Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

65 năm thực hiện lời dạy của Bác Hồ, tỉnh Quảng Bình phấn đấu sớm trở thành tỉnh phát triển khá ở khu vực Bắc Trung Bộ.

  - Tròn 65 năm từ ngày Bác Hồ về thăm tỉnh Quảng Bình (16-6-1957 - 16-6-2022), những lời dạy, tình cảm sâu nặng của Bác Hồ đã trở thành động lực to lớn đối với địa phương. Khắc ghi lời dạy của Bác, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và đang ra sức phấn đấu sớm trở thành tỉnh phát triển khá ở khu vực Bắc Trung Bộ.

1- Ngày 16-6-1957, Bác Hồ về thăm “tuyến lửa” Quảng Bình - vùng đất tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp miền Nam. Đây là lần duy nhất tỉnh Quảng Bình vinh dự, tự hào được đón Bác về thăm và làm việc.

Bác Hồ và đồng chí Nguyễn Chí Thanh trên lễ đài ngày về thăm Quảng Bình - Vĩnh Linh, ngày 16-6-1957_Ảnh: quangbinh.gov.vn

Mặc dù thời gian về thăm rất ngắn, nhưng Người đã để lại cho Đảng bộ, quân và dân tỉnh Quảng Bình những tình cảm thiêng liêng, sâu nặng với tất cả tấm lòng yêu thương vô bờ bến. Trong 65 năm qua, quân và dân tỉnh Quảng Bình luôn khắc ghi những hình ảnh thân thương, tình cảm sâu sắc cùng những lời căn dặn ân cần của Người. Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Bình luôn nỗ lực phấn đấu, phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương, đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, quyết tâm thực hiện tốt lời Bác dạy, đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Với tầm nhìn của một nhà chiến lược thiên tài và am hiểu sâu sắc lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nắm rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định vị trí chiến lược và lâu dài của vùng đất Quảng Bình - nơi sẽ là “tiền đồn” của chủ nghĩa xã hội, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam. Bác căn dặn: “Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh ở tuyến đầu miền Bắc, tiếp giáp với miền Nam, mọi việc làm tốt hay xấu của các cô, các chú ở đây đều có ảnh hưởng nhất định đến cách mạng miền Nam, đều có ảnh hưởng đến việc bảo vệ miền Bắc. Nếu kẻ địch có hoạt động liều lĩnh gì thì Quảng Bình và Vĩnh Linh phải đương đầu với chúng trước hết (1).

Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Tỉnh Quảng Bình trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt và là nơi thí điểm mọi âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ nhằm cắt đứt mạch máu giao thông vận tải, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với chiến trường miền Nam hòng khuất phục ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình xác định trách nhiệm cao cả của mình đối với cả nước khi tỉnh Quảng Bình là tiền tuyến lớn của miền Bắc, là hậu phương trực tiếp của miền Nam, một lòng, một dạ hướng về miền Nam thân yêu, Trị - Thiên ruột thịt, phát huy truyền thống đoàn kết chiến đấu, bất chấp mọi gian khổ, hy sinh, dấy lên phong trào chống Mỹ, cứu nước.

Thực hiện lời Bác dạy, quân và dân tỉnh Quảng Bình đã anh dũng chiến đấu và giành thắng lợi hết sức vang dội ngay từ những trận đầu. Với các khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “Xe chưa qua nhà không tiếc, đường chưa thông không tiếc máu xương”, “Hạt gạo chia hai, cọng rau bẻ nửa”..., quân và dân tỉnh Quảng Bình luôn nêu cao quyết tâm “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, góp sức người, sức của làm tròn nhiệm vụ tiền tuyến của miền Bắc, hậu phương trực tiếp của miền Nam, cùng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong giai đoạn cam go ấy, mặc dù bận trăm công nghìn việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo dõi sát sao tình hình của tỉnh Quảng Bình. Mỗi lần địch đánh phá ác liệt hay mỗi lần quân và dân tỉnh Quảng Bình lập được chiến công xuất sắc, Người đều viết thư khen ngợi, thăm hỏi, động viên, khích lệ, căn dặn những việc cần phải làm. Và cứ mỗi lần như thế, tỉnh Quảng Bình lại dấy lên một phong trào thi đua mới với một khí thế mới trong sản xuất và chiến đấu. Quảng Bình là tỉnh đầu tiên bắn rơi 100, 200, 300, 400, 500 chiếc máy bay Mỹ và được Bác Hồ gửi thư khen ngợi: Quảng Bình chiến đấu giỏi, sản xuất cũng giỏi. Cũng từ đây, “Hai giỏi” - một danh hiệu cao quý gắn liền với mảnh đất và con người Quảng Bình, đã trở thành phong trào thi đua mạnh mẽ, rộng khắp trong toàn tỉnh, là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mãi mãi đi vào lịch sử của dân tộc, cổ vũ, động viên quân và dân toàn tỉnh hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ thiêng liêng đối với cả nước, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Nhân dân xem triển lãm sách, ảnh với chủ đề: “65 năm Quảng Bình làm theo lời Bác Hồ dạy” - hoạt động chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về thăm Quảng Bình (16-6-1957 – 16-6-2022)_Nguồn: sggp.org.vn

Thắng lợi của quân và dân tỉnh Quảng Bình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Quảng Bình trong việc vận dụng đường lối chung của Đảng vào tình hình diễn biến cụ thể trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng để giành thắng lợi trong chiến đấu, trong tổ chức phát triển sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân và chi viện cho chiến trường miền Nam. Thắng lợi của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tại tỉnh Quảng Bình đã góp phần quan trọng cùng cả nước thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

2- Sau ngày đất nước thống nhất, tỉnh Quảng Bình bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và kiến tạo quê hương trong điều kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng phải đối mặt với không ít thử thách, gian nan. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình tập trung sức người, sức của, đoàn kết, năng động, sáng tạo, phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế, quyết tâm thực hiện tốt lời dạy của Bác, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Năm 1989, sau khi tái lập tỉnh, tỉnh Quảng Bình đã có sự vươn mình đi lên rõ nét. Trong từng giai đoạn cách mạng và trong điều kiện mới, quán triệt, thực hiện đường lối của Đảng và khắc ghi lời dạy của Bác: “Đối với Quảng Bình, nghề biển, nghề rừng cũng quan trọng không kém nghề ruộng. Hơn nữa, Quảng Bình còn có những thứ đặc biệt mà các nơi khác trên miền Bắc ít có... Nếu biết dùng đúng và dùng tốt tài nguyên và lao động của mình, thì Quảng Bình sẽ giàu có”(2), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Bình đã phát huy truyền thống quê hương “Hai giỏi”, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và đã đạt được những kết quả đáng tự hào.

Sau 33 năm tái lập tỉnh, tỉnh Quảng Bình từng bước khắc phục được tình trạng trì trệ trong phát triển kinh tế - xã hội, đưa nền kinh tế đi vào ổn định, đạt tốc độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; chất lượng, hiệu quả từng bước được nâng lên. Từ một nền kinh tế thuần nông, đến nay, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đó, nông, lâm, thuỷ sản chiếm 21,41%; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,05%; dịch vụ chiếm 49,54%. Từ một địa phương thường xuyên phải đối phó với tình trạng thiếu đói giáp hạt, hiện nay tỉnh không những đã cân đối được nhu cầu tiêu dùng mà còn có khả năng sản xuất lương thực hàng hóa. Từ xuất phát điểm thấp về công nghiệp, đến nay, công nghiệp tỉnh nhà đã có bước phát triển mạnh mẽ, giữ vai trò là ngành kinh tế trọng điểm; nhiều ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế được hình thành. Cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng; nhiều công trình, dự án có quy mô lớn được đầu tư, đưa vào khai thác, sử dụng, đã tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt khá, quy mô nền kinh tế không ngừng được nâng lên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng bình quân GRDP trong giai đoạn 1991 - 1995 là 8,49%, giai đoạn 2005 - 2010 là 11%. Giai đoạn 2010 - 2015 và 2016 - 2020, trong điều kiện chịu ảnh hưởng của thiên tai, suy thoái kinh tế toàn cầu, sự cố môi trường biển, dịch COVID-19 nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn đạt trên 6,0%. GRDP bình quân đầu người/năm được cải thiện đáng kể, từ 0,46 triệu đồng vào năm 1990, đến năm 2021 tăng lên 49,3 triệu đồng.

Đặc biệt, ngành du lịch có nhiều khởi sắc và dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tỉnh đã hình thành nhiều điểm tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng, như hang Sơn Đoòng, động Phong Nha, động Thiên Đường, suối Nước Moọc, sông Chày, hang Tối, khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, biển Nhật Lệ, biển Đá Nhảy, chùa Hoằng Phúc,... Tổng số khách du lịch đến tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 1990 - 1999 đạt gần 0,6 triệu lượt khách, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 19,7 triệu lượt khách. Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hai lần được vinh danh Di sản thiên nhiên thế giới. Thương hiệu du lịch Quảng Bình được khẳng định ở tầm quốc gia, khu vực, là điểm sáng trên bản đồ du lịch Việt Nam. Một số điểm du lịch có tiềm năng lớn trở thành điểm đến tầm cỡ thế giới.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển khá toàn diện và bền vững. Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1990 - 2019 đạt 5,3%; tỷ trọng ngành chăn nuôi không ngừng tăng, từ 33,1% vào năm 1990, lên 51,3% vào năm 2021. Lâm nghiệp chuyển đổi theo hướng lâm nghiệp xã hội; công tác quản lý và bảo vệ rừng được tăng cường. Thủy sản được xác định là ngành kinh tế quan trọng. Tỉnh Quảng Bình hiện có đội tàu đánh bắt vùng biển xa đứng thứ ba toàn quốc. Sản lượng thuỷ sản từ 8.647,5 tấn vào năm 1990 tăng lên 89.064,5 tấn vào năm 2021.

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân 14,1%/năm, quy mô giá trị sản xuất công nghiệp tăng gần 46 lần. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1990 của tỉnh là 271,7 tỷ đồng, đến năm 2021 đạt 13.865 tỷ đồng.

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 21%/năm. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đô thị của tỉnh ngày càng được đầu tư đồng bộ, hiện đại. Hệ thống đường giao thông được quan tâm xây dựng giúp cho việc giao thương, đi lại giữa nhân dân trong tỉnh và các vùng trở nên thuận tiện hơn. Khu công nghiệp Bắc Đồng Hới, Tây Bắc Đồng Hới, Tây Bắc Quán Hàu, Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo, Khu kinh tế Hòn La... ngày càng phát huy hiệu quả, thu hút nhiều dự án đầu tư. Mạng lưới bưu chính - viễn thông, phát thanh - truyền hình phủ kín 100% số xã; 98% số dân ở nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Thành phố Đồng Hới từ một thị xã nhỏ, đến nay đã trở thành đô thị loại II, là thành phố phát triển mạnh về du lịch biển, năng động và hiện đại; thị xã Ba Đồn trở thành thị xã trực thuộc tỉnh; thị trấn Hoàn Lão (huyện Bố Trạch), Kiến Giang (huyện Lệ Thủy) trở thành đô thị loại IV...

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Vũ Đại Thắng kiểm tra dự án khu đô thị Regal Ocean tại xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình_Ảnh: quangbinh.dcs.vn

Trong xu thế hội nhập, với các cơ chế, chính sách rộng mở, thông thoáng, tỉnh Quảng Bình ngày càng thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến nghiên cứu, khảo sát, triển khai thực hiện nhiều công trình, dự án có quy mô lớn, có thương hiệu quốc tế; các vùng kinh tế động lực được hình thành ngày càng rõ nét. Đây là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Giáo dục - đào tạo phát triển khá toàn diện với 842 trường học và cơ sở giáo dục trên toàn tỉnh. Số lượng học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia ngày càng tăng ở các cấp học, nhiều học sinh đạt giải thưởng khu vực và quốc tế. Thành tích thể thao của tỉnh ngày càng được nâng cao, ghi những dấu ấn đậm nét trên đấu trường thể thao trong nước, khu vực và châu lục, góp phần nâng cao vị thế và hình ảnh của thể thao tỉnh trên đấu trường thể thao quốc gia, quốc tế.

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân từng bước được nâng cao. Tỉnh Quảng Bình là địa phương đầu tiên trong cả nước đạt tiêu chí loại trừ bệnh phong quy mô cấp huyện vào năm 2015. Mạng lưới y tế phủ kín 100% địa bàn cấp xã, bao gồm 4 tuyến: Trung ương, tỉnh, huyện, xã, với số giường bệnh gấp 2,5 lần so với năm 1990. Nhân lực ngành y tế tăng gấp 2,7 lần, riêng bác sĩ tăng gấp 3,7 lần. Khu vực y tế ngoài nhà nước phát triển mạnh mẽ. Số lượng người dân có thẻ bảo hiểm y tế hiện nay đạt trên 95%. Đời sống nhân dân được cải thiện, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo từ 44,4% vào năm 1993, giảm xuống còn 3,24% vào năm 2021. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển sâu rộng.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được triển khai toàn diện. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm của Trung ương và thực tiễn của địa phương, Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đã đề ra những chủ trương đúng đắn, có những bước đi và biện pháp thích hợp để xây dựng Đảng bộ đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng Đảng được đẩy mạnh và đạt kết quả bước đầu quan trọng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ. Tỉnh cũng đã tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, phát triển và nâng cao chất lượng đảng viên, từ hơn 25 nghìn đảng viên vào năm 1989, đến nay Đảng bộ tỉnh đã có hơn 76 nghìn đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng được tăng cường lãnh đạo theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát; công tác dân vận từng bước được đổi mới...

Thực hiện lời Bác dạy, tỉnh Quảng Bình đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và diện mạo với những kết quả toàn diện, tích cực, có ý nghĩa lịch sử mặc dù còn rất nhiều khó khăn, thử thách, trong đó có những thử thách thậm chí kéo lùi sự phát triển của địa phương. Tuy nhiên, những kết quả đạt được đã đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng bộ tỉnh; minh chứng khả năng lãnh đạo và bản lĩnh chính trị vững vàng của đảng bộ trên cơ sở vận dụng lời Bác dạy vào thực tiễn và tiềm năng, lợi thế của địa phương gắn với phát huy truyền thống cách mạng quê hương “Hai giỏi”.

3- Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả những lời căn dặn của Bác, phát huy những kết quả đã đạt được, phấn đấu đưa tỉnh Quảng Bình trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Bắc Trung Bộ, trong thời gian tới, cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Quảng Bình sẽ tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi một số nhóm giải pháp chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên; trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, XIII về công tác xây dựng Đảng gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng chính quyền các cấp và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đề cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức, trước hết là người đứng đầu các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; đổi mới và tạo chuyển biến rõ nét trong công tác cán bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có lợi thế; đưa công nghiệp, du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm và mũi nhọn; tập trung xây dựng các khu kinh tế, nhất là Khu kinh tế Hòn La sớm trở thành khu kinh tế tổng hợp trong vùng kinh tế động lực Nam Hà Tĩnh - Bắc Quảng Bình. Tập trung chỉ đạo cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; khuyến khích phát triển các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, sản xuất theo chuỗi giá trị. Quan tâm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển hợp tác xã và đẩy mạnh thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP). Triển khai đồng bộ các biện pháp phục hồi, tháo gỡ khó khăn cho phát triển sản xuất công nghiệp. Tập trung huy động tổng hợp các nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại. Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ đầu tư Dự án nhiệt điện Quảng Trạch I; tiếp tục triển khai Dự án đường dây 500kV (mạch 3), Dự án đường ven biển; phối hợp triển khai hoàn thành Dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam đoạn qua tỉnh Quảng Bình,...

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao chất lượng giáo dục và dạy nghề; đẩy mạnh chuyển đổi số; quan tâm đầu tư cho khoa học - công nghệ, đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chăm lo các gia đình chính sách, người có công và các chính sách xã hội khác; xây dựng môi trường sống lành mạnh, an ninh, an toàn, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Nhân viên VNPT Quảng Bình xử lý kỹ thuật tại phòng tổng đài, hệ thống truyền dẫn_ Ảnh: TTXVN

Thứ tư, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, biển, đảo; bảo đảm an ninh, trật tự để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đấu tranh phòng, chống, triệt phá các loại tội phạm; bảo đảm an toàn giao thông; phòng, chống cháy nổ... Tăng cường công tác đối ngoại, nhất là quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với các địa phương của nước bạn Lào, góp phần xây dựng biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, Đảng bộ tỉnh Quảng Bình tiếp tục thực hiện có hiệu quả những lời căn dặn của Bác Hồ, quyết tâm thực hiện tốt bốn khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra: Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh; phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng công tác cán bộ.

Thực hiện lời Bác Hồ dạy, 65 năm qua, tỉnh Quảng Bình luôn nỗ lực phấn đấu và đạt được những thành tựu to lớn, thể hiện tình cảm, ý chí và khát vọng vươn lên của mỗi người dân quê hương “Hai giỏi”, luôn đoàn kết, đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình càng thấm nhuần sâu sắc giá trị tư tưởng của Bác; nhận thức rõ thành quả vẻ vang đạt được của ngày hôm nay là kết quả phấn đấu bền bỉ của các thế hệ cha anh dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của quê hương “Hai giỏi”, không ngừng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; thực hiện tốt lời căn dặn và Di chúc thiêng liêng của Bác, nguyện mãi đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã chọn; ra sức phấn đấu đưa tỉnh Quảng Bình sớm trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Bắc Trung Bộ./.

Chạy đua vũ khí hạt nhân toàn cầu được dự báo sẽ tăng lên do sự ảnh hưởng từ cuộc xung đột tại Ukraine.

    Theo Guardian, vào ngày 13/6, viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (Sipri) đã đưa ra dự báo về việc số lượng vũ khí hạt nhân toàn cầu sẽ tăng lên lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ.

Cụ thể, báo cáo của Sipri cho biết, tổng số đầu đạn hạt nhân trên thế giới hiện tại là 12.705 đầu đạn vào tháng 1/2022, giảm nhẹ so với con số 13.080 cách đó một năm. Tuy vậy, cuộc xung đột tại Ukraine và những động thái ủng hộ của EU dành cho Kiev có thể làm gia tăng cuộc chạy đua hạt nhân toàn cầu, hiện tượng tưởng chừng đã kết thúc từ thời Chiến tranh lạnh.

"Cả 9 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân đều đang có kế hoạch gia tăng số lượng đầu đạn trong khu vũ khí của mình, điều này đi ngược lại những lời kêu gọi phi hạt nhân hóa trên toàn cầu. Đây thực sự là một xu hướng đáng lo ngại", Tiến sĩ Wilfred Wan - nhà phân tích của Sipri cho biết.

Tính tới thời điểm hiện tại, Nga là nước sỡ hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới với 5.977 đầu đạn, nhiều hơn quốc gia đứng thứ 2 là Mỹ 550 đầu đạn. Đáng lo ngại hơn là việc 2 cường quốc sỡ hữu 90% số lượng vũ khí hạt nhân toàn cầu lại đang triển khai các chương trình quy mô lớn và tốn kém để thay thế và hiện đại hóa đầu đạn, hệ thống phân phối và cơ sở sản xuất.

Xung đột Ukraine làm dấy lên lo ngại chạy đua hạt nhân toàn cầu.

Báo cáo của Sipri cũng cho thấy, 7 quốc gia sở hữu đầu đạn hạt nhân khác gồm Anh, Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Israel và Triều Tiên đều đã lên kế hoạch hoặc triển khai việc gia tăng số lượng đầu đạn của mình.

Sốt sắng nhất trong cuộc đua hạt nhân là Trung Quốc, khi quốc gia này được cho là đã mở rộng hơn 300 hầm chứa tên lửa mới. Không nằm ngoài cuộc chơi, vào đầu năm ngoái, Pháp đã chính thức khởi động chương trình phát triển tàu ngầm tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) thế hệ 3. Ấn Độ và Pakistan cũng gia tăng số lượng đầu đạn của mình, cả hai nước cũng giới thiệu và tiếp tục phát triển các loại hệ thống chuyển phát hạt nhân mới.

Về phía Anh, dù nhiều lần lên tiếng chỉ trích Nga và Trung Quốc về sự thiếu minh bạch về vấn đề vũ khí hạt nhân, London mới đây cũng tuyên bố sẽ không công khai số liệu về kho vũ khí hạt nhân đang hoạt động của nước này. Báo cáo cuối cùng được công khai cho thấy Anh sở hữu 195 đầu đạn hạt nhân, 120 trong số này được đặt ở trạng thái sẵn sàng hoạt động.

Báo cáo của Sipri được công bố trong bối cảnh xung đột Nga - Ukraine leo thang và làm dấy lên nguy cơ xung đột hạt nhân. Trước đó, phía Moscow cũng lên tiếng phản đối phương Tây chuyển vũ khí hạt nhân cho Ukraine. Cụ thể, Bộ Ngoại giao Nga khẳng định, "lời kêu gọi cung cấp vũ khí hạt nhân cho Ukraine thể hiện tư tưởng cực đoan, đe dọa an ninh khu vực và thế giới, cũng như vi phạm Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân”.

PHAO

ĐỪNG NÊN GIẬU ĐỔ BÌM LEO

 

Vừa qua khi ông Chu Ngọc Anh, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ngã ngựa, linh mục Đinh Hữu Thoại đăng đàn cho rằng "các Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội liên tục bung, toang. Hãy trả lại tài sản đã chiếm dụng của Giáo hội Công giáo". Xin gửi ông đôi lời:

Thói đời giậu đổ bìm leo, Ông Chu Ngọc Anh vi phạm pháp luật, Đảng và nhà nước không hề dung dưỡng mà xử lý nghiêm minh. Sai đến mức độ nào thì xử lý mức độ đó. Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, cho dù đó là ông Chu Ngọc Anh hay các công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo. Bắt sâu để cứu cả vườn rau là việc làm cần thiết, chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam không hề bao che, không ngại "đốt lò" để  gạn đục khơi trong, củng cố niềm tin của nhân dân. 

Đinh hữu thoại đừng cố đánh bùn sang ao. Ông Chu Ngọc Anh hay chính quyền Hà Nội xưa nay không hề chiếm đoạt bất cứ thứ gì từ giáo hội công giáo. Này Đinh Hữu Thoại, Công giáo chỉ có ở Việt Nam từ thế kỷ 15, trong khi dân tộc này có hơn 4000 năm lịch sử. Vậy nên, không có bất kỳ tôn giáo nào được quyền đứng cao hơn quốc gia, dân tộc. Trước khi tổ tiên của ông theo Công giáo (du nhập từ phương Tây) thì họ vẫn là người Việt Nam. Nhất quyết không một ai ở Việt Nam do Chúa sinh ra cả. Nói về chiếm dụng thì phải hỏi nhà thờ lớn Hà Nội bây giờ có nguồn gốc từ đâu.

VIỆT NAM KHÔNG LIÊN QUAN


Theo thông tin từ VOA, mới đây Andy Huỳnh - một người Mỹ gốc Việt đã bị lực lượng quân sự Nga bắt tại Ukraina khi anh ta tham gia lực lượng lính đánh thuê. Chuyện không có gì phải nói nếu như VOA tiếng Việt không dựa vào đó để công kích, xuyên tạc chính sách của Đảng ta với kiều bào nước ngoài. 

Thực tế, Andy Huỳnh là một quân nhân Mỹ, đang đánh thuê tại Ukraina. Và VOA đang khóc than cho kẻ đánh thuê kiếm tiền trên máu và nước mắt này. Giờ bị bắt thì VOA la ối om sòm, nào là Đảng cộng sản Việt Nam luôn cho rằng “kiều bào là bộ phận gắn bó máu thịt”.... thì đúng thế đấy. Nhưng khác ở chỗ là: Huỳnh thuộc quân đội Mỹ, đi đánh thuê cho Mỹ. Giờ bị bắt và đứng trước nguy cơ án tử, sao VOA không kêu Mỹ mà lại đi kêu Việt Nam? Khi Andy Huỳnh kiếm được tiền từ đánh thuê thì Huỳnh đút túi, gia đình Huỳnh chi tiêu chứ người dân Việt Nam có được gì đâu?

Andy Huỳnh trước khi sang Ukraina là lính thuỷ quân lục chiến của Mỹ. Tự đâm đầu vào chỗ tử vì tiền thì tự chịu đi......... 

Việt Nam không liên quan nhé!

 

Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Ngày 19-5-2022, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Hội nghị giao ban toàn quốc đánh giá 1 năm triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến toàn quốc.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, chỉ đạo hội nghị tại điểm cầu Trung ương (Hà Nội). Đồng chủ trì hội nghị có các đồng chí: Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

Báo cáo kết quả 1 năm triển khai Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Hải Bình nhấn mạnh, công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục được cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai thực hiện nghiêm túc, bài bản và hệ thống, bước đầu đạt được hiệu quả trong toàn hệ thống chính trị.

Là cơ quan tham mưu, hướng dẫn triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 58-KH/BTGTW, ngày 27-8-2021, về “Thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05 “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Hướng dẫn số 16-HD/BTGTW, ngày 27-7-2021, về học tập Chuyên đề toàn khóa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Trên cơ sở đó, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc Trung ương đã nhanh chóng triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, xây dựng chương trình hành động gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đặc biệt chú trọng tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các khâu đột phá phát triển kinh tế - xã hội, các vấn đề trọng tâm, bức thiết của thực tiễn. Nét mới là có sự xác định rõ nội dung các công việc phải làm, phân công trách nhiệm thực hiện, thời gian hoàn thành, với tinh thần chủ động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Sau 1 năm, việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW đạt một số kết quả: 1- Việc triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, Chuyên đề toàn khóa gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị được coi trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động; 2- Việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được chú trọng; 3- Công tác tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục được tăng cường, đổi mới với nhiều cách thức sáng tạo; 4- Việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đổi mới nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; 5- Công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được chú trọng, có tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa sai phạm cao.

Hội nghị nhận được 21 tham luận, trong đó có 7 ý kiến phát biểu trực tiếp tại các điểm cầu. Các tham luận tại hội nghị tập trung đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kết quả sau 1 năm triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW; tập trung làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân; thảo luận phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Kết luận số 01-KL/TW trong những năm tiếp theo để việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thiết thực, trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa đánh giá cao những nỗ lực của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW trong 1 năm vừa qua. Dù trong hoàn cảnh không thuận lợi do tác động của đại dịch COVID-19 nhưng cấp ủy, chính quyền các cấp đã tổ chức triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW với tinh thần rất khẩn trương, nghiêm túc và đạt được nhiều kết quả nổi bật.

Để thực hiện hiệu quả hơn nữa Kết luận số 01-KL/TW trong thời gian tới, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị các cấp, các ngành cần chú trọng một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp theo Kết luận số 01-KL/TW, gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”, Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

Thứ hai, tập trung hơn nữa vào việc thực hiện 3 nội dung: Học tập Bác, làm theo Bác và nêu gương Bác. Kết hợp chặt chẽ giữa học tập, làm theo Bác trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá, các vấn đề trọng tâm, bức thiết của thực tiễn.

Thứ ba, nhấn mạnh và đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, trước hết là của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, nhất là trong bối cảnh Đảng ta đang đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng về đạo đức.

Thứ tư, chú ý đổi mới mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa nội dung, phương pháp, hình thức tuyên truyền về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nghiên cứu, triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tích cực, hoàn thành sớm việc xây dựng và phổ biến, tổ chức thực hiện các chuẩn mực đạo đức đối với cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Thường xuyên bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cho thế hệ trẻ.

Thứ sáu, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả, thực chất, không rơi vào phô trương, lãng phí, hình thức.

Chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị năm 1972: Bài học kinh nghiệm vận dụng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Cách đây 50 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quyết tâm chiến đấu anh dũng, ngoan cường của quân và dân ta, Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972 đã giành thắng lợi. Nửa thế kỷ đã trôi qua, song sự kiện giải phóng Quảng Trị vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và ý nghĩa hiện thực sâu sắc; để lại nhiều bài học quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
Trong hai năm 1970 - 1971, mặc dù bị thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, song Mỹ - ngụy vẫn ngoan cố thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hòng tạo thế để mặc cả với ta trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Thực hiện ý đồ đó, chúng tăng cường phòng thủ trên hướng Trị - Thiên, biến nơi đây thành tuyến phòng thủ kiên cố, liên hoàn, vững chắc. Lực lượng địch ở khu vực này gồm 2 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ, 3 thiết đoàn (xe tăng, thiết giáp), 17 tiểu đoàn pháo binh,… được không quân, pháo binh (kể cả pháo hạm) chi viện, hòng ngăn chặn, đánh bại các cuộc tiến công của ta.

Về phía ta, thực hiện chủ trương giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, ngày 23-2-1972, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm chiến đấu và phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược, mở cuộc tiến công trên toàn chiến trường miền Nam, lấy Trị - Thiên làm hướng tiến công chủ yếu, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hai hướng phối hợp quan trọng. Trên hướng Trị - Thiên, ta mở chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng có quy mô lớn. Sau gần 3 tháng chiến đấu (từ ngày 30-3 đến ngày 27-6-1972), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cùng quyết tâm chiến đấu anh dũng, ngoan cường của quân và dân ta, Chiến dịch Trị - Thiên đã giành thắng lợi rất to lớn, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 30.000 tên địch, phá hủy và thu giữ nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Cuộc chiến đấu giải phóng Quảng Trị năm 1972 để lại nhiều bài học quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Một là, nâng cao khả năng dự báo tình hình, tham mưu hiệu quả, xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ.

Ngay sau thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, tháng 5-1971, Bộ Chính trị họp, đề ra nhiệm vụ cho chiến trường miền Nam là giành thắng lợi quyết định trong năm 1972; đồng thời khẳng định, ta đang đứng trước thời cơ mới có thể giành thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ cần kíp cho quân và dân ta là “kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài”(1).

Để cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 6-1971, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị nghiên cứu tình hình và đề ra nhiệm vụ của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Quân ủy Trung ương xác định, đòn tiến công của chủ lực sẽ tiến hành đồng thời trên 3 hướng chiến lược là Trị - Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; theo đó, miền Đông Nam Bộ là hướng tiến công chủ yếu số một, Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu số hai, Trị - Thiên là hướng phối hợp quan trọng. Tuy nhiên, đến nửa đầu tháng 3-1972, căn cứ tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch, qua kiểm tra công tác chuẩn bị của từng hướng và cân nhắc các hướng chiến lược, Quân ủy Trung ương quyết định báo cáo Bộ Chính trị chọn Trị - Thiên làm hướng chiến lược chủ yếu. Bởi vì, cuộc tiến công này phải giáng đòn quyết định của bộ đội chủ lực vào địa bàn dễ gây tác động lớn đối với Mỹ - ngụy. Ta phải đánh mạnh vào nơi địch mạnh hoặc tương đối mạnh, nơi hiểm yếu, buộc địch phải đối phó quyết liệt với những cố gắng cao nhất. Tại địa bàn này, địch bố trí lực lượng phòng thủ mạnh ở vòng ngoài, nhưng yếu ở bên trong, khi ta phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch dễ có điều kiện phát triển tiến công tiêu diệt, làm chủ các mục tiêu chủ yếu; khi bị ta tiến công uy hiếp, buộc địch phải đưa quân chi viện, ta có điều kiện tiêu diệt được nhiều lực lượng và phương tiện. Đối với ta, địa bàn Trị - Thiên là nơi có điều kiện để phát huy sức mạnh cao nhất của bộ đội chủ lực, của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ nhận định chính xác đó, Bộ Chính trị chính thức phê chuẩn đề nghị của Quân ủy Trung ương chuyển chiến trường Trị - Thiên từ hướng phối hợp quan trọng trở thành hướng chủ yếu của cuộc tiến công chiến lược. Sự nhạy bén của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương trong việc điều chỉnh hướng tiến công chiến lược là nhân tố hàng đầu đưa đến thắng lợi của Chiến dịch Trị - Thiên.

Từ bài học kinh nghiệm về chọn hướng tiến công chiến lược ở chiến trường Trị - Thiên năm 1972, vận dụng vào thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cho thấy, mặc dù hòa hình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn ở khu vực và trên thế giới, nhưng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh, xung đột cục bộ vẫn diễn ra gay gắt. Đặc biệt, một số nước đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực hải quân với những thế hệ vũ khí mới. Các yếu tố an ninh phi truyền thống, an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới làm thay đổi môi trường chiến lược, tác động sâu sắc tới mọi quốc gia - dân tộc.

Là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, ổn định của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam cần chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình; trên cơ sở đó, chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoạch định và thực hiện đường lối, chiến lược, chủ động, tích cực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; trong đó, cần chủ động nghiên cứu, dự kiến các tình huống, biện pháp đối phó hiệu quả với mọi tình huống về quân sự, quốc phòng cả trên không, trên đất liền, trên biển, đảo và trên không gian mạng, kiên quyết không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; luôn bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển toàn diện đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội. Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự… Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(2). Đây là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân vững mạnh, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; trong đó, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Trong Chiến dịch tiến công Trị - Thiên, ta đã xây dựng được lực lượng tại chỗ rộng khắp(3), lực lượng chủ lực cơ động hùng hậu, do đó, tạo thuận lợi cho phối hợp tác chiến của bộ đội chủ lực và lực lượng tại chỗ ngay từ giai đoạn hoạt động tạo thế, cài thế, nghi binh lừa địch. Từ tháng 1 đến tháng 3-1972, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Trị đã đánh gần 400 trận lớn, nhỏ. Ở Thừa Thiên ta liên tục hoạt động trên hướng tây đường số 12, đồng thời kết hợp với hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ xây dựng cơ sở chính trị, diệt ác, trừ gian, nhất là ở các vùng xung yếu… Các hoạt động trên làm cho thế kìm kẹp của địch bị phân tán, ta cài được thế vào cả 3 vùng (vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng và vùng thành thị), vẫn giữ được bí mật chiến dịch, phân tán sự chú ý của địch về hướng tiến công chủ yếu của ta ở mặt trận Quảng Trị. Đợt 1 chiến dịch (từ ngày 30-3 đến ngày 9-4-1972), bộ đội chủ lực tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài, đẩy địch vào thế hoang mang dao động. Tận dụng thời cơ có lợi, Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh, các tiểu đoàn đặc công và các đại đội bộ đội địa phương, lực lượng dân quân du kích cùng quần chúng nổi dậy giải phóng quận lỵ Gio Linh, Bến Ngự, Mai Xá Thị, Xuân Khánh, Hà Thượng…

Cùng với đó, trên hướng phối hợp, lực lượng vũ trang địa phương của Thừa Thiên liên tục đánh địch ở Cù Mông, điểm cao 620, đường số 12 (đoạn Tà Lương - Động Tranh) suốt từ ngày 26-3 đến ngày 30-4-1972, đã kiềm chế và thu hút một phần lực lượng địch, tạo thuận lợi cho hướng chủ yếu (hướng Quảng Trị) của chiến dịch tiến công tiêu diệt địch. Đợt 2 (từ ngày 27-4 đến ngày 2-5-1972), chiến dịch sử dụng Trung đoàn 27, Tiểu đoàn 47 Vĩnh Linh và Trung đoàn bộ binh cơ giới 66 (Quân đoàn 2) thọc sâu, vu hồi phía đông, phối hợp với hướng chia cắt (hướng nam Quảng Trị do Sư đoàn bộ binh 324 đảm nhiệm), đồng thời hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng ở Triệu Phong và Hải Lăng nổi dậy giành quyền làm chủ. Trên hướng phối hợp, lực lượng Quân khu Trị - Thiên cùng lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục tiến công địch trên hướng đường số 12… Đợt 2 của chiến dịch đã giành thắng lợi to lớn, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Đợt 3 (từ ngày 20-6 đến ngày 27-6-1972), ta chủ trương tiếp tục tiến công nhằm tiêu diệt đại bộ phận lực lượng quân địch, giải phóng Thừa Thiên, kể cả Huế và Phú Bài, nhưng do thiếu sót trong đánh giá tình hình địch - ta, cũng như trong công tác bảo đảm các mặt, nên hiệu quả tiêu diệt địch thấp; do đó, đêm 27-6-1972, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định ngừng tiến công, chuyển phương thức tác chiến mới, giữ vững vùng giải phóng, đánh bại nỗ lực tái chiếm Quảng Trị của địch. Thắng lợi của Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972 có nhiều yếu tố cấu thành, trong đó nghệ thuật kết hợp tác chiến giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương đã phát triển đến đỉnh cao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để lại nhiều bài học quý về xây dựng quân đội nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự biến động của tình hình thế giới, khu vực đem lại những thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân; coi trọng xây dựng lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ cân đối, đồng bộ, có chất lượng tổng hợp, trình độ, sức mạnh và khả năng phối hợp tác chiến cao, nhất là giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ; tranh thủ thời cơ, tận dụng, khai thác, phát huy tốt lợi thế của các lĩnh vực, nhất là khoa học - công nghệ..., đẩy nhanh lộ trình hiện đại hóa quân đội đáp ứng ngày càng tốt sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; điều chỉnh tổ chức, biên chế bảo đảm “tinh, gọn, mạnh”. Cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, giảm đầu mối trung gian, đồng bộ giữa vũ khí, trang bị với nhân lực và công tác bảo đảm. Cùng với đó, cần xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao, được quản lý chặt chẽ, sẵn sàng động viên, mở rộng lực lượng khi cần thiết. Củng cố lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có số lượng, cơ cấu phù hợp với đặc điểm địa bàn, dân số, chú trọng lực lượng dân quân tự vệ ở các vùng trọng điểm, dân quân biển; không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh ngay tại cơ sở, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, cần bảo đảm chất lượng huấn luyện, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, “đội quân lao động, sản xuất” trong thời bình, sẵn sàng giúp nhân dân trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và những thách thức an ninh phi truyền thống, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Ba là, chú trọng công tác huấn luyện, không ngừng nâng cao năng lực, sức chiến đấu của bộ đội, khả năng, trình độ tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị, lực lượng trong toàn quân.

Nghiên cứu, đánh giá đúng về tình hình địch - ta và địa bàn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên quyết định đánh vào chỗ tương đối mạnh của địch, nhưng là nơi địch không ngờ tới, bởi chúng cho rằng ta chưa đủ khả năng đánh lớn ở Quảng Trị. Đây là quyết định rất đúng đắn và táo bạo của Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhằm tạo bất ngờ cho địch, đồng thời chứng tỏ trình độ, khả năng tác chiến của quân đội ta. Thực hiện quyết tâm đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương sử dụng pháo binh chiến dịch đánh “mềm” chiến trường, lực lượng pháo cao xạ sẵn sàng bắn máy bay, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng chi viện của không quân địch; kết hợp sức cơ động, đột kích của xe tăng, bộ binh lần lượt tiêu diệt các cứ điểm từ ngoài vào trong, tạo bàn đạp phát triển sâu vào trung tâm phòng ngự của địch. Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị đánh chiếm từng mục tiêu và thực hành hiệp đồng chặt chẽ giữa các cánh quân, các hướng tiến công; đồng thời, trên từng hướng, mũi thống nhất hành động giữa bộ binh với các lực lượng binh chủng.

Như vậy, lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta tổ chức chiến dịch tiến công quy mô lớn, lấy sức mạnh hiệp đồng binh chủng đánh vào khu vực phòng ngự mạnh nhất của địch, khiến chúng bất ngờ và choáng váng. Điều quan trọng là, nghệ thuật điều hành, phối hợp các lực lượng trên các tuyến, hướng tiến công, nhất là giữa bộ binh, pháo binh và xe tăng luôn nhịp nhàng, ăn khớp, tạo sức mạnh to lớn, đập tan các “ổ đề kháng” kiên cố của địch. Đây là thực tiễn quan trọng để ta tiếp tục phát triển, vận dụng vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Diễn biến chiến dịch cho thấy, ngay khi mở màn, lực lượng pháo binh ta đã bắn gần 8.000 viên đạn, khống chế hơn 24 căn cứ, trong đó có 13 cụm pháo binh địch, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều công trình quân sự, trung tâm thông tin địch. Chớp thời cơ, bộ binh cùng xe tăng trên 4 hướng đồng loạt tiến công, đánh chiếm các mục tiêu: Động Toàn, Ba Hồ, điểm cao 544… Đặc biệt, Trung đoàn đặc công hải quân 126, với cách đánh bí mật của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, đã nhanh chóng tiến công tiêu diệt toàn bộ địch trên sông và duyên đoàn 11 của địch tại Cửa Việt, khống chế hoàn toàn tuyến đường sông phía đông. Với việc vận dụng nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng chặt chẽ, sáng tạo, nên chỉ sau 5 ngày tiến công của đợt 1 chiến dịch, phía ta đã phá vỡ hoàn toàn tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch, phá tan hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra, giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ, buộc chính quyền Sài Gòn phải tăng viện khẩn cấp cho mặt trận Quảng Trị và hô hào tử thủ, bảo vệ những khu vực còn lại.

Mất tuyến phòng ngự vòng ngoài và bị thiệt hại nặng, địch tăng cường lực lượng và điều chỉnh lại thế bố trí phòng ngự thành các cụm quân mạnh ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, tạo thành khu vực “co cụm cứng”, kết hợp với di động linh hoạt để đối phó với ta. Theo đó, ta không thể dùng lối đánh ồ ạt, chớp nhoáng để đập tan các cụm cứ điểm “di động” của địch bằng một đòn, mà phải tiếp tục thực hiện bằng nhiều đòn liên tục, nhằm đập vỡ từng đoạn, tiến tới thực hiện đòn đánh quyết định, tiêu diệt lớn lực lượng địch. Thực hiện phương pháp tác chiến mới, chiến dịch tập trung phát huy sức mạnh của binh khí, kỹ thuật hiện đại, tiến hành đột phá liên tục, tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp, làm vỡ “vỏ cứng” phòng ngự, vừa bắn phá những mục tiêu chủ yếu trên toàn tuyến, vừa tập trung diệt từng điểm, cụm; kiên quyết bao vây, chia cắt chiến dịch, đánh vỡ từng mảng, tiến tới tiêu diệt toàn bộ địch co cụm. Thực tế, đợt 2 chiến dịch cho thấy, dưới sự chi viện mạnh của hỏa lực, các đơn vị thực hành tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp, làm mất chỗ dựa của bộ binh địch, từ đó đánh chiếm từng mục tiêu lần lượt từ ngoài vào trong, theo cách “bóc vỏ”, tạo điều kiện cho bộ binh, xe tăng của ta nhanh chóng thọc sâu, đánh chiếm mục tiêu bên trong, trên cả 3 cụm phòng ngự chủ yếu của địch, làm chủ trận địa. Điển hình là, trên hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch đánh vào cụm Đông Hà (Quảng Trị), Sư đoàn bộ binh 308, Quân đoàn 1 được sự chi viện của pháo binh, xe tăng đã nhanh chóng đánh chiếm các điểm cao 30, 28…, cô lập hoàn toàn Đông Hà; đồng thời, tổ chức Trung đoàn bộ binh cơ giới 66 và Tiểu đoàn đặc công 33 tạo thành mũi thọc sâu đánh chiếm sân bay Đông Hà, dồn địch vào thế hỗn loạn, buộc chúng phải bỏ cả vũ khí, trang bị kỹ thuật rút chạy, ta làm chủ Đông Hà, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, tạo cục diện mới cho cuộc chiến tranh.

Thành công của Chiến dịch Trị - Thiên chứng tỏ vai trò to lớn của công tác tổ chức huấn luyện, tổ chức chỉ huy cũng như hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng địch trong mọi tình huống. Vận dụng bài học kinh nghiệm này để tiếp tục xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc; phấn đấu đến năm 2030 xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, cần chú trọng công tác huấn luyện, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ tổ chức hiệp đồng chiến đấu của bộ đội. Theo đó, toàn quân tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Kết luận số 60-KL/QUTW, ngày 18-1-2019, của Quân ủy Trung ương, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo; Chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng, cụ thể hóa bằng các chủ trương, giải pháp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu quả. Coi trọng công tác đào tạo, huấn luyện, diễn tập sát với đối tượng, phù hợp với tổ chức, biên chế, trang bị và sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong huấn luyện bộ đội, chú trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu; huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị, nhất là vũ khí, khí tài mới, hiện đại; kết hợp giữa huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị và rèn luyện thể lực cho bộ đội, nâng cao bản lĩnh, quyết tâm và khả năng cơ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Vận dụng tốt 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện. Chỉ đạo huấn luyện theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”; nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng, trình độ xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng cho cán bộ chỉ huy; thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án tác chiến đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu của bộ đội.

Chiến dịch tiến công Trị - Thiên là cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch, các bên tác chiến đều tập trung khả năng cao nhất để giành chiến thắng, tạo chuyển biến cục diện chiến tranh trong thế có lợi. Một trong những yếu tố làm nên chiến thắng Trị - Thiên của quân và dân ta trong năm 1972 không thể không nhắc tới tinh thần, ý chí, quyết tâm chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến dịch. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của yếu tố này, lãnh đạo, chỉ huy các cấp luôn chú trọng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Trước khi chiến dịch bắt đầu, các đơn vị tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, nghiên cứu chỉ thị công tác đảng, công tác chính trị của Tổng cục Chính trị, Đảng ủy Mặt trận, thư của Trung ương, Quân ủy Trung ương… Các tài liệu học tập đều được sinh hoạt trong các cấp ủy, phổ biến đến tận chiến sĩ theo mức độ khác nhau. Các đợt giáo dục và sinh hoạt đều tập trung vào xây dựng ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết hiệp đồng, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Trong quá trình chiến đấu, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị nhanh chóng phát hiện và uốn nắn những nhận thức tư tưởng không đúng, như sau đợt 1 xuất hiện tư tưởng chủ quan, khinh địch, thiếu cảnh giác. Nhờ vậy, tư tưởng, quyết tâm của bộ đội được giữ vững, hiệu suất chiến đấu được nâng cao, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu. Bộ đội pháo binh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, tình hình tư tưởng, quyết tâm của bộ đội từ ngày nổ súng đến khi kết thúc chiến dịch được giữ vững và phát huy, các biểu hiện tiêu cực hầu như không có, xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các đơn vị công binh cầu đường, dù bị địch đánh phá ác liệt, thương vong nhiều, khí tài hư hỏng, giảm sút, nhưng mọi nhiệm vụ được giao đều hoàn thành kịp thời theo đúng yêu cầu, mọi tuyến giao thông trên bộ đều thông suốt; cán bộ không có hiện tượng thoái thác nhiệm vụ. Sư đoàn bộ binh 308 tiến công cụm cứ điểm Đông Hà - Lai Phước bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng trong thời gian gấp, lại chưa có kinh nghiệm đánh cứ điểm trung tâm phòng ngự của địch, quân số hao hụt chưa được bổ sung, nhưng Sư đoàn đã làm tốt công tác chuẩn bị, kịp thời động viên bộ đội vượt qua khó khăn, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Vận dụng bài học kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong Chiến dịch Trị - Thiên vào công tác xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay, cần đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy đủ hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”(4). Nghị quyết nêu rõ, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc trong xây dựng quân đội. Để thực hiện xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tiếp tục xây dựng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc trong quân đội. Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, các cơ quan vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội, thực hiện nghiêm, có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các cơ quan, đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và phát huy vai trò, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải kịp thời phát hiện, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa” quân đội. Tích cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vận dụng nghệ thuật quân sự phù hợp, sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ các chủ trương, biện pháp giáo dục, huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

 

Hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường theo tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hiện nay, đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, với những thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen. Tình hình đó đặt ra yêu cầu tiếp tục vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh để có những phương hướng, biện pháp nhằm góp phần hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phát triển mạnh mẽ, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới là hệ thống các quan điểm mang tính định hướng sâu sắc về sự thay thế cái cũ bằng cái mới tiến bộ, từ nhận thức mới để đổi mới đường lối, chính sách, phương thức hoạt động và tổ chức lực lượng thực hiện trong điều kiện một nước Việt Nam lạc hậu, kém phát triển, với mục tiêu xây dựng đất nước trở thành một quốc gia độc lập, tự cường, tiên tiến, phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, tư duy về lý luận và động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhất là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội phát triển thay thế lẫn nhau, từ bậc thấp lên bậc cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tính tất yếu về sự tiến bộ của xã hội loài người: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(1). Trong quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn coi trọng vai trò của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, của các nhân tố kinh tế, động lực lợi ích đối với sự phát triển. Người đặc biệt quan tâm và nỗ lực thực hiện việc giải phóng lực lượng lao động, nhằm tạo ra động lực quan trọng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng việc bảo đảm công bằng trong phân phối lợi ích dựa trên nguyên tắc: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”(2). Người kêu gọi phải chống chủ nghĩa cá nhân, vì đó là “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội”, nhưng không được giày xéo lên cá nhân, mà phải tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân. Sự ưu việt của chế độ mới là mỗi người đều được thụ hưởng những thành quả cách mạng một cách công bằng, hợp lý mà thể chế mang bản chất tốt đẹp do “dân là chủ” và “dân làm chủ” mang lại. Nhưng, để xây dựng và phát triển đất nước, theo Người, cần phải phát huy tối đa động lực lợi ích (trước mắt và lâu dài, vật chất và tinh thần, chính đáng và công bằng trong xã hội). Vì vậy, Người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” nhằm chăm lo, phát huy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước; đồng thời, chú trọng xây dựng nền dân chủ trong chính trị và trong xã hội, bởi dân chủ có thực chất thì mới tạo ra đoàn kết thực chất và đồng thuận thực chất.

Thứ hai, tư duy về tổ chức và thiết chế xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có tư duy mới về sự ra đời, tầm quan trọng và bản chất của tổ chức lãnh đạo cách mạng. Người cho rằng: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). Việc xuất hiện một đảng kiểu mới ở Việt Nam xuất phát từ quá trình nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận về quy luật ra đời của Đảng, là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người nói rõ về bản chất, bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc của Đảng. Trách nhiệm cao cả của Đảng là phải có đường lối, chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo “để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”. Đảng phải thật sự trong sạch, đoàn kết và “thanh khiết từ to đến nhỏ” thì mới có thể lãnh đạo được nhân dân và cách mạng “nhất định thắng lợi”. Đảng phải thực hiện tốt những nguyên tắc hoạt động, như tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình, hoạt động theo đúng pháp luật; có tinh thần đoàn kết, kỷ luật, thống nhất,... Đặc biệt, công tác bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên là “công việc gốc của Đảng” để làm cho Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” và đổi mới phải bắt đầu từ Đảng. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với phòng, chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, vì Đảng “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, mà phải vì “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xét về bản chất thì Nhà nước ta là Nhà nước kiểu mới, thể hiện tính dân chủ nhân dân và phục vụ lợi ích của dân tộc. Nhà nước phải thực sự “phục vụ nhân dân”, tôn trọng và bảo đảm các quyền công dân, quyền con người. Nhà nước có hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân và điều hành, quản lý xã hội một cách nghiêm minh, công bằng, kỷ cương. Như vậy, từ rất sớm, Người đã có tư duy mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Thứ ba, tư duy về sức mạnh của đổi mới là nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đổi mới là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, nhưng phải theo phương châm bắt đầu từ con người, vì con người, do con người và trở về với con người. Người khẳng định: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân(4). Có lực lượng dân chúng thì việc to tát mấy, khó khăn đến đâu cũng giải quyết được. Công cuộc đổi mới phải dựa chắc vào đồng bào, phải học - hỏi - hiểu dân chúng, “theo đúng đường lối dân chúng”, “sao cho được lòng dân”; từ đó, mang tài dân, sức dân, kinh nghiệm và sáng kiến của dân để làm lợi cho nhân dân trong sự nghiệp đổi mới.

Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi cần phải đại đoàn kết rộng rãi toàn dân thành một khối thống nhất, bền vững và lớn mạnh trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Do vậy, Người đặc biệt đề cao phương pháp đoàn kết “hết thảy”; tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, cảm hóa, thậm chí còn phải “khoan hồng đại độ” với những người “thế này hay thế khác”, kể cả những người lầm đường lạc lối. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, bảo đảm hài hòa quyền lợi các giai tầng, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Người khẳng định: “Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”(5). Đây là chủ trương sáng tạo, thể hiện tư duy mới, nhạy bén và phù hợp với thực tiễn đất nước ta.

Thứ tư, tư duy về chiến lược “trồng người” và phát triển nguồn lực con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp phải chú trọng đẩy mạnh “sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”. Người khẳng định: “Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”(6). Con người phải được đào tạo, giáo dục và rèn luyện về mọi mặt để có tài và có đức; phải làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của xã hội. Theo đó, cần đẩy mạnh giáo dục toàn diện để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có tri thức, trình độ, trở thành động lực phát triển trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; gắn việc học tập với thực hành, phát huy nhân tố con người, nhằm rèn luyện, bồi dưỡng, đào tạo ra những con người tốt, cán bộ tốt, đóng góp quan trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị vững vàng, có đủ chuyên môn để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Thứ năm, tư duy về phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm phát triển kinh tế, nhằm bảo đảm lợi ích thiết thực cho mỗi người dân; cho nên, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các cấp thực hiện ngay những việc làm cho dân có ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh,... Xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là hướng đến việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động. Việc thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống của nhân dân cũng là cơ sở quan trọng để xây dựng đường lối, kế hoạch và cách thức tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu để phát triển kinh tế bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất xã hội, giải phóng sức lao động, huy động nguồn vốn và công nghệ hiện đại, tạo ra năng suất cao. Ngay từ thời kỳ đầu xây dựng chế độ xã hội mới, Người đã có chủ trương: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình,... Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”(7). Người định hướng con đường Việt Nam phải đi là “con đường công nghiệp hóa nước nhà”, mở cửa hợp tác tạo ra cơ hội lớn để có thể kiến thiết quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào hoạt động sản xuất. Công nghiệp hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động lãnh đạo và quản lý kinh tế ở các đơn vị, mà khâu then chốt phải chú trọng là “đẩy mạnh quản lý xí nghiệp và cán bộ, công nhân phải thạo kỹ thuật; các cơ quan lãnh đạo thì phải đi sâu đi sát, phục vụ sản xuất”(8); theo đó, tiết kiệm là yêu cầu bắt buộc trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển kinh tế; không chỉ tiết kiệm về của cải, tiền bạc, thời gian, sức lực (sức dân), mà còn phải thực hiện tiết kiệm cả trong tiêu dùng hằng ngày.

Chính phủ có vai trò quan trọng trong xây dựng cơ chế, chính sách, xác lập và duy trì hệ thống các nguyên tắc quản lý kinh tế và tạo ra các “đòn bẩy” kích thích sự phát triển kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, việc quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp, đều phải có lãi. Cái gì ra, cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ, hoãn, hay bỏ, món nào đáng tiêu, người nào đáng dùng, tất cả mọi thứ đều phải được tính toán cẩn thận. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người chủ trương xây dựng nền kinh tế với các hình thức sở hữu chính: “Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Sở hữu của người lao động riêng lẻ. Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”(9). Người tổng kết, trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: “A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)”(10). Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế chứa đựng tư duy mới, hiện đại, khoa học và cách mạng, có ý nghĩa thời sự và giá trị định hướng sâu sắc đối với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường

Thành tựu của hơn 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta, trên cơ sở quán triệt, vận dụng tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thời gian tới, Đảng và dân tộc ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng đổi mới của Người nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc trên những phương diện chủ yếu sau:

Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm và tính chất của thời đại mới.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đại dịch COVID-19 đã làm cho thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về nhiều mặt; đất nước ta đang đứng trước cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết. Bối cảnh đó đòi hỏi phải có sự đột phá, đổi mới tư duy một cách toàn diện, đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trên cơ sở đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là phải coi trọng tổng kết thực tiễn, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và nâng tầm tư duy lý luận, tạo thế đột phá để phát triển đất nước trên cơ sở kiên định đường lối đổi mới, kế thừa và phát triển, chú trọng cả chiến lược và sách lược. Vì vậy, tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành bài học quý báu, “kim chỉ nam” cho Đảng ta và dân tộc ta trong việc đánh giá đúng thực tiễn và hoạch định đường lối, chính sách phù hợp, góp phần củng cố và phát triển cơ sở lý luận về đường lối đổi mới.

Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc trong nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng”(11). Thực tiễn đã chứng minh, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan; theo đó, việc đổi mới tư duy để phát triển là rất quan trọng, vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu to lớn mà nhân loại đã đạt được trong hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là các thành tựu về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng và phát triển nền kinh tế hiện đại.

Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm, 10 năm tới và tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, có vấn đề mang tính hệ trọng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(12). Thực hiện các mục tiêu đó phải trên tinh thần kế thừa, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận của Đảng, nhưng vẫn phải giữ vững những nguyên lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận giải về bản chất của Đảng, về phương thức lãnh đạo của Đảng và hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong những năm tới, Đảng phải đặc biệt coi trọng và “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(13); ban hành những nghị quyết, chỉ thị đáp ứng tiêu chí phù hợp giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, đáp ứng niềm tin của nhân dân đối với Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị; phát huy, đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện mới.

Quá trình đổi mới tư duy, bổ sung, hoàn chỉnh cả về lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được xác định ngày càng rõ ràng hơn. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, sửa đổi, điều chỉnh tổ chức, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý của Nhà nước. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật; bảo đảm quyền lực “đều ở nơi dân”, tránh lạm quyền, độc quyền, lộng quyền. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “đặc quyền”, “đặc lợi”, “tham ô, lãng phí, quan liêu” và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực, coi đây là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn mới.

Ba là, tiếp tục phát huy dân chủ và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong quá trình đổi mới, xã hội càng phát triển thì đòi hỏi dân chủ ngày càng được tôn trọng và thực hiện hiệu quả. Do vậy, Đảng, Nhà nước luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”; phát huy vai trò dân là chủ và dân làm chủ, phải đẩy mạnh thực hành dân chủ trong hoạt động chính trị và trong đời sống xã hội một cách thực chất, phát huy dân chủ đến cao độ. Tuy nhiên, dân chủ phải đi liền với bảo đảm trật tự, kỷ cương, tuân thủ pháp luật; vì vậy, dân chủ trong điều kiện mới phải thể hiện trong các thiết chế và trong mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và của xã hội. Để tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” được tiếp tục phát huy hiệu quả, cần thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đi đôi với cụ thể hóa, công khai hóa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước làm cho nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng trên thực tế.

Theo đó, để xây dựng xã hội “dân giàu” thì phải bảo đảm “dân sinh”; Đảng, Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, nhất là tập trung nâng cao dân trí và từng bước nâng cao đời sống, thu nhập của nhân dân để giữ vững ổn định và tạo điều kiện phát triển; giảm thiểu sự thiếu đồng bộ, chênh lệch giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng, đô thị; thực hiện giảm nghèo bền vững. Cần có biện pháp để huy động “tài dân”, “sức dân”, khuyến khích phát triển kinh tế cá thể và hộ gia đình; có chính sách thu hút mọi nguồn lực từ đồng bào Việt Nam ở nước ngoài là những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần tập trung thực hiện tốt trong thời kỳ mới.

Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo, tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Thực hiện chiến lược “trồng người”, cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò là động lực then chốt để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người”(14). Đảng và Nhà nước ta tiếp tục ban hành những quan điểm chỉ đạo, giải pháp đồng bộ và toàn diện về phát triển giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn lực con người trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Trong phát triển nguồn nhân lực, cần chú trọng gắn kết 3 khâu đào tạo, sử dụng, đãi ngộ; theo đó, đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế. Phải thực hiện xã hội hóa việc học tập; đồng thời, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở để nâng cao trình độ nguồn nhân lực toàn diện. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là lao động ở nông thôn; có cơ chế tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chú trọng, tăng cường hơn nữa việc phát hiện, bồi dưỡng, có chế độ đãi ngộ, thu hút sử dụng nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội. Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động.

Năm là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - lĩnh vực đột phá của đổi mới.

Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước cần đổi mới tư duy, bộ máy và phương thức quản lý, điều hành, hoạch định cơ chế, chính sách để thích ứng kịp thời với sự thay đổi có tính cách mạng về khoa học - công nghệ, đòi hỏi sự đổi mới sáng tạo...; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có trí tuệ, có trình độ, có sức khỏe, sáng tạo, năng động. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; phấn đấu “Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(15).

Xác định rõ nội dung, bản chất và các bước tuần tự trong phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế; tập trung phát triển những ngành công nghiệp then chốt để phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô,... đó chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng phát triển kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Trong quản lý kinh tế và phát triển kinh tế cần tuân thủ sự kết hợp giữa xây dựng mới và cải tiến, nâng cấp công nghệ hiện có; kết hợp các loại hình công nghệ từ thô sơ đến trung bình; đồng thời, phải mạnh dạn ứng dụng công nghệ hiện đại trong từng hạng mục (từ đơn lẻ đến đồng bộ) để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, theo tiêu chuẩn, có sức cạnh tranh cao. Đây được coi là khâu đột phá “đi tắt, đón đầu” của Việt Nam để bắt kịp với tốc độ phát triển hết sức nhanh chóng trên thế giới.

Chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, với tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng đạt nhiều kết quả, góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu mới vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, giàu đẹp, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam.

CỨ PHẢI CỤ THỂ

 

Những chuyện khác, việc khác thì tôi biết, mà đã không biết thì không nói. Riêng cái khoản ông Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, khi ông truy vấn các “nhà giám sát” của Quốc hội, rằng khi nói về tình trạng chậm tiến độ các đồng chí chỉ nói chậm, chậm bao lâu – 6 tháng hay một năm? Hơn nữa không phải thời gian chậm tiến độ của dự án nào cũng như nhau, ít nhiều khác nhau chứ?

Thậm chí có lúc ông Huệ còn bảo, hình như nội dung các báo cáo thẩm tra của năm trước với năm nay gần giống nhau, điểm khác nhau là thời gian lập báo cáo (!). Đã gần hết nửa năm rồi mà vẫn còn 14 bộ và địa phương không xài đồng vốn “đầu tư công” nào, song các bộ có liên quan cũng không trả lời được vì sao lại thế?

Cho nên một khi đã đi làm quản lý, thì phải cụ thể, phải minh bạch, đúng sai phải rõ ràng, trách nhiệm phải chỉ rõ người và tổ chức liên quan. 

Hàng ngày tôi cũng chịu khó đọc – đọc từ sách vở, từ những bài viết trên mạng xã hội, cố gắng mỗi bài đều có số liệu chứng minh và địa chỉ nguồn tư liệu. Tôi thật ái ngại và lúng túng mỗi khi đọc được bài viết hay comments của ai đó, chỉ nói chung chung. Kiểu như “tham nhũng tràn lan, không biết xã hội này sẽ đi đến đâu!”. Thảm thương quá! 

Cái gì thuộc bí mật quốc gia thì thường dân như mình không được phép biết, chứ cái khoản cản bộ thoái hóa, biến chất, tham ô tham nhũng thì đã có số liệu công khai. Cứ sau mỗi buổi họp của Ủy Ban Kiểm tra TW (tôi gọi là Phủ Khai phong) đều có chỉ mặt, đặt tên rõ ràng. Cho đến nay đã có 90.000 đảng viên cộng với 44 tướng lãnh bị kỷ luật nặng nhẹ khác nhau. Thế rồi cũng có hàng chục ông Ủy viên Ban chấp TW bị kỷ luật, có ông Chủ tịch tỉnh nọ, bí thư tỉnh thành kia bị khởi tố. Đó là những số liệu cụ thể, chứ đâu phải cứ nói chung chung cho thêm phần rắc rối? Đâu chỉ có thế, một khi nói chung chung lại có tính chất hướng dẫn dư luận. Làm như thế, thực ra là làm cho xã hội thêm rối loạn chứ không giải quyết  được gì.


Tệ nạn tham ô, tham nhũng, tiêu cực còn tồn tại nữa không? Chắc chắn là còn. Nếu không, người ta đã giải thể cái “Phủ Khai phong” trên cao, chẳng những không giải thể mà còn lập thêm 63 chi nhánh “Phủ Khai phong” ở các tỉnh, thành phố nữa. Cho nên ai đó bảo rằng, nhà nước buông lỏng cho công chức tham nhũng là không đúng. Và ai đó nữa mong sẽ tiêu diệt những kẻ tham nhũng, lại là một ý kiến mang nặng tính duy tâm. 

Nếu bạn đã đọc bài tôi viết có tựa đề “Con hổ và con mèo” thì bạn thấy, không bao giờ có một xã hội đồng nhất – về niềm tin, về sự yêu ghét, về tham lam và liêm chính, về sự thừa nhận và không thừa nhận (luật pháp, thể chế và con người lãnh đạo cụ thể), thậm chí cả về chế độ sở hữu nữa.

Kinh nghiệm của tôi, tôi mở file có tên “NOTE” trong máy tính, mỗi lần tìm được một thông tin, một số liệu hay một dữ kiện là tôi lưu vào đó. Bài viết cần đến đâu thì mở ra mà dẫn chứng, tham khảo. Ấy, có khi đó cũng là cái tật của người già. Tật gì? Tật hay quên nên mới phải lưu./.