Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

Đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng

    Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán nhiều loại thông tin sai trái, thù địch, độc hại nhằm chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng trong tình hình hiện nay là hết sức cần thiết.
     Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự bùng nổ của internet, mạng xã hội và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường, hoạt động chống phá quân đội của các thế lực thù địch ngày càng gia tăng. Thủ đoạn hiện nay của chúng là triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là các trang mạng xã hội để tán phát các tài liệu, bài viết, lồng ghép các hình ảnh, tạo các video clip tuyên truyền các thông tin có nội dung xuyên tạc, nói xấu nội bộ, đả kích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; kích động, xuyên tạc bản chất cách mạng, chức năng, nhiệm vụ quân đội, bôi nhọ lãnh đạo, chỉ huy, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” nhằm từng bước thẩm thấu, tác động vào nhận thức, tình cảm, gây hoài nghi trong cán bộ, chiến sĩ về đường lối lãnh đạo của Đảng, thực trạng của xã hội, vai trò của quân đội hiện nay với mục đích làm cho nội bộ dao động về tư tưởng, giảm sút niềm tin và ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ tiến tới thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội. 
    Bên cạnh thủ đoạn trên, các đối tượng còn khai thác việc quân nhân có những phát ngôn hoặc trả lời phỏng vấn của các cơ quan báo chí, truyền thông có nội dung chưa chính xác về những vấn đề nhạy cảm để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; tạo ra những phản ứng trái chiều, phức tạp trong xã hội, tác động tiêu cực đến lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Đáng chú ý, khi các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là báo chí đưa thông tin về các vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của quân nhân, các vấn đề được dư luận quan tâm trên lĩnh vực quốc phòng như: Việc sử dụng đất quốc phòng tại một số đơn vị; những sai phạm, khuyết điểm của một số cán bộ, chỉ huy quân đội... nhiều báo điện tử “rầm rộ” đưa lại thông tin với những tiêu đề “giật gân” nhằm thu hút sự chú ý của dư luận, tác động xấu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và dư luận nhân dân đối với quân đội, làm suy giảm uy tín của quân đội; tạo điều kiện cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tuyên truyền chống phá./.

XUYÊN TẠC TỰ DO BÁO CHÍ VIỆT NAM


Nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2022), các tổ chức, các trang mạng xã hội, các phần tử cơ hội, phản động đã có những hành động, bài viết xuyên tạc về tự do báo chí ở Việt Nam. Thậm chí, ngày 2/6, tại Geneva, Thụy Sỹ, tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) còn trao giải thưởng nhân quyền Martin Ennals cho Phạm Thị Đoan Trang.
Tại buổi lễ trao giải, bà Michèle Taylor - Đại sứ Mỹ tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nói: "Phạm Thị Đoan Trang, một trong những người nhận Giải Martin Ennals năm nay, một nhà hoạt động nhân quyền và nhà báo truyền cảm hứng, hiện đang bị giam giữ một cách bất công ở Việt Nam. Phạm Thị Đoan Trang là “một người hùng”, một “nhà báo độc lập”, với những đóng góp tích cực cho phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, biểu tượng lòng dũng cảm trong việc vận động cho hòa bình, công lý, nhân quyền…”. Bà Michèle Taylor đã lên án “sự giam cầm bất công và kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức cho Phạm Thị Đoan Trang”.
Thực tế, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến ngày 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang đã có những hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Việt Nam như: "Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam"; "Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam"; "Báo cáo đánh giá về Luật Tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam"... Đây là những tài liệu có nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Việc RSF trao Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals cho Phạm Thị Đoan Trang chính là tiếp tay cho những luận điệu xuyên tạc, cổ súy cho hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Thị Đoan Trang và các đối tượng chống đối khác. Đồng thời, lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp những người “bất đồng chính kiến”, những người “hoạt động nhân quyền”, mượn cớ để gây sức ép, bôi nhọ, làm mất uy tín, hình ảnh của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Mặt khác, thông qua việc trao giải này còn muốn đánh bóng tên tuổi Phạm Thị Đoan Trang cũng như các cá nhân hoạt động chống Đảng, Nhà nước dưới danh nghĩa “nhà dân chủ”, nhà “hoạt động nhân quyền”, từ đó cổ súy cho hành vi phạm pháp của các nhân tố chống đối trong nước, tập hợp lực lượng, gây bất ổn từ bên trong. Thủ đoạn trên tuy không mới, nhưng lại hết sức nguy hiểm, bởi nó có thể hướng sự chú ý của dư luận quốc tế và làm cho một số người hiểu sai sự thật, thậm chí một số cá nhân vì thiếu hiểu biết mà tin theo, bị dẫn dắt hoặc vì động cơ khác mà dẫn đến hành vi sai trái, chống phá đất nước, đi ngược lại với lợi ích quốc gia.
Trước đó, tại phiên tòa ngày 14/12/2021, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên phạt bị cáo Phạm Thị Đoan Trang 9 năm tù về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại điều 88 Bộ luật hình sự 1999. Như vậy, việc trao giải thưởng của RFS chỉ là trò hề xuyên tạc tự do báo chí, là cái cớ để chống phá cách mạng Việt Nam.

Những nội dung cần thiết để giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên hiện nay

         Ở mỗi giai đoạn nhất định của tiến trình cách mạng, quan niệm về phẩm chất đạo đức, tư cách của người đảng viên lại có những yêu cầu cụ thể. Tuy vậy, nội dung cơ bản về giáo dục đạo đức cách mạng của đảng viên là:

Thứ nhất, giáo dục, rèn luyện về sự trung thành với lý tưởng cách mạng, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, tôn trọng và phục vụ nhân dân

Người đảng viên cộng sản chỉ có thể là đảng viên khi họ gắn với lý tưởng cộng sản; nếu xa rời lý tưởng người đảng viên sẽ mất phương hướng hành động và như vậy họ không còn đủ tư cách là người đảng viên của Đảng. Người đảng viên phấn đấu vào Đảng là để đấu tranh cho lý tưởng của Đảng; giác ngộ lý tưởng cộng sản là điểm khác nhau quan trọng, cơ bản, đầu tiên giữa đảng viên và người ngoài Đảng.

Giáo dục, rèn luyện về sự trung thành với lý tưởng cách mạng, với quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân lao động cho đảng viên là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhằm tác động vào nhận thức, vào niềm tin của người đảng viên.

Giáo dục, rèn luyện cho đảng viên của Đảng phải luôn trung thành với mục đích, lý tưởng của Đảng, phải nhận thức rõ rằng: tận trung với nước, tận hiếu với dân, coi phục vụ nhân dân là lẽ sống cao thượng nhất, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng chính là mục tiêu lớn nhất cần đạt tới.

Bằng hành động cụ thể, mỗi đảng viên của Đảng phải gương mẫu trong lối sống, tôn trong nhân dân, ra sức phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; không ngừng rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, giáo dục, rèn luyện tinh thần lao động gương mẫu, hăng say lao động và lao động sáng tạo

Đảng viên là chiến sĩ tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, luôn đi đầu trong các phong trào cách mạng. Bản chất giai cấp, mục đích, lý tưởng của Đảng đòi hỏi mọi đảng viên phải biết yêu lao động, hiểu được giá trị của lao động và nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu trong lao động, lao động hăng say và lao động sáng tạo.

Cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện tinh thần lao động gương mẫu, hăng say và lao động sáng tạo, không ngừng cải tiến, tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm, góp phần tích cực vào việc phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động, ổn định và nâng cao đời sống cho nhân dân.

Thứ ba, giáo dục, rèn luyện về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cấp ủy, tổ chức đảng phải hết sức coi trọng việc giáo dục phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm cho nó “sâu rễ, bền gốc” trong cán bộ, đảng viên, trước hết là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và trong các tổ chức kinh tế nhà nước. Đối với những đảng viên tha hóa, biến chất phải kiên quyết xử lý nghiêm minh bằng kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Người cán bộ, đảng viên không chỉ rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” mà còn phải đấu tranh, phê phán những hiện tượng phi đạo đức…

Thứ tư, giáo dục, rèn luyện tinh thần nỗ lực học tập, cầu tiến bộ

Việc giáo dục nâng cao nhận thức, trình độ cho đội ngũ đảng viên là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và phải được tiến hành thường xuyên, đưa vào nội dung sinh hoạt thường kỳ của mỗi tổ chức đảng, mỗi tổ chức đoàn thể và cơ quan, đơn vị.

Mỗi đảng viên phải được giáo dục, rèn luyện một cách toàn diện cả về phẩm chất và năng lực để hoàn thiện nhân cách và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng.

Trong điều kiện hiện nay, cần chú ý tăng cường bồi dưỡng các kỹ năng tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện và ý chí phấn đấu cho đảng viên để họ biết cách thức tự điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp với những tiêu chí, yêu cầu đòi hỏi khách quan của tình hình, nhiệm vụ mới.

 Thứ năm, giáo dục, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng

Đây là một nội dung rất quan trọng trong giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên của cấp ủy, tổ chức đảng. Mỗi đảng viên của Đảng phải có ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”[1].

Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, cấp ủy, tổ chức đảng yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Tất cả đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, "giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Tăng cường tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của nhà nước trong các tổ chức đảng và các cơ quan nhà nước phải đi liền với xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai những đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào. Điều đó sẽ góp phần quan trọng trong giáo dục, răn đe đối với mọi cán  bộ, đảng viên của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[2]. Trước lúc đi xa, Người đã căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[3].

Thứ sáu, giáo dục, rèn luyện tinh thần tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện lối sống trong sạch, lành mạnh

Mỗi đảng viên cần phải có phong cách, tác phong dân chủ, vì tập thể. Luôn luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến của quần chúng và cấp dưới, luôn xuất phát từ lợi ích của tập thể, của xã hội, vì quyền lợi chung, vì dân vì nước để có quyết định đúng đắn kịp thời, chính xác. Phải khắc phục được tình trạng thiếu tập thể, thiếu dân chủ, độc đoán, quan liêu, mệnh lệnh, xa dân trong phong cách làm việc của không ít đảng viên hiện nay. Cần phải rèn luyện, thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Nghĩa là phải dám nghĩ, dám làm, quyết đoán, chịu trách nhiệm về các quyết định và hành động của mình trên cơ sở phát huy dân chủ.

Thực tế đòi hỏi mỗi đảng viên phải thực sự gương mẫu, nói đi đôi với làm, phải có tinh thần tập thể  cao cả, tinh thần “lo trước thiên hạ vui sau thiên hạ”; phải công bằng với mọi người, công tâm, chính tâm… thì dân sẽ tin, sẽ phục và làm theo.

Giáo dục rèn luyện tinh thần tập thể phải tăng cường chống chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện lối sống trong sạch, lành mạnh, bởimọi căn bệnh trong Đảng và trong mỗi đảng viên đều do chủ nghĩa cá nhân mà ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là một loại giặc, nó còn ác hơn cả giặc ngoại xâm. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân ở ngay trong con người ta, trong tổ chức của ta, không thể dùng súng, dùng lựu đạn để tiêu diệt nó. Đấu tranh chống nó cực kỳ khó khăn và phức tạp.

Thứ bảy, giáo dục về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân

Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là bản chất của Đảng Cộng sản. Bản chất đó bắt nguồn từ vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân. Tính chất quốc tế của Đảng phải được thể hiện trong thực tiễn, không chỉ ở lời nói mà phải ở việc làm, trong hành động của mình. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn quan tâm giáo dục đội ngũ đảng viên và nhân dân tinh thần quốc tế cao cả và trong sáng; kiên quyết chống lại mọi khuynh hướng chủ nghĩa sô vanh nước lớn hoặc chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

PHAO

[1]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 17.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc qua, Hà Nội, 2011, tr. 672.

[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 611.

Đặc điểm của an ninh phi truyền thống trong giai đoạn hiện nay

         Thứ nhất, có những vấn đề an ninh phi truyền thống được hình thành trong quá trình tích lũy các yếu tố tiềm tàng, như vấn đề môi trường sinh thái, tôn giáo, dân tộc; có những vấn đề bùng phát và lan rộng tạo thành, như bệnh dịch, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu, ma túy... Ngoài ra, vấn đề an ninh phi truyền thống thường là bùng phát đột xuất dưới hình thức khủng hoảng, từ đó tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng trực tiếp đối với an ninh quốc gia. Khủng hoảng tiền tệ toàn cầu, bệnh dịch SARS hoành hành, sự kiện Thiên An Môn năm 1989, khủng bố 11-9-2001 ở Mỹ và bạo loạn ở Tân Cương (Trung Quốc) năm 2009... đều có đặc trưng như vậy.

Thứ hai, an ninh phi truyền thống có thể chia làm hai phương diện: phương diện có tính chất bạo lực và phương diện có tính chất phi bạo lực. Phương diện có tính chất bạo lực gồm những vấn đề có liên quan đến bạo lực như chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu ma túy, tội phạm có tổ chức. Phương diện có tính chất phi bạo lực biểu hiện của những vấn đề chưa có màu sắc hoạt động bạo lực, như ô nhiễm môi trường, sinh thái xấu đi, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, bệnh dịch...

Thứ ba, an ninh phi truyền thống có đặc trưng lan rộng “xuyên quốc gia”. Thông qua đó để phân biệt một vấn đề thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống hay thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia của một nước. Ví dụ: Cạn kiệt tài nguyên, bùng nổ dân số, môi trường bị ô nhiễm, xung đột tôn giáo dân tộc, khủng hoảng kinh tế và tài chính, tiền tệ, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm công nghệ cao, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma túy, tị nạn vì mục đích kinh tế và di dân phi pháp, lan tràn bệnh truyền nhiễm, hải tặc, rửa tiền phi pháp đều ít nhiều mang tính xuyên quốc gia. Đặc trưng đó cho thấy, vấn đề an ninh phi truyền thống có ảnh hưởng và tác dụng quan trọng đối với quan hệ giữa các quốc gia, khu vực và mang tính toàn cầu.

Thứ tư, tất cả những vấn đề thuộc an ninh phi truyền thống đều trực tiếp đe dọa đến sinh mệnh và đời sống xã hội của công dân các nước và an ninh toàn nhân loại, an ninh quốc gia, an ninh khu vực cũng như an ninh toàn cầu, chỉ có phương thức, mức độ, thời gian và hậu quả là khác nhau mà thôi.

Thứ năm, các vấn đề của an ninh phi truyền thống đều có tác động lẫn nhau, khiến cho ảnh hưởng và nguy hại mà nó tạo ra lớn hơn so với ban đầu, như: sự nghèo đói, xung đột sắc tộc, vấn đề di dân và tị nạn sang các nước khác; các hoạt động khủng bố, tin tặc, buôn lậu ma túy và rửa tiền phi pháp... Trong một số trường hợp đã hình thành “chuỗi xích” từ khủng hoảng đến xung đột, có thể kích thích lẫn nhau và tạo thành hiệu ứng nguy hại mang tính dây chuyền với phạm vi lớn hơn.

PHAO

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn cực kỳ nguy hiểm nhưng khó nhận diện trong chiến lược “diễn biến hòa bình”

         “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự suy thoái từ bên trong, là quá trình biến đổi tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhân dân theo chiều hướng tiêu cực làm mất dần chuẩn mực của người cộng sản, của người công dân xã hội chủ nghĩa, dẫn đến hoài nghi, xa rời, rồi có hành động chống lại nguyên tắc, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn cực kỳ nguy hiểm nhưng khó nhận diện trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, đồng thời nó cũng là mục tiêu và là hệ quả của “diễn biến hòa bình”.

Đối tượng của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà các thế lực thù địch nhằm tới là các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, trong đó tập trung vào hệ thống tổ chức của Đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra qua ba giai đoạn: 1) Giai đoạn ban đầu, đối tượng thể hiện sự hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng, tính khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, và hoài nghi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; 2) Giai đoạn hai, đối tượng bắt đầu chủ động hơn trong tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu chống đối, hoặc lý luận phản động; 3) Giai đoạn ba, đối tượng hoàn toàn có tư tưởng phản động, chống đối.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cá nhân nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra ở tầm vĩ mô hoặc trong phần lớn cán bộ, đảng viên sẽ dẫn đến sự chuyển hóa từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang con đường tư bản chủ nghĩa. Như vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả của “diễn biến hòa bình”, và là giai đoạn nối tiếp của “diễn biến hòa bình”.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể diễn ra trên tất cả các lĩnh vực từ tư tưởng, chính trị, đến kinh tế, văn hóa, đạo đức, lối sống. “Tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng là sự hoài nghi chủ nghĩa Mác-Lênin; thiếu niềm tin, hoài nghi vai trò lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; xa rời các nguyên lý xây dựng Đảng, phê phán lịch sử thiếu khách quan, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... “Tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng là sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng. Khi sự biến đổi về chất đã làm thay đổi quan điểm tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, sẽ dẫn đến hành động chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về kinh tế là sự phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống, là sự đề cao, sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, các giá trị văn hóa, đạo đức xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóa cách mạng; đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng... “Tự diễn biến” về văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống thường là sự khởi đầu cho “tự diễn biến” về tư tưởng. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, biểu hiện của “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” là thay đổi bản chất nền quốc phòng, thay đổi bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, v.v..

PHAO

ĐỪNG NÓI XẤU, CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC XONG LẠI KÊU GỌI CHÍNH QUYỀN TRONG NƯỚC GIÚP ĐỠ!

     Trên đời không ai hoàn hảo cả, Khánh Ly được ông trời ban cho sợi dây thanh quản bằng vàng. Thì phải lấy đi cái tư duy của chị một tí cho nó cân bằng tí, ngày xưa nghĩ cộng đồng hải ngoại ngon còn Việt Nam mãi nghèo đói dưới ách thống trị của Cộng Sản. Nên chị mạnh mồm tuyên bố chị đéo về nước khi Cộng Sản còn.

Nhưng thời thế đổi thay nó nhanh quá, mới có vài thập kỷ mà Việt Nam đua top chả thiếu cái gì, chả thua bố con nào trong khu vực còn ca sỹ giỏi, hát hay nhiều như sao trên trời, trong khi các khứa già hải ngoại ngày một vắng đi vì xuống hết lỗ dần dần thị hiếu bọn chuối vàng gen Z ở mỹ nó ghe dáp dizz nghe chị Lệ Tây Lơ chứ ai nghe chị hát nữa. 

Giờ nhân dịp phim Trịnh đang nổi, chị nhanh chóng quay xe tuyên bố diễn xuyên Việt lần cuối, nhưng lần cuối khi nào thì chưa chắc nhưng yên tâm tiền thu về đủ cho chị vui vẻ tới già không phải đi chầu chực bầu show bên Mỹ nữa.

Đấy cũng là minh chứng cho việc thời thế, thế thời vậy mà nhiều nghệ sỹ ở xứ này nhưng lại mang tâm hồn hướng ngoại rồi vỡ mộng cúp pha xuống mà về nước kiếm cơm. Giấc mơ Mỹ có thật, nhưng có thật cho những người có đầu óc chất xám, tài năng chứ không phải dành cho mấy đứa cứ ngỡ mình hót hay, khóc giỏi trên sân khấu là qua Mỹ auto thành triệu phú đô na./.
Yêu nước ST.

Bạo loạn lật đổ là hoạt động phản động, phản cách mạng do các thế lực thù địch, phản động thực hiện

 “Bạo loạn là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng ly khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc Trung ương)”[1].

Bạo loạn, lật đổ là hình thức chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và độc lập dân tộc bằng thủ đoạn bạo lực có tổ chức, thể hiện bằng chính trị hoặc vũ trang, do bọn phản động trong nước trực tiếp tiến hành dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chính quyền, dựng chính quyền phản động ở Trung ương hoặc địa phương.

Bản chất: Bạo loạn lật đổ là hoạt động phản động, phản cách mạng do các thế lực thù địch, phản động thực hiện chống lại các nước xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc và những chính quyền không thân phương Tây nhằm xây dựng chính quyền mới theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Hình thức bạo loạn lật đổ gồm có: 1) Bạo loạn vũ trang, trong đó các đối tượng sử dụng lực lượng, biện pháp, phương tiện, vũ khí quân sự tấn công, lật đổ, cướp chính quyền; 2) Bạo loạn phi vũ trang hay còn gọi là “bạo loạn chính trị”, trong đó các đối tượng không sử dụng bạo lực quân sự mà chủ yếu là mít tinh, biểu tình, tuần hành phá rối an ninh, gây rối trật tự xã hội, chống phá chính quyền; 3) Bạo loạn chính trị kết hợp với bạo loạn vũ trang.

Đối tượng gây bạo loạn lật đổ: Là các tổ chức, phần tử phản động trong nước có sự tham gia của những người bị tuyên truyền lừa bịp, lôi kéo, kích động. Các thế lực thù địch, phản động lưu vong ở nước ngoài thường có sự chỉ đạo, hậu thuẫn cho đối tượng gây bạo loạn ở trong nước.

Quy mô bạo loạn lật đổ: Có thể từ nhỏ đến vừa và lớn; từ một vài nơi, một vài khu vực lan ra nhiều nơi, nhiều khu vực. Quy mô bạo loạn lật đổ tùy thuộc vào tương quan lực lượng, vào điều kiện và thời cơ, mục đích thực sự của bạo loạn. Có loại bạo loạn lật đổ chỉ mang tính cục bộ, quy mô nhỏ, trên địa bàn hẹp và cũng chỉ nhằm mục đích tập dượt, chuẩn bị cho các cuộc bạo loạn quy mô lớn hơn, có mục đích cao hơn. Có loại bạo loạn lật đổ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động “diễn biến hòa bình”, như gây rối loạn chính trị - xã hội để tăng sức ép đối với chính phủ, buộc chính phủ thay đổi đường lối, chính sách theo hướng có lợi cho “diễn biến hòa bình” và tạo điều kiện cho các hoạt động “diễn biến hòa bình” tiếp theo.

Phạm vi, địa bàn xảy ra bạo loạn lật đổ: Có thể diễn ra ở nhiều nơi, nhiều vùng, nhưng trọng điểm là các trung tâm chính trị, kinh tế ở Trung ương và địa phương, nơi rất nhạy cảm về chính trị, hoặc các khu vực, địa bàn mà cơ sở chính trị của địa phương tỏ ra yếu kém.

Phương thức và thủ đoạn tiến hành: 1) Triệt để khai thác và lợi dụng các mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền, mâu thuẫn nội bộ trong chính quyền hiện hành để kích động quần chúng chống chính quyền; 2) Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Vu cáo chính quyền đương nhiệm vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, vi phạm tự do tôn giáo, đàn áp dân tộc để biểu tình, chống đối... đề cao các giá trị phương Tây để gây áp lực với chính quyền; 3) Dùng tiền, vật chất để kích động, lôi kéo quần chúng, sử dụng quần chúng nhân dân gây áp lực với chính quyền.

Điều kiện xảy ra bạo loạn lật đổ gồm có các điều kiện khách quan và chủ quan sau: 1) Các thế lực thù địch xây dựng được lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phản động bí mật; tạo dựng được  ngọn cờ ” để chỉ đạo, điều hành và lôi kéo, kích động quần chúng tham gia; có sự liên kết, phối hợp giữa các thế lực phản động trong nước và quốc tế; 2) Xã hội có hiện tượng không ổn định, mâu thuẫn nội bộ chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa thỏa đáng, bị các thế lực phản động lợi dụng, tìm cách khoét sâu, kích động làm chuyển hóa từ mâu thuẫn nội bộ thành mâu thuẫn đối kháng, từ đó lái quần chúng và lôi kéo họ đấu tranh phục vụ mưu đồ chính trị phản động của các thế lực thù địch; 3) Nền kinh tế - xã hội kém phát triển, chính sách kinh tế không phù hợp, phụ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, tình trạng nghèo đói, thất nghiệp tăng cao, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không được cải thiện; 4) Bộ máy quản lý nhà nước yếu kém, nạn quan liêu, tham nhũng, gia đình trị, nội bộ mâu thuẫn; 5) Lực lượng vũ trang không được quan tâm đầy đủ, bị trung lập, vô hiệu hóa.

PHAO

[1] Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Bộ Quốc phòng: Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nxb.Quân đội nhân dân, H.2004, tr.63.

LỜI BÁC CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ: NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT, DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT”!

     Mỗi một quốc gia trên thế giới đều phải trải qua những cuộc chiến gìn giữ đất nước, chủ quyền dân tộc. Nhiều dân tộc chiến thắng, giữ gìn được nền độc lập của mình nhưng có đất nước lại bị đô hộ, bị đồng hóa. Dân tộc Việt Nam là dân tộc phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh giành và giữ độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Dân tộc Việt Nam đã phải chống lại và vượt qua những đội quân xâm lược hung mạnh nhất để có được độc lập, chủ quyền như ngày nay. Và để làm được điều đó, yếu tố cơ bản nhất chính là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”.
      Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam không chỉ dừng lại ở tư tưởng mà nó đã trở thành chân lý, một chân lý được kiểm nghiệm bằng thực tiễn lịch sử suốt hơn 4000 năm. Ngày nay, trước sự thay đổi to lớn của thế giới xã hội loài người, chân lý đó cũng không hề thay đổi mà nó còn trở nên sâu sắc hơn, bền chặt hơn. Dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua rất nhiều khó khăn thử thách, và đã giành được những thắng lợi to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Đất nước trải qua hơn 35 năm đổi mới đã trở lên to đẹp hơn, giàu mạnh hơn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay./.



Môi trường ST.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

Giá trị của Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc

Qua kinh nghiệm Công xã Pari năm 1871, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản phải nhanh chóng củng cố nền chuyên chính vô sản, củng cố khối liên minh công nông, giải giáp quân đội cũ, vũ trang toàn dân, thành lập các đội tự vệ công nhân, xây dựng xã hội mới, kiên quyết tiến công đập tan mọi hành động phản kháng của giai cấp tư sản. Đó là những tư tưởng ban đầu về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

V.I.Lênin phát hiện quy luật phát triển không đều về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và đi đến kết luận hết sức quan trọng: Trong điều kiện lịch sử mới, giai cấp vô sản có thể giành được chính quyền ở mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa tư bản, cách mạng vô sản có thể thành công ở một nước, thậm chí ở một nước có trình độ phát triển chưa cao. Thực tiễn ở nước Nga đã chứng minh nhận định trên đây là đúng đắn, cách mạng vô sản Nga đã thành công vào tháng 10-1917.

Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cống hiến mới của V.I.Lênin vào lý luận chủ nghĩa Mác, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang đặt ra trực tiếp ở nước Nga Xôviết thời kỳ đó. Xuất phát từ quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã có những đóng góp to lớn trong việc bảo vệ và phát triển học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ông chỉ rõ: “Kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc..., nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[1].

Ngay sau khi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu hình thành. Giai cấp công nhân bắt tay vào công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ xây dựng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra và trở thành nhiệm vụ chiến lược của các nước xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến lược này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Kế thừa tinh hoa của dân tộc, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước[2]. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!...[3]. Người khẳng định: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương kiên quyết bảo vệ chính quyền và chủ quyền dân tộc, thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, hết sức tranh thủ thời gian hòa hoãn để xây dựng lực lượng mọi mặt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Người đưa ra hàng loạt các biện pháp xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, thông qua Hiến pháp năm 1946; kiên quyết chống “giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt”, ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, đồng thời cùng Trung ương Đảng quyết định chủ trương “Hòa để tiến”; quyết định ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946 để có thời gian chuẩn bị kháng chiến, bảo vệ chính quyền.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ta phải đối phó với cả thù trong giặc ngoài, nhiều khó khăn chồng chất như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta chủ trương “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”. Với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ”, từng bước tạo nên sự chuyển hóa cả về thế, thời và lực để đánh bại thực dân Pháp xâm lược. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do; Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi. Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng xây dựng các tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tinh thần kháng chiến của toàn dân. Đồng thời, chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ). Tích cực thực hiện các biện pháp ngoại giao, lợi dụng mâu thuẫn nội bộ kẻ thù, phân hóa chúng, đồng thời hết sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước lúc qua đời, trong Di chúc, Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”[4]. Người kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa.

Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bộ phận hợp thành lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa, bao gồm một hệ thống các quan điểm, tư tưởng rất cơ bản về tính tất yếu, nhiệm vụ và nội dung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và các biện pháp có tính chiến lược trong xây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bị đất nước về mọi mặt cùng với đường lối đối ngoại đúng đắn để có thể đánh thắng thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

PHAO

[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.36, tr.102.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.9, tr.59.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.534.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.15, tr.612.

HUYỀN THOẠI NHỮNG NGƯỜI MẸ ANH HÙNG .


Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Việt Nam đã giành được hòa bình, giữ vững chủ quyền. Song những mất mát mà chiến tranh gây ra thực sự rất nặng nề. Đặc biệt là đối với những người phụ nữ, họ không chỉ hi sinh cả tuổi thanh xuân của mình mà còn mất đi người chồng, người con và người cháu thân yêu. Họ, những người Việt Nam cao cả, những bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sự hi sinh của họ rất đáng để toàn bộ người Việt Nam gọi họ bằng một từ thiêng liêng nhất: Mẹ!
1. MẸ NGUYỄN THỊ THỨ(1904 – 2010)
Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh ra tại Thanh Quýt, Điện Thắng Trung, Điện Bàn, Quảng Nam, có chồng, 9 con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại là liệt sĩ. Mẹ là người có nhiều con cháu hi sinh nhất trong cả hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài gần 30 năm (kể từ năm 1948 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975).
Tại khu vườn nhà mẹ có 5 hầm bí mật, nơi mẹ Thứ và người con gái cả nuôi giấu nhiều cán bộ, bộ đội và du kích Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Mẹ được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Quốc hội Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng vào ngày 17 tháng 12 năm 1994.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ là bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu, được lấy làm nguyên mẫu xây dựng tường đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam trong dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ. Mẹ mất vào lúc 1 giờ 40 phút sáng ngày 10 tháng 12 năm 2010 tại Đà Nẵng. Người con gái cả của mẹ Nguyễn Thị Thứ tên là Lê Thị Trị, cũng được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng vào ngày 30 tháng 4 năm 2007, vì có chồng và 2 con gái là liệt sĩ.
2. MẸ PHẠM THỊ NGỰ (1912 - 2002)
Mẹ Phạm Thị Ngự sinh ra tại Hàm Hiệp, Hàm Thuận, Bình Thuận, có 8 người con ruột và 1 con rể là liệt sĩ. Mẹ Ngự là người phụ nữ duy nhất ở tỉnh Bình Thuận được Đảng và Nhà nước phong tặng hai danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Chiến tranh diễn ra, cả hai vợ chồng mẹ Ngự đều hăng hái tham gia các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh thành lập. Ngoài ra, mẹ còn là tổ trưởng Tổ phụ nữ chuyên vận động bà con nhân dân quyên góp tiền bạc, thuốc men, lương thực thực phẩm ủng hộ kháng chiến.
Ngày 17 tháng 12 năm 1994, mẹ Ngự được Nhà nước phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có con đường hay tượng đài nào mang tên người mẹ vĩ đại này.
3. MẸ TRẦN THỊ MÍT (1900 - 2005)
Mẹ Trần Thị Mít sinh ra tại Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị, có chồng, 7 người con ruột, 1 con dâu và 1 cháu nội là liệt sĩ. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mẹ Mít đã hiến dâng những người thân yêu nhất trong gia đình, nước mắt mẹ tưởng chừng đã cạn sau mỗi lần nhận được giấy báo tử của họ.
Mẹ được Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng và căn nhà tình nghĩa. Mẹ Trần Thị Mít không còn, nhưng những gì mẹ đã đóng góp cho quê hương, đất nước trong những năm kháng chiến thì không ai là không biết.
Bởi, mẹ là bà mẹ Việt Nam anh hùng có tới 9 thân nhân liệt sĩ, là bà mẹ Việt Nam anh hùng có nhiều thân nhân liệt sĩ nhất ở Quảng Trị. Tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở Thủ đô Hà Nội, mẹ còn được ghi danh là 1 trong 10 Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu nhất của cả nước bởi những đóng góp của bản thân và sự hy sinh to lớn của những người ruột thịt thân yêu của mẹ.
4. MẸ NGUYỄN THỊ RÀNH (1900 – 1979)
Mẹ Nguyễn Thị Rành cự ngụ tại xóm Đìa, ấp Trúc Đèn, Phước Hiệp, Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh, có 8 người con trai và hai cháu là liệt sĩ. Mẹ Rành có nhiều tên gọi khác nhau như: Má Tám Rành, Bà ba Củ Chi, Má Tám Trầu, Bà mẹ Đất Thép, Bà Má Dũng Sĩ.
Trong kháng chiến chống Mỹ, mẹ là cơ sở bí mật của Cách mạng, là dân quân của xã, mẹ đã đào hầm nuôi giấu hàng trăm cán bộ, cất giấu vũ khí, tiếp tế cho du kích. Ngày 6 tháng 1 năm 1978, mẹ Rành được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và danh hiêu Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 1994.
Sau khi qua đời, mẹ được dựng tượng trước Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, tên của mẹ còn được đặt cho một trạm y tế và một con đường tại huyện Củ Chi.
5. MẸ LÊ THỊ TỰ (1902 – 1982)
Mẹ Lê Thị Tự sinh ra ở thị trấn Lái Thiêu, Thuận An, Bình Dương, có 9 trong tổng số 12 người con là liệt sĩ. Mẹ Tự lập gia đình năm 20 tuổi với ông Phan Văn Tại – một người giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Ông đã cùng nhân dân Tấn Thới tham gia cướp chính quyền, rồi gia nhập vũ trang Tân Thới chiến đấu giữ quê hương.
Trong cuộc kháng chiến, mẹ Tự đã bị bắt giam ở nhà lao Thủ Đức nhằm khai thác thông tin của đồng đội và con trai mẹ. Song chúng buộc phải thả mẹ và ra lệnh trục xuất mẹ khỏi quê hương khi chẳng khai thác được gì. Năm 1994, mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
6. MẸ NGUYỄN THỊ NGHỊ
"Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ..." lời bài hát quen thuộc, nhưng với Mẹ anh hùng Nguyễn Thị Nghị, tại tổ 16 phường Phúc Lợi, quận Long Biên. Mẹ Nghị sinh năm 1921. Cả ba lần mẹ Nghị tiễn con đi, cả ba lần mẹ không được đón con về. Ba người con trai của mẹ lần lượt nằm lại chiến trường, vĩnh viễn để lại cho mẹ nỗi đau cắt lòng.
Giờ mẹ sống với vợ chồng người con trai thứ tư, anh Nguyễn Khắc Hận và chị Ngô Thị Hiển. So với nhiều Mẹ Anh hùng khác, mẹ Nghị vẫn là người may mắn và hạnh phúc hơn vì còn có con kề cận chăm sóc. Nhiều Mẹ anh hùng khác phải sống cảnh quạnh quẽ khi về già vì chồng con các mẹ đã 'ra đi' hết.
7. MẸ VĂN THỊ THỪA
Mẹ Văn Thị Thừa (sinh năm 1915, ở xã Duy An, nay là TT.Nam Phước, H.Duy Xuyên, Quảng Nam) là một trong số ít mẹ Việt Nam anh hùng được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Năm 1967, mẹ Thừa cùng lúc phải gánh chịu 3 cái tang, chồng (Nguyễn Thừa) và 2 con trai (Nguyễn Thứ, Nguyễn Y) đã ngã xuống trong trận chiến ác liệt tại địa bàn lân cận thuộc H.Quế Sơn. Chỉ 1 năm sau, đến lượt 2 con trai Nguyễn Nuôi và Nguyễn Yên cũng hy sinh. Cuối đời, mẹ chỉ còn một cháu gái phụng dưỡng.
Hồi đó, nhà mẹ Thừa ở sát cánh đồng, gần bờ sông (Phước Mỹ 3, TT.Nam Phước ngày nay), nơi ẩn nấp và di chuyển của nhiều bộ đội trong và sau chiến dịch Mậu Thân (1968). Để cảnh báo có địch càn quét, lùng sục, mẹ Thừa đã nghĩ ra cách dùng hương đốt lên để làm ám hiệu. Những đêm đông quân địch vào làng, bà liền dùng một nắm hương lớn đem đốt rồi cắm vào lư hương này. Bà ngầm quy ước, nếu giặc đi ít thì sẽ thắp ít hương, không thắp hương là lúc an toàn. Nhờ đó, rất nhiều đoàn cán bộ, du kích thoát hiểm, tránh va chạm với quân địch những lúc không cần thiết.
8. MẸ LÊ THỊ SOI
Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Soi, sinh năm 1915, quê xã Xuân Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2014, mẹ chuyển vào Vũng Tàu sinh sống tại số 97 đường Võ Văn Tần, phường Thắng Nhất. Mẹ Lê Thị Soi có 2 con trai là liệt sĩ. Năm 18 tuổi, mẹ Lê Thị Soi kết duyên với người thanh niên cùng xã Lê Văn Nghi và sinh được 8 người con. Khi vừa tròn mười tám đôi mươi, 5 người con của mẹ Lê Thị Soi lần lượt tham gia cách mạng.
Năm 1966, sau khi lập gia đình được vài tháng và chưa kịp có con thì ông Lê Văn Thất (sinh năm 1944), con trai cả của mẹ, đã hăng hái lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại mặt trận phía Nam. Tiếp đó, tháng 8-1969, ông Lê Văn Thập (sinh năm 1951), con trai thứ hai của mẹ, cũng lên đường nhập ngũ vào Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 141, Sư đoàn 7.
Tiếp nối tinh thần yêu nước của các anh, 2 người con gái của mẹ là Lê Thị Gia và Lê Thị Dâu cũng tình nguyện đi thanh niên xung phong. Đến năm 1970, người con trai thứ 5 của mẹ là ông Lê Văn Sỹ cũng tham gia dân công hỏa tuyến, mở đường ở khu vực biên giới Việt - Lào.
Ở nhà, mẹ Lê Thị Soi luôn mong chờ ngày đất nước thống nhất để gia đình được đoàn tụ. Thế nhưng, tháng 9-1970, mẹ Lê Thị Soi nhận được tin con trai Lê Văn Thập hy sinh tại chiến trường Sa Mát, tỉnh Tây Ninh. Nỗi đau này chưa nguôi thì đến tháng 1-1977, mẹ Lê Thị Soi tiếp tục nhận được tin con trai Lê Văn Thất hy sinh tại mặt trận Tây Nam. Đến nay, mẹ Lê Thị Soi vẫn chưa tìm được hài cốt của 2 con trai đã hy sinh. Năm 2014, mẹ Lê Thị Soi được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Chắc chắn không có người phụ nữ nào trên đời này sinh con ra để rồi phải lần lượt nhìn những đứa con mình chết. Cũng chẳng có đứa trẻ nào sinh ra để làm anh hùng, chỉ là thời thế tạo ra những nhân vật đó.
Và ở Việt Nam, đất nước bị vùi dập bao nhiêu năm vì chiến tranh, đã sinh ra những người mẹ như vậy. Những người mẹ, người phụ nữ ấy, cao cả biết bao, vĩ đại biết bao; nhưng cũng đau đớn biết bao, đáng thương biết chừng nào. Chiến tranh đã đặt lên vai những người phụ nữ thuần hậu danh hiệu lớn lao nhưng cũng vô cùng đau đớn ấy. Chúng con xin cảm ơn các mẹ, những người phụ nữ Việt Nam vĩ đại./.