Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Học viện Quốc phòng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”

Trên cơ sở nhận thức rõ, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và được tiến hành song song, không tách rời công tác giáo dục, đào tạo, những năm qua, Học viện Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả nhiệm vụ này, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Học viện.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và hướng dẫn của cơ quan chức năng, thời gian qua, Học viện Quốc phòng đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cùng với những cách thức tiến hành đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” sát đúng, phù hợp; trong đó có nhiều giải pháp mang tính đột phá, sáng tạo, làm cho hoạt động đấu tranh ngày càng đi vào chiều sâu, vững chắc. Nhờ đó, 100% cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sĩ ngày càng nhận thức sâu sắc hơn nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; có khả năng “miễn dịch” trước những tác động tiêu cực từ các luận điệu xuyên tạc, phản động; nhạy bén, sắc sảo trong nhận diện và vận dụng các hình thức đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; chấp hành nghiêm quy định về sử dụng công nghệ thông tin, bảo đảm an toàn thông tin, không để lộ, lọt bí mật ảnh hưởng đến chính trị nội bộ. Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng nòng cốt cùng đội ngũ cán bộ, giảng viên tích cực tham gia viết bài tuyên truyền về bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. Đồng thời, đấu tranh, vạch trần thủ đoạn và những luận điệu xuyên tạc, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch trên không gian mạng, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đạt được kết quả đó là do Nhà trường đã thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cơ quan chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Bởi, đó là công việc khó khăn, phức tạp, nhạy cảm;  phải vận dụng, viện dẫn nhiều vấn đề cả lý luận và thực tiễn, nhằm đấu tranh, phản bác những “chiêu trò” xuyên tạc, hướng lái dư luận,… hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch và nếu không nêu cao trách nhiệm, quyết tâm, nhiệt huyết thì không thể hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt việc quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của trên, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Đề án “Quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”; Chỉ thị số 47/CT-CT, ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về “Tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội”. Qua đó, làm cho cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị luôn có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tính chất quan trọng, những vấn đề cơ bản của công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; cụ thể hóa thành chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của đơn vị mình, không chung chung, hình thức; lấy hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và trình độ, năng lực tổ chức, chỉ đạo thực tiễn của cán bộ chủ trì các cấp. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện luôn chủ động nghiên cứu tình hình, tổng hợp đánh giá kết quả đấu tranh và diễn biến âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch; trên cơ sở đó, tham mưu, đề xuất những chủ trương, biện pháp, nội dung, cách thức tiến hành đấu tranh phù hợp, theo đúng định hướng của trên, bảo đảm kịp thời, đạt hiệu quả cao.

Thứ hai, chú trọng bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch có đạt được mục đích hay không phụ thuộc rất lớn vào bản lĩnh chính trị, sự hiểu biết và “sức đề kháng” của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng trước “ma trận” thông tin thật giả, đúng sai lẫn lộn. Bởi vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện xác định: quá trình giáo dục, đào tạo không chỉ rèn luyện nhân cách, trang bị tri thức, kỹ năng, tay nghề mà còn phải bồi dưỡng, nâng cao “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Để làm được điều này, Học viện đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác, ý chí quyết tâm cho mọi quân nhân; trong đó, tập trung giáo dục những vấn đề căn cốt nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, làm cơ sở để xây dựng niềm tin vững chắc và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa, tham gia mạng xã hội lành mạnh, trong sạch để nâng cao “sức đề kháng” cho bộ đội trước những thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch. Gắn bồi dưỡng nâng cao năng lực đấu tranh với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Cùng với đó, Học viện thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, mời những chuyên gia có kinh nghiệm để bồi dưỡng, hướng dẫn về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cho lực lượng tham gia đấu tranh. Các đơn vị trực thuộc Nhà trường tiến hành bồi dưỡng thường xuyên, ít nhất mỗi quý một lần, do bí thư cấp ủy, chính trị viên trực tiếp tiến hành. Đây là một trong những biện pháp hiệu quả mà Nhà trường đã, đang và tiếp tục đẩy mạnh, nhằm không ngừng nâng cao năng lực nhận diện luận điệu sai trái, thù địch, khả năng viết bài cho các lực lượng tham gia đấu tranh.

Thứ ba, đề cao tính “chủ động” trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Thực tiễn hiện nay cho thấy, thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động, thù địch ngày càng tinh vi, đa dạng, phức tạp với cường độ cao, đòi hỏi công tác đấu tranh phải có tính “chủ động” ở mọi nơi, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Học viện thường xuyên chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 hướng dẫn các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động nghiên cứu, dự báo sát âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đồng thời, xác định chủ trương, biện pháp, cách thức tiến hành đấu tranh với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, linh hoạt, kịp thời phản bác, vạch trần bản chất, luận điệu xuyên tạc nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch. Trong tổ chức thực hiện luôn chú trọng cung cấp thông tin mới, chính thống thông qua sinh hoạt chính trị tư tưởng, thông báo thời sự, học tập, công tác, để lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cập nhật kịp thời, không để “khoảng trống” và “độ trễ” thông tin, làm mất thời cơ đấu tranh. Cùng với đó, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt bí mật quân sự; quán triệt chấp hành nghiêm quy định bảo mật thông tin và kỷ luật phát ngôn. Phát huy trí tuệ của những nhà khoa học để luận giải thuyết phục, thấu đáo những vấn đề mới nảy sinh, định hướng tư tưởng kịp thời, đúng đắn cho mọi đối tượng, nhất là lực lượng nòng cốt đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện chỉ đạo các đơn vị tích cực triển khai thiết lập các website, blog, các trang, nhóm trên nền tảng Facebook, Zalo; nghiên cứu, tham mưu đề xuất phát triển các ứng dụng trên nền tảng chuyển đổi số của Học viện để tiếp tục mở rộng phạm vi đấu tranh trên không gian mạng; đồng thời, biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo,… làm nội dung tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cho các lực lượng. Lực lượng nòng cốt của Học viện luôn chủ động nghiên cứu các bài viết chính luận, trang bị kiến thức vững vàng, tham gia bình luận, thể hiện quan điểm đúng đắn và chia sẻ rộng rãi trên không gian mạng, tạo thành diễn đàn, thu hút nhiều người cùng tham gia chống các quan điểm sai trái, thù địch; kịp thời báo xấu khi phát hiện các nội dung tiêu cực, phản động; thông tin để cán bộ, đảng viên, quần chúng nêu cao cảnh giác, không chia sẻ, bình luận, tạo thành vấn đề nóng trong dư luận xã hội.

Thứ tư, phát huy trách nhiệm của mọi lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Quán triệt quan điểm của Đảng, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa là trách nhiệm của các cấp, ngành, lực lượng, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó, cán bộ, đảng viên, bộ phận chuyên trách là lực lượng nòng cốt. Học viện đã có nhiều biện pháp nhằm phát huy trách nhiệm của mọi lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, như: thường xuyên kiện toàn và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách; tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và thời gian để huy động các tổ chức, các lực lượng, của mọi cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh. Kết hợp các hình thức tuyên truyền, giáo dục nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, tạo hiệu ứng tích cực để cán bộ, đảng viên chủ động đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch. Khuyến khích cán bộ, giảng viên có trình độ, kinh nghiệm nghiên cứu viết bài đăng trên website, Tạp chí Khoa học quân sự…; xét vận dụng để công nhận những bài viết đấu tranh trên không gian mạng có chất lượng, đăng kỷ yếu hội thảo và công nhận là một trong những tiêu chí được tính cường độ khoa học hằng năm. Đảng ủy Học viện chỉ đạo Hội đồng Thi đua khen thưởng, tổ thi đua các cấp tính điểm thưởng cho các cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị và cá nhân có bài viết đấu tranh được đăng tải trên các phương tiện thông tin, các trang mạng, diễn đàn; lấy đó là một trong những tiêu chí để bình xét thi đua khen thưởng, đánh giá phân loại cán bộ, đảng viên, xét giảng viên giỏi, v.v. Nhờ đó, hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Nhà trường luôn được cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ hưởng ứng, tham gia nhiệt tình, đông đảo.

Những kết quả trên là cơ sở quan trọng để, Học viện Quốc phòng tiếp tục nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, góp phần làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, xứng đáng là lá cờ đầu của toàn quân về đấu tranh phòng chống các qaun điểm sai trái trêm không gian mạng.

KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA NGÀNH DẦU KHÍ

Sáng 25/6, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt người lao động Dầu khí tiêu biểu trong phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” giai đoạn 2017-2022.

“Tự do báo chí” không phải là tự do tuyệt đối

Báo chí có vai trò là phương tiện để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình. Quyền tự do báo chí là quyền của công dân được sáng tạo tác phẩm báo chí, tiếp cận, cung cấp và phản hồi thông tin trên báo chí… Ở Việt Nam những năm qua, tự do báo chí, tự do ngôn luận được Nhà nước bảo đảm, thể hiện rõ trên cả khía cạnh pháp lý và thực tiễn. Song, lợi dụng chiêu bài “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, vấn đề “nhân quyền”, các thế lực thù địch đã và đang ra sức tiến hành diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng nhằm thao túng dư luận, gây rối loạn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Về mặt thủ đoạn, các đối tượng chống phá sử dụng chiêu bài xuyên tạc khái niệm tự do báo chí; lôi kéo đội ngũ người làm báo theo hướng phục tùng mưu đồ của chúng; viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do báo chí nhưng cố tình lờ đi những quy định pháp luật về tự do báo chí, tự do ngôn luận rồi tán phát qua Internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do báo chí” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Thậm chí, Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF) đã đưa ra những đánh giá thiên lệch, thiếu khách quan và hoàn toàn không có cơ sở khi xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia “ít có tự do báo chí”.

Những kẻ chống phá dường như cố tình quên rằng việc đảm bảo mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế. Nhiều năm qua, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyềntự do báo chí. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi (2016) quy định rõ: Công dân có quyền: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân".

Tính đến 4/2022, cả nước có 816 cơ quan báo chí, trong đó 115 báo thực hiện 2 loại hình (in và điện tử): 116 tạp chí thực hiện 2 loại hình; 29 báo và tạp chí điện tử chỉ có loại hình điện tử; 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh-truyền hình;  khoảng 41.600 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, Cả nước hiện có 17.161 người được cấp thẻ nhà báo 2021-2025 (tính đến 15/8/2021)…

Yếu tố hạ tầng thông tin cũng là một điểm nhấn trong thực hiện quyền tự do báo chí ở Việt Nam. Những năm qua, Việt Nam đang thực hiện mục tiêu “Chuyển đổi số quốc gia”, hướng tới mỗi người dân có một điện thoại thông minh; mỗi hộ gia đình có một đường Internet cáp quang tốc độ cao… Đó là nỗ lực của chính phủ Việt Nam nhằm tôn trọng quyền được tiếp cận Internet của tất cả mọi người; được bày tỏ chính kiến trên không gian mạng, được bảo đảm quyền tự do ngôn luận. Thông qua các thể loại báo viết, báo ảnh, báo điện tử, Việt Nam tôn trọng và phát huy quyền tự do báo chí của công dân, khi mà mọi chủ trương đường lối, dự thảo luật đều được lấy ý kiến từ nhân dân thông qua chương trình truyền hình, trang ý kiến đóng góp… Việt Nam không cấm tự do báo chí, tự do ngôn luận, mà chỉ nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do ấy để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cản trở sự phát triển của đất nước.

Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948) khẳng định: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung”. Thực tiễn thế giới cũng cho thấy, không chỉ ở Việt Nam mà tại nhiều nước như Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Singapore… đều có chế tài, điều khoản luật xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng tự do báo chí để vi phạm pháp luật. Nói cách khác, tự do báo chí, ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải gắn với chế độ chính trị, điều kiện xã hội, nền tảng đạo đức, pháp lý trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể…

Cũng không có quốc gia nào để bảo vệ chế độ, chủ quyền quốc gia mà cho phép những kẻ lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền xuyên tạc, chống phá tùy tiện. Nếu 43 nhà báo bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý trong năm 2021 thì đó chính là những kẻ đang cố tình bóp méo sự thật, vi phạm Luật Báo chí của Việt Nam. Những kẻ bị bắt không phải vì họ làm nghề viết báo, cũng không phải Việt Nam không cho phép họ làm báo, mà vì họ vi phạm pháp luật, tung tin giả, tin xấu độc xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Việc xử lý theo pháp luật những kẻ vi phạm đó cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền tiếp cận những thông tin chính xác, khách quan của công dân.

Như vậy, ở Việt Nam, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nhưng việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định, không ai được lạm dụng quyền các quyền đó để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân, nghĩa là tự do trong khuôn khổ pháp luật chứ không phải là tự do tuyệt đối. Những chiêu bài rao rằng ở Việt Nam “ít có tự do báo chí”;“Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do Internet” là xuyên tạc sự thật, bộc lộ rõ mưu đồ chống phá, tham vọng thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam của các thế lực phản động.

CHUYẾN CÔNG DU NƯỚC NGOÀI ĐẦU TIÊN

Ngày 26/6, truyền thông Nga đưa tin Tổng thống nước này Vladimir Putin sẽ tới Trung Á vào tuần tới, chuyến công du nước ngoài đầu tiên kể từ tháng 2.

GIỮ MÌNH, CHỈN CHU, KỸ LƯỠNG HƠN

Sáng 25/6, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị gặp mặt các đồng chí Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất giải pháp, nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ được phân công.

Cần những đánh giá khách quan về sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Tháng 5/2022 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó có những thông tin sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền trong năm qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, tra tấn, tước đoạt mạng sống của người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân”; “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet”... Trong đó, báo cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, đồng thời đưa ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo.

Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”.

Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.

Như vậy, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Một điều dễ nhận thấy, đánh giá sai lệch vì những lý do khác nhau vẫn ẩn sau ngọn cờ tôn giáo. Đối với Việt Nam, các thế lực cực đoan, chống đối luôn tìm mọi thủ đoạn để tách rời tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, cốt để dễ dàng lợi dụng các tôn giáo vào những mục đích chống phá. Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Hơn nữa, cần phải thấy rằng, không thể có tự do tôn giáo tuyệt đối. Bởi xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Các tôn giáo cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật và điều này hoàn toàn phù hợp với khoản 3, Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Do đó, việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới.

Chính vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Sự thật về tình hình sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.

Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).

Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú.

Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo…  được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của toàn dân tộc như Lễ hội Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang.

Đặc biệt lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công nhận và các hiện tượng tôn giáo mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo Tin lành, từ 670.000 người năm 2004 đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm 2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong 10 năm. Sự phát triển có tính chất đột biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới.

Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”.

Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.

Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ... Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

BÁO NHÂN DÂN CÓ "ĐẠI SỨ" TẠI CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ

Chiều 26/6, Ban Biên tập Báo Nhân Dân đã trao Quyết định thành lập Văn phòng đại diện và cử Trưởng Văn phòng đại diện Báo Nhân Dân tại các tỉnh, thành phố. Tới dự có đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; các đồng chí Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân: Đinh Như Hoan, Quế Đình Nguyên.

Tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người

Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người...

Trên mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đăng tin, bài cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có nói đến vấn đề bình đẳng giới hiện nay như: Việt Nam phân biệt đối xử với phụ nữ, Việt Nam không có bình đẳng giới, Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến” là phụ nữ và trẻ em... Thậm chí, những đối tượng trên còn nhận định phụ nữ Việt Nam không có tự do, không có quyền gì quyết định cuộc đời.

Để làm được điều này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật; phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có bình đẳng giới tại Việt Nam. Xuyên tạc, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền trong bình đẳng giới, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự; tung hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, không bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”…

Ngoài ra, các thế lực xấu thúc đẩy hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập do các đối tượng chống đối là phụ nữ cầm đầu như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội dân oan”... Chiêu bài của các thế lực thù địch là lợi dụng vẻ bề ngoài các tổ chức này đóng vai trò “phản biện xã hội” giúp đưa tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của nhân dân vào đóng góp xây dựng đất nước. Nhưng thực chất là cổ súy đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau; từ đa nguyên về tư tưởng dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, tập hợp và làm méo mó các vấn đề xã hội như dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới… để xuyên tạc và âm mưu hình thành các tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam.

Thông qua các hội nhóm này, chúng huấn luyện cho thành viên để kích động họ viết đơn kiến nghị, đòi thành lập đảng chính trị đối lập, thậm chí đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự… Khi các thông tin chống phá của chúng bị bóc trần sự thật, các đối tượng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do, bất bình đẳng về giới, phân biệt đối xử, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước. Đồng thời vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật là phụ nữ bị bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ suý, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn.

Có thể thấy rõ, những thủ đoạn đổi trắng, thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, sự thật nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch tuy không phải chiêu trò mới nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc với thủ đoạn chống phá tinh vi lợi dụng không gian mạng nhằm “nhào nặn”, “vá víu” các sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh hưởng hình ảnh, các nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền và bình đẳng giới.

CẦU NỐI VỮNG CHẮC CHO QUAN HỆ ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - HUNGARY

Chiều 26/6 (theo giờ địa phương), trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Hungary, tại thủ đô Budapest, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội nước ta đã đến thăm Đại sứ quán Việt Nam và gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Hungary.

Phát triển văn hóa đọc có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục, rèn luyện nhân cách.

 Nhấn mạnh phát triển văn hóa đọc có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển trí thức, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhắc nhở các cháu thiếu nhi chăm chỉ đọc sách, coi sách là người bạn đồng hành, người thầy cung cấp tri thức, hiểu biết để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tham quan trưng bày ấn phẩm của Nhà xuất bản Kim Đồng.


Chiều 17-6, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự chương trình kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập Nhà xuất bản Kim Đồng (17-6-1957 - 17-6-2022). Cùng dự có lãnh đạo một số bộ, ban, ngành; các họa sĩ, nhà văn, nhà thơ; đông đảo các học sinh cùng các thế hệ cán bộ của Nhà xuất bản Kim Đồng.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, sự ra đời của Nhà xuất bản Kim Đồng là cột mốc quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt, sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với thế hệ trẻ. Song hành với các giai đoạn lịch sử của cách mạng, Nhà xuất bản Kim Đồng không ngừng phát triển về mọi mặt, năng động, sáng tạo, trở thành nhà xuất bản hàng đầu được trẻ em yêu thích nhất. Với hàng triệu trang sách xuất bản hàng năm, Nhà xuất bản Kim Đồng là một trong những đơn vị sự nghiệp công lập năng động, hiệu quả nhất trong ngành xuất bản của Việt Nam.

Trong đó, một số tác phẩm như An Dương Vương xây thành ốc, Dế mèn phiên lưu ký,  Đất rừng Phương Nam, Kính vạn hoa, tập thơ Góc sân và khoảng trời hay bộ truyện tranh Doremon… đã trở thành những trang sách gối đầu giường, những trang sách thanh xuân, là người bạn đồng hành gắn bó thân thiết của lớp lớp các thế hệ thiếu nhi Việt Nam. 

Chủ tịch nước đề nghị, trước những khó khăn, thách thức mới mang tính thời đại, Nhà xuất bản Kim Đồng cần có chiến lược phát triển đổi mới, sáng tạo; gắn liền với sứ mệnh của Nhà xuất bản trong giai đoạn tới; đem lại nhiều hơn nữa giá trị cho thanh thiếu niên, nhi đồng.  

Chủ tịch nước cũng đề nghị Nhà xuất bản Kim Đồng tăng cường những xuất bản phẩm có giá trị nhân văn, giáo dục thế hệ trẻ, đóng góp xây dựng giá trị cốt lõi, nhân cách tốt đẹp cho thanh thiếu nhi Việt Nam. Đó là lòng yêu nước, lòng hiếu thảo, tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào dân tộc, truyền thống Việt Nam, niềm tin và khát vọng phát triển đất nước, những góc nhìn sâu hơn và rộng hơn, đa diện, phong phú hơn về tri thức và về cuộc sống. Những sản phẩm văn hóa xuất bản mang đậm chất văn hóa, lịch sử Việt Nam. Cùng với đó là chuyển mình thành công từ xuất bản thời đại giấy trở thành mô hình xuất bản thành công thời đại số, giúp giảm giá thành để tiên phong mang trí thức đến với trẻ em nghèo không có điều kiện tiếp cận sách giấy giá thành cao. 

Nhấn mạnh phát triển văn hóa đọc có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển trí thức, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người, Chủ tịch nước nhắc nhở các cháu thiếu nhi chăm chỉ đọc sách, coi sách là người bạn đồng hành, người thầy cung cấp tri thức, hiểu biết để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy vai trò cơ quan chủ quản xuất bản, lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy sức mạnh hệ thống các cơ quan báo chí - xuất bản của Đoàn trong công tác truyền thông, phát động các phong trào, thúc đẩy, định hướng xây dựng văn hóa đọc trong thanh thiếu nhi cả nước, đặc biệt quan tâm đến xây dựng văn hóa đọc trong thanh thiếu nhi vùng dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn, vùng hải đảo, biên giới.

Trước khi tham dự buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham quan không gian trưng bày "Thành tựu 65 năm phát triển của Nhà xuất bản Kim Đồng" với nhiều hình ảnh, hiện vật tôn vinh các tác giả, tác phẩm tiêu biểu gắn với tên tuổi của Nhà xuất bản, thể hiện những dấu mốc phát triển của Nhà xuất bản qua từng thời kỳ, các hoạt động xã hội và hợp tác quốc tế nổi bật 65 năm qua. Không gian này đón độc giả tham quan từ ngày 20-6 đến 24-6-2022.

Thủ tướng chia sẻ khó khăn, yêu cầu nghiên cứu giải pháp phù hợp để tăng cường tiềm lực của báo chí.

 Phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính giao các cơ quan nghiên cứu giải pháp phù hợp để tăng cường tiềm lực của báo chí; các nhà báo, các cơ quan báo chí tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì sự hùng cường, thịnh vượng của đất nước, hạnh phúc, ấm no của nhân dân và sự phát triển của báo chí cách mạng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính giao các cơ quan nghiên cứu giải pháp phù hợp để tăng cường tiềm lực của báo chí - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.


Chiều 17-6, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì gặp mặt của Thường trực Chính phủ với lãnh đạo các cơ quan báo chí nhân kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 - 21-6-2022).

Cùng dự có các Phó Thủ tướng: Lê Minh Khái, Vũ Đức Đam; lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam; lãnh đạo Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, cùng lãnh đạo các cơ quan báo chí trong cả nước.

Tại buổi gặp mặt, đại diện lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí bày tỏ sự quan tâm, chỉ đạo, tạo điều kiện của Thường trực Chính phủ, mà đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ đối với hoạt động báo chí nước nhà.

Các đại biểu cũng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về vai trò, tình hình hoạt động báo chí hiện nay và những định hướng lớn trong công tác báo chí, tuyên truyền trong thời gian tới; nêu những khó khăn, thách thức hiện nay cũng như kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các cơ quan báo chí, đội ngũ nhà báo hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại cuộc gặp, Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi tới các đồng chí lãnh đạo các cơ quan chỉ đạo và quản lý báo chí, cơ quan báo chí, người làm báo trên mọi miền đất nước và ở nước ngoài lời chào trân trọng, lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thủ tướng nhắc lại lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam: Báo chí cách mạng là một mặt trận chiến đấu của cách mạng; cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng; cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ.

Theo Thủ tướng, để đất nước có được những kết quả quan trọng thời gian qua là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sáng suốt của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, sự giám sát, đồng hành của Quốc hội, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chính quyền các cấp, sự đồng tình, ủng hộ và tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Trong các thành tựu chung của đất nước, có đóng góp của báo chí cách mạng Việt Nam, các nhà báo, các cơ quan báo chí, với thông tin khách quan, trung thực, kịp thời, đúng hướng, tạo chia sẻ, tạo cảm hứng và động lực cho người dân, góp phần để "dân biết, dân hiểu, dân tin, dân theo, dân làm". "Người làm báo là một trong những lực lượng trên tuyến đầu của các 'mặt trận'", Thủ tướng nhấn mạnh.

Thủ tướng nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng các thành tựu mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được thời gian vừa qua, ghi nhận và cảm ơn sự đóng góp của báo chí vào những thành tựu chung của đất nước, triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, thực hiện các chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, xây dựng Chính phủ đổi mới, liêm chính, hành động, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ. Đặc biệt, báo chí là vũ khí sắc bén trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đang được Đảng ta triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Thủ tướng cũng chia sẻ với những khó khăn của báo chí trong điều kiện hiện nay về cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực… Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan nghiên cứu giải pháp tăng cường tiềm lực của báo chí phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với tình hình, điều kiện đất nước, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, giải quyết được những khó khăn của báo chí và hài hòa với các lĩnh vực khác, trong tổng thể chung với các ngành nghề.

Thủ tướng mong muốn và tin tưởng với truyền thống, bản lĩnh, trí tuệ, "mắt sáng - lòng trong - bút sắc", báo chí cách mạng Việt Nam tiếp tục cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân vượt qua những khó khăn, thách thức, phát huy các thành tựu, kết quả đã đạt được, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; các nhà báo, các cơ quan báo chí tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì sự hùng cường, thịnh vượng của đất nước, hạnh phúc, ấm no của nhân dân và sự phát triển của báo chí cách mạng.

Đánh giá sai lệch của Nghị viện châu Âu

Vừa qua, cơ quan nghiên cứu của Nghị viện châu Âu công bố bản báo cáo về các hoạt động hỗ trợ những nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới của Liên minh châu Âu (EU Support for human rights defenders around the world). Đáng tiếc, nội dung của bản báo cáo nàychứa đựng những thông tin không khách quan, sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Theo nội dung của báo cáo mới được đưa ra, Liên minh châu Âu cho rằng, họ đã gặp nhiều giới hạn trong việc bảo vệ những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam; vu cáo những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền bị kiểm soát ngặt nghèo, chính quyền Việt Nam sẵn sàng đàn áp những người hoạt động nhân quyền “một cách trắng trợn”.

Từ đó, đặt ra yêu cầu đòi hỏi Việt Nam thoả hiệp, thả các “tù nhân chính trị” để đạt được lợi ích… Để bảo vệ cho những luận điểm trên, cơ quan này đưa ra dẫn chứng về trường hợp của Phạm Đoan Trang, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… và kết luận việc bắt giữ, kết án các đối tượng này là “tuỳ tiện”, việc xét xử “không công bằng, làm oan người vô tội”?!

Đây không phải là lần đầu Nghị viện châu Âu đưa ra những đánh giá, nhận định sai trái, thiếu khách quan, thiếu thiện chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Điều này đã đi ngược lại lợi ích, mối quan hệ giữa Việt Nam và EU.

Phải khẳng định rõ, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo các quy định của pháp luật. Việt Nam luôn ủng hộ và chào đón các cơ quan, tổ chức quốc tế đến nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực tiễn tình hình nhân quyền trong nước trên cơ sở công bằng, minh bạch, khách quan, tôn trọng lẫn nhau.

Đảng, Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đối thoại một cách hết sức cởi mở trên lĩnh vực quyền con người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau với cộng đồng thế giới và đồng thời chia sẻ các kinh nghiệm tốt của đất nước trong đảm bảo quyền con người.

Nhiều năm qua, Việt Nam đã tham gia vào cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Thông qua cơ chế này, Việt Nam thể hiện rõ chính sách, nỗ lực cũng như thành tựu của đất nước trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Thực tế, Việt Nam được bạn bè quốc tế công nhận, đánh giá cao trên lĩnh vực này và đã được tín nhiệm bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 -2016.

Tuy nhiên, một số tổ chức phi chính phủ, thậm chí cả một số cơ quan của nước ngoài lại cố tình phớt lờ sự thật, thường xuyên thể hiện cách nhìn nhận phiến diện, thiếu thiện chí, chính trị hoá khi đánh giá về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Thay vì tiếp xúc trực tiếp, thu thập thông tin từ đại đa số người dân Việt Nam và các nguồn dữ liệu tin cậy, họ lại liên hệ, lấy ý kiến từ các đối tượng chống phá đất nước để quy chụp rằng Việt Nam “đàn áp nhân quyền”. Một báo cáo chắp vá, lấy ý kiến từ chính những đối tượng phạm pháp, chống phá đất nước thì đủ hiểu bản chất của báo cáo, nội dung trong đó là gì!

Thời gian qua, các đối tượng chống phá núp dưới bóng dân chủ, nhân quyền đã nhận được sự hậu thuẫn, giúp đỡ trên nhiều mặt từ một số cơ quan, tổ chức nước ngoài. Từ đó, những kẻ này gia tăng hoạt động phá hoại, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.

Những cái tên được Nghị viện châu Âu phù phép bằng cụm từ “tù nhân chính trị” như Phạm Đoan Trang, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh thực chất là những “ngọn cờ” chống phá trong nước được các thế lực xấu dựng lên và nuôi dưỡng. Mặc dù số này luôn miệng hô khẩu hiệu đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, bám víu từ các nguồn hỗ trợ bên ngoài nhưng lại thường xuyên kích động thù hằn, tụ tập các đối tượng xấu trong nước để gây rối trật tự công cộng. Cùng với đó, các đối tượng đẩy mạnh việc tán phát những tài liệu, thông tin độc hại nhằm gây nhiễu loạn dư luận, hình thành các nhận thức sai lầm trong xã hội.

Mục đích của những kẻ này là phá vỡ sự ổn định về chính trị của đất nước, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị. Với những hành vi sai phạm đã thực hiện, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, xử lý là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đây là việc làm cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, không phải là hành động “đàn áp người đấu tranh” như những gì các đối tượng xấu và một số cơ quan nước ngoài có cái nhìn phiến diện về Việt Nam.

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, đời sống kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà phủ nhận những kết quả tích cực đã đạt được trong việc bảo đảm nhân quyền.

Nhân quyền là một lĩnh vực rộng, liên quan trực tiếp đến đời sống của con người, là tổng hợp của các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong đó, những quyền cơ bản, thiết yếu, thực tế nhất là quyền được sống, quyền được bình đẳng, quyền được phát triển trong một xã hội an toàn, quyền được học tập, quyền được lao động…

Một vài số liệu dẫn chứng cho thấy Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong bảo vệ quyền con người là: Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020; đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tại Việt Nam không có khủng bố, người dân được sinh sống và lao động trong môi trường an ninh, an toàn, ổn định… Theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2022 của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam xếp vị trí 77 (tăng 2 bậc so với năm 2021).

Hiện nay, Việt Nam là một điểm đến được nhiều bạn bè quốc tế lựa chọn. Không chỉ đến với mục đích du lịch ngắn ngày, số người nước ngoài đến Việt Nam cư trú, lao động, học tập dài ngày ngày càng nhiều. Thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, năm 2021, Việt Nam có 101.550 lao động nước ngoài, đến từ  hơn 110 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong số đó, có không ít người là chuyên gia, nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Như vậy thử hỏi, nếu tình hình nhân quyền của Việt Nam “hết sức tồi tệ” thì liệu điều này có thể xảy ra hay không?

Vì vậy, không thể tuyệt đối nền dân chủ, nhân quyền của một quốc gia, một chế độ nào và coi đây là hình mẫu bắt buộc cho đất nước khác. Một quốc gia có nhân quyền hay không, có tốt đẹp hay không thì chỉ người dân đất nước đó mới có thể đánh giá. Đồng thời, trước khi đánh giá về tình hình Việt Nam, các quốc gia, tổ chức quốc tế hãy tự nhìn lại chính mình, tự xoá bỏ “bóng tối dưới chân đèn” của chính mình.

Nâng cao nhận thức về chuyển đổi số trong các đơn vị quân đội

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận... lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền hành chính công hiện đại, trong đó xác định phát triển Chính phủ điện tử (CPĐT), chuyển đổi số (CĐS) là động lực chính thúc đẩy quá trình hiện đại hóa quốc gia.

Quán triệt, triển khai nhiệm vụ xây dựng CPĐT và CĐS trong quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt mặt công tác này và đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Cùng với nhiều đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Văn phòng Bộ Quốc phòng là một trong những cơ quan triển khai hiệu quả phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc có sử dụng chữ ký số. Phần mềm mang lại hiệu quả rất rõ nét; góp phần rất lớn trong việc rút ngắn thời gian xử lý văn bản, giảm thiểu giấy tờ cần in ấn, quản lý và tra cứu toàn diện văn bản... Đến nay, việc áp dụng phần mềm này (phiên bản mới) đã được triển khai đến 100% các cơ quan, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng. Bên cạnh đó, tính đến tháng 6-2022, trên cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng đã tích hợp được 23/48 dịch vụ công của Bộ Quốc phòng lên Cổng dịch vụ công Quốc gia. Đây là những kết quả quan trọng đạt được từ việc triển khai CPĐT và CĐS trong Bộ Quốc phòng.

Theo Thiếu tướng Tống Viết Trung, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh 86, chủ trương chung của Ban chỉ đạo Cải cách hành chính và CPĐT Bộ Quốc phòng là xây dựng mô hình CPĐT trên cơ sở đáp ứng cả hai mục tiêu: Phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số và tự động hóa chỉ huy. Xây dựng hạ tầng mạng máy tính quân sự rộng khắp phục vụ phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số trong Bộ Quốc phòng. Đồng thời, thúc đẩy phát triển các ứng dụng dùng chung, trong đó tập trung trước mắt cho các hoạt động hành chính quân sự bao gồm quản lý văn bản và hồ sơ công việc có sử dụng chữ ký số; hệ thông tin và chỉ đạo điều hành, phần mềm truyền hình ứng dụng (họp trực tuyến), thư điện tử quân sự... Bên cạnh đó, các ứng dụng chuyên ngành cũng được nghiên cứu phát triển, như: Phần mềm quản lý cán bộ, phần mềm quản lý đảng viên, phần mềm quản lý tài chính, kế toán và phần mềm bảo hiểm xã hội...

Quan điểm của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng coi CĐS là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện. CĐS chỉ thành công khi được xác định là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm ở mỗi cơ quan, đơn vị. Trên tinh thần đó, việc chọn nhiệm vụ gì, ngành gì để chuyển đổi trước được triển khai theo nguyên tắc: Nhiệm vụ được quy định bắt buộc phải thực hiện thì tổ chức triển khai trước; tiếp đó là nhiệm vụ nào khi đưa lên môi trường số tạo ra được hiệu quả vượt trội và sau cùng là những nhiệm vụ khi đưa lên môi trường số có thể tạo ra giá trị mới.

Trung tá Vũ Tuy Phước, trợ lý Phòng Phần mềm và Cơ sở dữ liệu, Bộ tư lệnh 86 lấy ví dụ: Cụ thể, đối với nhiệm vụ ưu tiêu triển khai trước, chủ trương của Bộ Quốc phòng là các đơn vị trực thuộc phải triển khai sử dụng phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc có sử dụng chữ ký số. Đây là một nhiệm vụ thực hiện CĐS trong việc gửi-nhận văn bản trong toàn quân, chuyển đổi từ phương pháp truyền thống (gửi-nhận văn bản giấy, qua đường quân bưu) thành gửi-nhận văn bản điện tử có chữ ký số qua môi trường mạng truyền số liệu quân sự, rút ngắn thời gian giải quyết công văn và hạn chế việc sử dụng văn bản giấy. Tuy nhiên, nếu người chỉ huy chỉ dừng lại ở mức giao cho văn thư tiếp nhận văn bản các cơ quan, đơn vị gửi về trên hệ thống, sau đó in ra văn bản giấy và thực hiện quy trình xử lý tiếp theo bằng giấy thì về cơ bản mới chỉ CĐS một khâu đơn lẻ, chưa triệt để và toàn diện.

Qua tìm hiểu, việc CĐS trong lĩnh vực hành chính quân sự bước đầu đạt được nhiều kết quả quan trọng. Cùng với triển khai hiệu quả phần quản lý văn bản và hồ sơ công việc có sử dụng chữ ký số đến 100% đầu mối toàn quân thì hệ thống truyền hình hội nghị đã được triển khai tới các đơn vị cấp trung, lữ đoàn và tương đương. Đối với hệ thống truyền hình ứng dụng, yêu cầu để triển khai hệ thống rất đơn giản và thuận tiện, chỉ cần có máy tính nối mạng máy tính quân sự, camera, micro, loa và tài khoản tham gia cuộc họp là có thể triển khai được nhanh chóng và kịp thời. Hiện đã có 1/3 số cơ quan, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng triển khai ứng dụng này. Do đó, lãnh đạo Bộ tư lệnh 86 cho rằng, các cơ quan, đơn vị khác cần nhanh chóng triển khai thực hiện để tận dụng những lợi thế về sản phẩm công nghệ đã được đầu tư...

Khi thực hiện CĐS trong các cơ quan, đơn vị quân đội, hệ thống mạng LAN sẽ được triển khai tới vị trí làm việc của người chỉ huy, trợ lý, nhân viên trong đơn vị. Từ đó thúc đẩy tỷ lệ kết nối mạng máy tính quân sự, làm cơ sở, nền tảng để triển khai các ứng dụng khác cho người dùng trong đơn vị khai thác (thư điện tử quân sự, hệ thông tin chỉ đạo điều hành, họp trực tuyến...). Mọi người trong đơn vị sẽ phải tự học và học lẫn nhau để đáp ứng yêu cầu làm việc trên môi trường mạng. Đội ngũ cán bộ, nhân viên bảo đảm kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin cho hệ thống mạng nội bộ và ứng dụng sẽ phải hoạt động chủ động, tích cực hơn. Chỉ cần thông qua một nhiệm vụ được thực hiện CĐS như trên, từng bước sẽ hình thành thói quen, văn hóa làm việc trên môi trường số tại đơn vị mình.

Để phát huy ý nghĩa, giá trị mang lại từ CĐS, trước mắt là trong lĩnh vực hành chính quân sự, rất cần tinh thần chủ động, sáng tạo và quyết tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp về CĐS. Nếu người đứng đầu không có quyết tâm chính trị, CĐS sẽ không diễn ra tại đơn vị. Mặt khác, để CĐS thành công, người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về CĐS tại đơn vị mình phụ trách; gắn các mục tiêu, nhiệm vụ CĐS với nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cơ quan, đơn vị mình.

Đừng để quên cả... tên mình

Cách đây 15 năm, trong chuyến công tác ở một đơn vị phía Bắc, tôi được nghe một câu chuyện thật mà như hài, nay vẫn còn nguyên giá trị với nhiều người.

Tối ấy, theo lời mời của người bạn từ nước ngoài về, Đại úy, Đại đội trưởng Trần Quang đến dự tiệc tại một nhà hàng ở thị trấn phố huyện. Khách dự ngồi kín cả 8 bàn tiệc, trong đó có nhiều người là bạn thời bộ đội. Nhìn mỗi bàn tiệc có một chai rượu ngoại xách tay, Trần Quang đã “khủng bố”:

Chắc là rượu ngoại của ông bạn không đủ cho mỗi người một chai đâu. Ta chỉ mở một chai thưởng thức, mỗi người một ly, còn lại dùng “nút lá chuối” cho nó lành và không bao giờ sợ thiếu. Vì “... tuy rằng là can hết rượu nhưng vẫn còn là còn trong dân”, mà còn trong dân thì vô cùng, vô tận...

Trần Quang bẻm mép, bữa tiệc càng thêm vui. Ông bạn ở Tây về chỉ nói mấy lời mở đầu và mời ly rượu ngoại khai tiệc, còn lại “nhường ngôi” cho Trần Quang chủ xị. Dưới sự điều hành của Trần Quang, mọi người nâng ly với đủ các lý do, nào là “liên lạc tay đôi”, “liên lạc mạng” (theo thuật ngữ của bộ đội thông tin), rồi uống theo nhóm tuổi, theo vần ABC... của tên từng người, theo cả nhóm giống nhau về đường con cái (đều là con trai, đều là con gái), lại thưởng cho những ai là “nghệ nhân” (nghệ nhân cấp I-sinh được một gái, một trai; nghệ nhân cấp II-sinh được một trai, một gái). Tưởng đã hết lý do để uống, bất chợt Trần Quang lại thêm “sáng kiến”-uống theo cỡ giày dép!!! Lý do này nhiều người không thể theo được. Còn “chủ xị” thì vẫn nhuần nhuyễn: “Lấy cớ để uống cho vui, hơn 10 năm mới gặp lại ông bạn từng chu du khắp trời Tây cơ mà...”.

Bữa tiệc diễn ra gần 4 giờ đồng hồ rồi cũng đến hồi kết. Nhìn đồng hồ đã quá 23 giờ, Trần Quang lên xe máy, phóng thật nhanh về đơn vị. Vì về quá muộn, người lại ngả nghiêng, nồng nặc mùi rượu nên Trần Quang “được” trực ban chấn chỉnh. Về đến đại đội, vì “giận cá chém thớt” nên Trần Quang ra lệnh báo động kiểm tra quân số. Lúc đó đã gần 24 giờ. Cán bộ, chiến sĩ tưởng có tình huống gì nên nhanh chóng tập trung đông đủ. Trước hàng quân, đại đội trưởng bắt đầu điểm danh theo danh sách toàn đại đội:

Đồng chí Trần Quang... Trần Quang đâu?

Thấy đại đội trưởng liêu xiêu, lại quên cả tên mình nên một số chiến sĩ không kìm được, bật cười. Thấy chiến sĩ cười, Trần Quang mới ngộ tỉnh, nhưng chỉ ú ớ được mấy từ “à... tôi”, rồi khụy xuống. Anh em đưa Trần Quang về phòng ngủ. Cả đêm đó, liên lạc đại đội không chợp mắt được.

Sáng hôm sau, khi đã tỉnh rượu, Trần Quang lên ngay xin lỗi chỉ huy trung đoàn (vì anh là đại đội trưởng đại đội trực thuộc). Từ đó, Trần Quang thay đổi hẳn, thực hiện nghiêm quy định khi uống rượu, bia, uống rất chừng mực và không bao giờ đưa ra “sáng kiến” để đưa tửu. Ngẫm lại sự việc đó, Trần Quang đã có hai câu vè để nhắc nhở chính mình và đồng đội: “Khi đi thì uống hết mình/ Khi về thì chẳng biết mình là ai”.

CÁN BỘ PHẢI TRÁNH XA CÁM DỖ

 

Cán bộ cần giữ mình cho đúng, không tròn vo, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, phải tránh xa thói hư tật xấu, cám dỗ, theo Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng.

Sáng 25/6, Ban Tổ chức Trung ương gặp mặt các ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XIII. Tại hội nghị, có ý kiến bày tỏ băn khoăn khi một số cán bộ thời gian gần đây vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đặt câu hỏi, năng động, sáng tạo có mâu thuẫn với chặt chẽ không? Dám nghĩ, dám làm có dễ dẫn tới sai phạm không?

Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cho biết, những sai phạm của cán bộ thời gian qua, nhìn dưới góc độ tích cực là bài học quý với mỗi cán bộ để kỹ lưỡng, chỉn chu hơn trong công tác, chứ không phải vì thế mà né tránh, không làm. Cán bộ hiểu đúng việc "giữ mình" thì sẽ thành người chặt chẽ, kỹ lưỡng hơn.

Thường trực Ban Bí thư mong muốn cán bộ trẻ khi được Đảng giao nhiệm vụ thì hăng hái đảm nhận, không ngừng tiến bộ. "Tiến bộ không phải đo lường bằng chức vụ mà về bản lĩnh, nhận thức, kiến thức, bằng sự vững vàng trong công việc", ông nói.

"Trung ương luôn mong muốn các ủy viên dự khuyết tiến bộ và đó cũng là trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng. Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh của Đảng, chế độ, đất nước", ông Thưởng chia sẻ.Ông Võ Văn Thưởng từng là một trong 25 ủy viên Trung ương dự khuyết khóa X. Khi đó, lần đầu ông được dự hội nghị Trung ương lần thứ nhất tại Đại hội X, tự cảm thấy trách nhiệm nặng nề, lớn lao; tự nhắc nhở bản thân nỗ lực, xứng đáng với trọng trách được giao.

Mỗi ủy viên Trung ương dự khuyết cần không ngừng nỗ lực, rèn luyện để tiến bộ về mọi mặt, trong công việc luôn trăn trở tìm cách giải quyết, tháo gỡ khó khăn, nỗ lực tự học, tự rèn luyện. Đặc biệt, cán bộ trẻ phải thẳng thắn, rèn luyện viết, nói, nghiên cứu cương lĩnh, nghị quyết, tìm hiểu lịch sử đảng, dân tộc; ứng xử có trước có sau, tình nghĩa, giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân.

Kết luận hội nghị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai đánh giá, các ủy viên Trung ương dự khuyết là lớp cán bộ trẻ tiệm cận với công việc cao của Đảng. Ban Tổ chức Trung ương có trách nhiệm hỗ trợ ủy viên dự khuyết phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành; tham mưu cho Đảng đội ngũ kế cận xứng đáng.

Vấn đề ủy viên Trung ương dự khuyết được Đảng quan tâm ngay từ Đại hội II. Nhiều người qua phấn đấu đã giữ những chức vụ lãnh đạo chủ chốt, như các ông Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng... Đây là tấm gương để cán bộ trẻ nỗ lực, phấn đấu.

Đại hội Đảng lần thứ XIII đã bầu 20 ủy viên Trung ương dự khuyết; trong đó 19 người tham gia lần đầu; một người tái cử; độ tuổi bình quân đầu nhiệm kỳ là 43,7."Điều quan trọng vẫn nằm ở nhân cách, phẩm chất, đạo đức. Càng trẻ càng phải nghiêm khắc với bản thân. Đảng luôn mong muốn có lớp trẻ kế cận đủ năng lực, phẩm chất, uy tín", bà Mai nói, mong muốn cán bộ dự khuyết hôm nay trong tương lai sẽ vững vàng thành ủy viên chính thức và giữ vị trí quan trọng và "đi hết trọn vẹn cuộc đời với Đảng, không thể đi giữa chừng rồi bật ra ngoài".

Đấu tranh chống luận điệu “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta. Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu quân đội từ gốc Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”. Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị. Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ. Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!). Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ. Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”. Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN. Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị. Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra. Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”. Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”; do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”. Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”. Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị. QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".