chúng ta”. Tất nhiên “kẻ thù của chúng ta” đây là quân của triều đình An Nam và “chúng tôi” là số giáo dân mê muội biến thành tay sai của số giáo sỹ phương Tây, đến nỗi viên tướng Genouille – Tư lệnh quân viễn chinh, cũng phải thốt lên: “Không một nền cai trị nào dù là phục vụ đạo Kitô lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên, ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ”.
- “Ngay từ đầu Trương đã dấn thân, nhận cộng tác với Pháp một cách hình như không đắn đo, không day dứt, không hối tiếc, vẫn luôn luôn đi tới, là điều hết sức quý giá đối với người Pháp bởi vì họ từ xa tới, lạ đất, lạ người. Nếu không có người cộng tác từ bên trong thì khó mà xâm lược được Việt Nam” (Linh mục Trương Bá Cần). Đúng như Tổng Giám mục bề trên Pugignier nói toạc ra: “Không có các giáo sỹ và giáo dân thì quân đội Pháp như con cua bị bẻ hết cả chân, càng”!
- Là bề dưới, Trương chẳng cần che đậy: “Không một người Việt Nam nào theo Kitô giáo lại ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp. Ông vua Việt Nam không theo đạo (Kitô), không phải là vua của họ”! Bà con ở phía Nam ta còn nhớ, sau khi lật đổ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam. Một số nhân sỹ hân hoan yết kiến, thỉnh nguyện xin được dựng đền thờ tưởng nhớ Quốc Tổ Hùng Vương, thì ngài Tân Tổng thống tỉnh bơ đáp: “Tổ của các ông chớ đâu phải là Tổ của tui!”. Dòng dõi vua Đavít ở mãi đâu mà dám mang nước Nam đã “rành rành định phận tại sách Trời” này dâng cho kẻ khác, thì sao tồn tại được?
- Nhiều lần Trương bộc lộ gan ruột mình ra với ông chủ thực dân: “Tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng để trở thành người Pháp thực sự”… “Tôi càng phải tỏ ra biết ơn nước Cộng hòa (Pháp) không những đã công nhận tôi là đứa con nuôi mà thôi, lại còn cho tôi nhiều vinh dự, và nhất là đã tin cẩn tôi lắm lắm!”… “Nước Pháp mà tôi phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó”… “Tôi sẽ không bao giờ còn lợi ích cho nước Pháp mà tôi phục vụ và gắn bó. Bởi vì nếu nhập tịch tôi sẽ mất hết uy tín, mất hết ảnh hưởng, từ đó không còn sự tin tưởng của nhà vua, của triều đình và của dân chúng An Nam”… “Khi trở lại đời sống tư, lòng tôi luôn luôn thuộc về nước Pháp, và những công việc phục vụ nhỏ mọn của tôi cũng thuộc về nước Pháp”…
Dù rất thông cảm với những người tài phải sống trong hoàn cảnh éo le của lịch sử: “… Khi đã không có một minh chủ, một lãnh tụ có khả năng tập hợp và tổ chức, thì người dân bình thường, kể cả kẻ sỹ, vẫn phải chấp nhận thực tế để tiếp tục sống và làm cái gì đó có ích cho đời” (Linh mục Trương Bá Cần). Nhưng đọc những lời trao qua đổi lại trong thư Trương Vĩnh Ký, người ta không khó nhận ra đó là “khẩu khí của kẻ tay sai” hay là “nguyên khí của bậc hiền tài”:
- “Tôi xin nhắc lại ngài cái dự án bình định với những phương tiện hành động đã được mật ước, để tiến tới thành quả mà chúng ta có thể phô trương. Về phần tôi, ngài có thể luôn luôn cậy vào sự giúp sức nhỏ yếu của tôi, vì dù sao những cảm tình của giờ phút đầu tiên đã trở thành một mối nhiệt tâm chân thành đối với ngài”.
- “Về phần tôi, xâm nhập vào Cơ mật viện của nhà vua, vai trò của tôi là làm cho nhà vua và triều thần hiểu được ý tốt của chính phủ Pháp cũng như điều động chính sách của chính phủ An Nam đi gần với chính sách của nước Pháp”.
- “Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (là người có tư tưởng chống Pháp), sẽ bao vây lấy nhà vua. Tôi cũng sẽ gom những người thật sự có khả năng cho Viện cơ mật”.
- “Bọn phiến loạn (nghĩa quân Cần vương) không đáng sợ; họ chỉ có những khí giới cổ lỗ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua lại được của bọn buôn lậu Trung Hoa”.
- “Tất cả quý vị (sỹ phu Bắc kỳ) đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý muốn xâm chiếm xứ này, họ có thể làm việc đó từ lâu một cách dễ dàng, không cần bàn cãi gì cả. Quý vị phải hiểu rằng quý vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy” và “Tin chắc rằng nếu nước Pháp muốn lấy xứ này, có thể làm mà không phải mất nhiều khó khăn, tốn kém” (Thư Trương gửi từ Bắc kỳ về Sài Gòn).
- “Xứ Viễn đông xa xôi và cô tịch thành ra già cỗi đủ thứ nên đã đến cái lúc phải cải cách làm cho chúng tái sinh. Thượng đế đã tin cẩn giao cho nước Pháp cái quyền ủy nhiệm ấy và tôi lấy thế làm hoan hỷ lắm… Tôi chỉ còn đợi sự bình định để bước vào vai trò đặc biệt thích hợp với tôi và sẽ được việc cho cả hai nước”.
b/ Trương đóng góp gì vào sự nghiệp văn hóa của dân tộc?
Nhiều công trình nghiên cứu về giá trị học thuật trong các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký của nhiều học giả, không ít vị từng sống ở miền Nam trước đây, hiện đang định cư ở nước ngoài. Sơ lược nêu ra vài ý để bạn đọc tham khảo:
- “Bảo rằng Petrus Ky là “nhà bác học kỳ tài đa năng, đa diện trên nhiều lãnh vực” nhưng không đưa ra bất cứ tác phẩm khoa học, văn chương tiêu biểu nào của Petrus Ky? Không tìm được tổ chức nào đã liệt Petrus Ky vào hàng “thế giới thập bát văn hào”, thậm chí đứng hàng đầu các danh nhân thế giới?” và: “Pétrus Ký thậm chí được tôn vinh vào hàng vĩ nhân là ý đồ của giới chức cầm quyền thực dân và giáo hội Công giáo. Chỉ những người thiếu hiểu biết mới dễ tin thôi!” (TS Trần Chung Ngọc).
- “Trong suốt 28 năm sáng tác, Trương Vĩnh Ký cho ra đời 121 tác phẩm Việt có, Pháp có. Hầu hết các tác phẩm của ông đều phục vụ cho quyền lợi của nhà nước thuộc địa và chính ông cũng đã công khai nhìn nhận chủ đích này” (Phạm Long Điền).
Khi cầm bút hay khi đứng trên bục giảng, Petrus Ký luôn tâm niệm một điều là: “Về phương diện chính trị và kinh tế, người Pháp là kẻ đi đồng hóa, còn người An Nam là kẻ chịu đồng hóa. Người yếu cần dựa vào người mạnh để đưa mình lên bằng người khỏe. Đó chính là mục đích cần phải theo đuổi và đạt tới. Bằng cách nào? Bằng cách đồng hóa. Và đồng hóa chỉ có thể thực hiện được bằng giáo dục và học vấn”. Thật sự là suốt đời ông ta tận tâm tận tụy “chưa bao giờ đi lệch mục tiêu đã định sẵn. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam” (Thư ngày 12/1/1882 gửi Hội đồng thuộc địa để xin tiền in sách).
Đúng là Trương hăng hái đi đầu trong việc dùng Quốc ngữ nhưng không nhằm mục đích thức tỉnh đám dân bản xứ “mọi rợ”, nâng cao dân trí, mà chỉ nhằm mau chóng “đồng hóa” đồng bào mình, phục vụ mưu đồ sâu xa của kẻ “đi đồng hóa” là quan thầy thực dân và bậc chủ chăn bề trên của nhà thờ Công giáo. Trên các văn tự còn lưu, rõ ra điều ấy:
- “Tất cả những gì ông (Trương Vĩnh Ký) đã dịch từ Hán ra chữ Quốc ngữ đều không có mục đích nào khác là làm cho người Nam chấp nhận mẫu tự La tinh và giảm bớt dùng chữ Hán… Việc đó ông Trương Vĩnh Ký đáp ứng đúng với yêu cầu của các vị Đô đốc – Thống đốc đã từng bày tỏ ngay từ lúc Pháp mới chinh phục Nam kỳ” (Sử gia Jean Bouchot).
- “Ngày nào còn sỹ phu, ngày đó ta còn lo sợ vì họ là những người yêu nước, làm sao chấp nhận được sự đô hộ của ta?” (Quan cai trị Lanessan).
- “Thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm cô lập các giáo hữu. Những người này cũng không thể thư từ gì được với bất cứ sỹ phu Tàu hay Ta nào, các thầy giảng người bản xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng Quốc ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần túy tôn giáo” (Giám mục Puginier).
Mặc dù Trương biết “trong con mắt của đồng bào tôi, tôi đã bị lên án nặng nề” và hơn thế là “có nhiều người ganh ghét tôi, ngu ngốc thậm chí là hung ác, họ có thể và biết cách hãm hại tôi”. Nhưng bởi “người bề tôi tận tâm và vâng lời” ấy luôn trung thành với chủ tới mức: “Tôi xả thân làm bốn mảnh vì ngài và vì sự thành công của nhiệm vụ cao cả của ngài” (Thư gửi Paul Bert)…
Mời bạn đọc xem vài dòng các quan thuộc địa trao đổi với nhau về kẻ bầy tôi của họ:
- “Tôi nhận thấy ở Huế, ông Trương Vĩnh Ký đã tận lực làm tròn sứ mạng công việc trong triều đình và ít nhiều ảnh hưởng trên nhà vua. Trong những điều kiện đó, tôi tin rằng sẽ có lợi cho người Pháp hiện thời nếu giữ ông ta ở lại Huế trong một thời gian tôi không dám xác định, nhưng chắc chắc cũng khá lâu” (Thư Toàn quyền Paul Bert gởi Thống đốc Nam kỳ ngày 20/5/1886).
- “Petrus Ký có nhiệm vụ thuyết phục nhà vua và triều đình hợp tác một cách thẳng thắn và trung thành với Pháp. Petrus Ký hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cực kỳ tinh tế này và hòa bình yên ổn được thiết lập ở An Nam trong vòng 60 năm”… “Trương Vĩnh Ký, người đồng hành với Phan Thanh Giản trong suốt cuộc hành trình trên, người đã chia sẻ những điều sâu kín với quan đại thần này, có cùng suy nghĩ như ông” (Pierre Vieillard)./.
Yêu nước ST.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét