Trên cơ sở Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Việt Nam đã xây dựng Luật Biển Việt Nam và được Quốc hội thông qua ngày 21-6-2012, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2013. Luật Biển Việt Nam ra đời đã xác lập hành lang pháp lý quan trọng, hay cũng có thể coi là “cánh tay nối dài” của UNCLOS để điều chỉnh các mối quan hệ trên biển và đại dương có liên quan mật thiết tới đất nước.
Chia sẻ với tư cách là một chuyên gia từng có nhiều năm nghiên cứu về pháp luật liên quan tới biên giới, Tiến sĩ Trần Công Trục cho biết: Luật Biển Việt Nam gồm 54 điều khoản được bố trí trong 7 chương. Có 4 nội dung đã được hợp pháp hóa bởi Luật Biển Việt Nam, đó là: Xác định phạm vi các vùng biển, thềm lục địa và khẳng định chủ quyền đối với các hải đảo, quần đảo, bao gồm: Đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; các hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.
Điều 1 của Luật Biển Việt Nam nêu rõ: “Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo”; và khoản 2, Điều 19 quy định: “Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam”.
Luật Biển Việt Nam đã quy định cụ thể đối với các hoạt động trong vùng biển Việt Nam là phải tôn trọng các quyền hợp pháp của quốc gia ven biển. Luật Biển Việt Nam cũng đặc biệt quy định về vấn đề phát triển kinh tế biển và các hoạt động tuần tra, kiểm tra trên biển. Luật Biển Việt Nam quy định phát triển kinh tế biển nhằm phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển; phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; gắn với phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo. Luật quy định Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển như: Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; du lịch biển và kinh tế đảo; khai thác, nuôi trồng, chế biển hải sản; phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học-công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển.
Sau khi ban hành Luật Biển 2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, có hiệu lực từ ngày 1-7-2017, điều chỉnh các hoạt động giao thông hàng hải trên biển, chế độ ra vào các cảng biển Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý và sử dụng biển và đại dương như Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Luật Bảo vệ môi trường (2020), Luật Biên giới quốc gia (2003) và các nghị định quy định bảo vệ công trình hàng hải và Nghị định về quản lý hoạt động của người và phương tiện trong khu vực biên giới biển.
Luật Biển Việt Nam đã có hiệu lực và trở thành công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh mọi mối quan hệ đa dạng và phức tạp đang diễn ra trong các vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Tiến sĩ Trần Công Trục cũng nhấn mạnh rằng phạm vi và quy chế pháp lý của nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được nêu trong Luật Biển Việt Nam 2012 đều hoàn toàn phù hợp với các quy định của UNCLOS.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét