Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

Xây dựng nguồn cán bộ kế cận quan trọng của Đảng

 Xây dựng nguồn cán bộ kế cận quan trọng của Đảng

16:36' 25/6/2022

Sáng 25-6, Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị gặp mặt các đồng chí Uỷ viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng khoá XIII. Đồng chí Võ Văn Thưởng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và đồng chí Trương Thị Mai, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chủ trì Hội nghị.




Toàn cảnh Hội nghị

Đại hội XIII của Đảng đã bầu 20 đồng chí làm Uỷ viên Trung ương dự khuyết khoá XIII. Theo đó có 19 đồng chí tham gia lần đầu, 1 đồng chí tái cử (trong đó có 1 đồng chí là cán bộ nữ, 3 đồng chí là người dân tộc thiểu số; 7 đồng chí công tác tại các cơ quan Trung ương và 13 đồng chí công tác tại địa phương). Độ tuổi bình quân đầu nhiệm kỳ khoá XIII là 43,7 tuổi.

Thời gian qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp uỷ, tổ chức đảng đặc biệt quan tâm, coi trọng công tác xây dựng và chuẩn bị đội ngũ Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng nhằm tạo nguồn cán bộ trẻ kế cận lâu dài cho Đảng. Đến thời điểm hiện nay, 100% các đồng chí công tác ở địa phương đã tham gia BTV tỉnh, thành uỷ và 100% các đồng chí công tác ở Trung ương đều là cấp thứ trưởng và tương đương. Sau hơn 1 năm tham gia Trung ương, nhiều đồng chí qua hoạt động thực tiễn đã thể hiện được phẩm chất, năng lực công tác của mình, tham gia lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết có hiệu quả một số nhiệm vụ, công việc khó, mới, phức tạp; bước đầu tạo được niềm tin, uy tín đối với cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

Phát biểu tại Hội nghị gặp mặt, các Uỷ viên Trung ương dự khuyết chia sẻ cảm nhận của mình trong thực tiễn công tác từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đồng thời bày tỏ niềm vinh dự khi được gặp mặt các đồng chí lãnh đạo cấp cao để chia sẻ tâm tư, cảm nghĩ và được “truyền lửa”.

Tại đây, các Uỷ viên Trung ương dự khuyết cũng đề xuất việc được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về công tác xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Đồng thời mong muốn Trung ương, cấp uỷ, tổ chức đảng tiếp tục tạo điều kiện môi trường công tác, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và phân công, bố trí công tác nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Các đồng chí Uỷ viên Trung ương dự khuyết phát biểu

Bên cạnh đó, các đồng chí Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng khoá XIII cũng cam kết tiếp tục phấn đấu, rèn luyện bản lĩnh chính trị, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống; chủ động trong việc học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng lãnh đạo, quản lý điều hành, đóng góp có hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Võ Văn Thưởng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đánh giá đây là hoạt động có ý nghĩa và rất vinh dự đối với các Uỷ viên dự khuyết khoá XIII khi được chia sẻ tâm tư, cảm nghĩ, những việc mình đã làm và chưa làm được.

Chia sẻ trải nghiệm của chính mình khi từng là 1 trong số 25 Uỷ viên Trung ương dự khuyết khoá X, đồng chí Võ Văn Thưởng cho biết, lần đầu tiên tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ nhất tại Đại hội X, Tổng Bí thư có chia sẻ đây là Hội nghị đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương nên có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh của Đảng và đất nước. Lúc đó, bản thân đồng chí Võ Văn Thưởng tự cảm thấy trách nhiệm nặng nề, lớn lao của mình và tự nhắc nhở bản thân phải nỗ lực, cố gắng xứng đáng với trọng trách được giao.

Qua ý kiến phát biểu, các Uỷ viên dự khuyết đều thể hiện mong muốn được quan tâm, tạo điều kiện để trưởng thành, tiến bộ. Đồng chí Võ Văn Thưởng nhận định đây là nguyện vọng chính đáng. “Trung ương luôn mong muốn các Uỷ viên dự khuyết tiến bộ và đó cũng là trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng. Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh của Đảng, của chế độ, của đất nước”, đồng chí Võ Văn Thưởng cho biết.

Đồng chí Võ Văn Thưởng đánh giá, việc bắt đầu thực hiện lại chế độ Uỷ viên dự khuyết từ khoá X đã thể hiện mong muốn đó, nhằm tạo ra được nhiều lớp cán bộ trẻ cho Đảng.

Đồng chí Thường trực Ban Bí thư mong muốn bản thân mỗi đồng chí Uỷ viên Trung ương dự khuyết hôm nay phải không ngừng nỗ lực, rèn luyện để tiến bộ về mọi mặt. Trong công việc luôn băn khoăn, trăn trở tìm cách giải quyết, tháo gỡ khó khăn, nỗ lực tự học, tự rèn luyện. Đặc biệt, người cán bộ trẻ phải thẳng thắn, rèn luyện viết lách, nói năng, nghiên cứu đọc cương lĩnh, nghị quyết, tìm hiểu lịch sử đảng, lịch sử dân tộc. Trong ứng xử đồng chí đồng đội có trước có sau, tình nghĩa, giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân.

Đồng chí Võ Văn Thưởng chia sẻ kinh nghiệm và gửi gắm niềm tin đối với lớp cán bộ trẻ quan trọng của Đảng

Có ý kiến bày tỏ sự băn khoăn, lo lắng khi một số cán bộ thời gian gần đây vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đặt ra câu hỏi "năng động, sáng tạo có mâu thuẫn với việc chặt chẽ không?" hay "dám nghĩ, dám làm liệu có dễ dẫn tới sai phạm không?".

Giải đáp vấn đề này, đồng chí Võ Văn Thưởng cho biết, thời gian qua, những vụ sai phạm của cán bộ bị xử lý kỷ luật nhìn dưới góc độ tích cực, đó là bài học quý giá đối với bản thân mỗi người cán bộ, để mình kỹ lưỡng, chỉn chu hơn trong công tác chứ không phải né tránh, không làm.

Đồng chí Võ Văn Thưởng đề cập đến việc người cán bộ phải “giữ mình” cho đúng. Tuy nhiên, không phải việc giữ mình tròn vo, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, mà là phải giữ mình tránh xa thói hư tật xấu, cám dỗ hằng ngày để trở thành người cán bộ chặt chẽ, chỉn chu, kỹ lưỡng hơn.

Đồng chí Thường trực Ban Bí thư mong các đồng chí cán bộ trẻ khi được Đảng giao nhiệm vụ thì hăng hái đảm nhận, đồng thời không ngừng tiến bộ. “Tiến bộ không phải đo lường bằng chức vụ mà tiến bộ về bản lĩnh, nhận thức, kiến thức, bằng sự vững vàng trong công việc”, đồng chí Võ Văn Thưởng nhấn mạnh.

Phát biểu kết luận tại Hội nghị, đồng chí Trương Thị Mai, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đánh giá đây là lớp cán bộ trẻ tiệm cận với những công việc cao của Đảng.

Đồng chí Trương Thị Mai cho biết Ban Tổ chức Trung ương có trách nhiệm trong việc theo dõi, hỗ trợ các đồng chí Uỷ viên dự khuyết trong quá trình phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành và tham mưu cho Đảng đội ngũ kế cận xứng đáng.

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương cho biết, vấn đề của Uỷ viên Trung ương dự khuyết luôn được Đảng hết sức quan tâm, ngay từ Đại hội II. Nhiều đồng chí Uỷ viên dự khuyết qua quá trình phấn đấu đã giữ những chức vụ lãnh đạo chủ chốt của Đảng như các đồng chí: Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng… Đây là những tấm gương để các đồng chí trẻ nỗ lực, phấn đấu.

Đồng chí Trương Thị Mai cho biết, tất cả kinh nghiệm của lớp cán bộ đi trước là bài học quý giá với lớp cán bộ trẻ. Bản thân mỗi người cán bộ lớp sau phải cố gắng nỗ lực không vấp phải những gì lớp cán bộ đi trước đã vấp và phải làm tốt hơn những gì lớp cán bộ đi trước đã làm.

Đồng chí Trương Thị Mai mong muốn lớp cán bộ trẻ không ngừng nỗ lực cố gắng

“Điều quan trọng vẫn nằm ở nhân cách, phẩm chất, đạo đức. Càng trẻ càng phải nghiêm khắc với bản thân mình. Đảng luôn mong muốn có lớp trẻ kế cận đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, đồng chí Trương Thị Mai nhấn mạnh.

Đồng chí Trương Thị Mai mong muốn những cán bộ dự khuyết hôm nay, trong tương lai sẽ vững vàng trở thành những uỷ viên chính thức và giữ vị trí quan trọng trong Đảng, xứng đáng với niềm tin, sự tin tưởng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Trung ương giao phó. “Làm sao để đi hết trọn vẹn cuộc đời với Đảng, không thể đi giữa chừng rồi "bật" ra ngoài. Điều đó là phụ công rèn luyện, chăm lo của Đảng. Nhân dân sẽ vui khi Đảng có những người cán bộ tốt. Làm sao để Nhân dân sẽ tin tưởng, ủng hộ đội ngũ cán bộ trẻ mà Đảng sắp xếp, đào tạo, bồi dưỡng”, đồng chí Trương Thị Mai nhắc nhở lớp cán bộ trẻ kế cận của Đảng.

Đoàn đại biểu tham dự Hội nghị chụp ảnh lưu niệm

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là từ trong mỗi cá nhân

 


 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là quá trình thay đổi lập trường tư tưởng, mục tiêu, ý chí, bản chất cách mạng của người cộng sản. Là quá trình từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, từ bỏ lợi ích giai cấp và lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích cá nhân làm trọng. Hay nói một cách khác, “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” là quá trình thay đổi về chất cộng sản trong mỗi cá nhân. Khi cá nhân ấy giữ vị trí nhất định trong bộ máy, nó sẽ làm thay đổi hệ tư tưởng của cả một tổ chức. Trong thực tế cách mạng Việt Nam hiện nay, đó chính là sự thay đổi trong quan điểm, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Sự thay đổi này đưa tới những hành động đi ngược lại, thậm chí chống lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự suy thoái từ bên trong, là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi cá nhân theo chiều hướng đi ngược lại lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc. Chủ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ là cán bộ, đảng viên mà ở tất cả mọi cá nhân. “Tự diễn biến” là quá trình thẩm thấu từng ngày, từng hoạt động của các chủ thể. “Tự chuyển hóa” là đích đến, là hệ quả của “tự diễn biến” của mỗi cá nhân, tổ chức. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Do đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi cá nhân đều có tác động, ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến sự phát triển của mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Ngày 30 tháng 10 năm 2016, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết đã chỉ rõ, nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; về đạo đức lối sống; về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ở 3 nội dung chính, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mỗi nội dung trong Nghị quyết chỉ rõ có 9 biểu hiện nhận biết. Một vấn đề đặt ra là: Nguyên nhân chính từ đâu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi cá nhân?

Trong thế giới vật chất, bất cứ một sự vật, hiện tượng nào xảy ra đều có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Song, nguyên nhân khách quan chỉ đóng vai trò quan trọng; nguyên nhân chủ quan mới giữ vai trò quyết định. Những tác động khách quan chỉ tác động, ảnh hưởng, nhưng chủ quan, chính bản thân chịu sự tác động ấy mới là yếu tố quyết định sự tác động đó ảnh hưởng đến tư tưởng, nhận thức, hành vi của chính cá nhân đó như thế nào.

Vậy, quá trình ấy diễn biến ra làm sao? Đấy chính là quá trình chỉ diễn ra ở tự chính bản thân mỗi cá nhân. Từ những yếu tố khách quan do sai lầm trong thực hiện các chính sách xây dựng chế độ xã hội từ các nước có chung nền tảng tư tưởng. Những khó khăn trong đời sống; những tiêu cực của một bộ phận cán bộ về phẩm chất, đạo đức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, chức trách được giao. Do việc thiếu quan tâm, buông lỏng trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra, giám sát, quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đối với mỗi cá nhân. Từ nhận thức không đầy đủ, sai lệch; không phân biệt được đúng, sai, để các đối tượng thù địch, chống đối lôi kéo, chệch hướng về tư tưởng, ý chí, bản lĩnh, phẩm chất. Bắt đầu từ nhận thức sai, từng bước dẫn đến phai nhạt lý tưởng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu của giai cấp, dân tộc; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào hệ tư tưởng nền tảng của Đảng. Từ đó, xa rời tôn chỉ, mục đích; không kiên định con đường giai cấp và dân tộc đã lựa chọn; “nói theo” phụ họa cho những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Từ nhận thức sai trái đó, không chấp hành nghiêm các nguyên tắc của tổ chức; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; “dĩ hòa vi quý”, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích giai cấp, dân tộc.

Nói như thế để thấy rằng, tất cả bắt đầu từ nhận thức rồi từ đó, cá nhân tự đánh mất bản lĩnh, ý chí, mục tiêu, những phẩm chất nội tại trong mỗi cá nhân. Nếu bản lĩnh vững vàng, giữ vững ý chí, lập trường, kiên định mục tiêu thì dẫu tác động khách quan bên ngoài có như thế nào vẫn không thể dẫn đến sự diễn biến, chuyển hóa của bản thân. Sự nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cá nhân đó giấu sau vỏ bọc người của tổ chức, của chính quyền hay “trong vai người hiểu biết” rồi như “vết dầu loang”, tác động đến các cá nhân khác xung quanh.

Tất cả những thay đổi về xa rời tư tưởng, bản lĩnh, ý chí, mục tiêu đều tự bản thân của mỗi cá nhân. Trước những diễn biến phức tạp, tư tưởng phải vững vàng; trước những tác động xấu, bản lĩnh càng phải cao; trước thách thức, ý chí càng phải lớn và trước khó khăn, mục tiêu càng phải kiên định. Đây không chỉ là yêu cầu tính chiến đấu, chất cách mạng, mà đó còn là sự tự “miễn dịch” với những gì tác động xấu, khách quan từ bên ngoài. Đó là quá trình tự rèn luyện, tự ý thức, tự xây dựng bản lĩnh, nhân cách với quyết tâm cao, là sự khẳng định sự đúng đắn từ nhận thức đến hành động của người cách mạng chân chính.

THỦ ĐOẠN MỚI CHỐNG PHÁ VIỆT NAM TRÊN LĨNH VỰC ĐỐI NGOẠI

 


Một trong những thủ đoạn mới được các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh thực hiện trong thời gian tới là tăng cường lái các hoạt động ngoại giao của Việt Nam theo ý đồ của chúng. Thông qua ngoại giao chính thức để tiếp cận nhiều hơn, sâu hơn, thực hiện “chuyển hóa” Việt Nam từ bên trên, nhất là thực hiện hỗ trợ cho những người được coi là “có tư tưởng thân phương Tây”, từ đó tạo ra những đột biến trong “tự chuyển hóa”. Thực hiện mưu đồ này, các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh hơn nữa những hoạt động đối ngoại với các hình thức giao lưu, trao đổi, tiếp xúc trong nhiều lĩnh vực để quảng bá hình ảnh “ngoại giao thân thiện” kiểu phương Tây, và qua các hình thức này để thực hiện việc tiếp cận sâu hơn, xâm nhập ngầm bằng các thủ đoạn tình báo để “chuyển hóa” Việt Nam.

Song song với việc tăng cường hợp tác nhiều mặt để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam, các thế lực thù địch còn thực hiện can dự, chống phá chính sách đối ngoại của Việt Nam, cản trở trắng trợn các đối tác đang làm ăn và sẽ đến đầu tư ở Việt Nam, làm cho họ sợ, không dám đến, không dám làm ăn, hợp tác lâu dài ở nước ta. Chúng tìm mọi cách hòng làm cho Việt Nam bị mất cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước lớn, kích động gây mâu thuẫn quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng và ASEAN, tiếp tục lợi dụng vấn đề Biển Đông để lôi kéo và kích động chia rẽ quan hệ Việt - Trung, thổi phồng nguy cơ, mối đe dọa từ phía Trung Quốc đối với Việt Nam, đẩy Việt Nam lên tuyến đầu chống Trung Quốc. Trong đó, Mỹ và các thế lực thù địch sẽ gia tăng kích động tư tưởng “thoát Trung, ngả Mỹ”, tích cực tuyên truyền rằng, Trung Quốc đã trở thành mối đe dọa đối với Việt Nam, vì vậy, Việt Nam cần tìm cho mình một người bạn đúng nghĩa, một đồng minh có vị thế và sức mạnh như Mỹ để chống lại sự chèn ép của Trung Quốc. Ngoài ra, Mỹ sẽ tiếp tục thúc đẩy nâng quan hệ với Việt Nam lên tầm “Đối tác chiến lược” nhằm lợi dụng vị thế, vai trò của Việt Nam để củng cố vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á; lôi kéo Việt Nam phục vụ chiến lược bao vây, kiềm chế, ngăn chặn Trung Quốc; tạo môi trường thuận lợi hơn để thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình” chuyển hóa Việt Nam, đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Cùng với đó, các thế lực thù địch đã, đang và tiếp tục cố tình tìm mọi cách, bằng mọi giá để phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào, chia rẽ quan hệ Việt Nam - Campuchia, quan hệ đối tác chiến lược Việt - Trung, Việt - Nga,… Lợi dụng việc nước ngoài gia tăng các hoạt động quân sự, bồi đắp trái phép các đảo nhân tạo trên Biển Đông thuộc quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam, các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền kích động, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, lôi kéo và yêu cầu Việt Nam ngả về phía Mỹ và phương Tây, đòi Đảng, Nhà nước ta từ bỏ quan điểm “ba không”: Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước thứ hai để chống lại nước thứ ba./.NVS

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 28 THÁNG 6 NĂM 1957!

     “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.

              Là nội dung huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục, họp tháng 6 năm 1957.

           Theo Bác, trong giáo dục cần làm cho học sinh biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ cho học sinh luôn được vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, trẻ trung của tuổi thơ, được hưởng quyền dân chủ, được vui chơi và học hành tiến bộ, mang lại cho trẻ em niềm hạnh phúc khi được sống cùng cha mẹ. Để làm được điều đó, giáo dục gia đình giữ vai trò rất quan trọng.

             Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về tầm quan trọng của gia đình, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước, luôn xác định gia đình là tế bào của xã hội. Ngày 28 tháng 6 năm 2000, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg, chọn ngày 28 tháng 6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam, nhằm đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Ngày Gia đình Việt Nam là dấu mốc quan trọng để những con người đất Việt hướng về cội nguồn, về những người thân yêu, qua đó nuôi dưỡng tình cảm đẹp, những giá trị văn hóa cao quý của dân tộc. Cho dù có đi đâu, làm gì, gia đình vẫn là nơi để nhớ, để yêu thương và để quay về.

             Hoạt động của Quân đội là loại hình lao động đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ cơ bản sống xa gia đình, gắn bó với đơn vị; do vậy, với mỗi người lính gia đình luôn có vị trí đặc biệt trong tâm tư, tình cảm và trách nhiệm của mỗi người. Để xây dựng được tinh thần đoàn kết đồng chí, đồng đội, gắn bó giữa bộ đội với cơ quan, đơn vị, các mô hình: “Đơn vị là nhà, cán bộ, chiến sĩ đều là anh em”, “Đảo là nhà, tàu là nhà, biển cả là quê hương”, “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”…đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân triển khai thực hiện đạt hiệu quả thiết thực đã góp phần quan trọng xây dựng tinh thần đoàn kết đồng chí, đồng đội, đoàn kết quân dân và sự gắn bó của bộ đội với cơ quan, đơn vị, hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện./.
Môi trường ST.

Tận cùng của sự tha hóa

 


Theo điều tra bước đầu của Công an TP Đà Nẵng, ông Tôn Thất Thạnh, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Đà Nẵng (CDC Đà Nẵng) đã chỉ đạo cấp dưới làm giả sổ sách, chứng từ để nâng khống, chuyển hóa hàng chục ngàn mẫu gộp xét nghiệm COVID-19 thành mẫu đơn. Đồng thời, biến hàng chục ngàn bộ kit được tài trợ thành bộ kit mua của Công ty Việt Á. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là hơn 4 tỷ đồng.

Hai người cùng tham gia trục lợi từ kit xét nghiệm với ông Thạnh là bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn (Trưởng Khoa Xét nghiệm ) và Lê Thị Kim Chi (nhân viên khoa Xét nghiệm thuộc CDC Đà Nẵng).

Tháng 5/2021, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định tặng bằng khen cho CDC và Sở Y tế TP Đà Nẵng do đã có thành tích trong công tác phòng, chống dịch COVID-19. Trong đợt dịch thứ hai vào năm 2020, việc gộp 5 mẫu xét nghiệm đã cho thấy lợi ích thiết thực, tiết kiệm chi phí xét nghiệm (giảm xuống còn gần 12 tỷ đồng thay vì hơn 55,4 tỷ đồng nếu xét nghiệm mẫu đơn). Năm 2021, CDC tiếp tục gộp 5 mẫu trong 1 lần xét nghiệm thành gộp 10 mẫu.

 

Trong quá trình thực hiện xét nghiệm COVID-19 tại CDC Đà Nẵng, bà Nhàn đã chỉ đạo nhân viên bớt xén các loại sinh phẩm (mua của Công ty Việt Á và các nguồn tài trợ) và báo cáo không trung thực để làm dư ra một số lượng sinh phẩm và để ngoài sổ sách. Cụ thể, đối với sinh phẩm tách chiết thủ công RNA COVID-19, quy cách đóng gói 50 kit/hộp, tương đương với 50 mẫu xét nghiệm. Do bớt xén khi sử dụng nên mỗi hộp dư ra 2-3 kit. Đối với sinh phẩm tách chiết tự động RNA, quy cách đóng gói là 960 kit/ thùng, tương ứng 960 mẫu xét nghiệm. Do bớt xén khi sử dụng nên mỗi thùng thường dư ra khoảng 192-288 kit.

Chiều 20/6, Công an TP Đà Nẵng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam 4 tháng đối với ông Tôn Thất Thạnh về tội “Tham ô tài sản”. Cơ quan điều tra cũng khởi tố bị can,bắt tạm giam 4 tháng đối với bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn; khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim Chi cùng về tội danh trên.

Đối với sinh phẩm xét nghiệm PCR COVID-19, mỗi kit tương ứng với một mẫu xét nghiệm. Trong năm 2021, CDC Đà Nẵng nhận nguồn tài trợ sinh phẩm Realtime -RT-PCR của hãng Kogene Hàn Quốc từ Công ty Phương Trang. Loại sinh phẩm này trong thực tế sử dụng 1 kit có thể chạy 2 mẫu xét nghiệm. Tuy nhiên, CDC đã báo cáo tiêu hao sinh phẩm với mỗi kit của hãng Kogene chỉ chạy một mẫu xét nghiệm, mẫu còn lại được báo cáo là chạy kit của Công ty Việt Á. Việc này làm số lượng kit Việt Á trên báo cáo tiêu hao tăng lên và dư ra một số lượng lớn kit Việt Á trên thực tế.

Cơ quan chức năng cũng cho biết thêm, tháng 7/2020, bà Nhàn đã nhờ ông Phan Quốc Việt (Tổng Giám đốc Công ty Việt Á) hợp thức hóa số kit dôi dư. Từ đề nghị của bà, ông Việt đã trao đổi với ông Thạnh xin chủ trương giải quyết số kit xét nghiệm bớt xén được bằng cách chuyển cho Công ty Việt Á. Đổi lại, Công ty Việt Á sẽ gửi tiền cho cá nhân ông Thạnh, bà Nhàn và một số người khác liên quan bằng giá trị của số hàng thực nhận. Hai bên thống nhất phương án này.

 Các đối tượng đã lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ phòng chống dịch COVID-19 để trục lợi kit xét nghiệm. Ảnh: Thanh Trần

Bà Nhàn cùng bà Lê Thị Kim Chi đã nhiều lần đi giao kit xét nghiệm dôi dư cho nhân viên Công ty Việt Á với số lượng 21.000 kit tách chiết tự động, 10.000 kit chiết tách thủ công, 2.400 kit xét nghiệm PCR và 74.500 mẫu tube rỗng 1,5ml với tổng giá trị được xác định là 4,06 tỷ đồng. Sau khi nhận được số sinh phẩm và vật tư này, ông Phan Quốc Việt chỉ đạo cho nhân viên tiếp tục bán cho TP Đà Nẵng hoặc giao cho các đơn vị có nhu cầu mua sinh phẩm của Công ty Việt Á.

Quá trình điều tra, Công an TP Đà Nẵng cũng đã phát hiện tại phòng thay đồ trong nhà vệ sinh của Khoa Xét nghiệm có một khối lượng vật tư lớn trị giá hơn 2 tỷ đồng được cất giấu tại đây. Trong khi đó, tài liệu kế toán của CDC Đà Nẵng báo cáo toàn bộ số sinh phẩm nói trên được giao cho Khoa xét nghiệm đã được sử dụng hết. Kế toán trưởng CDC Đà Nẵng xác nhận trên sổ sách không có việc CDC Đà Nẵng gửi lại hàng cho Công ty Việt Á dưới bất kỳ hình thức nào.

Hiện, Cơ quan Công an đang tiếp tục điều tra trách nhiệm của các cá nhân khác trong việc đấu thầu mua vật tư thiết bị phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại TP Đà Nẵng.

 

Nhiệm vụ, giải pháp mới để ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay

 


Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) đã  ra mục tiêu, quan điểm, trong đó có quan điểm: Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận xã hội để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Nghị quyết đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó có những nhiệm vụ, giải pháp mới sau:

Một là, hàng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

Hai là, phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Ba là, hàng năm, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; tự phê bình và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiệu quả đấu tranh, khắc phục suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là những tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên.

Bốn là, hoàn thiện quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương trong đấu tranh, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Năm là, các cấp ủy, tổ chức Đảng tăng cường công khai công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả để góp phần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Sáu là, xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có lời nói và việc làm thể hiện “tự diễn biến” nghiêm trọng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức Đảng phải chịu trách nhiệm nếu không kịp thời phát hiện hoặc phát hiện mà chậm xử lý đối với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Bảy là, tăng cường công tác dân vận của Đảng và chính quyền; phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội nhằm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.

Tám là, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.

Chín là, xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”./.NVS

Nhận thức mới về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

 


Nghị quyết đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã thảo luận và nhất trí ban hành Nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Nghị quyết có nhiều điểm mới. Bài viết này tập trung phân tích những nhận thức mới về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

1- Nhận diện rõ về biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Trong văn kiện Đại hội XI (2011), lần đầu tiên Đảng ta nhận định: “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”1. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI nhận định các thế lực thù địch thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đến Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục nhận định: “những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và sự quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp”2.

Điểm mới của Đại hội XII so với Đại hội XI đã chỉ rõ địa chỉ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhưng Đại hội XII vẫn chưa chỉ rõ biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là gì. Chính vì thế, việc kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 chưa chỉ rõ được bộ phận “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là ai.

Điểm mới của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đó là (1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng”.

(2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

(3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng Việt Nam; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

(4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

(5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

(6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

(7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ Việt Nam với các nước.

(8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

(9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước./.NVS

Một số vấn đề về phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

 


Trong quá trình chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động đặc biệt quan tâm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xuyên tạc, phủ nhận và đi tới xóa bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam. Chúng ra sức xuyên tạc chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tatrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tuyêntruyền, cổ súy cho hệ tư tưởng tư sản phản động; xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận để đi tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, tiến tới làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam...

Đặc biệt, trong những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi mới, sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới như Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ ra. Lợi dụng những khó khăn, phức tạp của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, nhất là trong quá trình chúng ta triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động sẽ đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc mới, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam, hiện nay và trong những năm tới, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động sẽ tập trung chống phá cách mạng Việt Nam trên các các vấn đề chủ yếu sau đây:

 - Tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trên các nguyên lý cơ bản như: Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội.

- Tập trung xuyên tạc, phá hoại Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011), trong các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII.

 - Tăng cường xâm nhập về văn hóa, đạo đức, lối sống, tập trung tấn công vào nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc bằng cách làm phai mờ những giá trị văn hóa truyền thống cách mạng của chúng ta, kết hợp với việc gieo rắc những sản phẩm văn hóa phản động, tuyên truyền lối sống thực dụng trong xã hội ta, nhất là trong thế hệ trẻ, trong sinh viên, học sinh...

  - Lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…, những vấn đề do lịch sử để lại, những “điểm nóng” về an ninh, về trật tự, an toàn xã hội để kích động chống phá ta, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng, những vùng sâu, vùng xa, vùng cao nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đang có những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần.

 - Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, trong quá trình tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, trong thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để gây áp lực, bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội ta.

- Đối với Quân đội ta, các thế lực thù địcn, cơ hội, phản động sẽ tăng cường thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, tìm cách tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng; từng bước làm suy yếu bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân. Tìm cách phá vỡ hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; làm xói mòn về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Trước sự chống phá ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động, chúng ta đã tích cực, chủ động triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống, từ khâu lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng đến xây dựng và triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống và đã thu được những kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành trong xác định kế hoạch và tổ chức lực lượng, triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống; việc phối hợp, kết hợp và điều kiện đảm bảo thông tin, tư liệu, kinh phí cho hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” vẫn còn những hạn chế, bất cập.

Để góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động hiện nay cần thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Thông qua các hình thức, biện pháp, kết hợp giữa giáo dục với tự giáo dục để nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động về: tính cấp thiết, vị trí, vai trò, tính chất, đặc điểm, nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Cần xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ đạo, của các lực lượng chuyên trách và của các lực lượng khác trong tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Vị trí, vai trò, trách nhiệm tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” phải gắn chặt với vị trí, vai trò của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý trên các cương vị được giao.

Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Tăng cường công tác lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan, đơn vị đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của các ban, ngành, đoàn thể trong xác định chủ trương, biện pháp, xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Ba là, xác định rõ nội dung, hình thức, biện pháp, tổ chức lực lượng và xác định rõ cơ chế phối hợp, kết hợp giữa các lực lượng đấu tranh phù hợp và có hiệu quả thiết thực.

Xác định rõ nội dung đấu tranh, trong đó tập trung vào những nội dung mà các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđang ráo riết tập trung hướng tới hiện nay và những năm tới trong chống phá cách mạng Việt Nam. Thường xuyên nghiên cứu, đổi mới những hình thức, biện pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động nhằm đem lại hiệu quả cao. Nghiên cứu tổ chức lực lượng đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động hợp lý, quan tâm xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt. Thường xuyên quan tâm phối hợp, kết hợp tốt giữa các lực lượng để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Bốn là, thường xuyên quan tâm nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Thông qua thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđể thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công để tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh có hiệu quả hơn. Trên cơ sở sơ kết, tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđể tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về những vấn đề liên quan đến đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Năm là, quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ngày càng hợp lý, có hiệu quả hơn.

Quan tâm đầu tư bồi dưỡng lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” về bản lĩnh chính trị, phẩm chất chính trị, đạo đức, về tinh thần đoàn kết, về ý thức tổ chức kỷ luật, về năng lực, kinh nghiệm và phương pháp đấu tranh...Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo về mặt thông tin, tư liệu cho các lực lượng tham gia đấu tranh kịp thời, cập nhật, chính xác. Có cơ chế, chính sách, chế độ cụ thể đảm bảo sự quan tâm đối với các lực lượng tham gia đấu tranh trên mặt trận khó khăn, phức tạp và quyết liệt này.

Sáu là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên là chính để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân có nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Xây dựng các tổ chức chính trị xã hội vững mạnh toàn diện, hoạt động có hiệu quả, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị, địa phương với những phong trào cách mạng rộng khắp tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng con người mới, chống sự xâm nhập và nảy sinh các quan điểm, tư tưởng phản động, phản văn hóa trong đời sống tinh thần của xã hội./.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU ĐÒI “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG”!

         Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với đường lối đúng đắn, dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử loài người, Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết chung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp nhân dân yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, đấu tranh chống thực dân, phong kiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
      Song, bất chấp thực tế lịch sử mang tính quy luật, thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã tìm mọi cách, áp dụng mọi thủ đoạn để tuyên truyền, phát tán các tài liệu phản động đòi “đa nguyên, đa đảng”, nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối của chúng. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của chúng, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh, cần chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị ngăn chặn từ sớm từ xa, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đặc biệt, cần chỉ rõ những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó có biểu hiện “đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.
Mỗi chúng ta là CB,CS trong Quân đội cần nhận thức đúng, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tham gia đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái của các thế lực phản động./.
Môi trường ST.

Mối quan hệ giữa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 


Nghị quyết đã chỉ ra những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút ý chí chiến đấu; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân.

Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tất yếu dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Quá trình này diễn ra nhanh chóng, Nghị quyết đã chỉ rõ chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc kết cấu với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có quan hệ chặt chẽ với “diễn biến hòa bình”. “Diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đến lượt nó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, trong đó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhân tố bên trong quan trọng nhất.

Những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ./.NVS

Lê Chí Thành kẻ chống phá Đảng, Nhà Việt Nam

 


Chiều 22-6, TAND huyện Hàm Tân (Bình Thuận) đã tuyên phạt bị cáo Lê Chí Thành ba năm tù giam về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Chí Thành cho rằng do sau thời gian dài khiếu nại, tố cáo một số sai phạm tại trại giam Thủ Đức (Z30D) Bộ Công an qua đơn thư nhưng không được xử lý nên đã sử dụng dùng mạng xã hội Facebook để phản ánh.

HĐXX nhận định: Quá trình điều tra cũng như xét hỏi tại tòa đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Chí Thành phạm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; gây ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của các cơ quan Nhà nước, tổ chức, các cá nhân liên quan.

HĐXX cũng bác đề nghị trả hồ sơ điều tra lại của luật sư bào chữa cho bị cáo. Nói lời sau cùng, bị cáo Lê Chí Thành thừa nhận hành vi mình là sai và xin Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Bình Thuận, qua công tác quản lý nhà nước và đấu tranh tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an phát hiện tài khoản Facebook Lê Chí Thành của Lê Chí Thành (39 tuổi, ngụ Tân Đức, Hàm Tân, Bình Thuận) đăng tải các bài viết và video clip có nội dung xuyên tạc, sai sự thật xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an đã có công văn kèm theo các chứng cứ gửi Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bình Thuận xác minh, xử lý theo quy định.

Quá, trình điều tra Lê Chí Thành thành khẩn khai báo thừa nhận đã làm và sử dụng tài khoản Facebook Lê Chí Thành của mình để đăng tải bài viết, video có nội dung nêu trên nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định.

Trước đó, ngày 14-1-2022, Lê Chí Thành bị TAND TP Thủ Đức, TPHCM tuyên phạt hai năm tù giam về tội chống người thi hành công vụ.

Góp phần tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"

 


Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường không thể hiện ngay mà được tích tụ trong một thời gian dài và có sự tích hợp từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong quá trình đó, thường có sự tác động, ảnh hưởng qua lại giữa các nguyên nhân, các yếu tố, có thể làm hiện tượng diễn ra nhanh hơn hoặc mức độ phức tạp hơn. Chẳng hạn, với một số nguyên nhân chủ quan đã có mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhưng nếu có sự tác động của những nguyên nhân khách quan nữa thì các biểu hiện sẽ diễn ra sớm hơn, mức độ nghiêm trọng hơn…

Về nguyên nhân khách quan, thực tiễn cho thấy, Đảng ta lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, trong đó có những bước đi vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên có những dò dẫm, va vấp bởi chưa nhận thức đầy đủ cũng như chưa lường hết được những tác động của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế. Đảng ta cũng chưa có sự chuẩn bị thật đầy đủ về lập trường, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên của mình, nên trong một số tình huống còn lúng túng, bị động, dẫn đến chậm giải thích, tuyên truyền hoặc có giải thích, tuyên truyền nhưng chưa thực sự thuyết phục với tất cả các cán bộ, đảng viên. Đôi lúc, công tác dự báo còn hạn chế, dự báo chưa kịp thời hoặc chưa thực sự chính xác nên chưa đáp ứng được yêu cầu. Thêm vào đó, tư duy, năng lực lãnh đạo, sự gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên chưa thể hiện rõ nét, chưa theo kịp yêu cầu đối với sự phát triển của địa phương và đất nước. Những điều đó có thể tác động nhất định đến nhận thức, tâm tư, tình cảm, khao khát, sự phấn đấu của đảng viên.

Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có lúc có nơi có hiện tượng cán bộ, đảng viên được giao trách nhiệm ở một số lĩnh vực chưa đủ tự tin, thậm chí có cảm giác “choáng ngợp” với sự tác động các quá trình đó nên dễ sinh ra những biểu hiện tâm lý hoặc những hoạt động chưa phù hợp. Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên được giao trách nhiệm lãnh đạo, quản lý nắm giữ một khối lượng lớn tài sản, vốn của Nhà nước, có thể phát sinh chủ nghĩa cá nhân vụ lợi. Chẳng hạn, một số cán bộ, đảng viên giữ trọng cách ở các tập đoàn kinh tế lớn đã lợi dụng các kẽ hở trong các quy định của pháp luật, trong quá trình kiểm tra, giám sát của cấp trên để cố ý làm trái trong quá trình quản lý, thậm chí tham ô, tham nhũng, gây thiệt hại lớn cho Nhà nước. Ngay tại TP.HCM, ở một số đơn vị có chức năng hoạt động công ích, cá biệt có những nhóm lãnh đạo tự cho mình có quyền thụ hưởng lợi ích vật chất quá lớn (qua lương, thưởng…), lớn hơn nhiều so với đóng góp của họ, với mặt bằng thu nhập chung và so với người lao động trong chính các đơn vị đó.

Trong khi đó, các thế lực thù địch thường xuyên thực hiện các âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, không ngừng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và luôn tìm mọi cách chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Một số hoạt động trong dịp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII có thể thấy rõ điều đó; các thế lực thù địch liên tục mạo danh để thông tin sai sự thật, công kích cá nhân một số đồng chí lãnh đạo của Đảng, có thể gây ra sự hồ nghi, bất mãn trong một số cán bộ, đảng viên thiếu thông tin hoặc không thực sự tin tưởng vào năng lực lãnh đạo của Đảng. Những kẻ chống phá triệt để sử dụng mạng internet để lập các blog, các diễn đàn, mạng xã hội… để phát tán những thông tin xấu, thông tin độc đến đông đảo người xem, trong đó có không ít đảng viên, nếu những người này không tỉnh táo có thể trở thành kẻ “tuyên truyền” cho các thế lực chống phá.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về bản chất là một quá trình suy thoái từ bên trong của lực lượng cách mạng. “Một mặt, do tác động khách quan, như: mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và do âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch vẫn tiếp tục đi sâu vào từng tổ chức, con người; mặt khác, là từ nguyên nhân chủ quan do một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong hai nguyên nhân đó, thì nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Thực tiễn ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu những thập kỷ cuối thế kỷ XX cho thấy: nếu ban lãnh đạo các đảng cộng sản không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội; quần chúng nhân dân và lực lượng vũ trang kiên quyết bảo vệ đảng, nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa thì các thế lực thù địch không thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa. Đúng như Lenin đã căn dặn: không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta. Như vậy, cần phải thống nhất nhận thức: phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực chất là phòng ngừa, triệt tiêu nguyên nhân chủ quan dẫn đến thoái hóa, biến chất là vấn đề có ý nghĩa sống còn”(1).

Về nguyên nhân chủ quan, có thể nhìn nhận ở một số góc độ. Trước hết, một số bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí phấn đấu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lo vun vén lợi ích cá nhân mà bất chấp đạo lý, pháp luật, dư luận. Một số khác ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm mà quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân cũng như nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên. Có không ít người quên mất khẩu hiệu, cũng là lời nhắc nhở, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” mà biến thành “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, đánh mất vai trò tiên phong, gương mẫu của người đảng viên. Một số khác không giữ ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương của tổ chức. Rõ nhất là tình trạng tham nhũng; một số cán bộ, đảng viên khi được trao quyền đã biến quyền đó thành lợi ích riêng của mình, của gia đình mình; thậm chí có trường hợp “hi sinh đời bố, củng cố đời con”, tức là sẵn sàng đánh đổi tự do, danh dự, phẩm giá miễn sao đục khoét được của công. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” (tháng 2-2012), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó, là sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; bất chấp đạo lý, dư luận; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm của một bộ phận cán bộ, đảng viên; nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý không gương mẫu…(2).

Trong khi đó, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng của nhiều cấp ủy còn hình thức, chưa đủ sức động viên và thường xuyên nâng cao ý chí cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đánh giá về việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XII đã nêu: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên bước đầu được ngăn chặn, nhưng chưa bị đẩy lùi. Công tác thông tin, tuyên truyền về thực hiện Nghị quyết có lúc, có nơi chưa đầy đủ, kịp thời, chưa định hướng được dư luận”.

Không chỉ vậy, việc quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số nơi còn bị buông lỏng, chưa đến nơi đến chốn, khiến kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm hoặc làm đại khái, qua loa. Dự thảo Báo chính trị trình Đại hội XII cũng nêu: “Nhiều khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện, kiểm tra, xử lý, hoặc xử lý kéo dài, nên kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi chưa nghiêm; chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát”.

Cuối cùng, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở một số nơi không nghiêm. Ngay trong quá trình kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, “một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng; chưa thấy rõ ý nghĩa của việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 trong tình hình mới. Vì vậy, trong quá trình chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân còn nêu nhiều ưu điểm, né tránh khuyết điểm và chưa nhận thức đúng mức trách nhiệm của mình đối với các nhiệm vụ được phân công và trong những hạn chế, khuyết điểm chung của tập thể”(3). Như vậy, cũng có thể hiểu rằng, công tác tự phê bình và phê bình chưa thực sự trở thành nền nếp thường xuyên và có hiệu quả thực sự. Bên cạnh đó, có không ít cán bộ, đảng viên không trung thực, thiếu thẳng thắn, xuê xoa, nể nang, bệnh thành tích. Đó là hiện tượng chưa trung thực trong kê khai tài sản, trong việc thừa nhận các khuyết điểm, hạn chế, trong việc góp ý với đồng chí, đồng nghiệp (nhất là với cấp trên)… Có nhiều trường hợp trong hội nghị thì nhất trí hoặc không có ý kiến nhưng ra ngoài thì nói khác hoặc không thực hiện; khi đương chức thì không nói hoặc nói kiểu này nhưng khi thôi chức hoặc đã nghỉ hưu thì lại nói nhiều và nói kiểu khác. Trong khi đó, có tình trạng dân chủ không đi đôi với tập trung; còn có biểu hiện lúng túng, chậm xử lý kỷ luật đối với một số vi phạm nguyên tắc sinh hoạt đảng, vi phạm những điều đảng viên không được làm…

Tóm lại, hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân từ phía bản thân của cán bộ, đảng viên là chủ yếu. Nếu người cán bộ, đảng viên không chủ động cập nhật thông tin, không tự bồi dưỡng cho mình những kiến thức cần thiết, không có lập trường chính trị vững vàng, không mạnh dạn đấu tranh với các biểu hiện tự thỏa mãn của bản thân… thì rất dễ bị tác động của các yếu tố bên ngoài. Từ đó, sẽ dần dần sa vào “tự diễn biến”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ trở nên “tự chuyển hóa”, trở thành kẻ đứng bên ngoài hoặc đi ngược lại với con đường lãnh đạo của Đảng, con đường phát triển của đất nước./.NVS

 

Hiệu quả hơn trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hơn 30 năm qua, bên cạnh những thành tựu có ý nghĩa lịch sử về mọi mặt thì tình trạng tham nhũng, tiêu cực không ngừng diễn ra ngày càng nghiêm trọng dưới nhiều hình thức rất đa dạng và tinh vi. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTNTC) ở nước ta cũng có những nét đặc trưng, trong đó có đặc điểm nổi bật là việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương và ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC. Tuy nhiên, mô hình Ban Chỉ đạo và hoạt động của nó không phải ngay lập tức đã đồng bộ, đạt hiệu quả cao mà phải trải qua những trải nghiệm để khắc phục những hạn chế, bất cập.

Từng bước khắc phục những hạn chế, bất cập

Trải qua 16 năm kể từ khi Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN được thành lập, cho đến nay, Đảng ta đã từng bước khắc phục được một số hạn chế, bất cập sau đây:

Khắc phụ tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi". Năm 2006, lần đầu tiên Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN đã được thành lập. Ban Chỉ đạo giai đoạn này là một cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, có chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác PCTN trong phạm vi cả nước. Một năm sau, các ban chỉ đạo PCTN cấp tỉnh cũng được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2007) và Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12 ngày 27-9-2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khoá XII. Theo đó, trưởng ban PCTN là chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; có 1 phó trưởng ban thường trực, chức vụ giám đốc sở; các ủy viên ban chỉ đạo gồm chánh thanh tra tỉnh, giám đốc công an tỉnh, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh, chánh án tòa án nhân dân tỉnh, giám đốc sở nội vụ và chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra tỉnh, thành ủy. Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương và ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN cũng như thành phần, cơ cấu, bộ máy, bước đầu đã tạo ra sự chuyển biến nhận thức, sự tin tưởng của cán bộ, đảng viên, nhất là quần chúng, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước đối với quyết tâm PCTN. Nhiều cán bộ, đảng viên, cán bộ, công chức về hưu và quần chúng, nhân dân, báo chí... đã hưởng ứng, tích cực phát hiện, tố giác, đấu tranh với các hiện tượng TNTC, nhất là ở địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, về lý thuyết cũng như về cơ chế vận hành, trong thực tiễn, tổ chức, bộ máy cũng như người đứng đầu Ban Chỉ đạo Trung ương cũng như ở cấp tỉnh có nhiều hạn chế, bất cập, lúng túng, nhiều khi thiếu quyết liệt, công tâm, khách quan, vô tư trong phát hiện, điều tra, xét xử những vụ tham nhũng lớn, phức tạp trong khi xu hướng lợi ích nhóm, bệnh thành tích còn rất phổ biến. Với cơ cấu bộ máy của ban chỉ đạo như vậy, nhiều ý kiến ví như hình ảnh "vừa đá bóng, vừa thổi còi", do vậy, công tác PCTN hiệu quả chưa cao. Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: "Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn điễn biến phức tạp..."(1). Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN theo mô hình nói trên hoạt động được hơn 6 năm (29-7-2006-1-2-2013) thì chuyển sang mô hình mới.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI), ngày 1-2-2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN có 16 thành viên, gồm: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban; 5 Phó Trưởng Ban (đồng chí Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư; Ngô Văn Dụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ; Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương - Phó Trưởng ban Thường trực); 10 Uỷ viên là các đồng chí đứng đầu các ban, bộ, ngành, lực lượng Công an, Quân đội, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Tổng Thanh tra Chính phủ, Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Quốc hội, Phó Chủ tịch - Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 4-2-2013, trong phiên họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Thành viên Ban Chỉ đạo phải là tấm gương về giữ gìn đạo đức, lối sống, không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào, không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào". Kể từ khi Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN đổi mới cơ cấu, tổ chức và bộ máy, nhất là vị trí đồng chí Trưởng Ban, đến nay, công tác PCTNTC ở nước ta ngày càng thu được những thành tích quan trọng, tạo chuyển biến tích cực, rất nhiều vụ án kinh tế lớn, TNTC được phát hiện, điều tra, xử lý, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ cấp cao, bị kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. "Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và có chiều hướng thuyên giảm"(2).  

Tuy nhiên, tình trạng "trên nóng dưới lạnh" trong PCTNTC vẫn là xu hướng phổ biến ở không ít địa phương, cơ sở. "Trên nóng dưới lạnh", "trên quyết liệt" "dưới tê liệt" là những từ được Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC nhiều lần nhấn mạnh. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng này, chủ yếu tập trung vào một số nguyên nhân chính như: thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, nhất quán của Đảng từ Trung ương tới địa phương trong công tác đấu tranh PCTNTC (từ năm 2013, ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không có ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN); chưa có cơ chế, quy định trách nhiệm, ràng buộc người đứng đầu cấp ủy tỉnh, thành phố trong lãnh đạo, chỉ đạo PCTNTC; ở nhiều địa phương còn phổ biến tình trạng thiếu kiên quyết, chậm phát hiện, chậm xử lý dứt điểm các dấu hiệu TNTC; vẫn còn tình trạng "dĩ hoà vi quý" "bệnh thành tích", tư tưởng cục bộ địa phương trong đấu tranh PCTNTC; chưa có sự tham gia của đông đảo quần chúng, nhân dân, các cơ quan dân cử, các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương trong việc phát hiện, tố giác những biểu hiện TNTC... Từ các nguyên nhân trên, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC buộc phải chỉ đạo, theo dõi, nhắc nhở, xử lý nhiều vụ, việc TNTC lẽ ra thuộc trách nhiệm của địa phương. Chính vì vậy, Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) đã thống nhất chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC. Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quy định số 67-QĐ/TW ngày 2-6-2022 "Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế, bất cập trong công tác PCTNTC, tạo ra sự đồng bộ về sự lãnh đạo của Đảng, về tổ chức, bộ máy, trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế hoạt động, sự thông suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo v.v.

Đồng bộ, thông suốt

Quy định số 67-QĐ/TW tạo đồng bộ và thống nhất về nhận thức, nhận diện rõ đối tượng của cuộc đấu tranh "chống giặc nội xâm". Hiện nay, Đảng ta gắn tham nhũng với tiêu cực. Nội hàm tiêu cực rất rộng, trong đó có cả lãng phí, quan liêu. Quy định số 32-QĐ/TW ngày 16-9-2021 của Bộ Chính trị "Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC" đã xác định Ban Chỉ đạo là cơ quan "chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị cả nước". Ban chỉ đạo cấp tỉnh "trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở địa phương". Xác định nội hàm, phạm vi của chống TNTC như vậy chẳng những xác định rõ ràng, thống nhất, nhận diện rõ hơn đối tượng đấu tranh mà còn làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm, trọng tâm của chủ thể của cuộc đấu tranh này, đặt ra yêu cầu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trong việc phát hiện, xử lý TNTC ở địa phương, cơ sở.

Cơ cấu tổ chức, bộ máy, thành phần ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC theo mô hình của của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC. Ban chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ; đồng thời chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương. Ban Chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ đạo Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ PCTNTC; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương theo quy định. Định kỳ hằng quý và khi có yêu cầu, ban chỉ đạo cấp tỉnh báo cáo tình hình, kết quả công tác PCTNTC, các vụ án, vụ việc TNTC phức tạp, dư luận xã hội quan tâm xảy ra ở địa phương, kết quả hoạt động và định hướng công tác trong thời gian tiếp theo với ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ, Ban Chỉ đạo Trung ương, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương;

Các quy định về thành phần, cơ cấu tổ chức, bộ máy, quyền hạn, chức trách, chế độ làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương và ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC đồng bộ và thống nhất với các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, đặc biệt là các quy định khác Đảng ta ban hành trong mấy năm gần đây liên quan đến TNTC. Đồng thời tạo thông suốt từ Trung ương tới cơ sở. Việc thường xuyên rà soát, kiểm tra, giám sát, đôn đốc của các cấp uỷ trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, đặc biệt là các quy định của Đảng, sẽ là cơ sở vững chắc, là điều kiện rất quan trọng để thực hiện công tác PCTNTC ở cả Trung ương và địa phương.

Các yếu tố góp phần tạo hiệu quả cao trong công tác PCTNTC

Việc tạo ra sự đồng bộ, thống nhất, thông suốt từ Trung ương tới địa phương và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, của Ban Chỉ đạo Trung ương, cấp tỉnh về PCTNTC sẽ khắc phục tình trạng "dưới lạnh" tạo ra hiệu quả trong công tác PCTNTC. Ngoài ra, có một số yếu tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả trong công tác PCTNTC mà cấp uỷ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ban chỉ đạo cấp tỉnh cần cụ thể hoá:

Thứ nhất, công tác PCTNTC hai nhiệm kỳ qua đã để lại rất nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó có kinh nghiệm từ Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC. Đó là sự kiên quyết, không có vùng cấm, xử lý bất kỳ cán bộ nào dù là ai khi có những biểu hiện TNTC. Đó là sự nêu gương, sự trong sạch, liêm khiết của Ban Chỉ đạo, nhất là của người đứng đầu. Những người "tay đã nhúng chàm" thì dứt khoát phải được loại ra khỏi danh sách những đồng chí làm công tác PCTNTC; những ai "nản chí thì đứng sang một bên cho người khác làm".

Thứ hai, hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng "tham nhũng vặt" hiện nay còn phổ biến ở địa phương, cơ sở. Trong khi đó, ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC bao gồm rất nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt địa phương, trong đó có người đứng đầu cấp uỷ, cần thực nghiêm túc Quy định "Về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiến với dân và xử lý những phản ánh kiến nghị của dân”. Điều này sẽ giúp cấp uỷ, Ban Chỉ đạo phát hiện, làm rõ, xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, "tham nhũng vặt" để răn đe, làm gương. Ở địa phương, cơ sở, chính dân là những người biết rõ hơn ai hết cán bộ nào TNTC và TNTC ở đâu, như thế nào.

Thứ ba, các cấp uỷ đảng trực thuộc tỉnh, thành uỷ, giao cho ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC, ban nội chính tỉnh, thành uỷ phối hợp với đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, đảng đoàn các tổ chức chính trị - xã hội các ban cán sự đảng các cơ quan liên quan xây dựng quy chế phối hợp trong việc phát hiện, tố giác, cung cấp những chứng cứ, dấu hiệu vi phạm hoặc những biểu hiện cụ thể của hiện tượng TNTC... Đặc biệt, cần tin dân, dựa vào dân, nghe dân, giữ bí mật, bảo vệ những nhân chứng, những người cung cấp thông tin, kiên quyết đấu tranh chống TNTC.

Thứ tư, noi gương Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, ban chỉ đạo cấp tỉnh tập trung chỉ đạo theo dõi, kiểm tra, giám sát, kết luận, xử lý... những vụ việc nổi cộm liên quan đến TNTC tồn đọng bấy lâu nay, được dư luận xã hội quan tâm. Lấy đó làm "vốn niềm tin" của cán bộ, công chức, đảng viên và đông đảo quần chúng, nhân dân ở địa phương và trong phạm vi cả nước. 

Thứ năm, học tập kinh nghiệm của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ định kỳ có thông báo công khai, kịp thời sau mỗi kỳ họp uỷ ban và công bố việc xử lý, kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý các vụ việc vi phạm Điều lệ, quy định của Đảng liên quan đến TNTC.

Thứ sáu, để khắc phục tình trạng bệnh "cục bộ địa phương", "thành tích chủ nghĩa" các cấp uỷ đảng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng cơ chế để báo chí địa phương, các trang thông tin điện tử công khai, cung cấp những thông tin, kết luận, điều tra, xử lý, kết án những vụ, việc, vụ án tiêu biểu TNTC ở địa phương; tránh tình trạng che giấu, bưng bít thông tin. Báo chí địa phương cần trở thành cầu nối giữa cấp uỷ đảng, chính quyền, ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh với quần chúng nhân dân trong việc phát hiện những hiện tượng TNTC; thực hiện dân chủ, công khai, quyền được thông tin của người dân.

--Nguồn: XDĐ----

(1). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 173.

(2). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, trang 76.

 


Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

 

Việt Nam đóng góp thực chất vào các nỗ lực nhân đạo của Liên hiệp quốc

 

Phiên họp 3 ngày về các vấn đề nhân đạo do Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hiệp quốc (ECOSOC) tổ chức mới đây đã khép lại với cam kết của các nước sẽ tiếp tục tăng cường nỗ lực nhân đạo trên toàn cầu.

Tại đây, Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của các nỗ lực nhân đạo quốc tế và luôn mong muốn đóng góp thực chất vào các hoạt động này.

Khai mạc phiên họp với chủ đề “Tăng cường hỗ trợ nhân đạo: Thực tiễn tốt và hành động thực hiện luật nhân đạo quốc tế, phục hồi sau đại dịch COVID-19 và ứng phó với khủng hoảng về khí hậu”, Tổng Thư ký Liệp hiệp quốc (LHQ) Antonio Guterres cho rằng thế giới đang phải đối mặt với đại khủng hoảng với các cuộc xung đột, biến đổi khí hậu, nạn đói và giá cả tăng cao.

Trong bối cảnh đó, các cơ quan nhân đạo của LHQ và các đối tác vẫn đang nỗ lực triển khai các hoạt động để hỗ trợ người dân. Để đối phó với các thách thức trước mắt, Tổng Thư ký LHQ nhấn mạnh cần xây dựng một hệ thống nhân đạo linh hoạt, đủ nguồn lực và mạnh mẽ để có thể tiếp cận và bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất. 

Chủ tịch ECOSOC Colin Vixen Kelapile nhấn mạnh phụ nữ và trẻ em gái bị ảnh hưởng nặng nề hơn trong khủng hoảng nhân đạo như bị bạo lực trên cơ sở giới, hạn chế tiếp cận với giáo dục và cơ hội phát triển. Chủ tịch ECOSOC kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ nhân đạo và đoàn kết với những người bị ảnh hưởng trong khủng hoảng nhân đạo, cùng rút ra các bài học, đổi mới sáng tạo để tối đa hóa hiệu quả các hoạt động hỗ trợ nhân đạo.  

Các nước nhất trí, chia sẻ các thách thức nhân đạo lớn mà thế giới đang phải đối mặt. Về biện pháp giải quyết, các nước nhấn mạnh cần đảm bảo tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Luật Nhân đạo quốc tế, bảo đảm và tăng cường tài chính, thực hiện các cam kết về biến đổi khí hậu, ứng phó với đại dịch COVID-19, tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan LHQ để kịp thời hỗ trợ người dân ở các khu vực đang đối mặt với khủng hoảng.

Phát biểu tại Phiên họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại LHQ nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động hỗ trợ nhân đạo và vai trò của các cơ quan LHQ trong lĩnh vực này. Ở cấp độ toàn cầu, Việt Nam đã ủng hộ 500.000 đô-la Mỹ trong năm 2022 cho các Quỹ nhân đạo của LHQ và 1 triệu đô-la Mỹ cho cơ chế COVAX. Trong khu vực, Việt Nam cũng đang cùng các nước thành viên ASEAN thông qua Trung tâm điều phối ASEAN về Hỗ trợ nhân đạo và quản lý thảm họa (AHA) và các cơ quan LHQ hỗ trợ nhân đạo cho người dân Mi-an-ma. 

Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định hòa bình và ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tiếp cận nhân đạo an toàn và không bị gián đoạn cho những người cần hỗ trợ. Các hoạt động nhân đạo cần dựa trên nguyên tắc trung lập, không thiên vị và độc lập, đề cao Hiến chương LHQ và Luật Nhân đạo quốc tế, phù hợp với điều kiện, nhu cầu và hoàn cảnh của từng nước.

Về trách nhiệm của quốc gia, Đại sứ Việt Nam cho rằng các quốc gia có vai trò và trách nhiệm quan trọng nhất, theo đó cần giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của xung đột và khủng hoảng nhân đạo một cách toàn diện. Bên cạnh đó, các quốc gia cũng cần tăng cường năng lực ngăn ngừa dịch bệnh, giảm thiểu rủi ro về khí hậu và môi trường, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm và khả năng sẵn sàng ứng phó, tăng cường tài chính cho thích ứng và khả năng chống chịu. 

Đại sứ cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường điều phối, xây dựng lòng tin giữa các cơ quan LHQ với các Chính phủ và các bên liên quan trong hành động, tài chính và chia sẻ dữ liệu để kịp thời ứng phó với các thách thức nhân đạo toàn cầu đang nổi lên. Đại sứ gửi lời chia buồn sâu sắc đến những người dân Afghanistan chịu ảnh hưởng của trận động đất mạnh tại tỉnh Paktika ngày 22-6 vừa qua.

Nguồn: XDĐ