Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Tính nhân đạo, nhân văn của đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực

Có thể thấy, nguyên nhân của lối suy diễn tiêu cực nêu trên trước hết là do nhận thức của một số cá nhân chưa đúng, bị tác động bởi những luận điệu sai trái do các thế lực thù địch và phần tử phản động rêu rao, xuyên tạc. Những biểu hiện này không phải đến bây giờ mới diễn ra mà nó tồn tại âm ỉ, là một mặt trái của đời sống xã hội, khi có tình huống tác động lại bùng lên cục bộ. Chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp. Trong xã hội có giai cấp, không một quốc gia, dân tộc nào có thể triệt tiêu hoàn toàn tham nhũng. Vai trò của đảng cầm quyền và hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật chỉ có thể ngăn chặn, xử lý, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi tham nhũng.

Ở nước ta, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chính là để làm trong sạch bộ máy, để hệ thống chính trị phục vụ ngày một tốt hơn quyền và lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy, việc điều tra, xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có mục đích nào khác ngoài việc để cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị xứng đáng hơn với niềm tin và sự phó thác của nhân dân.

Với bản chất nhân đạo, nhân văn xã hội chủ nghĩa, việc kiểm tra, điều tra, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực là để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn, với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần phát biểu, khẳng định, kỷ luật, xử lý đồng chí, đồng đội của mình là rất day dứt, đau xót, nhưng đó là việc phải làm, không thể khác được. Phải làm nghiêm, làm mạnh để ai cũng phải có ý thức giữ mình trong sạch, ai đã trót “nhúng chàm” thì phải tự gột rửa để xứng đáng hơn với niềm tin, sự gửi gắm của nhân dân.

Như vậy, để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh thì việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị phải làm thường xuyên, kiên trì, kiên quyết. Việc nhiều cán bộ cấp cao, đứng đầu một số bộ, ngành, địa phương... suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng bị điều tra, xử lý là một tổn thất, một nỗi đau của Đảng, nhưng để cơ thể khỏe mạnh, không thể không “phẫu thuật” cắt bỏ những “khối u”, những “tế bào” độc hại...

Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, ở Thủ đô kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải trắng đêm trăn trở, dằn vặt, day dứt trước khi quyết định xử tử Trần Dụ Châu vì tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến. Dù rất đau đớn, nhưng Người đã bác đơn xin ân giảm án tử hình của Trần Dụ Châu. Người nói: “Nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo”. Vụ án chống tham nhũng điển hình xảy ra cách đây hơn 70 năm, đến nay vẫn vẹn nguyên tính thời sự. Quan điểm nhân văn, nhân đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi xử lý cán bộ tham nhũng, tiêu cực là sự thể hiện vừa bao quát vừa cụ thể tính nhân văn xã hội chủ nghĩa, tất cả đều vì tiền đồ của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân.

Với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”, nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua thực sự là một cuộc chiến của toàn Đảng, toàn dân. Lôi ra được những “con sâu” trong bộ máy công quyền, lợi dụng dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch để trục lợi là sự cố gắng nỗ lực, vào cuộc quyết liệt của các cơ quan, lực lượng chức năng, thể hiện tinh thần, ý chí đấu tranh của Đảng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ...

Là cán bộ, đảng viên, chúng ta không vui sướng, hả hê khi đồng chí, đồng đội mình suy thoái, biến chất, nhưng cũng không thể thờ ơ, bàng quan, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; càng không thể chỉ thấy hiện tượng mà quên bản chất, dẫn đến nảy sinh tư tưởng sợ sai, sợ trách nhiệm... Để thúc đẩy phát triển, phải gắn chặt giữa đoàn kết và đấu tranh, giữa xây và chống với tinh thần lấy xây để chống. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, khi Đảng, Nhà nước ta ngày càng siết chặt kỷ luật, kỷ cương, những thành phần “sâu mọt” trong nội bộ tổ chức đảng và hệ thống chính trị sẽ tiếp tục được lôi ra ánh sáng công lý.

Với nhận thức, bản lĩnh của cán bộ, đảng viên, chúng ta phải đi sâu vào bản chất, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, quyền lợi của nhân dân lên trên hết để thấy rõ tính nhân đạo, nhân văn của Đảng. Những luận điệu cho rằng, Đảng, Nhà nước “thanh trừng nội bộ”, “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe cánh”... thực chất là những luận điệu phản động, hại dân, hại nước. Cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức trong hệ thống chính trị cần nêu cao bản lĩnh, nhận thức thấu đáo bản chất vấn đề để củng cố trận địa tư tưởng chính trị, trau dồi phẩm chất đạo đức, xây dựng và tăng cường lòng tin trong nhân dân đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Chấn chỉnh nhận thức lệch lạc, suy diễn tiêu cực

Ở nước ta, tham nhũng được xác định là một trong những nguy cơ hàng đầu đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân. Mục tiêu của cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp này là vì nhân dân...

Sở dĩ phải nhắc lại, nhấn mạnh những vấn đề nguyên tắc có ý nghĩa căn bản trên đây là bởi, trong dư luận xã hội (trong đó có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên) đã và đang nảy sinh những nhận thức lệch lạc về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Trong những ngày qua, sau khi cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long; cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh và cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Công Tạc bị khởi tố, bắt tạm giam, dư luận xã hội xuất hiện những thông tin mang tính võ đoán, suy diễn cực đoan, tiêu cực.

Trên không gian mạng, những đối tượng có tư tưởng thù địch, chống đối đã suy diễn rằng, cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay thực chất là “cuộc thanh trừng nội bộ”, là “các phe phái trong Đảng đấu đá lẫn nhau”... Những cụm từ như “bê bối”, “đụng đến đâu sai đến đó”, “tham nhũng cả hệ thống”, “càng chống, tham nhũng càng nhiều”... được họ sử dụng để chứng minh cho kiểu suy diễn sai lệch, tiêu cực nói trên.

Vấn đề này được nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại tập trung khai thác, làm căn cứ để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đất nước với quy mô, cường độ ngày càng tăng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức... nảy sinh tư tưởng làm việc cầm chừng, sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám đột phá, sáng tạo... Những biểu hiện tư tưởng, luồng thông tin tiêu cực ấy ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường văn hóa, trận địa tư tưởng chính trị trong Đảng, nhất là tổ chức đảng các cấp ở những bộ, ngành, địa phương... có cán bộ chủ chốt tham nhũng, tiêu cực vừa bị bắt tạm giam.

Cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị giống như là những “đầu tàu”. Khi “đầu tàu” gặp trục trặc, bị hỏng hóc phải thay thế, tất yếu sẽ có ảnh hưởng nhất định đến cả hệ thống. Những dao động, xáo trộn về tâm lý, tình cảm... trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức của hệ thống ấy là trạng thái tâm lý bình thường. Tuy nhiên, nếu để nó diễn biến theo chiều hướng cực đoan, tiêu cực, làm nảy sinh tư tưởng chán nản, bi quan, thậm chí là bất mãn, có những phát ngôn thiếu tinh thần xây dựng, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước... thì đó là điều không thể chấp nhận. Trong cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị, những biểu hiện đó cũng chính là mầm mống của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm, cần được chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.

Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam

 


Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Cần tiếp tục nêu cao tính đảng trong thông tin báo chí

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định, phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng Đảng, vấn đề căn cốt là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, chống lạm dụng quyền lực, bởi lạm dụng quyền lực thì sẽ tha hóa quyền lực và dẫn đến tha hóa chế độ xã hội. Vậy nên, nêu cao tính đảng của báo chí trước hết là trách nhiệm chính trị của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Tất cả bộ máy trong hệ thống chính trị không được ngăn cản báo chí thực hiện vai trò giám sát xã hội, trong thực hiện chính sách công, trong thực thi công vụ và trong đấu tranh chống lợi ích nhóm dưới mọi hình thức. Mọi biểu hiện coi nhẹ, buông lỏng hoặc ngăn chặn vấn đề này, đều là suy giảm tính đảng của báo chí cách mạng.

Mặt khác, đội ngũ nhà báo cách mạng, trước hết là người đứng đầu cơ quan báo chí, cần không ngừng học hỏi nâng cao trình độ và giác ngộ chính trị, cập nhật kiến thức và kỹ năng làm nghề, kỹ năng quản trị cơ quan báo chí trong tình hình mới. Cùng với đó, cần quan tâm đào tạo, phát triển và có chính sách thích đáng cho đội ngũ nhà báo chính luận, để họ đủ năng lực và chuyên tâm viết những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự trên các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội. Thực tế cho thấy, luồng báo chí thông tin sự kiện trên báo chí chúng ta cập nhật khá tốt, nhưng luồng những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự góp phần đấu tranh tư tưởng, hướng dẫn dư luận xã hội cần phải nhanh nhạy, sắc bén, kịp thời, thuyết phục hơn nữa.

Khi có chính sách phù hợp, chúng ta sẽ có được đội ngũ nhà báo chính luận ngang tầm, góp phần tiếp tục nêu cao tính đảng hơn nữa của báo chí và qua đó góp phần xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng, hiện đại, chuyên nghiệp và nhân văn.

Một số biểu hiện cơ bản của tính đảng trong thông tin báo chí

Trước hết, về nội dung, yêu cầu của tính đảng trong hoạt động báo chí, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản đề cập, tựu trung lại có mấy vấn đề quan trọng: Một là, tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hai là, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước. Ba là, tuyên truyền, giáo dục tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đấu tranh bảo vệ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bốn là, đấu tranh chống những biểu hiện bảo thủ, lạc hậu, những thói hư tật xấu trong cộng đồng, những rào cản văn hóa trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong bất kỳ thể chế xã hội nào, báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp, là phương tiện và phương thức đi đầu trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng; do đó, báo chí trong môi trường truyền thông số luôn phải thể hiện là phương tiện và phương thức siêu kết nối công chúng-xã hội, tức là tận dụng khả năng siêu kết nối của nền tảng số để kết nối nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của nhân dân vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích cộng đồng. Đó là quá trình báo chí, truyền thông đại chúng tham gia can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội đã và đang đặt ra. Trong quá trình này, lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước luôn được thể hiện như sợi chỉ đỏ, có tính nguyên tắc. Sức mạnh chính trị, lợi ích chính trị của Đảng, trước hết thể hiện ở niềm tin chính trị của nhân dân. Do đó, báo chí cách mạng cần phải đề cao trách nhiệm chính trị trong xây dựng, kết nối niềm tin từ công chúng và nhân dân. Đảng, Nhà nước đã nêu rõ quan điểm xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Chủ tịch Quốc hội gặp gỡ cộng đồng doanh nhân người Việt tại châu Âu

 

 

Chủ tịch Quốc hội vui mừng khi cộng đồng người Việt tại nước ngoài ngày càng đông đảo, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng lớn mạnh với 5,3 triệu người tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Tính đảng trong thông tin báo chí là hiển nhiên

Trong giao tiếp hằng ngày, khi chúng ta nghe lại câu chuyện từ ai đó, thì người kể câu chuyện đều có thái độ rõ ràng, khen hay chê, đồng tình hay phản đối, cho dù thái độ ấy có thể không bộc lộ trực tiếp, nhưng các chi tiết câu chuyện thì bộc lộ rõ ràng chủ định của người kể. Nhà văn sáng tạo tác phẩm cũng vậy, hình tượng nhân vật cùng hệ thống chi tiết trong tác phẩm biểu hiện thái độ, quan điểm của tác giả. Nhưng trong văn học lại có chuyện, khi nhân vật-hình tượng nghệ thuật đã “trưởng thành” thì có thể tự “phát tác” mà nhà văn khó "quản trị" được. Còn trong sáng tạo tác phẩm báo chí, toàn bộ chi tiết, số liệu, nhân vật, kể cả ngôn từ, giọng điệu... đều được nhà báo “quản trị” chặt chẽ. Cái đó người ta gọi là tính khuynh hướng. Tính khuynh hướng hình thành một cách tự nhiên trong phản ánh cuộc sống, trong thông tin thực tế về những gì đã và đang diễn ra.

Trong báo chí, phản ánh thực tế bao giờ cũng có những thuộc tính vốn có của nó. Đó là, phản ánh cái khách quan và phản ánh luôn mang tính mục đích, vì lợi ích nào đó; và tất nhiên là người phản ánh, đưa ra thông tin không thể làm hại đến lợi ích của bản thân mình. Phản ánh do đó có tính chọn lọc. Việc chọn lọc này vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và thể hiện năng lực của chủ thể sáng tạo, tức là “gói được” bức tranh hiện thực trong phạm vi phản ánh và làm nổi bật bản chất sự kiện, vấn đề thông tin.

Những thuộc tính vốn có này, xét cho cùng, cũng trả lời câu hỏi: Phản ánh, thông tin để làm gì, vì lợi ích của ai? Vậy nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các nhà báo, khi cầm bút, phải tự trả lời được mấy câu hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Và cuối cùng mới viết như thế nào? Đây là những câu hỏi nằm lòng mà các nhà báo luôn ghi nhớ, bất kỳ anh ta làm việc ở cơ quan báo chí nào.

Bản chất hoạt động báo chí là hoạt động truyền thông đại chúng, hướng tới và phục vụ đông đảo công chúng, xã hội và vì lợi ích cộng đồng. Mỗi cộng đồng, xã hội đều do một giai cấp, một chính đảng thống trị/cầm quyền/lãnh đạo; sự vận động, phát triển xã hội ấy chịu sự chi phối quan điểm, chính sách của đảng cầm quyền. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, quan điểm/chính sách thời ông D.Trump làm tổng thống khác với thời ông J.Biden làm tổng thống, thậm chí có chính sách bài trừ nhau, mặc dù đều là do giai cấp tư sản thống trị. Báo chí Hoa Kỳ, về cơ bản thông tin theo định hướng chính sách của đảng cầm quyền thông qua quyết sách của tổng thống.

Như vậy, báo chí ý thức tự giác được quá trình thông tin đứng trên lập trường của đảng phái nào, thông tin vì lợi ích giai cấp nào, cái đó người ta gọi là tính giai cấp của báo chí. Khi báo chí nhận thức được rằng, thông tin phục vụ lợi ích của đội tiền phong và đại biểu lợi ích trung thành của giai cấp, của chính đảng-đó gọi là tính đảng. Như vậy, tính đảng là sự biểu hiện tập trung nhất, đậm đặc nhất, tinh túy nhất của tính giai cấp. Đó là nhìn từ phương diện tư tưởng-chính trị.

Còn về lợi ích dân sinh, cần phải xem, lợi ích đó có đáp ứng nhu cầu lợi ích cơ bản, cấp bách của đông đảo nhân dân hay không. Vậy nên, dòng thông tin báo chí thể hiện sâu sắc tính đảng, nếu gắn chặt với tính nhân dân, tính dân tộc, thì báo chí sẽ quy tụ và thể hiện được sức mạnh thực tế. Lợi ích căn bản và cấp bách của nhóm xã hội lớn, được báo chí ủng hộ và bảo vệ, đồng thời báo chí sẽ khơi nguồn, hình thành dư luận xã hội.

Báo chí cách mạng Việt Nam thể hiện tính đảng, tính nhân dân sâu sắc

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng là lực lượng cầm quyền, lãnh đạo toàn dân xây dựng, phát triển đất nước theo cương lĩnh, đường lối và chính sách được hoạch định. Do đó, báo chí thông tin, tuyên truyền cho toàn dân hiểu và thực hiện, để biến quan điểm, chính sách ấy thành hiện thực cuộc sống; đồng thời, báo chí đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng vì nó làm phương hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của nhân dân, đất nước.

Trên cơ sở nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam công khai thừa nhận tính đảng trong báo chí và đã thiết lập các quan điểm nền tảng cho báo chí hoạt động; đồng thời thiết kế một nền báo chí cách mạng mà cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của tổ chức trong hệ thống chính trị. Đó là quan điểm nhất quán và là nền tảng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

Báo chí cách mạng Việt Nam là một nền báo chí thể hiện rõ tính đảng, đồng thời mang đậm tính nhân dân, vì Đảng lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phục vụ nhân dân, vì sự phát triển của dân tộc. Đó cũng là nền báo chí thấm đẫm tính nhân văn, vì quyền và lợi ích chính đáng của công dân, vì sự phát triển con người. Đó cũng là nền báo chí thể hiện đạo đức cao cả, vì hệ giá trị dân tộc và chuẩn mực đạo đức cộng đồng, vì lợi ích công.

Với nhận thức như thế, làm sao có thể phủ nhận tính đảng của báo chí? Mặc dù không ít quan điểm từ phương Tây cho rằng, báo chí của họ đứng ngoài chính trị, đứng trên giai cấp và không can thiệp vào cuộc đấu tranh tư tưởng, nhưng thực tế thì ngược lại. Thậm chí ở Hoa Kỳ, cơ quan báo chí hay hãng truyền thông nào “thân cận” với đảng phái nào thì định hướng thông tin theo và phục vụ lợi ích chính trị của đảng ấy. Trong cuốn “Một nền báo chí không có tự do của chúng ta-100 năm phê bình truyền thông”, các tác giả đã đấu tranh, chỉ trích nhau và từ đó bộc lộ rõ thêm bản chất nền báo chí Hoa Kỳ. Trong thực tế, rất dễ nhận biết, báo chí Hoa Kỳ và báo chí phương Tây nói chung, khuynh hướng chính trị rất rõ ràng, phục vụ đường lối chính trị của giai cấp thống trị rất quyết liệt. 

Chăm lo vun trồng, diệt trừ sâu bệnh

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, mở rộng cơ chế, tạo điều kiện để các nhà khoa học, đội ngũ trí thức tham gia ngày càng nhiều hơn, sâu hơn vào các hoạt động kinh tế-xã hội, giữ các cương vị chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp, nhất là ở các bộ, ngành. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học... Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học”... Đảng ta chủ trương phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài.

Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức, trọng dụng nhân tài là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa, phát triển tư tưởng của tiên tổ, ông cha, lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên, củng cố sự bền vững của quốc gia... Với tinh thần lấy xây để chống, xây kết hợp với chống, muốn vun trồng cho nguyên khí hưng thịnh, bên cạnh các chính sách trọng dụng, đãi ngộ ngày càng cao, Đảng luôn coi trọng phòng, chống suy thoái, tiêu cực. Diệt trừ sâu bệnh là việc không thể thiếu trong quá trình vun trồng, chăm sóc cho nguyên khí quốc gia.

Với những nỗ lực và kết quả đạt được hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Đảng ta đã mở rộng phạm vi xây dựng, chỉnh đốn cả trong hệ thống chính trị. Cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Tại cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày 27-4-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đưa thêm yếu tố tiêu cực vào chứ không phải chỉ có phòng, chống tham nhũng. Tiêu cực ở đây rất rộng nhưng chủ yếu là sự suy thoái về phẩm chất, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống...

Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay đã bám sát quan điểm chỉ đạo được nêu rõ trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đó là: Kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội...

Như vậy, việc đấu tranh để lôi ra những thành phần suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ trí thức và đảng viên trí thức là chủ trương được thể hiện rất rõ trong các nghị quyết của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh nhằm làm trong sạch đội ngũ, để trí thức Việt Nam thực sự là đội ngũ vừa có đức, vừa có tài, là cách vun trồng cho nguyên khí thịnh. Những luận điệu suy diễn, lấy cớ nhiều trí thức bị khởi tố, bắt tạm giam do tham nhũng, tiêu cực rồi quy chụp, chỉ trích do Đảng lãnh đạo, cơ chế quản lý yếu kém là thủ đoạn đánh tráo khái niệm của các thế lực thù địch và các phần tử phản động. Trước các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, kích động kiểu “nội công ngoại kích” nhắm vào đội ngũ trí thức, nhằm làm phân hóa, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ trí thức và đảng viên trí thức, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, có biện pháp đấu tranh, phản bác. Chúng ta cần nhận thức đúng bản chất vấn đề để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sạch và củng cố vị thế, vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường.

Khi trí thức suy thoái

Tính đến nay, cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố hơn 70 bị can liên quan đến vụ nâng khống giá sinh phẩm xét nghiệm Covid-19 xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á (Công ty Việt Á) và các đơn vị, địa phương liên quan.

Trong vụ án tham nhũng, tiêu cực liên quan đến Công ty Việt Á, y tế và khoa học công nghệ là những ngành bị thiệt hại nặng nề nhất về nguồn nhân lực khi có hàng loạt trí thức và đảng viên trí thức bị khởi tố, bắt tạm giam phục vụ công tác điều tra. Trong số đó, nhiều người có học hàm, học vị cao, có trình độ cao cấp lý luận chính trị; được phong tặng danh hiệu cao quý; giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt các cấp ở bộ, ngành, địa phương. Nghiên cứu quá trình học tập, công tác của những trí thức thuộc lớp tinh hoa này, dư luận xã hội không khỏi tiếc nuối. Tiếc là bởi, trước khi các hành vi tham nhũng, tiêu cực bị phát hiện, họ từng có quá trình học tập, công tác, cống hiến đáng ngưỡng mộ. Nhiều đề tài khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật của các cá nhân và nhóm tác giả có họ tham gia đều có tính ứng dụng, giá trị thực tiễn cao. Không ít người đang là “hạt giống đỏ”, nằm trong quy trình cơ cấu, bổ nhiệm các chức vụ cao hơn trong công tác cán bộ. Nếu biết giữ mình trong sạch, không sa ngã trước những cám dỗ vật chất, không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những trí thức ấy thực sự là tài sản quý góp phần làm nên nguyên khí quốc gia. Họ không chỉ đóng góp cho khoa học trên cương vị, chức trách được giao mà còn tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực kế cận và kế tiếp cho đất nước.

Cũng chính vì có cảm giác tiếc nuối ấy nên trong dư luận xã hội đã có không ít ý kiến nhận xét, đánh giá mang tính cực đoan, võ đoán, tiêu cực. Họ cho rằng, tham nhũng, tiêu cực là do cơ chế quản lý. Rằng, muốn chống tham nhũng, tiêu cực thì phải thay đổi từ gốc, tức là từ cơ chế quản lý của Nhà nước, từ chủ trương, đường lối của Đảng. Nếu chỉ chống bằng điều tra, bắt bớ, thì “tra đâu sai đó”, “khui đâu dính đó”... Thậm chí, một số người nhân danh “đấu tranh phản biện” còn cho rằng, trí thức Việt Nam đang vào thời kỳ “mạt vận”, rằng nếu cứ bắt nhiều như thế, đất nước sẽ rất khó thu hút, giữ chân hiền tài...

Đảng ta rất coi trọng vai trò của đội ngũ trí thức, coi hiền tài là nguyên khí quốc gia, xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức là một trong những quốc sách hàng đầu. Chính vì vậy, khi hàng loạt trí thức, trong đó có nhiều trí thức giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt vướng vào vòng lao lý, các phần tử cực đoan có tư tưởng chống đối đã nhân cơ hội “té nước theo mưa”. Những quan điểm cực đoan, sai trái từ một số đối tượng trong nước và đối tượng lưu vong ở nước ngoài đã được các thế lực thù địch tập trung khai thác. Họ lấy đó làm cái cớ để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền, công kích, chống phá Đảng và Nhà nước, đòi thay đổi thể chế chính trị, cổ xúy đa nguyên, đa đảng, kích động đội ngũ trí thức từ bỏ Đảng, quay lưng với lợi ích quốc gia-dân tộc...


Chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên của suy thoái

Danh sĩ Thân Nhân Trung từ thế kỷ 15 đã khái quát: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp...”. Bên cạnh đề cao vai trò của hiền tài, danh sĩ nổi tiếng thời hậu Lê cũng đã chỉ ra những nguy cơ, biểu hiện sa ngã, tiêu cực có thể khiến hiền tài trở thành tội đồ của đất nước. Ông viết: “... Trong số đó cũng có kẻ vì hối lộ mà hư hỏng, hoặc sa ngã vào cùng loại với bọn gian ác... Thảng hoặc chỉ tu sức văn vẻ bên ngoài, đức hạnh thiếu thốn bên trong, điều thấy không bằng điều nghe, việc làm trái với điều học, hạnh kiểm sa sút, danh giáo nhuốc nhơ...”.

Nêu một dẫn chứng như vậy để thấy, sự tha hóa đạo đức trong đội ngũ hiền tài không chỉ là mặt trái của xã hội thời nay mà nó đã tồn tại, diễn biến song song với sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội, các triều đại lịch sử. Bởi trí thức là tầng lớp được xã hội trọng vọng, nên nếu không giữ vững tư cách, phẩm chất, không thấy rõ bổn phận, trách nhiệm phụng sự quốc gia, phụng sự nhân dân thì rất dễ sa ngã. Và khi sa ngã là trí thức đã tự đẩy mình xuống “cùng loại với bọn gian ác”, “danh giáo nhuốc nhơ”... Nguyên nhân là bởi: “Chỉ tu sức văn vẻ bên ngoài, đức hạnh thiếu thốn bên trong, điều thấy không bằng điều nghe, việc làm trái với điều học...”.

Ngẫm thông điệp của ông cha, soi rọi trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay mới thấy, đó đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Sự suy thoái của trí thức và đảng viên trí thức cũng chính từ căn nguyên ấy mà ra. Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: "Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân".

Diệt máy bay địch bằng phương pháp mới

Cách đây 50 năm, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng Không-Không quân) đã bắn rơi chiếc máy bay F-4 trên bầu trời Hà Nội.

Đây là chiếc máy bay thứ 3.700 của không quân Mỹ bị ta bắn rơi ở miền Bắc trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Có được chiến thắng này là nhờ sự dày công luyện tập của cán bộ, chiến sĩ, đồng thời mở phương pháp đánh mới "3 điểm có quang học chỉ chuẩn" (kết hợp bám sát của trắc thủ xe điều khiển với chỉ chuẩn của các trắc thủ quang học).

Ngày 16-4-1972, Mỹ sử dụng không quân đánh phá ác liệt miền Bắc, trong đó Hà Nội, Hải Phòng là những mục tiêu trọng điểm. Lực lượng phòng không của ta đã nêu cao cảnh giác, kịp thời đánh trả các đợt tập kích của địch, bảo vệ các mục tiêu được giao. Tuy nhiên, sau hơn 3 năm ngừng hoạt động, không quân Mỹ đã có những đổi mới về trang thiết bị gây nhiễu, vũ khí không đối đất và các thủ đoạn đánh phá, gây nhiều khó khăn cho lực lượng tên lửa phòng không của ta. Thực tế là sau hơn hai tháng chiến đấu, các đơn vị tên lửa bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng đánh nhiều trận nhưng chưa bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ. Tiểu đoàn 57 cũng đã đánh 4 trận nhưng kết quả chưa cao, đơn vị hoài nghi trình độ kíp chiến đấu, cấp trên thì đốc thúc, nhắc nhở phải tìm mọi biện pháp để tiêu diệt máy bay địch.

"Bắn rơi máy bay Mỹ tại chỗ, bắt sống giặc lái" trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động của các kíp chiến đấu lúc bấy giờ. Hằng ngày, đơn vị miệt mài luyện tập, nhận thông tin mới nhất về địch để các trắc thủ chủ động hiệp đồng, có biện pháp xử lý phù hợp. Một vấn đề nổi cộm lúc đó là cấp trên yêu cầu các đơn vị phải tập trung phát hiện tín hiệu máy bay địch trên nền nhiễu tạp để đánh bằng phương pháp "đón nửa góc"-phương pháp điều khiển có xác suất diệt máy bay cao nhất của tên lửa SAM-2 lúc bấy giờ. Tuy nhiên, thực tế ở Tiểu đoàn 57 không thực hiện được vì bộ khí tài đã cũ nên khả năng phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu tạp rất khó khăn. Qua các trận đánh, kíp chiến đấu chỉ phát hiện được mục tiêu ở cự ly rất gần và không đủ điều kiện bắn.

Dân chủ bàn bạc, tham khảo các thông tin về địch, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên, kết hợp quan sát thực tế trên màn hiện sóng và kính ngắm quang học, việc bám sát chia đôi dải nhiễu như trước đây không còn phù hợp và sẽ khó tiêu diệt được lũ "giặc trời". Trắc thủ hai góc phải bám sát dải nhiễu để đưa máy bay địch vào đúng tâm cánh sóng thì mới có thể bắn trúng mục tiêu. Phương án sử dụng trắc thủ quang học để chỉ chuẩn cho các trắc thủ tay quay xe điều khiển bám sát được thử nghiệm. Một trong những cải tiến đó là lắp thêm kính ngắm quang học PA-00 trên nóc ăng ten phương vị xe thu phát. Thiết bị này được thiết kế để khi hai trắc thủ quang học bám sát chính xác vào một máy bay thì trắc thủ góc tà và trắc thủ phương vị cũng bám sát ở trên màn hiện sóng có dải nhiễu tạp, với yêu cầu trục quang và trục điện của khí tài phải trùng nhau.

Kíp chiến đấu gồm sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên, trắc thủ góc tà Đỗ Văn Khay, trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài và hai trắc thủ quang học Đoàn Văn Xúc, Nguyễn Đình Thanh đã ngày đêm luyện tập, hiệp đồng chặt chẽ, phối hợp động tác, bám sát dải nhiễu vào đúng một chiếc trong tốp máy bay địch. Vấn đề quyết định cho việc đánh thắng mục tiêu gây nhiễu tạp là các trắc thủ quang học phải chỉ chuẩn cho trắc thủ góc tà của xe điều khiển vị trí đặt điểm ngắm trên nền dải nhiễu trùng với vị trí máy bay địch trong không gian. Ngoài ra, phải phối hợp với đài radar P-12 của tiểu đoàn xác định chính xác cự ly mục tiêu để chọn cự ly phóng đạn phù hợp.

Sau hơn hai tháng nghiên cứu, luyện tập, thực hành trên khí tài, 9 giờ ngày 27-6-1972, vận dụng phương pháp "3 điểm có quang học chỉ chuẩn", Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi tại chỗ một máy bay F-4 trên bầu trời Hà Nội. Xác máy bay rơi xuống huyện Thanh Trì, 1 giặc lái tử trận, 1 tên nhảy dù xuống và bị bắt sống. Chiến thắng này tạo niềm tin cho đơn vị về phương pháp mới đánh trả lũ "giặc trời".

Được tin Tiểu đoàn 57 bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay thứ 3.700 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội đã ra tận trận địa chúc mừng cán bộ, chiến sĩ. Đại sứ quán Cuba ở Hà Nội cũng gửi lẵng hoa chúc mừng chiến công của đơn vị. Liên tục trong tháng 7-1972, bằng cách đánh trên, Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi thêm 3 chiếc máy bay F-4 của địch. Đặc biệt, cuối năm 1972, Tiểu đoàn 57 đã lập công xuất sắc khi bắn rơi 4 máy bay B-52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, góp công lớn vào Chiến thắng "Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không". 

Bí mật điều nghiên, đánh tan đồn địch

Để giữ thế hoạt động liên tục trên chiến trường, đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng ở địa phương phát triển, cuối tháng 4-1967, Liên đội Đặc công thuộc Sư đoàn 2 (Quân khu 5) được giao nhiệm vụ đánh diệt cứ điểm Nông Sơn, do Tiểu đoàn 2 (thiếu) thủy quân lục chiến Mỹ chiếm đóng.

Cứ điểm Nông Sơn nằm trên điểm cao 298 (huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam), với địa hình cao, dốc đứng, xung quanh nhiều đồi núi, cây cối rậm rạp. Tại đây, địch bố trí 1 đại đội bộ binh, 1 đại đội trợ chiến-hỏa lực, 1 trung đội pháo 155mm, 2 khẩu cối 106,7mm, 2 khẩu cối 81mm. Trong cứ điểm có 4 lô cốt, 3 nhà nổi, các dãy nhà âm và hệ thống giao thông hào, hàng rào, bãi mìn dày đặc.

Sau hai tháng kiên trì tiềm nhập, điều nghiên, nắm chắc lực lượng, phương tiện, thủ đoạn hoạt động của địch, Liên đội Đặc công tổ chức xây dựng thao trường mô phỏng giống căn cứ địch, xây dựng quyết tâm, xác định cách đánh và tích cực luyện tập, làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu. Đêm 3-7-1967, đơn vị nhận lệnh hành quân chiếm lĩnh trận địa, từng bước khắc phục vật cản, khi tổ thọc sâu đã áp sát sở chỉ huy địch, trên 4 hướng, ta bất ngờ nổ súng tấn công, tiêu diệt các mục tiêu theo kế hoạch.

Tuy nhiên, trên hướng thứ yếu, do bị địch chống trả quyết liệt, sau gần 10 phút chiến đấu, mũi 4 vẫn chưa vào được bên trong hàng rào. Trước tình hình đó, chỉ huy liên đội đã ra lệnh cho lực lượng dự bị cơ động dọc theo chiến hào, dùng súng phun lửa chế áp mạnh vào các hỏa điểm của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận phát triển chiến đấu. Hơn 23 giờ, theo hiệp đồng, các bộ phận nhanh chóng giải quyết thương binh, tử sĩ, thu chiến lợi phẩm, theo đường cũ rút ra ngoài. Quá trình hành quân, phát hiện địch từ các căn cứ xung quanh đang cơ động đến giải vây, tăng viện, các chiến sĩ nhanh chóng triển khai đội hình, chiếm địa hình có lợi, nổ súng diệt thêm hàng chục tên.

Trận này, Liên đội Đặc công tiêu diệt hơn 100 lính Mỹ, thu và phá hủy nhiều súng, pháo, khí tài, phương tiện chiến tranh, đánh tan ý định càn quét của địch vào vùng Bắc Đại Lộc (Quảng Nam) và các địa phương khác của ta. 

Nghệ thuật sử dụng lực lượng trong Chiến dịch tiến công Trị - Thiên

Đầu năm 1972, ở Trị-Thiên, địch bố trí nhiều đơn vị thiện chiến và tổ chức hệ thống phòng ngự vững chắc thành 3 tuyến: Tuyến ngoài cùng (giáp ranh giữa ta và địch) kéo dài từ biển đến sát biên giới Việt-Lào. Tuyến giữa có nhiều điểm cao, các căn cứ được Mỹ dày công xây dựng, như: Cồn Tiên, Dốc Miếu, Ðộng Ông Do, 241, 544... Đây là tuyến phòng ngự cơ bản quan trọng nhất trong hệ thống phòng ngự của địch. Tuyến trong cùng (phòng ngự dự bị), chúng bố trí từ Đường số 1 kéo ra biển với nhiệm vụ phối hợp cùng lực lượng bảo an dân vệ kìm kẹp, đánh phá các phong trào đấu tranh, nổi dậy của quần chúng.

Trên cơ sở phân tích tình hình địch, địa hình, thực lực, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng lực lượng tiến công trên 4 hướng: Hướng Bắc (chủ yếu) sử dụng Sư đoàn 308 (thiếu 1 trung đoàn) được tăng cường một số đơn vị, phối hợp với LLVT địa phương tiêu diệt Trung đoàn 57 và Trung đoàn 2 của địch ở các điểm cao 544, Ðồi Tròn, Ðộng Mã, Cồn Tiên, sau đó tiến công các mục tiêu ở Quán Ngang, Miếu Bái Sơn và sẵn sàng đánh địch ở Hồ Khê, Ðá Bạc, Thiện Xuân, Lăng Cô, Gia Bình.

Hướng Tây, ta sử dụng Sư đoàn 304, Trung đoàn Pháo binh 38 và 4 trung đoàn pháo cao xạ đảm nhiệm tiến công tuyến phòng ngự của địch ở Ðộng Toàn, Ba Tum, vây ép Ba Hồ, sẵn sàng phối hợp với hướng Bắc đánh chiếm núi Kiếm, bao vây tiêu diệt các cứ điểm: 241, Mai Lộc, Ðầu Mầu, Ái Tử. Hướng Nam sử dụng Sư đoàn 324 (thiếu 1 trung đoàn) cùng các đơn vị phối thuộc, phối hợp chặt chẽ với lực lượng của tỉnh Quảng Trị, tiêu diệt địch ở nam và bắc sông Thạch Hãn, hỗ trợ nhân dân Triệu Phong, Hải Lăng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Hướng Đông (thứ yếu) gồm Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh, các đơn vị đặc công cùng một số lực lượng khác bao vây Dốc Miếu, Quán Ngang từ phía đông, tiêu diệt căn cứ hải thuyền Cửa Việt...

Ngày 30-3-1972, Chiến dịch tiến công Trị-Thiên bắt đầu, trên các hướng, lực lượng ta thực hành đột phá liên tục kết hợp với thọc sâu, vu hồi, phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng ngự vòng ngoài, diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ (Quảng Trị), buộc địch phải bỏ tuyến phòng ngự Đường số 9, co về giữ Đông Hà, Ái Tử, tăng cường lực lượng phòng ngự. Ngày 2-5-1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Từ ngày 20 đến 26-6, ta mở đợt tiến công thứ ba nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá thế phòng ngự của chúng, không cho địch co cụm ở tuyến sông Bồ, tạo thế phát triển chiến đấu tiếp theo. Do địch tăng cường lực lượng, đánh phá ác liệt các đường vận chuyển và hậu phương chiến dịch của ta, đồng thời, mùa mưa đã bắt đầu, công tác vận chuyển tiếp tế hậu cần của ta gặp nhiều khó khăn, đêm 27-6-1972, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc Chiến dịch tiến công Trị-Thiên, chuyển sang phòng ngự bảo vệ vùng giải phóng.

Kết quả chiến dịch, ta tiêu diệt và làm rã ngũ hơn 27.000 tên địch, bắt gần 3.400 tên; thu và phá hủy 636 xe tăng thiết giáp, giải phóng tỉnh Quảng Trị. Chiến dịch thắng lợi đã khẳng định việc sử dụng lực lượng đúng đắn, sáng tạo, góp phần tạo nên thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

Sự thật cần phải được tôn trọng!

Xưa nay, ai làm báo chí-truyền thông, thậm chí bất kể người dân bình thường nào cũng có thể dễ dàng hiểu rằng, tiêu đề là phần quan trọng nhất của bài báo, đó chính là phần nội dung đáng chú ý nhất, nêu bật bản chất sự kiện, vấn đề, hiện tượng mà tác phẩm báo chí đề cập đến. Thế nên, chỉ cần nhìn vào các tiêu đề với nội dung gì được nêu ra, ngôn ngữ được sử dụng như thế nào, đã đủ để hình dung được dụng ý sâu xa, bản chất của nhà báo, cũng như cơ quan báo chí. Vậy thử một lần nữa quay lại nhìn một số tiêu đề mà các cơ quan báo chí có phiên bản tiếng Việt đặt, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là sự thật ẩn giấu đằng sau những nội dung, ngôn từ giật gân, câu khách, gây sự chú ý bằng những thủ pháp ẩn chứa thông điệp kích động, chống phá, gièm pha, giễu nhại... hết sức phi lý.

Thiết nghĩ, cũng như con người vậy, các cụ đã đúc kết “trông mặt mà bắt hình dong”, với hàm ý rằng, chỉ cần chú ý đến hình dáng khuôn mặt của người khác, bạn cũng có thể biết được phần nào, thậm chí rất rõ đặc trưng tính cách, bản chất của con người đó, đặc biệt là những người “lộ tướng”. Và với việc chỉ cần nhìn các tiêu đề bài báo, cũng có thể nhận ra ngay mục đích thực sự của các nhà báo, cơ quan báo chí kể trên đã nhắm đến sự lệch lạc, thiếu tôn trọng sự thật khách quan, quy chụp về đất nước, con người, quốc gia khác. Điều này càng rõ ràng hơn khi sự tiếp cận, những góc nhìn, cùng hệ thống luận điểm, luận cứ đưa ra đã trường diễn suốt bao năm qua.

Chúng ta đều biết rằng, trong "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 217A (III) ngày 10-12-1948, có Điều 19 khẳng định rằng: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Rõ ràng, những gì mà các cơ quan báo chí phương Tây nói về Việt Nam, dù bằng bất cứ loại hình báo chí-truyền thông nào, từ báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử đến truyền thông xã hội (ví như YouTube, Facebook...) là không hề bị cấm, không hề bị can thiệp.

Nhưng tuyên ngôn có ý nghĩa nhân văn cao cả ấy đâu chỉ dừng lại ở Điều 19 mà các cơ quan báo chí phương Tây có thể hoàn toàn tự do phóng tác, thêu dệt, mượn một phần sự thật để hướng lái nhằm làm sai lệch bản chất thông tin. Họ quên mất rằng, chính Điều 29 và Điều 30 của "Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền" khẳng định một điểm chung bắt buộc, đó là các quyền tự do ấy phải trong khuôn khổ pháp luật! Mà pháp luật ấy, là của từng quốc gia độc lập, trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, chứ không thể có một thứ gọi là tự do tùy tiện, bất chấp mà chà đạp lên tất cả chỉ để thỏa ý thích nói về cái gọi là “sự thật” theo quan niệm của họ mà thiếu đi sự thật.

        Người phương Tây có câu ngạn ngữ rằng, “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì chưa hẳn là sự thật”. Điều này không có gì phải bàn cãi. Đặc biệt, đối với báo chí-truyền thông, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động của mình là phản ánh sự thật khách quan, tôn trọng sự thật một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Chính vì thế, những kiểu nhân danh tự do để vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn, tinh vi, có hệ thống, cần phải bị phê phán thích đáng, bất kể chúng ở đâu, nói về vấn đề gì đi chăng nữa. Chỉ một lẽ đơn giản, sự thật cần phải được đề cao, bảo đảm và tôn trọng một cách trọn vẹn! 

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc đó là các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước; do đó, nhận diện rõ mới nghiêm trị âm mưu, hành động đó hiệu quả.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Để thực hiện âm mưu này, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng triệt để vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam bằng thủ đoạn chủ yếu sau:

Một là, kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo, lôi kéo quần chúng có đạo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

Trong lịch sử, các thế lực thực dân, đế quốc đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để đô hộ, nô dịch, cai trị nhân dân ta.

Những năm cuối của thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương đã sử dụng các cha cố người Pháp truyền đạo Thiên chúa vào Việt Nam. Vì vậy, từ rất sớm, trong bài viết Giáo hội năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã lột sạch bản chất của chúng: “Nếu có dân tộc nào phải nhớ ơn Chúa và các giáo sĩ, thì chính đó là dân tộc An Nam! Vì Chúa và các giáo sĩ mà dân tộc này đã sa vào tình cảnh nô lệ như ngày nay. Bước đầu, khi giúp Gia Long chiếm lấy ngôi vua, Pinhô đờ Bêhen đã làm hết cách dọn đường cho thực dân cướp nước. Cho nên để đổi lấy một ít súng ống, y đã bắt Gia Long nhượng cho Pháp những thương cảng và quân cảng sau này trở thành những căn cứ xâm lược của Pháp”.

Hiện nay, chúng tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, tuyên truyền kích động mâu thuẫn, xung đột, nhất là đối lập về hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản; vu cáo cộng sản diệt đạo, vu cáo Nhà nước đàn áp tôn giáo làm cho bộ phận quần chúng lạc hậu ngộ nhận tin theo, từ đó, tạo lực lượng chống đối ngầm chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bằng mọi thủ đoạn, đặc biệt là lợi dụng triệt để phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, mạng xã hội… các thế lực thù địch tổ chức in, ấn, tán phát, truyền bá các tài liệu xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dưới danh nghĩa các “kỷ yếu hội nghị tôn giáo”, “thông điệp", “lời chứng”…  của các tín đồ trong nước hoặc các tổ chức tôn giáo phản động lưu vong ở nước ngoài vu cáo “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động tín đồ chống lại đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, chúng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai dân tộc; kích động chia rẽ quan hệ dân tộc, quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo với nhau như: Đòi “tự do tôn giáo”, “tự trị”, thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông độc lập”, “Nhà nước Đề Ga” (gắn với đạo Lin lành), “Quốc gia Khơmer Crôm” (gắn với Phật giáo Nam tông Khmer)… hòng làm chia rẽ, phá hoại, suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Hai là, xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Trong những năm qua, với chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đại đa số các chức sắc tôn giáo yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hướng “tốt đời, đẹp đạo”, có sự điều chỉnh theo hướng thích nghi, hợp tác với chính quyền để tăng cường truyền giáo.

Tuy nhiên, có một số người mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, giữ thái độ cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân, thậm chí một số người ra mặt chống đối pháp luật. Những phần tử này đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền trong vùng đồng bào có đạo. Đặc biệt là việc đòi phục hồi những tổ chức tôn giáo có từ thời Mỹ, nguỵ, kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước.

Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài cũng không ngừng gia tăng hoạt động bảo trợ cho hoạt động truyền đạo trái phép ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số địa phương khác, cùng với sự xuất hiện các “đạo lạ”, tà đạo làm cho nhiều nơi mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống, lao động của nhân dân.

Đáng quan ngại, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo.

Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý suy bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự...

Ba là, lợi dụng giáo lý, giáo luật, những kẻ đứng đầu cực đoan trong một số tôn giáo và hoạt động sinh hoạt tôn giáo để kích động tín đồ chống lại chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng. Theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng kinh kệ, đạo pháp… các linh mục, mục sư thay Chúa trời giảng Kinh thánh trong các ngày hành lễ; các hoà thượng, trưởng quản giảng về kinh kệ, Phật pháp…

Ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc và chống phá chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm cho tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; mức độ cao hơn là làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.

Lợi dụng và ủng hộ một số chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, quá khích để kích động chia rẽ các tôn giáo, giữa tôn giáo với dân tộc, với Đảng và Nhà nước. Chúng ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ xuý các phần tử cực đoan trong các tôn giáo móc nối với nhau dự định cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng như: Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Thích Quảng Độ (Phật giáo), Lê Quang Liêm (Phật giáo Hoà Hảo)… ở đầu thế kỷ XXI.

Hiện nay, xuất hiện những kẻ chống đối quá khích, cực đoan như: Nguyễn Ngọc Nam Phong, Đinh Hữu Thoại, Đặng Hữu Nam… thường xuyên kích động số phần tử bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền; lợi dụng những vấn đề lịch sử để lại như đất đai, nơi thờ tự để kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai, chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo…

Lợi dụng hoạt động tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đòi ly khai, tự trị, sử dụng hệ thống nhà nguyện làm nơi tụ tập lực lượng, sở chỉ huy để phối hợp hoạt động chống phá.

Hiện nay, đáng chú ý là vấn đề “đạo hoá” dân tộc ở nhiều vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Đây là một trong những thủ đoạn thường xuyên, quen thuộc mà các thế lực thù địch đã sử dụng với nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Với các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa theo một tôn giáo nào thì việc “đạo hoá” càng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lôi kéo, tập hợp dân chúng và hình thành các “khung chính quyền” ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, sử dụng hệ thống nhà nguyện Tin lành để hoạt động chống đối chính quyền.

Với những toan tính đó, trong những năm tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tăng cường đạo hoá dân tộc, nhất là truyền đạo Tin lành với nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích chuyển hoá ý thức hệ tư tưởng của đồng bào các dân tộc từ lòng tin theo Đảng, theo cách mạng sang lòng tin vào đấng cứu thế, làm thay đổi nếp sống văn hoá truyền thống bằng thứ văn hoá xa lạ, dùng thần quyền để lừa bịp và tập hợp lực lượng, hình thành các nhóm phản động dưới vỏ bọc tôn giáo, tạo dựng ngọn cờ, chuẩn bị nguồn lực bên trong, khi hội đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp vào nước ta, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên.

Bốn là, lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, thăm thân, du lịch, các tổ chức phi chính phủ (NGO)...  để lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số có đạo chống phá chính quyền Việt Nam

Đây là một trong những thủ đoạn mới mang tính hợp pháp, công khai mà các thế lực thù địch đã và đang sử dụng với mục đích hỗ trợ bọn phản động, cực đoan trên địa bàn hình thành các nhóm tổ chức, tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động phá hoại.

Thủ đoạn này rất tinh vi, khó nhận biết, bởi lẽ nó được núp dưới các hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”... của các tổ chức NGO trá hình.

Sẽ không có gì phải lưu tâm khi các tổ chức này hoạt động theo đúng mục đích, tôn chỉ của nó. Vấn đề đáng chú ý là, các thế lực thù địch sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, khu vực nhạy cảm của nước ta để thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; tiếp cận, chỉ đạo bọn phản động, cực đoan tiến hành các hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “tự trị, ly khai” nhằm gây mất ổn định và tạo cớ can thiệp.

Hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động trong các tôn giáo sống ở nước ngoài xây dựng các tổ chức để tập hợp lực lượng, xâm nhập, phá hoại trên các địa bàn chiến lược, nhạy cảm ở nước ta. Nuôi dưỡng, chỉ đạo bọn phản động người dân tộc thiểu số có đạo lưu vong ở nước ngoài và mua chuộc, lôi kéo, hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước, tạo dựng “ngọn cờ”, hình thành các tổ chức phản động để tập hợp lực lượng phá hoại cách mạng Việt Nam là thủ đoạn quen thuộc, xuyên suốt của các thế lực thù địch.

Các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo cả ở nước ngoài và trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam như: “Tổ chức Đoàn kết Thiên chúa giáo toàn cầu (tổ chức quốc tế)”; “Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế cho Việt Nam”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất hải ngoại”, “Liên đoàn Công giáo người Việt tại Mỹ”... Các tổ chức này đang chuyển hướng hoạt động vào trong nước. Chúng ra sức cổ suý, hỗ trợ các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo ở trong nước để chống phá như: Tin lành Đề Ga (ở Tây Nguyên), Tin lành Vàng Chứ trong vùng đồng bào Mông (ở Tây Bắc), Thìn Hùng trong vùng đồng bào Dao (ở Tây Bắc)...

Điển hình, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo, với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài, đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền.

Tóm lại, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm, vừa công khai, hợp pháp, vừa bí mật, bất hợp pháp cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội với nhiều tổ chức, nhiều lực lượng… để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng.

PHAO

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI CÁC ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI LỚN NHẤT

 (TBTCO) - Theo số liệu sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2022, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 71,58 tỷ USD, tiếp theo là Mỹ (52 tỷ USD), Hàn Quốc (38 tỷ USD), Nhật Bản (19,2 tỷ USD)...

Trao đổi thương mại giữa Việt Nam với các đối tác lớn nhất

Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “diễn biến hòa bình”

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu 36 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới.