Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

LAN TỎA NHỮNG HÌNH ẢNH ĐẸP TỪ CUỘC SỐNG


Đây là hình ảnh một bạn chụp được khi chạy hướng Thủ Đức đến cầu Sài Gòn: Một chú chạy xe với chiếc thùng dán chữ như hình ảnh đính kèm, hai bên hông thùng còn có chữ “SỬA XE MIỄN PHÍ” thêm nữa, chắc chú ấy sợ mọi người không nhận ra nếu cần kíp.
Chú mặc đồ bảo hộ lao động, chắc là chú đi làm, trên đường đi đường về thì chở theo chiếc thùng dụng cụ này để giúp đỡ người khác - Chú nhận sửa xe, giúp bơm xăng, giúp cả kéo xe.
Cảm động nhất câu GẶP LÀ GIÚP, ai đã từng bị hư xe trên đường chắc đều nỗi vất vả nên thấy hình ảnh này sẽ rất cảm động, đúng không !!!???
Giữa cuộc sống hối hả, bộn bề, hình ảnh này giúp chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm và thêm động lực để giúp đỡ mọi người xung quanh khi có thể. Cám ơn cuộc sống mến yêu!
Sưu tầm
Có thể là hình ảnh về 4 người, xe môtô, đường và văn bản cho biết 'Sanpage Tinh đất đấtdomiền Đông HÌNH Đỗ Hữu Tú ANH ĐẸP TỪ CUỘC SỐNG Gặp Là Giúp Sửa Xe,Vá Xe Kéo Xe, Xăng Miễn Phí Phí'
Thích
Bình luận
Chia sẻ

LUẬT BIỂN VIỆT NAM "THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT ĐỂ HÒA GIẢI THÁCH THỨC"


Luật Biển Việt Nam ra đời là bằng chứng cho thấy Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm của UNCLOS. Đây là sự cụ thể hóa các quy phạm pháp lý quan trọng của UNCLOS để tiếp tục góp phần bảo vệ, quản lý các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông, chủ quyền an ninh quốc gia trên biển Việt Nam. Đồng thời, việc thông qua Luật Biển Việt Nam cũng là một bước đi đúng đắn, phù hợp với luật pháp quốc tế, qua đó giúp giải quyết hòa bình những bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông.
Để đưa Luật Biển Việt Nam vào cuộc sống và làm cho luật này phát huy hiệu lực, trước hết phải phổ biến, tuyên truyền, giáo dục cho tất cả mọi tầng lớp, tổ chức, lực lượng, cá nhân... trong nước, nhất là những người thường xuyên hoạt động gắn bó với biển, đại dương về toàn bộ nội dung của Luật Biển Việt Nam. Tiếp nối ý này, Tiến sĩ Trần Công Trục nêu ra một trong những vấn đề hiện nay là tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) trên Biển Đông, có liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của Việt Nam. Là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng khu vực và quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan áp dụng nhiều biện pháp quyết liệt để chống đánh bắt cá bất hợp pháp nhằm sớm gỡ cảnh báo “thẻ vàng“ đối với thủy sản Việt Nam của Ủy ban châu Âu (EC).
Cũng theo Tiến sĩ Trần Công Trục, đông đảo dư luận cho rằng đã đến lúc cần thẳng thắn, nghiêm túc và có trách nhiệm, cùng nhau phân tích và nhận diện các nguyên nhân đích thực khiến cho “vấn nạn IUU” vẫn tồn tại và chỉ có như vậy mới tìm ra cách giải quyết tận gốc. Một trong những nguyên nhân dẫn tới vấn nạn này là do cộng đồng ngư dân của Việt Nam cũng như các nước có thể chưa nắm được một cách cụ thể, rõ ràng vị trí chính xác của các ranh giới biển hợp pháp đã được công bố, cũng như giới hạn của “vùng chồng lấn” được hình thành dựa theo yêu sách hợp lý giữa các quốc gia ven biển nằm kế cận hay đối diện nhau trong Biển Đông. Bởi vậy, trước hết nên làm sáng tỏ căn cứ để kết tội ngư dân đã đánh bắt cá vi phạm vùng biển của các nước khi mà hầu như ranh giới các vùng biển và thềm lục địa của/giữa các quốc gia ven Biển Đông vẫn chưa được hoạch định cụ thể, rõ ràng. Cùng với đó, việc giải thích, áp dụng các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của các quốc gia ven biển, các tổ chức quốc tế... có liên quan đến việc khai thác, bảo vệ nguồn lợi sinh vật trong các vùng biển và thềm lục địa theo UNCLOS vẫn còn là vấn đề nổi cộm. “Đó là những hoàn cảnh không thể không tính đến khi xây dựng và ban hành các văn kiện, văn bản chính trị, pháp lý nhằm bảo vệ, quản lý và phát triển biển, đảo của Tổ quốc. Bởi vì, muốn phát huy được thế mạnh của biển, đảo nhằm phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước một cách có hiệu quả và bền vững, không thể không đề cao nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là phải tạo được môi trường cả về tự nhiên và chính trị, pháp lý, quốc phòng, an ninh”, Tiến sĩ Trần Công Trục nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, phải xây dựng các phương án, kịch bản khác nhau để ngư dân khi tiến hành hoạt động trên biển phải tuân thủ, chủ động ứng xử; đồng thời thúc đẩy đàm phán hoạch định vùng chồng lấn với các nước liên quan để sớm có đường phân định cuối cùng hoặc áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác phát triển chung vùng chồng lấn”, bảo đảm công bằng về quyền và nghĩa vụ cho các bên; xúc tiến đàm phán với các bên liên quan, các tổ chức quốc tế trong và ngoài khu vực để sớm đạt được thỏa thuận bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên sinh vật theo quy định của UNCLOS.
“Quan trọng hơn nữa, cần chủ động và sớm trao đổi một cách thẳng thắn, rõ ràng với Liên minh châu Âu (EU) và các tổ chức quốc tế liên quan khác về thực trạng bất đồng, tranh chấp trong Biển Đông để họ hiểu rõ tính chất phức tạp và giá trị của các ranh giới biển, vùng chồng lấn trong Biển Đông. Từ đó làm rõ những điểm đúng, sai xuất phát từ những thông tin đơn phương, thiếu khách quan, cũng như những hành xử không phù hợp với các quy định của UNCLOS và những thỏa thuận song phương hay đa phương trong khu vực”, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Trần Công Trục nói.

TÌNH ĐOÀN KẾT HỮU NGHỊ VIỆT NAM VÀ CAM-PU-CHIA


Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng: “Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, đoàn kết và tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân tộc anh em”. “Trước sau như một, Việt Nam trung thành với nghĩa vụ quốc tế của mình đối với cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia”.

Mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước tiếp tục được phát huy, phát triển trong giai đoạn hiện nay. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam cuối tháng 12-2016 vừa qua, tại buổi gặp mặt, nói chuyện với hơn 200 đại biểu tướng lĩnh, sĩ quan, cựu chiến binh Quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế tại Cam-pu-chia qua các thời kỳ, Thủ tướng Hun Xen đã nhấn mạnh chuyến thăm của ông lần này đến Việt Nam mang theo thông điệp cảm ơn của nhân dân Cam-pu-chia đối với Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ đánh đổ và ngăn chặn không cho chế độ Pôn Pốt quay trở lại, tạo tiền đề cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước Cam-pu-chia phồn vinh như ngày nay. Ông khẳng định luôn trân trọng những kỷ niệm tốt đẹp với quân và dân Việt Nam. Dù tình hình thế giới có diễn biến phức tạp thế nào cũng không thể tác động đến quan hệ láng giềng anh em tốt đẹp giữa hai nước. Hai nước cần giáo dục thế hệ trẻ gìn giữ mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp vốn có, tài sản vô giá đã được vun đắp trong suốt quá trình đoàn kết đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và xây dựng phát triển đất nước ngày nay.

Ở Cam-pu-chia hiện nay lưu giữ công trình Tượng đài Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia được xây dựng cuối những năm 1970 để kỷ niệm liên minh Việt Nam - Cam-pu-chia, sau khi Quân tình nguyện Việt Nam tiến vào lật đổ chế độ diệt chủng. Tượng đài tạc hình ảnh hai người lính Việt Nam - Cam-pu-chia sát cánh bảo vệ một thiếu phụ và em bé Cam-pu-chia. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến dâng hoa tại tượng đài trong chuyến thăm chính thức Cam-pu-chia vào năm 2011. Năm 2015, Hội đồng Dân tộc Mặt trận Đoàn kết phát triển Cam-pu-chia và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã thống nhất thực hiện công tác khảo sát, kiểm tra, lập dự án sửa chữa, tu bổ, tôn tạo các tượng đài hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, trong đó có tượng đài trên.

Trân trọng, gìn giữ, phát triển tình hữu nghị là nguyện vọng chung của đông đảo nhân dân hai nước. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế là những âm mưu chống phá, chia rẽ tình đoàn kết giữa hai dân tộc là hết sức nguy hiểm; từng để lại những khó khăn, hậu quả trong lịch sử cũng như có nhiều diễn biến phức tạp trong một số vụ việc kích động, phá hoại, ẩn chứa những mưu đồ đen tối từng bị Nhà nước Cam-pu-chia lên án và xử lý thời gian qua. Để đẩy lùi những âm mưu ấy, cùng với việc tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị quý báu, phải luôn giữ được nhất quán trong đường lối đối ngoại, hợp tác, cảnh giác, tỉnh táo trước mọi thủ đoạn chia rẽ, tăng cường hơn nữa sự hiểu biết, tin cậy giữa chính quyền và nhân dân hai nước. Đặc biệt, phải làm tốt hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục, giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc thực tiễn lịch sử và thực chất quan hệ hai nước để không ngừng chung tay vun đắp tình hữu nghị, không để những "lỗ hổng" hiểu biết cho kẻ xấu kích động, xuyên tạc.

NQR

HÀNH LANG PHÁP LÝ QUAN TRỌNG "CÁNH TAY NỐI DÀI" CỦA UNCLOS 1982


Trên cơ sở Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Việt Nam đã xây dựng Luật Biển Việt Nam và được Quốc hội thông qua ngày 21-6-2012, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2013. Luật Biển Việt Nam ra đời đã xác lập hành lang pháp lý quan trọng, hay cũng có thể coi là “cánh tay nối dài” của UNCLOS để điều chỉnh các mối quan hệ trên biển và đại dương có liên quan mật thiết tới đất nước.
Chia sẻ với tư cách là một chuyên gia từng có nhiều năm nghiên cứu về pháp luật liên quan tới biên giới, Tiến sĩ Trần Công Trục cho biết: Luật Biển Việt Nam gồm 54 điều khoản được bố trí trong 7 chương. Có 4 nội dung đã được hợp pháp hóa bởi Luật Biển Việt Nam, đó là: Xác định phạm vi các vùng biển, thềm lục địa và khẳng định chủ quyền đối với các hải đảo, quần đảo, bao gồm: Đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; các hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.
Điều 1 của Luật Biển Việt Nam nêu rõ: “Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo”; và khoản 2, Điều 19 quy định: “Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam”.
Luật Biển Việt Nam đã quy định cụ thể đối với các hoạt động trong vùng biển Việt Nam là phải tôn trọng các quyền hợp pháp của quốc gia ven biển. Luật Biển Việt Nam cũng đặc biệt quy định về vấn đề phát triển kinh tế biển và các hoạt động tuần tra, kiểm tra trên biển. Luật Biển Việt Nam quy định phát triển kinh tế biển nhằm phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển; phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; gắn với phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo. Luật quy định Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển như: Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; du lịch biển và kinh tế đảo; khai thác, nuôi trồng, chế biển hải sản; phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học-công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển.
Sau khi ban hành Luật Biển 2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, có hiệu lực từ ngày 1-7-2017, điều chỉnh các hoạt động giao thông hàng hải trên biển, chế độ ra vào các cảng biển Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý và sử dụng biển và đại dương như Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Luật Bảo vệ môi trường (2020), Luật Biên giới quốc gia (2003) và các nghị định quy định bảo vệ công trình hàng hải và Nghị định về quản lý hoạt động của người và phương tiện trong khu vực biên giới biển.
Luật Biển Việt Nam đã có hiệu lực và trở thành công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh mọi mối quan hệ đa dạng và phức tạp đang diễn ra trong các vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Tiến sĩ Trần Công Trục cũng nhấn mạnh rằng phạm vi và quy chế pháp lý của nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được nêu trong Luật Biển Việt Nam 2012 đều hoàn toàn phù hợp với các quy định của UNCLOS.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHÁ HOẠI TÌNH ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ VIỆT NAM VÀ CAM-PU-CHIA


Một dẫn chứng điển hình của âm mưu phá hoại trên phải kể đến trường hợp ông Xam Rên-xi, lãnh đạo cái gọi là đảng Cứu nguy Dân tộc Cam-pu-chia (CNRP), hiện lưu vong ở Pháp cùng hai trợ lý. Ngày 27-12-2016 vừa qua, họ vừa bị tòa án Phnôm Pênh tuyên 5 năm tù do dùng mạng xã hội đăng tải nội dung xuyên tạc quan hệ hai nước. Họ từng đưa ra thông tin xuyên tạc hết sức nguy hiểm rằng hai nước đã "nhất trí xóa bỏ biên giới chung" khi diễn giải hiệp ước mà hai nước ký vào năm 1979.

Đẩy lùi âm mưu xuyên tạc, chia rẽ tình hữu nghị

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Hun Sen cùng mở tấm vải phủ cột mốc số 275

Trước đó, ngày 23-12-2016, Tòa phúc thẩm Cam-pu-chia đã tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm phạt nghị sĩ Um Sam An thuộc đảng CNRP 2,5 năm tù giam vì kích động gây rối an ninh xã hội nghiêm trọng và kích động gây chia rẽ, theo Điều 495 và 496 Bộ luật Hình sự Cam-pu-chia. Đầu năm 2016, ông này đã có nhiều bài viết và bình luận xuyên tạc, vu cáo Chính phủ sử dụng bản đồ giả về biên giới với Việt Nam. Quốc hội Cam-pu-chia đã kiểm tra, đối chiếu bản đồ lưu tại Liên hợp quốc cho thấy, thông tin trên hoàn toàn là bịa đặt.

Một bài viết trên Báo The Phnom Penh Post cho biết, tư tưởng bài Việt, kích động, lôi kéo các cử tri trẻ tuổi, thiếu kiến thức và thông tin về quan hệ hai nước, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi, chống phá quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia do một số thế lực chính trị đối lập kích động có thể gây bất ổn xã hội tại đất nước Chùa tháp. Nhất là trong thời điểm diễn ra các cuộc bầu cử ở Cam-pu-chia, việc sử dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi làm “mồi nhử” lôi kéo phiếu bầu có thể mang lại những hiệu quả nhất thời, nhưng về lâu dài có thể sẽ là mồi lửa châm ngòi xung đột, gây chia rẽ dân tộc, chia rẽ quan hệ hữu nghị. Trong những âm mưu phá hoại đó, dư luận nhân dân hai nước hẳn chưa quên sự kiện diễn ra cách đây ít lâu, có lực lượng đối lập ở Cam-pu-chia đã đến các địa bàn giáp biên để tuyên truyền, lôi kéo người dân ủng hộ bầu cử hội đồng xã, phường vào năm 2017 và bầu cử Quốc hội Cam-pu-chia năm 2018. Các tổ chức phản động lưu vong cũng tăng cường về các vùng giáp biên giới Việt Nam lôi kéo nhân dân hai nước thực hiện mưu đồ của chúng. Ngược về thời gian trước không lâu, tại Cam-pu-chia từng diễn ra một số cuộc biểu tình tự phát, xuyên tạc và ngang ngược đòi “cắt quan hệ với Việt Nam”. Chúng đã bị dư luận ở chính Cam-pu-chia và quốc tế lên án. Trước và sau chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Cam-pu-chia Hun Xen mới đây, những luận điệu xuyên tạc đó lại “rộ lên”.

Họ cũng không ngần ngại xuyên tạc, phỉ báng cả xương máu của những người Việt Nam đã hy sinh vì tình cảm quốc tế trong sáng, giúp Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

Những luận điệu đó không mới, nhưng chúng không dừng ở phá hoại quan hệ hai nước mà còn ẩn chứa nhiều âm mưu phá hoại đen tối khác. Năm 2013, tại cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ 5, đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP) giành được chiến thắng với 68 ghế, ông Xam Rên-xi đã có những phát ngôn lạc lõng, vô căn cứ, gây tổn hại quan hệ hữu nghị hai nước khi trả lời phỏng vấn đài BBC, vu cáo: “Hà Nội từng lấn chiếm đất đai Cam-pu-chia và… chiếm các đảo của Trung Quốc (!)”.

Bộ Nội vụ Cam-pu-chia đã từng lên tiếng tuyên bố những hành vi đó là không chấp nhận được và đi ngược đạo lý. Trong một phát ngôn chính thức với các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, người phát ngôn Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia đã nêu rõ, đất nước Việt Nam anh em không phải là nhân tố đe dọa an ninh của Cam-pu-chia: “Chính phủ và nhân dân Cam-pu-chia luôn chủ trương bảo vệ và phát triển mối quan hệ với Việt Nam, thành quả to lớn của quá trình lâu dài cùng sát cánh chiến đấu bên nhau qua nhiều giai đoạn lịch sử, kiên quyết không để bất kỳ thế lực nào phá hoại mối quan hệ đoàn kết đặc biệt này”.

Nhìn lại những trang sử rực lửa và cũng thấm đẫm máu, nước mắt của nhân dân hai nước, chúng ta có thể thấy rõ không phải ngẫu nhiên mà Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia đưa ra quan điểm trên. Theo PGS, TS Vũ Quang Hiển, giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Hà Nội, với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia đã kề vai, sát cánh, cùng chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân xâm lược, để lại những kinh nghiệm quý cho hôm nay và mai sau. Trong "Lời kêu gọi Liên hợp quốc" (tháng 12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền". Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đế quốc Mỹ nhiều lần kêu gọi Lào và Cam-pu-chia gia nhập cái gọi là "Khối phòng thủ Đông Nam Á" và "Khối phòng ngự sông Cửu Long" nhằm cô lập và xâm lược Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết ba dân tộc.

Sau nhiều thăng trầm, dấu mốc tốt đẹp quan hệ hai nước phải kể đến sự kiện ngày 8-6-1967, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Cam-pu-chia theo đường biên giới hiện tại. Đáp lại, ngày 15-6-1967, Chính phủ Cam-pu-chia công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam. Quân và dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia đã đoàn kết chặt chẽ và anh dũng chiến đấu, giành được nhiều thắng lợi to lớn. Trong năm 1970, liên quân Việt Nam - Cam-pu-chia đẩy mạnh các hoạt động quân sự, làm tan rã hàng vạn quân của chính quyền Lonon, mở rộng vùng căn cứ cách mạng của Cam-pu-chia từ phía bắc tỉnh Rát-ta-na-ki-ri đến phía nam tỉnh Kam-pốt, đập tan cuộc tiến công của 10 vạn quân địch sang Cam-pu-chia (tháng 4-1970), rồi tiếp tục làm thất bại các cuộc hành quân Chenla 1 (tháng 6-1970), Toàn thắng, Chenla 2 (1971)... Sau Hiệp định Pa-ri (27-1-1973), Việt Nam đã tiếp tục giúp đỡ Cam-pu-chia đấu tranh vũ trang. Quân-dân Cam-pu-chia phối hợp với chiến trường miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng công kích, hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, giải phóng thủ đô Phnôm Pênh (17-4-1975).

NQR


THẬN TRỌNG KHI ĐĂNG HÌNH ẢNH QUÂN SỰ TRÊN MANG XÃ HỘI


Hiện nay, đã xuất hiện tình trạng một số cán bộ, chiến sĩ “vô tư” đăng tải những hình ảnh về cảnh quan môi trường cơ quan, đơn vị mà không biết là chính mình đã làm lộ địa danh, phiên hiệu, cách bố trí trận địa của đơn vị.
Một số người còn thường xuyên chia sẻ lên đó những tâm tư, suy nghĩ cá nhân về “mình đang nghĩ gì” mà chưa suy xét đến hậu quả khôn lường do mạng xã hội mang lại. Nhưng đáng nói hơn là việc các nguồn tin, hình ảnh đó đã bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, “tô vẽ”, “mổ xẻ” thành nhiều vấn đề xấu. Thậm chí, chúng còn “cắt ghép” để xuyên tạc, làm sai lệch đi hình ảnh của cán bộ, chiến sĩ. Ví dụ như gần đây nhất, một số cán bộ, chiến sĩ đã đăng tải các buổi liên hoan có mang mặc quân phục, sử dụng rượu bia hay những hình ảnh không đúng chuẩn mực trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, bị các thế lực thù địch “thêm bớt”, xuyên tạc làm xấu đi hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.
Quân đội là môi trường mang tính đặc thù, do đó, trước những nguy cơ để lộ, lọt thông tin quân sự trên mạng xã hội, cần phải có các quy định cụ thể, chặt chẽ hơn đối với cán bộ, chiến sĩ khi chia sẻ thông tin, hình ảnh đăng tải lên mạng xã hội. Tuyệt đối không cho phép quân nhân được để lộ khu vực đóng quân, phiên hiệu đơn vị, vũ khí, khí tài, bí mật quân sự...
Tất cả hình ảnh của đơn vị muốn đăng lên mạng phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền, kiểm định chặt chẽ...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng "Kỷ luật đồng chí, đồng đội là điều đau xót, nhưng buộc phải làm"


Nhắc lại việc kỷ luật ông Chu Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Long, Tổng Bí thư cho biết: “Không thích thú gì việc kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, thậm chí rất đau xót, nhưng buộc phải làm.
Phát biểu tại cuộc cuộc tiếp xúc cử tri các quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng sau kỳ họp thứ 3 vào sáng 23/6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trân trọng tiếp thu các ý kiến ngắn gọn, tập trung, sâu sắc, tâm huyết và có trách nhiệm của cử tri; đồng thời cho biết sẽ tổng hợp tất cả các ý kiến để báo cáo Quốc hội.
Nhắc lại việc xử lý kỷ luật 2 Ủy viên Trung ương gồm ông Chu Ngọc Anh – cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội và cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long liên quan vụ án Việt Á, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng ta tiến hành kiên trì, nhân văn, có lý có tình, làm bài bản, hết sức thuyết phục.
“2 đồng chí này đều là Ủy viên Trung ương Đảng, vừa qua đều đã bị khai trừ ra khỏi Đảng và cách chức một số chức khác. Sau khi có kết luận của Ủy ban Kiểm tra, kỷ luật Đảng làm trước, kỷ luật hành chính tiếp theo, rồi mới đến kỷ luật hình sự, gần như thành lý luận về phòng, chống tham nhũng, thành bài học để giai đoạn sắp tới tiếp tục làm thế nào cho tốt, nhất là khi chúng ta thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh”- Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Theo Tổng Bí thư, với cách làm bài bản như vậy, bản thân các đương sự cũng đã nhận ra các sai sót, khuyết điểm, đó là điều quan trọng nhất. Quan trọng hơn, đây là bài học răn đe, cảnh tỉnh, cảnh báo người khác đừng đi vào vết xe đổ.
“Không thích thú gì việc kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, thậm chí rất đau xót, nhưng buộc phải làm. Như Bác Hồ đã nói, phải cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cây” - Tổng Bí thư cho biết.
Theo người đứng đầu Đảng, lần này Trung ương quyết định thành lập Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh và hiện nay một số tỉnh đã thành lập. Ngày 30 tới đây sẽ tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng kể từ khi Ban chỉ đạo Trung ương được thành lập do Tổng Bí thư làm Trưởng Ban chỉ đạo. Hội nghị nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, chỉ ra các bài học để giai đoạn tới tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, nhất là trong bối cảnh các tỉnh, thành phố trong cả nước đang triển khai thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh với tinh thần xuyên suốt của Đảng và Nhà nước là “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”.
“Lần trước tôi đã nói, anh nào trong Ban chỉ đạo mà vi phạm thì xử lý trước” – Tổng Bí thư nhấn mạnh điều này, đồng thời cho biết, Hội nghị tổng kết 10 năm thành lập Ban chỉ đạo Trung ương cũng chính là bồi dưỡng cho các Ban chỉ đạo cấp tỉnh làm sao thống nhất từ Trung ương tới địa phương, làm sao phải “đúng vai, thuộc bài”.
Ban chỉ đạo cấp tỉnh giúp cấp ủy, chính quyền, tham mưu để giải quyết những công việc liên quan phòng, chống tham nhũng. Đây không phải chỉ là chống mà còn phải phòng, chủ trương, chính sách thế nào để không thể, không dám, không cần, không muốn tham nhũng. Cả một cơ chế, hệ thống như vậy. Với lý do thế này, thế khác, làm những việc vừa sai pháp luật, vừa trái với đạo lý vừa không đúng phẩm chất đạo đức là không được.
Nêu lại ý kiến băn khoăn về việc cách chức nhiều cán bộ thì lấy đâu người làm, Tổng Bí thư khẳng định “vắng ông trưởng thì ông phó tạm quyền thay, sau đó phải chọn người cho đúng, chính xác, chứ không vội vàng đưa người nào đó lên. Phải chọn đúng người, quan trọng vẫn là công tác cán bộ”.
Theo Tổng Bí thư, kỳ họp Quốc hội vừa qua để lại dư luận rất tốt, tiếp tục có những đổi mới, làm đúng vai là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Theo đó, HĐND cũng phải làm đúng vai là cơ quan đại diện của nhân dân, lắng nghe ý kiến cũng như tiếp thu ý kiến của nhân dân để làm sao ra được những chính sách phù hợp với lòng dân, từ đó mới huy động được sức dân, tạo thành sức mạnh tổng hợp./.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá trong tình hình mới, chúng ta cần tiếp tục chú trọng thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Một là, không ngừng giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt và triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Thường xuyên giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục tiêu, quan điểm và các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và phát huy vai trò của hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chủ động đấu tranh phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới  các nguyên tắc xây dựng Đảng...

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Theo đó, đẩy mạnh tuyên truyền đồng bộ trên hệ thống truyền thông, báo chí, internet, mạng xã hội về những nội dung cơ bản, giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần của toàn xã hội; xây dựng niềm tin khoa học vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước... Đổi mới mạnh mẽ, khoa học, hiệu quả nội dung, chương trình giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân, phù hợp với từng đối tượng, bậc học; hoàn thiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên. Cung cấp kịp thời những thông tin nhằm nhận diện đúng các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong tình hình mới, qua đó tăng cường sức đề kháng, nâng cao cảnh giác và tinh thần chủ động trong đấu tranh...

Việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh; nói và làm đúng theo quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tôn trọng và phát huy lịch sử, truyền thống của dân tộc, của Đảng và của địa phương; bồi đắp phẩm chất đạo đức, lối sống, tri thức năng lực, kiến thức văn hóa - xã hội...

Ba là, tăng cường nghiên cứu, dự báo, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý những phần tử cơ hội, phản động chống Đảng, Nhà nước.

Xây dựng, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm khoa học thuyết phụcTăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn t “gốc” nguồn phát tán thông tin sai trái, thù địch, phản độngChú trọng xây dựng, phát triển các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh phù hợp, sát thực tiễn. Tuyên truyền sâu rộng về những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương... 

Nghiên cứu ban hành sâu rộng, thường xuyên các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và các quy định cụ thể hóa việc tuyên truyền, quán triệt, học tập lý luận chính trị, lịch sử truyền thống, phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống mới xã hội chủ nghĩa, gương người tốt, việc tốt… Thường xuyên đặt hàng nghiên cứu các đề án, đề tài, chuyên đề về đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình và những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Nghiên cứu xây dựng Luật thể chế hoạt động báo chí đúng tôn chỉ mục đích, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Quy định chế tài xử phạt nghiêm minh, kịp thời, đủ sức răn đe đối với hoạt động báo chí, thông tin, nhất là thông tin trên internet - mạng xã hội. Chú trọng thông tin, đăng tải về người tốt, việc tốt; các chuyên trang, chuyên mục về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học các quan điểm sai trái, thù địchchống phá, phản động..Nghiêm cấm các hành vi triển lãm, trưng bày, xuất bản, in ấn, tán phát các ấn phẩm, tài liệu có nội dung kích động chống phá chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, xúc phạm lãnh tụ, danh nhân, xuyên tạc sự thật; xúc phạm, vi phạm thuần phong mỹ tục...

Các cơ quan chức năng nghiên cứu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và quản lý hiệu quả hoạt động văn hóa nghệ thuật, biểu diễn; sâu sát trong định hướng tuyên truyền đối với các cơ quan báo chí, truyền thông; xây dựng cơ chế, thiết lập chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, truyền thông, báo chí; thiết lập cơ chế, quy chế, chế tài chặt chẽ, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật đối với những tổ chức, cá nhân vi phạm.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo, quản lý trong chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết - quy định về trách nhiệm nêu gương, về những điều đảng viên không được làm, về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngăn chặn, đẩy lùi và kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh của cấp trên đối với cấp dưới. Thực hiện tốt công tác  kết, tổng kết, đánh giá - rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp hiệu quả, sát thực tiễn; kịp thời khen thưởng, động viên, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình, gương người tốt, việc tốt.

Phát huy tốt vai trò của Ban Chỉ đạo 35, cơ quan giúp việc của cấp ủy các cấp, lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác tư tưởng, lý luận  đội ngũ chuyên gia đầu ngành.

Thường xuyên nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện thể chế pháp luật trên tất cả các lĩnh vực quản lý xã hội. Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức có đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Ban hành các cơ chế quản lý quyền lực hiệu quả và quan tâm chế độ đãi ngộ để cán bộ, đảng viên, công chức toàn tâm, toàn ý thực hiện nhiệm vụ theo chức trách. Thể chế hóa và quản lý có hiệu quả mạng xã hội theo Luật An ninh mạng; kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn. Tăng cường quản lý nhà nước về truyền thông - báo chí, nhất là thông tin trên internet và mạng xã hội; kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện pháp chế, hệ thống quản lý nhà nước, pháp luật về chủ quyền và quy phạm pháp luật cho báo chí, truyền thông, internet, mạng xã hội... 

Đa dạng hóa nội dung, hình thức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có kế hoạch, kịch bản chặt chẽ, bài bản để đấu tranh trực diện, công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội - internet; tổ chức “chiến dịch truyền thông” thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa./.

NQR