Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022
Đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng
XUYÊN TẠC TỰ DO BÁO CHÍ VIỆT NAM
Những nội dung cần thiết để giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên hiện nay
Ở mỗi giai đoạn nhất định của tiến trình cách mạng, quan niệm về phẩm chất đạo đức, tư cách của người đảng viên lại có những yêu cầu cụ thể. Tuy vậy, nội dung cơ bản về giáo dục đạo đức cách mạng của đảng viên là:
Thứ nhất, giáo dục, rèn luyện về sự trung thành với lý tưởng cách mạng, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, tôn trọng và phục
vụ nhân dân
Người đảng viên cộng sản chỉ có thể là đảng viên khi họ gắn với lý tưởng
cộng sản; nếu xa rời lý tưởng người đảng viên sẽ mất phương hướng hành động và
như vậy họ không còn đủ tư cách là người đảng viên của Đảng. Người đảng viên
phấn đấu vào Đảng là để đấu tranh cho lý tưởng của Đảng; giác ngộ lý tưởng cộng
sản là điểm khác nhau quan trọng, cơ bản, đầu tiên giữa đảng viên và người
ngoài Đảng.
Giáo
dục, rèn luyện về sự trung thành với lý
tưởng cách mạng, với quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân lao động cho đảng viên
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhằm tác động vào
nhận thức, vào niềm tin của người đảng viên.
Giáo
dục, rèn luyện cho đảng viên của Đảng phải luôn trung thành với mục đích, lý tưởng
của Đảng, phải nhận thức rõ rằng: tận trung với nước, tận hiếu với dân, coi phục
vụ nhân dân là lẽ sống cao thượng nhất, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng,
cho cách mạng chính là mục tiêu lớn nhất cần đạt tới.
Bằng
hành động cụ thể, mỗi đảng viên của Đảng phải gương mẫu trong lối sống, tôn
trong nhân dân, ra sức phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân
dân lên trên lợi ích cá nhân; không ngừng rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, chấp
hành nghiêm chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, giáo dục, rèn luyện tinh thần lao động
gương mẫu, hăng say lao động và lao động sáng tạo
Đảng viên là chiến sĩ tiên phong của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, luôn đi đầu trong các phong trào cách mạng. Bản chất
giai cấp, mục đích, lý tưởng của Đảng đòi hỏi mọi đảng viên phải biết yêu lao động,
hiểu được giá trị của lao động và nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu trong
lao động, lao động hăng say và lao động sáng tạo.
Cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện
tinh thần lao động gương mẫu, hăng say
và lao động sáng tạo, không ngừng cải tiến, tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm,
góp phần tích cực vào việc phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm
cho người lao động, ổn định và nâng cao đời sống cho nhân dân.
Thứ ba, giáo dục, rèn luyện về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Cấp
ủy, tổ chức đảng phải hết sức coi trọng việc giáo dục phẩm chất cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, làm cho nó “sâu rễ, bền gốc” trong cán bộ, đảng
viên, trước hết là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ
quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và trong các tổ chức kinh tế nhà nước.
Đối với những đảng viên tha hóa, biến chất phải kiên quyết xử lý nghiêm minh bằng
kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Người cán bộ, đảng viên không chỉ
rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” mà
còn phải đấu tranh, phê phán những hiện tượng phi đạo đức…
Thứ tư, giáo dục, rèn luyện tinh thần nỗ lực học
tập, cầu tiến bộ
Việc giáo dục nâng cao nhận thức, trình độ cho đội ngũ đảng viên là
trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và phải được tiến hành thường xuyên,
đưa vào nội dung sinh hoạt thường kỳ của mỗi tổ chức đảng, mỗi tổ chức đoàn thể
và cơ quan, đơn vị.
Mỗi đảng viên phải được giáo dục, rèn luyện một cách toàn
diện cả về phẩm chất và năng lực để hoàn thiện nhân cách và đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ cách mạng.
Trong điều kiện hiện nay, cần
chú ý tăng cường bồi dưỡng các kỹ năng tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện và ý chí
phấn đấu cho đảng viên để họ biết cách thức tự điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp
với những tiêu chí, yêu cầu đòi hỏi khách quan của tình hình, nhiệm vụ mới.
Thứ năm, giáo dục, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ
luật nghiêm, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng
Đây là một nội dung rất quan trọng trong giáo dục,
rèn luyện đội ngũ đảng viên của cấp ủy, tổ chức đảng. Mỗi đảng viên của Đảng phải
có ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật
của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là
nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”[1].
Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, cấp ủy, tổ chức đảng
yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất
trí trong Đảng. Tất cả đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác
nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, "giữ gìn sự
đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Tăng
cường tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của nhà nước trong các tổ
chức đảng và các cơ quan nhà nước phải đi liền với xử lý kịp thời, nghiêm minh,
công khai những đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào. Điều đó sẽ
góp phần quan trọng trong giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên
của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
cảnh báo: “Một
dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn,
không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu
lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[2]. Trước lúc đi xa, Người đã căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng
viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo
đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng
ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân”[3].
Thứ sáu, giáo dục, rèn luyện tinh thần tập thể,
chống chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện lối sống trong sạch, lành mạnh
Mỗi đảng viên cần phải có phong cách, tác phong dân chủ,
vì tập thể. Luôn luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến của quần chúng và cấp dưới,
luôn xuất phát từ lợi ích của tập thể, của xã hội, vì quyền lợi chung, vì dân
vì nước để có quyết định đúng đắn kịp thời, chính xác. Phải khắc phục được tình
trạng thiếu tập thể, thiếu dân chủ, độc đoán, quan liêu, mệnh lệnh, xa dân
trong phong cách làm việc của không ít đảng viên hiện nay. Cần phải rèn luyện,
thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Nghĩa là phải dám
nghĩ, dám làm, quyết đoán, chịu trách nhiệm về các quyết định và hành động
của mình trên cơ sở phát huy dân chủ.
Thực tế đòi hỏi mỗi đảng viên phải thực sự gương mẫu, nói
đi đôi với làm, phải có tinh thần tập thể cao cả, tinh thần “lo trước
thiên hạ vui sau thiên hạ”; phải công bằng với mọi người, công tâm, chính tâm…
thì dân sẽ tin, sẽ phục và làm theo.
Giáo dục rèn luyện
tinh thần tập thể phải tăng cường chống chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện lối sống
trong sạch, lành mạnh, bởimọi căn bệnh trong Đảng và trong mỗi đảng
viên đều do chủ nghĩa cá nhân mà ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân
là một loại giặc, nó còn ác hơn cả giặc ngoại xâm. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân ở
ngay trong con người ta, trong tổ chức của ta, không thể dùng súng, dùng lựu đạn
để tiêu diệt nó. Đấu tranh chống nó cực kỳ khó khăn và phức tạp.
Thứ bảy, giáo dục về chủ nghĩa quốc tế của giai
cấp công nhân
Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là bản chất
của Đảng Cộng sản. Bản chất đó bắt nguồn từ vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế
giới của giai cấp công nhân. Tính chất quốc tế của Đảng phải được thể hiện
trong thực tiễn, không chỉ ở lời nói mà phải ở việc làm, trong hành động của
mình. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn quan tâm giáo dục đội ngũ đảng viên và
nhân dân tinh thần quốc tế cao cả và trong sáng; kiên quyết chống lại mọi
khuynh hướng chủ nghĩa sô vanh nước lớn hoặc chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Đặc điểm của an ninh phi truyền thống trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, có những vấn đề an ninh phi truyền thống được hình thành trong quá trình tích lũy các yếu tố tiềm tàng, như vấn đề môi trường sinh thái, tôn giáo, dân tộc; có những vấn đề bùng phát và lan rộng tạo thành, như bệnh dịch, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu, ma túy... Ngoài ra, vấn đề an ninh phi truyền thống thường là bùng phát đột xuất dưới hình thức khủng hoảng, từ đó tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng trực tiếp đối với an ninh quốc gia. Khủng hoảng tiền tệ toàn cầu, bệnh dịch SARS hoành hành, sự kiện Thiên An Môn năm 1989, khủng bố 11-9-2001 ở Mỹ và bạo loạn ở Tân Cương (Trung Quốc) năm 2009... đều có đặc trưng như vậy.
Thứ hai, an ninh phi truyền thống có thể chia làm hai phương
diện: phương diện có tính chất bạo lực và phương diện có tính chất phi bạo lực.
Phương diện có tính chất bạo lực gồm những vấn đề có liên quan đến bạo lực như
chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu ma túy, tội phạm có tổ chức. Phương diện có tính
chất phi bạo lực biểu hiện của những vấn đề chưa có màu sắc hoạt động bạo lực,
như ô nhiễm môi trường, sinh thái xấu đi, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, bệnh
dịch...
Thứ ba, an ninh phi truyền thống có đặc trưng lan rộng “xuyên
quốc gia”. Thông qua đó để phân biệt một vấn đề thuộc lĩnh vực an ninh phi
truyền thống hay thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia của một nước. Ví dụ: Cạn kiệt
tài nguyên, bùng nổ dân số, môi trường bị ô nhiễm, xung đột tôn giáo dân tộc,
khủng hoảng kinh tế và tài chính, tiền tệ, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm công
nghệ cao, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, tội phạm xuyên quốc gia, buôn
lậu ma túy, tị nạn vì mục đích kinh tế và di dân phi pháp, lan tràn bệnh truyền
nhiễm, hải tặc, rửa tiền phi pháp đều ít nhiều mang tính xuyên quốc gia. Đặc
trưng đó cho thấy, vấn đề an ninh phi truyền thống có ảnh hưởng và tác dụng
quan trọng đối với quan hệ giữa các quốc gia, khu vực và mang tính toàn cầu.
Thứ tư, tất cả những vấn đề thuộc an ninh phi truyền thống đều
trực tiếp đe dọa đến sinh mệnh và đời sống xã hội của công dân các nước và an
ninh toàn nhân loại, an ninh quốc gia, an ninh khu vực cũng như an ninh toàn
cầu, chỉ có phương thức, mức độ, thời gian và hậu quả là khác nhau mà thôi.
Thứ năm, các vấn đề của an ninh phi truyền thống đều có tác động
lẫn nhau, khiến cho ảnh hưởng và nguy hại mà nó tạo ra lớn hơn so với ban đầu, như:
sự nghèo đói, xung đột sắc tộc, vấn đề di dân và tị nạn sang các nước khác; các
hoạt động khủng bố, tin tặc, buôn lậu ma túy và rửa tiền phi pháp... Trong một
số trường hợp đã hình thành “chuỗi xích” từ khủng hoảng đến xung đột, có thể
kích thích lẫn nhau và tạo thành hiệu ứng nguy hại mang tính dây chuyền với
phạm vi lớn hơn.
PHAO
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn cực kỳ nguy hiểm nhưng khó nhận diện trong chiến lược “diễn biến hòa bình”
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự suy thoái từ bên trong, là quá trình biến đổi tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhân dân theo chiều hướng tiêu cực làm mất dần chuẩn mực của người cộng sản, của người công dân xã hội chủ nghĩa, dẫn đến hoài nghi, xa rời, rồi có hành động chống lại nguyên tắc, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn cực kỳ nguy hiểm nhưng khó nhận diện trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, đồng thời nó cũng là mục tiêu và là hệ quả của “diễn biến hòa bình”.
Đối tượng của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà các thế
lực thù địch nhằm tới là các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị và mọi
tầng lớp nhân dân trong xã hội, trong đó tập trung vào hệ thống tổ chức của
Đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức
nhà nước và lực lượng vũ trang. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng,
ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc của một bộ phận cán bộ,
đảng viên có chức, có quyền là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thúc đẩy
quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
diễn ra qua ba giai đoạn: 1) Giai đoạn ban đầu, đối tượng thể hiện sự hoang
mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng,
tính khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, và hoài nghi con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội; 2) Giai đoạn hai, đối tượng bắt đầu chủ động hơn trong tiếp nhận những
thông tin trái chiều, những luận điệu chống đối, hoặc lý luận phản động; 3)
Giai đoạn ba, đối tượng hoàn toàn có tư tưởng phản động, chống đối.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
của cá nhân nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị
suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra ở tầm vĩ mô
hoặc trong phần lớn cán bộ, đảng viên sẽ dẫn đến sự chuyển hóa từ chế độ xã hội
chủ nghĩa sang con đường tư bản chủ nghĩa. Như vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
là hệ quả của “diễn biến hòa bình”, và là giai đoạn nối tiếp của “diễn biến hòa
bình”.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
có thể diễn ra trên tất cả các lĩnh vực từ tư tưởng, chính trị, đến kinh tế,
văn hóa, đạo đức, lối sống. “Tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng là sự hoài
nghi chủ nghĩa Mác-Lênin; thiếu niềm tin, hoài nghi vai trò lãnh đạo của Đảng,
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xa rời các nguyên lý xây dựng Đảng, phê phán
lịch sử thiếu khách quan, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước... “Tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng là sự nối tiếp của quá
trình “tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng. Khi sự biến đổi về chất đã làm
thay đổi quan điểm tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên,
sẽ dẫn đến hành động chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của
Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về kinh tế là sự phủ nhận nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức,
lối sống, là sự đề cao, sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các
giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, các giá trị văn hóa, đạo đức xã hội chủ
nghĩa; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóa cách mạng; đánh mất bản sắc văn
hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng... “Tự diễn biến” về
văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống thường là sự khởi đầu cho “tự diễn biến” về
tư tưởng. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, biểu hiện của “tự diễn biến” “tự
chuyển hóa” là thay đổi bản chất nền quốc phòng, thay đổi bản chất cách mạng
của lực lượng vũ trang, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, v.v..
PHAO
ĐỪNG NÓI XẤU, CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC XONG LẠI KÊU GỌI CHÍNH QUYỀN TRONG NƯỚC GIÚP ĐỠ!
Bạo loạn lật đổ là hoạt động phản động, phản cách mạng do các thế lực thù địch, phản động thực hiện
“Bạo loạn là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản
động hay lực lượng ly khai, đối
lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rối loạn an ninh
chính trị, trật tự, an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc Trung
ương)”[1].
Bạo loạn, lật đổ là hình thức chống phá các nước xã hội
chủ nghĩa và độc lập dân tộc bằng thủ đoạn bạo lực có tổ chức, thể hiện bằng
chính trị hoặc vũ trang, do bọn phản động trong nước trực tiếp tiến hành dưới
sự chỉ đạo của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chính
quyền, dựng chính quyền phản động ở Trung ương hoặc địa phương.
Bản chất: Bạo loạn lật đổ là hoạt động phản động, phản cách mạng do các thế lực thù địch,
phản động thực hiện chống lại các nước xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc và
những chính quyền không thân phương Tây nhằm xây dựng chính quyền mới theo quỹ
đạo tư bản chủ nghĩa.
Hình thức bạo loạn lật đổ gồm có: 1) Bạo loạn vũ trang, trong đó các đối tượng sử
dụng lực lượng, biện pháp, phương tiện, vũ khí quân sự tấn công, lật đổ, cướp
chính quyền; 2) Bạo loạn phi vũ trang hay còn gọi là “bạo loạn chính trị”,
trong đó các đối tượng không sử dụng bạo lực quân sự mà chủ yếu là mít tinh,
biểu tình, tuần hành phá rối an ninh, gây rối trật tự xã hội, chống phá chính
quyền; 3) Bạo loạn chính trị kết hợp với bạo loạn vũ trang.
Đối tượng gây bạo loạn lật đổ: Là các tổ
chức, phần tử phản động trong nước có sự tham gia của những người bị tuyên
truyền lừa bịp, lôi kéo, kích động. Các thế lực thù địch, phản động lưu vong ở
nước ngoài thường có sự chỉ đạo, hậu thuẫn cho đối tượng gây bạo loạn ở trong
nước.
Quy mô bạo loạn lật đổ: Có thể từ nhỏ đến
vừa và lớn; từ một vài nơi, một vài khu vực lan ra nhiều nơi, nhiều khu vực.
Quy mô bạo loạn lật đổ tùy thuộc vào tương quan lực lượng, vào điều kiện và
thời cơ, mục đích thực sự của bạo loạn. Có loại bạo loạn lật đổ chỉ mang tính
cục bộ, quy mô nhỏ, trên địa bàn hẹp và cũng chỉ nhằm mục đích tập dượt, chuẩn
bị cho các cuộc bạo loạn quy mô lớn hơn, có mục đích cao hơn. Có loại bạo loạn
lật đổ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động “diễn biến hòa bình”, như gây rối loạn chính trị - xã hội để tăng sức ép đối
với chính phủ, buộc chính phủ thay đổi đường lối, chính sách theo hướng có lợi
cho “diễn biến hòa bình” và tạo điều kiện
cho các hoạt động “diễn biến hòa bình” tiếp theo.
Phạm vi, địa bàn xảy ra bạo loạn lật đổ: Có thể diễn ra ở nhiều nơi, nhiều
vùng, nhưng trọng điểm là các trung tâm chính trị, kinh tế ở Trung ương và địa
phương, nơi rất nhạy cảm về chính trị, hoặc các khu vực, địa bàn mà cơ sở chính
trị của địa phương tỏ ra yếu kém.
Phương thức và thủ đoạn
tiến hành: 1) Triệt để
khai thác và lợi dụng các mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân,
mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền, mâu thuẫn nội bộ trong chính quyền
hiện hành để kích động quần chúng chống chính quyền; 2) Thủ đoạn thường xuyên
được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân
tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có
thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Vu cáo chính
quyền đương nhiệm vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, vi phạm
tự do tôn giáo, đàn áp dân tộc để biểu tình, chống đối... đề cao các giá trị
phương Tây để gây áp lực với chính quyền; 3) Dùng tiền, vật chất để kích động,
lôi kéo quần chúng, sử dụng quần chúng nhân dân gây áp lực với chính quyền.
Điều kiện xảy ra bạo loạn lật đổ gồm có các điều
kiện khách quan và chủ quan sau: 1) Các thế lực thù địch xây dựng được lực
lượng chính trị và lực lượng vũ trang phản động bí mật; tạo dựng được “ ngọn cờ ” để chỉ đạo, điều
hành và lôi kéo, kích động quần chúng tham gia; có sự liên kết, phối hợp giữa
các thế lực phản động trong nước và quốc tế; 2) Xã hội có hiện tượng không ổn
định, mâu thuẫn nội bộ chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa thỏa đáng, bị
các thế lực phản động lợi dụng, tìm cách khoét sâu, kích động làm chuyển hóa từ
mâu thuẫn nội bộ thành mâu thuẫn đối kháng, từ đó lái quần chúng và lôi kéo họ
đấu tranh phục vụ mưu đồ chính trị phản động của các thế lực thù địch; 3) Nền
kinh tế - xã hội kém phát triển, chính sách kinh tế không phù hợp, phụ thuộc
quá nhiều vào nước ngoài, tình trạng nghèo đói, thất nghiệp tăng cao, đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân không được cải thiện; 4) Bộ máy quản lý nhà
nước yếu kém, nạn quan liêu, tham nhũng, gia đình trị, nội bộ mâu thuẫn; 5) Lực
lượng vũ trang không được quan tâm đầy đủ, bị trung lập, vô hiệu hóa.
[1] Trung tâm Từ điển Bách khoa
quân sự, Bộ Quốc phòng: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, H.2004, tr.63.
LỜI BÁC CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ: NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT, DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT”!
Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022
Giá trị của Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc
Qua kinh nghiệm Công xã Pari năm 1871, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, sau khi
giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải nhanh chóng củng cố nền chuyên chính vô sản, củng
cố khối liên minh công nông, giải giáp quân đội cũ, vũ trang toàn dân, thành
lập các đội tự vệ công nhân, xây dựng xã hội mới, kiên quyết tiến công đập tan mọi
hành động phản kháng của giai cấp tư sản. Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
V.I.Lênin
phát hiện quy luật phát triển không đều về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư
bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và đi đến kết luận hết sức quan trọng: Trong
điều kiện lịch sử mới, giai cấp vô sản có thể giành được chính quyền ở mắt xích
yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, cách mạng vô sản có thể thành công ở một nước,
thậm chí ở một nước có trình độ phát triển chưa cao. Thực tiễn ở nước Nga đã
chứng minh nhận định trên đây là đúng đắn, cách mạng vô sản Nga đã thành công
vào tháng 10-1917.
Học
thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến mới của V.I.Lênin vào lý
luận chủ nghĩa Mác, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang đặt
ra trực tiếp ở nước Nga Xôviết thời kỳ đó. Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ
nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã có
những đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát triển học thuyết bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa. Ông chỉ rõ: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những
người chủ trương bảo vệ Tổ quốc..., nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta
đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[1].
Ngay sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, nhà nước của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập, Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa cũng bắt đầu hình thành. Giai cấp công nhân bắt tay vào công cuộc cải tạo
xã hội cũ và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ
xây dựng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra và trở
thành nhiệm vụ chiến lược của các nước xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến
lược này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ
nghĩa.
Kế
thừa tinh hoa của dân tộc, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin
về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta
phải cùng nhau giữ lấy nước”[2].
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người nói: “Chúng
ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ... Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!...[3].
Người khẳng định: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết
giành cho được độc lập”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương kiên quyết bảo vệ
chính quyền và chủ quyền dân tộc, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn
biến”, hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn để xây dựng lực lượng mọi mặt cho
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Người đưa ra hàng loạt các biện pháp xây dựng và củng
cố chính quyền cách mạng, tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thông qua Hiến
pháp năm 1946; kiên quyết chống “giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt”, ra Chỉ
thị “Kháng chiến kiến quốc”, đồng thời cùng Trung ương Đảng quyết định chủ
trương “Hòa để tiến”; quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946
để có thời gian chuẩn bị kháng chiến, bảo vệ chính quyền.
Cách
mạng Tháng Tám thành công, nước ta phải đối phó với cả thù trong giặc ngoài,
nhiều khó khăn chồng chất như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã cùng với Đảng ta chủ trương “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”. Với đường
lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ”, từng bước tạo nên sự chuyển hóa
cả về thế, thời và lực để đánh bại thực dân Pháp xâm lược. Trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do; Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước
ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh
hết sức coi trọng xây dựng các tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
xây dựng tinh thần kháng chiến của toàn dân. Đồng thời, chú trọng xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ).
Tích cực thực hiện các biện pháp ngoại giao, lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù,
phân hóa chúng, đồng thời hết sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân
thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục
tiêu xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước lúc qua đời, trong Di chúc,
Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa.
Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải
quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”[4].
Người kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để
giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi
lên xã hội chủ nghĩa.
Học
thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bộ
phận hợp thành lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa, bao gồm một hệ thống các
quan điểm, tư tưởng rất cơ bản về tính tất yếu, nhiệm vụ và nội dung bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa và các biện pháp có tính chiến lược trong xây dựng, củng
cố quốc phòng, chuẩn bị đất nước về mọi mặt cùng với đường lối đối ngoại đúng
đắn để có thể đánh thắng thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.




